Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

June 5, 2008

Vi mô làm hại vĩ mô

Filed under: Chính trị, xã hội, Kinh tế — tudo @ 6:02 am

Tuesday, June 03, 2008

Ngô Nhân Dụng

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=79502&z=7

Trong bài báo cáo ông Nguyễn Tấn Dũng đọc trước quốc hội ở Hà Nội cuối tuần vừa qua, ông nhấn mạnh đến việc “ổn định kinh tế vĩ mô.” Ông cho biết “việc thực hiện chỉ tiêu tăng trưởng GDP từ 8,5% đến 9% là không hiện thực” (nghĩa là không thể thực hiện được) cho nên phải “điều chỉnh” xuống 7%. Ba chữ GDP được dùng trong bài diễn văn mà không cần giải thích ra tiếng Việt (chúng ta thường gọi là Tổng Sản Lượng Nội Ðịa) chứng tỏ người Việt Nam bây giờ đã quen với các thuật ngữ kinh tế quốc tế lắm rồi.

Dù mọi người đã quen thuộc với những tiếng chuyên môn trong kinh tế (gọi là thuật ngữ), như GDP, lạm phát, tăng trưởng, đầu tư, vân vân, nhưng nhiều độc giả sau khi đọc những bài Thời Sự Kinh Tế vẫn tỏ ý không hiểu những chữ như hai từ VĨ MÔ và VI MÔ. Ai cũng biết vĩ là lớn, rất lớn, còn vi là nhỏ, như khi nói đến vi trùng! Nhưng trong kinh tế học thì cái gì là vĩ, cái gì là vi? Hai cái đó, cái nào quan trọng, và liên hệ với nhau thế nào? Trong bài này chúng tôi hy vọng sẽ giải thích hai thuật ngữ đó.

Khi nói “tình hình kinh tế vĩ mô ổn định,” chữ “vĩ mô” hiểu như một tĩnh từ, nói về tình hình tất cả nền kinh tế. Khi nói cải tổ cơ cấu vi mô, chữ “vi mô” ý nói cải tổ cách làm việc của các đơn vị kinh tế như xí nghiệp, ngân hàng, vân vân. Nhưng hai thuật ngữ này thường được dùng trong các danh từ để nói về hai ngành khảo sát trong Kinh Tế Học. Kinh Tế Học Vĩ Mô là Macroeconomics và Kinh Tế Học Vi Mô (khác nhau một dấu ngã) dịch chữ Microeconomics. Nếu dịch không sát nhưng diễn tả đúng ý nghĩa thì gọi hai môn học này là kinh tế toàn thể (vĩ mô) và kinh tế đơn thể (vi mô).

Cả hai môn học cùng khảo sát về một hiện tượng, tức là các sinh hoạt kinh tế trong xã hội. Người ta thường hiểu lầm rằng hai môn đó nghiên cứu các hiện tượng khác nhau. Thực ra cả hai môn cùng nghiên cứu sự vận hành của cả nền kinh tế, chỉ khác nhau ở điểm khởi đầu. Trong môn kinh tế vi mô (đơn thể) người ta tìm hiểu các người tiêu thụ, người sản xuất hành xử thế nào thì cả nền kinh tế tiến tới quân bình (equilibrium), kinh tế vi mô cũng tìm hiểu tổ chức kinh tế thế nào thì mang lại phúc lợi cao nhất cho nhiều người nhất (welfare econimics), đó là những vấn đề của tất cả hệ thống kinh tế chứ không phải của riêng các đơn vị. Hai môn học khác nhau chính là về điểm xuất phát của việc nghiên cứu.

Môn Kinh Tế Vĩ Mô bắt đầu việc khảo sát bằng cách nhìn ngay vào cả xã hội nói chung, thí dụ những như nạn lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, lãi suất thay đổi gây ảnh hưởng ra sao trên Tổng Sản Lượng Nội Ðịa, trên số tiền để dành và đầu tư trong cả nước, vân vân. Ngay từ đầu người ta đã nhìn toàn diện cả nền kinh tế một quốc gia. Còn môn Kinh Tế Vi Mô bắt đầu bằng cách nhìn vào tác phong của từng đơn vị kinh tế, như nhà sản xuất, người tiêu thụ. Tác phong của các đơn vị khi quyết định có những đặc điểm nào, cái gì ảnh hưởng tới quyết định của người ta, và nếu các đơn vị kinh tế thay đổi tác phong thì tất cả nền kinh tế sẽ ra sao. Môn Kinh Tế Vi Mô quan tâm đến hoạt động của các xí nghiệp, ngân hàng, người tiêu thụ, nói chung là các đơn vị riêng lẻ, nhưng dựa trên tác phong của họ mà suy đoán ra cả nền kinh tế. Có thể nói nghiên cứu Kinh Tế Vi Mô là một nền tảng cho việc điều hành Kinh Tế Vĩ Mô.

Người ta thường ví môn Kinh Tế Vĩ Mô giống cách nhìn của con chim bay trên trời ngó xuống toàn cảnh trên mặt đất. Nó thấy đồng ruộng, đồi núi, sông ngòi, v.v. Còn Kinh Tế Vi Mô là cách nghiên cứu bắt đầu bằng đôi mắt của con kiến nhìn chung quanh mặt đất xem rõ từng chi tiết.

Kinh Tế Vĩ Mô sẽ nhìn cả nền kinh tế, của cải do mọi người hoạt động tạo ra, là Tổng Sản Lượng Nội Ðịa (GDP). GDP lên hay xuống đi đôi với số người làm việc và tỷ lệ thất nghiệp, liên quan đến tổng số tiền đầu tư thêm, mà số tiền đầu tư thì tùy thuộc lãi suất được trả khi để dành tiền, hoặc phải chịu khi đi vay. Kinh Tế Vĩ Mô khảo sát các vấn đề lạm phát, thất nghiệp, lãi suất, tiết kiệm và đầu tư, chung của cả nước.

Còn Kinh Tế Vi Mô lấy đôi mắt của con kiến nhìn chung quanh quan sát các đơn vị sản xuất tức là các xí nghiệp, nhà đầu tư và người tiêu thụ. Các nhà nghiên cứu Kinh Tế Vi Mô đặt câu hỏi, “Trước các quyết định tiêu thụ hoặc đầu tư, ‘thực sự’ người ta lựa chọn như thế nào?” Khi các tin tức về tương lai thì lờ mờ bất định, đầy rủi ro, người ta lựa chọn theo quy tắc nào? Những câu hỏi đó loài người đã suy nghĩ từ lúc lâu, nhưng chỉ đến nửa sau của thế kỷ 20 mới được đặt ra một cách khoa học (nghĩa là thành toán học), tạo thành kỷ luật của môn Kinh Tế Vi Mô.

Nghiên cứu kinh tế cần cả hai cách nhìn, cách của con chim bay trên trời và cách của con kiến dưới mặt đất. Việc cải tổ kinh tế, từ chế độ cộng sản sang kinh tế thị trường hay từ cách tổ chức kinh tế lối Nhật sang lối Anh Mỹ, đều là cải tổ vi mô. Nếu chỉ chú ý đến các chính sách vĩ mô mà quên không cải tổ vi mô thì không thể thành công. Rất nhiều chính phủ không hiểu điều đó nên đã thất bại.

Thí dụ khi Việt Nam được gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới, ai cũng cho là một thời cơ giúp cho kinh tế phát triển. Tiền đầu tư nước ngoài bỏ vào, vì họ biết từ nay hàng sản xuất ở Việt Nam có thể bán sang nhiều quốc gia mà không bị đánh thuế quá cao. Tiền vào càng nhiều thì càng tốt, nhưng nhiều đô la quá, làm cho đồng tiền Việt Nam khan hiếm mà đô la dư thừa, đó là một vấn đề kinh tế vĩ mô. Ở các xã hội bình thường, những người có đô la sẽ đem đi bán, cho người khác dùng để mua hàng ngoại quốc. Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đem tiền Việt Nam ra mua đô la, họ muốn kiểm soát nguồn ngoại tệ, không để cho tư nhân sử dụng. Ðây là một quyết định kinh tế vi mô, nhà nước muốn kiểm soát việc sử dụng vốn của các xí nghiệp và ngân hàng, tức là vẫn muốn hạn chế quyền tự do kinh tế của các đơn vị kinh tế. Nhưng khi in nhiều tiền Việt Nam để thu mua đô la thì hóa ra lại gây ra lạm phát, một vấn đề kinh tế vĩ mô khó khăn. Ngân Hàng Nhà Nước bèn ra các mệnh lệnh để thu bớt tiền vào: tăng lãi suất, bắt các ngân hàng thương mại giữa lại tiền trong kho nhiều hơn. Các biện pháp đó thường khiến cho các ngân hàng bớt cho vay, trong nước sẽ bớt tiền lưu hành. Nhưng ở Việt Nam thì hiệu quả đó không thấy. Chính phủ phải ra lệnh cho các ngân hàng đưa tiền cho họ, đổi lại, nhận được những tờ giấy nợ gọi là công trái.

Tại sao những biện pháp tăng lãi suất và tăng dự trữ bắt buộc không đạt hiệu quả mong muốn? Chính vì các xí nghiệp quốc doanh và các ngân hàng do nhà nước làm chủ họ không “hành xử” như những xí nghiệp ngân hàng bình thường. Lãi suất cao, xí nghiệp vẫn cứ vay tiền, vì họ không lo chuyện lỗ lã. Các ngân hàng vẫn cho vay, dù không biết chắc các xí nghiệp vay tiền sẽ trả lại được. Cũng vì họ không phải lo chuyện lỗ lã!

Các biện pháp kinh tế vĩ mô không chạy, vì cái guồng máy kinh tế vi mô nó không “bình thường.” Bình thường, môn kinh tế học giả thiết là các đơn vị kinh tế, người hay xí nghiệp đều tìm cách gia tăng lợi nhuận và tránh rủi ro. Khi các xí nghiệp và ngân hàng của nhà nước biết bị lỗ cũng bất cần, rủi ro mất tiền cũng không sợ, thì tất cả các giả thiết nền tảng đưa tới những chính sách kinh tế đều sụp đổ.

Các xí nghiệp và ngân hàng ở nước ta không hành sử bình thường, chỉ vì đảng Cộng Sản không cải tổ kinh tế thật đầy đủ. Nói là kinh tế thị trường nhưng thực chất vẫn là kinh tế đảng trị. Ông Nguyễn Tấn Dũng khoe với mọi người rằng chính phủ ông nắm trong tay 76 tập đoàn kinh tế và tổng công ty. Phần lớn đó là những con khủng long thời xã hội chủ nghĩa vẫn chưa chịu thoát xác. Những nước Ðông Âu đã tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước từ 1990, đến nay các xí nghiệp tư đã phát triển cư xử như các doanh nghiệp của bất cứ nước Âu Mỹ nào. Kinh tế các nước này hiện đã phát triển rất cao. Còn ở Việt Nam, vẫn những xí nghiệp quốc doanh làm nơi chia chức vụ nuôi nấng các đảng viên cộng sản. Cơ cấu kinh tế vi mô chưa được thay đổi. Khiến cho các chính sách kinh tế vĩ mô không chạy như quy luật bình thường.

Không bình thường, chẳng hạn có tới 13 tập đoàn kinh tế và tổng công ty của ông Nguyễn Tấn Dũng, thay vì lo đầu tư sản xuất lại đem những số tiền hàng tỷ đồng đi đầu cơ chứng khoán và nhà cửa, những việc chẳng ăn nhằm gì tới công việc làm ăn của họ hết! Tổng cộng họ đem gần 8 ngàn tỷ đồng bạc Việt Nam, nửa tỷ đô la Mỹ, đi “đánh bài” trong thị trường chứng khoán và địa ốc! Chính ông Dũng báo cáo với quốc hội như thế! Khi thị trường sụp, ai mất tiền? Các quan không mất, người dân đóng thuế có mất cũng không biết!

Ông Nguyễn Tấn Dũng vẫn còn an ủi mọi người rằng số tiền đánh bạc đó vẫn còn nhỏ, so với tổng số tài sản các tập đoàn kinh tế và tổng công ty đánh bạc. Nhưng, trước hết, bổn phận ban giám đốc các xí nghiệp là lo công việc trong nhà của mình, chứ không phải là đem tiền đi đánh chứng khoán! Anh có làm đúng trách nhiệm của mình hay không, đó là tiêu chuẩn phê phán đầu tiên. Hoặc có, hoặc không, chứ không thể nói “hơi hơi.” Cũng như không thể nói một cô gái chưa chồng là “hơi mơi” có bầu được. Trong trách nhiệm người quản đốc, không thể nói “chỉ bậy sai chút đỉnh” thì tha thứ được. Mà tại sao các giám đốc xí nghiệp lại hành sử như thế? Vì chưa cải tổ kinh tế thật sự. Phải cải tổ từ căn bản vi mô!

Leave a Comment »

No comments yet.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Create a free website or blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: