Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

June 7, 2008

Từ Thực-dân Ðến Cộng-sản: Phần 1 Cái Vinh & Cái Nhục Của Một Tiểu Nhược Quốc

Filed under: Cải cách ruộng đất — tudo @ 4:49 am
Hoàng-văn-Chí – Bản dịch của Mạc-Định

Từ Thực-dân Ðến Cộng-sản  
• Hoàng-văn-Chí

From Colonialism To Communism
Một Kinh-nghiệm Lịch-sử Của Việt-nam

• Bản dịch của Mạc-Định

—— o0o ——

Giới Thiệu Tác-giả Và Tác-phẩm

Các bạn đọc có thể ngạc nhiên khi thấy một cuốn sách tiếng Việt, tác giả là người Việt, mà lại là bản dịch. Trường hợp có hơi bất thường nhưng lý do là tại tác giả, ông Hoàng-Văn-Chí đã viết nguyên bản bằng tiếng Anh, xuất bản ở ngoại quốc để trực tiếp trình bày vấn đề Việt-Nam với độc giả quốc tế và phổ biến kinh nghiệm Việt-Nam rộng ra khắp thế giới tự do.

Ông Hoàng, hiện còn bôn ba ở hải ngoại, đã tự giao cho mình trọng trách này vì trước khi rời khỏi Bắc-Việt, năm 1955, ông đã hứa với các bạn bè trong hàng ngũ trí thức kháng chiến là ông sẽ cố gắng nói lên tâm trạng đau thương của họ và của toàn thể nhân dân miền Bắc đương quằn quại dưới chế độ Cộng-sản. Sau mười năm cặm cụi theo đuổi một mục đích, ông Hoàng đã hoàn tất một phần lớn nhiệm vụ tinh thần kể trên vì như ông P.J. Honey, giáo sư Ðại-Học-Ðường Luân Ðôn đã công nhận, chính nhờ ở các tác phẩm của ông Hoàng mà thế giới bên ngoài đã biết nhiều về nội tình Bắc Việt và chiến thuật Mao-Trạch-Ðông. Thực sự, không một tác phẩm nào của ông không được phổ biến khắp thế giới tự do, dịch ra năm bảy thứ tiếng, từ tiếng Ðan-mạch đến các thổ ngữ Ấn-Ðộ, từ các tiếng Á-đông đến tiếng I-pha-nho ở Nam-Mỹ. Hiện nay ông là nhà văn Việt-Nam có nhiều độc giả nhất ở ngoại quốc.

Sinh tại Thanh-Hóa năm 1913 trong một gia đình nho giáo có truyền thống cách mạng, ông đã từng tham gia cuộc bãi khóa năm 1926, phong trào “Le Travail” năm 1936, hoạt động trong Ðảng Xã-hộI SFIO năm 1937-39, và tham gia Kháng chiến chống Pháp từ đầu đến cuối (1946-54). Ông giúp chính phủ Kháng chiến với chức vụ một chuyên viên, phụ trách đúc tiền, làm giấy in bạc, chế tạo hóa chất cho Quốc-phòng. Nhưng sau Hiệp-định Genevè, mặc dù đã được ông Hồ-Chí-Minh tuyên dương công trạng trong toàn quốc, ông quyết tâm rời bỏ Bắc Việt, di cư vào Nam. Trong bốn năm ở Saigon, ông đã để lại nhiều bài báo bằng tiếng Việt, Anh, Pháp, Hoa và đặc biệt là tập chuyện ngắn, vừa hài hước vừa chua chát, nhan đề PHẬT RƠI LỆ, và một thiên khảo cứu về phong-tục học nhan đề ÐÍNH CHÁNH MỘT ÐỊNH KIẾN SAI LẦM VỀ NGUỒN GỐC DÂN TỘC VIỆT-NAM đăng trong báo NGÀY MỚI xuất bản tại Saigon năm 1958. Vì một sự lầm lẫn nào đó, bài này đã được dịch ra Anh-văn và đăng trong tập chí ASIAN CULTURE của Hội Liên-lạc Văn-hóa Á-Châu, năm 1961, ký tên ông Nguyễn-Ðăng-Thục, Hội trưởng hội văn hóa kể trên.

Chúng tôi được quen ông Hoàng-Văn-Chí hồi chúng tôi nhờ ông đề tựa cuốn TRĂM HOA ÐUA NỞ TRÊN ÐẤT BẮC, do chúng tôi soạn năm 1959. Nhưng chỉ mấy tháng sau, ông tình nguyện đi Ấn-Ðộ, giữ chức phó Lãnh-sự tại New Delhi. Ra sân bay, ông có tâm sự với chúng tôi là mục đích của ông không phải là làm ngoại giao mà là để có dịp nói lên sự thực của cả hai chế độ : Hồ-Chí-Minh và Ngô-Ðình- Diệm. Quả nhiên ông chỉ ở Ấn-Ðộ đúng một năm, đủ thì giờ để kết giao với một số nhà báo, nhà văn Ấn-Ðộ. Năm 1960, ông sang Thụy-sĩ, sang Anh và lưu trú 5 năm tại Paris, nơi mà ông viết cuốn sách này.

Sách đồng thời xuất bản ở Luân-đôn, Nữu-Ước, New Delhi, bản dịch tiếng I-pha-nho xuất bản ở Buenos Aires và có nhà xuất bản đã mua bản quyền tiếng Nhật, Triều-tiên, Thái, Mã-lai, v.v… Nhận thấy không lẽ một tác phẩm hoàn toàn Việt-Nam phát hành khắp thế giới mà nhân dân Việt-Nam không có dịp thưởng thức, nên chúng tôi yêu cầu tác giả cho phép dịch ra tiếng Việt. Bản dịch này được tác giả duyệt lại, sửa chữa một vài sơ-xuất trong bản tiếng Anh in tại Luân-đôn và thêm bớt một vài câu cho bớt tính chất văn dịch.

Sau cùng chúng tôi xin lưu ý các bạn đọc về một điểm sau đây : Vì mục đích của cuốn sách là trình bày chiến thuật Mao-Trạch-Ðông áp-dụng tại Bắc-Việt, hướng về các đọc-giả ngoại quốc, nên phần nhắc lại lịch sử dân tộc và lịch sử Cách-mạng Việt-Nam chỉ tóm tắt qua loa, vừa đủ để người ngoại quốc chưa hề biết đến nước ta có thể nắm được đại cương vấn đề. Vì tóm tắt nên không thể trình bày đầy đủ chi tiết, do đó đọc-giả trong nước có thể có cảm tưởng là quá sơ sài và thiếu chính-xác. Về điểm này, thay lời tác-giả, chúng tôi xin thành thực xin lỗi các bạn đọc.

MẠC ÐỊNH

Dịch từ nguyên bản tiếng Anh, nhan đề :
FROM COLONIALISM TO COMMUNISM

Xuất bản năm 1964 đồng thời tại :
ANH, The PALL MALL Press Ltd.
77-79 Charlotte Street, London W I.
HOA-KỲ, F.A. Praeger Inc, Publisher III,
4th Ave. New York, N.Y.
ẤN-ÐỘ, The ALLIED PUBLISHERS,
13-14 Asaf Ali Road, New Delhi.

Cùng với bản tiếng Việt này đã có những bản dịch sau đây :
Tiếng Bồ-đào-nha, Nhà xuất-bản GRD,
Rio de Janeiro, Brésil.
Tiếng I-pha-nho, Nhà xuất-bản Editorial SUR,
Buenos Aires, Argentine.
Tiếng Pháp, Nhà xuất-bản MAME,
Tours, Pháp

Lời chú-thích của dịch-giả
Tất cả các đoạn văn trích trong báo chí Bắc-Việt đều là nguyên văn, trừ hai bản báo-cáo của Trường-Chinh, vì không có nguyên bản tiếng Việt nên tác giả đã dịch ra Anh-văn từ bản tiếng Pháp do Bắc-Việt xuất bản. Chúng tôi cũng dịch theo bản tiếng Pháp ấy.

Do lời yêu cầu của chúng tôi, cũng như của nhà xuất bản tiếng Pháp và tiếng I-pha-nho, tác giả đã viết lại chương 18 (chương cuối) để trình bày thêm về tình hình Bắc-Việt từ 1962 đến 1965.

LỜI GIỚI THIỆU CỦA GIÁO SƯ P.J. HONEY

Trước Thế-chiến thứ 2, không mấy ai ở thế giới bên ngoài biết đến nước Việt-Nam và dân tộc Việt-Nam, và họa chăng chỉ nghe nói đến Ðông-Pháp, trong đó có xứ “An-Nam”. Ngoại trừ người Pháp, không mấy người Tây-phương biết dến Việt-Nam là một quốc hiệu, và số du khách có dịp ghé qua Việt- Nam lại càng hiếm hơn. Vì vậy nên, năm 1945, dư luận thế giới rất đỗi ngạc nhiên khi báo chí loan tin có một chính phủ mệnh danh là “VIỆT-NAM DÂN-CHỦ CỘNG-HÒA” tuyên bố độc lập đối với Pháp.

Nhưng vì đồng thời, việc chấm dứt chiến tranh với Nhật-Bản gây nên nhiều biến cố khác, nên dư luận thế giới lại lãng quên vấn đề Việt-Nam, cho mãi đến cuối năm 1946, khi chiến tranh bùng nổ giữa Pháp và Việt-Nam, báo chí thế gìới một lần nữa lại nói đến Việt-Nam. Nhưng du luận hồi ấy cho rằng quân độI Việt-Nam thiếu luyện-tập và chỉ có những võ khí thô sơ, nên không thể kháng cự nổi với đội quân Viễn-chinh hung-hậu của Pháp, và chẳng bao lâu sẽ bị dẹp tan.

Nhưng chiến cuộc mỗi ngày một lan rộng, vì Pháp tỏ ra bất lực không dẹp nổi phong trào kháng chiến Việt-Nam, hồi đó thường gọi là Việt-Minh. Nhiều nguời Tây-phương, và đặc biệt những người Mỹ quan tâm đến thời cuộc Viễn-Ðông, cho rằng chiến tranh ở Việt-Nam là do những phần tử quốc gia lãnh đạo, với mục đích giành lại độc lập cho quốc gia của họ. Hoa-Kỳ không trực tiếp can thiệp, nhưng, một phần nào, có thiện cảm với Việt-Minh. Vì chiến tranh “lạnh” mỗi ngày một bành trướng nên dần dần các quốc gia Tây-phương mới thấy rõ âm mưu sâu rộng của Cộng-sản. Lúc bấy giờ Hoa-Kỳ mới ngả theo quan điểm của Pháp, nhận định Việt-Minh không phải là một phong trào thuần túy quốc gia, mà thực sự là một phong trào Cộng-sản chiến đấu với mục đích thiết lập chế độ Cộng-sản trên một phần đất Á-Châu. Vì vậy nên Hoa-Kỳ bắt đầu viện trợ mỗi ngày một nhiều cho quân đội Pháp và quân đội Quốc-gia Việt-Nam mới thành lập. Nhưng mặc dù, Việt-Minh vẫn thắng trận. Trận Ðiện-Biên kết thúc chiến cuộc, và Hội-nghị Quốc tế họp ở Genève, đầu năm 1954, mang lại hòa bình ở Việt-Nam.

Chiếu theo Hiệp-định Genève thì Việt-Nam bị chia đôi dọc theo vĩ tuyến 17, Miền Bắc đặc dưới quyền kiểm soát của Cộng-sản, và Miền Nam vẫn thuộc quyền phe Quốc-gia. Ðây là lần đầu tiên một quốc gia Cộng-sản xuất hiện ở Ðông-Nam-Á, và sự-kiện này vô cùng quan trọng. Từ ngàn xưa con đường từ Ðông-Á xuống Ðông-Nam-Á vẫn xuyên qua Việt-Nam, và trong lịch sử hiện đại, chính vì Nhật-Bản chiếm cứ được miền này, năm 1941, nên trong chớp nhoáng, Nhật-Bản đã thôn tính được toàn thể Ðông-Nam-Á. Không ai không nhìn thấy âm mưu của khối Cộng-sản là xử dụng Bắc Việt như một bàn đạp để tràn xuống phía Nam. Hoa-Kỳ đã phải rút khỏi nước Lào, và chiến tranh hiện nay đương tiếp diễn tại Nam-Việt. Chiến cuộc ở Việt-Nam có thể mở đầu cho một cuộc xâm-lăng rộng lớn của Cộng-sản.

Muốn ngăn cản cuộc xâm lăng kể trên một cách hữu hiệu, công việc việc đầu tiên là phải tìm hiểu chiến lược và chiến thuật của Cộng-sản thì mới có thể dự đoán được kế hoạch của họ và dự trù biện pháp đối phó. Nhưng vì Cộng-sản Việt-Nam rất ít sáng kiến về quân sự và chính trị, nên thực sự việc ấy không khó khăn như thoạt đầu nhiều người tưởng tượng. Họ chỉ ưa bắt chước và áp dụng nhũng chiến thuật đã được thử thách ở các nước đàn anh. Bác-sĩ Nguyễn-Ngọc-Bích, một nhà học giả Việt-Nam rất
uyên thâm, đã phê bình Cộng-sản Việt-Nam như sau : “Bất cứ sau một biến cố hay một hành động nào, Việt-Cộng cũng tổ chức kiểm thảo để tìm ưu-khuyết-điểm. Mục đích của kiểm thảo là để tránh những sai lầm cũ, không phải để hoạch định kế hoạch cho tương lai. Nhưng vì thiếu sáng kiến nên mỗi lần hoạch định kế-hoạch cho tương lai, Việt-Cộng thường ưa áp-dụng những biện pháp đã từng mang lại thắng lợi trong quá khứ. Họ không đủ sáng suốt để nhận định rằng mỗi tình hình mới đòi hỏi một kế hoạch thích ứng và hoàn toàn mới. Chính vì vậy mà Việt-Cộng thường bị phê-bình, mặc dù có đôi khi quá đáng, là chỉ ưa bắt chước và áp dụng những chiến thuật cũ kỹ, không hề sáng tác được chiến thuật nào có thể gọi là mới”.

Chỉ có những Lãnh-tụ Cộng-sản mới biết rõ những giai đoạn họ đã vượt qua để lên nắm chính quyền ở Bắc-Việt, và cũng chỉ có họ mới biết rõ họ đã trù tính và ấn định mỗi giai đoạn phải như thế nào. Tuy nhiên những người trong hàng ngũ kháng chiến có đủ kiến thức và óc quan sát để nhận định những sự việc xảy ra xung quanh họ, phân tích chính sách, đường lối từ trên ban xuống, rất có thể nghiên cứu và trình bày những sự việc đã qua với một trình độ chính xác rất cao.

Với hoài bão tranh đấu cho nền độc lập của xứ sở, ông Hoàng-Văn-Chí, tác giả cuốn sách này, đã tham gia kháng chiến ngay từ phút đầu. Mặc dù ông không phải là môn đồ của chủ nghĩa Mác-xít, và ông thừa biết phong trào kháng chiến đã bị Việt-Cộng lũng đoạn, ông vẫn tích cực tham gia, vì ông cho rằng, nếu những phần tử quốc gia không tham gia kháng chiến thì kháng chiến sẽ thất bại, và Pháp sẽ có cơ hội đặt lại nền đô-hộ trên đất nước Việt-Nam. Nhưng sau khi Pháp đã thất bại, ông Hoàng-Văn-Chí không do dự đứng về phe Quốc-gia để chống Cộng-sản.

Trong thời gian kháng chiến, ông Hoàng có điều kiện thuận tiện để nghiên cứu chiến thuật và lập luận của Cộng-sản. Ông đã chứng kiến việc cán bộ Trung-quốc bắt buộc Bắc Việt phải tuân theo đường lối của họ Mao, và ông đã dự nhiều cuộc đấu tố trong dịp “Cải Cách Ruộng Ðất” mà vô số nhân dân Bắc-Việt đã bị giết chóc một cách tàn khốc.

Phần lớn những sự việc tường thuật trong cuốn sách này là do chính ông Hoàng nghe tận tai, thấy tận mắt. Phần còn lại là kết quả một công cuộc sưu tầm sâu rộng của ông. Trong suốt cuốn sách, tác giả tường thuật một cách cặn kẽ Cộng-sản đã lợi dụng và thao túng phong trào ái quốc giành độc lập như thế nào, và đã thành lập chế độ Cộng-sản ở Bắc Việt như thế nào. Chỉ riêng về phương diện này cuốn sách cũng đã là một công cuộc khảo cứu hết sức quan trọng về chiến thuật hiện đại của Cộng-sản.

Nhưng, hơn nữa, vì chính những chiến thuật ấy lại đương được áp dụng ở Nam-Việt, và rất có thể trong tương lai, ở nhiều nuớc khác thuộc Ðông-Nam-Á, nên chắc chắn tác phẩm của ông Hoàng sẽ trở thành một cuốn sách giáo khoa mà mọi người có ít nhiều trách nhiệm chống Cộng ở Á-Châu đều cần phải nghiên cứu.

Bằng những tác phẩm Anh-văn đã từng xuất bản, ông Hoàng-Văn-Chí đã cống hiến cho thế giới bên goài rất nhiều kiến thức về Cộng-sản Việt-Nam, và gần đây, trong bài báo mới nhất của ông, nhan đề “Sản xuất lúa gạo dưới chế độ nông nghiệp tập-thể”, đăng trong tạp chí China Quarterly, số 9, tháng 2 năm 1962, ông đã giải thích tại sao nông nghiệp không những thất bại ở Bắc-Cao. Theo thiển ý của tôi thì tác phẩm này sẽ là một trong tác phẩm tiêu chuẩn về Cộng-sản Á-Châu. P.J. HONEY Giáo-sư trường Nghiên-cứu Á-Phi của Luân-đôn Ðại-học-Ðường.

LỜI TỰA CỦA TÁC GIẢ

Tường thuật giai đoạn cuối cùng của cuộc Cách-Mạng phản đế-quốc Việt-Nam, cuốn sách này chuyên nghiên cứu một chiến thuật thường được mệnh danh là “Cải Cách Ruộng Ðất”, một chiến thuật mà các Lãnh-tụ Cộng-sản Bắc Việt đã áp dụng để biến cuộc chiến đấu ái-quốc giành độc lập thành một công cuộc thiết lập chế độ vô sản chuyên chính. Ðấy là một chiến thuật tinh vi, lợi dụng tâm lý quần chúng đến triệt để, có thể coi là phần đóng góp lớn nhất của Mao-Trạch-Ðông đối với lý thuyết Mác-Xít Lê-nin-nít. Theo thiển ý của tác giả thì “Cải Cách Ruộng Ðất” là một trong những sáng kiến quan trọng nhất trong lịch-sử hiện đại.

Bắt nguồn từ chủ trương căn bản của họ Mao là Cách-Mạng vô sản có thể dùng nông dân làm lực lượng căn bản, “Cải Cách Ruộng Ðất” đã được mang ra thử thách lần đầu tiên, dưới một hình thức thô sơ, trong cuộc Nông-dân bạo-động ở Hồ-Nam năm 1926. Sau khi cuộc bạo động này thất bại và Cộng-sản Trung-hoa phải ẩn náu ở Diên-An, trong hơn mười năm, họ Mao đã nhân sửa chữa lại đường lối và kiện toàn lại toàn bộ chiến thuật của ông. Nhờ vậy mà sau khi nắm được chính quyền ở Trung-hoa lục địa, ông Mao đã tiêu diệt được tất cả các phong trào chống đối, và những thất bại liên tiếp trong các phong trào “nhảy vọt”, hoặc tiến, hoặc thoái, không lay chuyển nổi chế-độ do ông thành lập.

Chiến thuật “Cải Cách Ruộng Ðất” mà ông áp dụng trên toàn thể lãnh thổ Trung-Hoa lục địa ngay sau khi Cộng-hòa Nhân dân Trung-Hoa được thành lập là dựa theo hoàn cảnh xã hội và tinh thần của nhân dân Trung-Hoa. Chỉ vài năm sau là chiến thuật ấy được mang áp dụng ở Bắc Việt, dưới sự lãnh đạo của một số cố vấn Trung Cộng.
Nhân sống ở Khu Bốn, là miền Cộng-sản kiểm soát từ đầu đến cuối, tôi được dịp chứng kiến phong trào “Cải Cách Ruộng Ðất”, vừa thán phục vừa kinh hoàng.
Trong những trang sau đây tôi cố gắng diễn tả những gì tôi đã thấy hoặc đôi khi đã tham dự với mục đích nhỏ mọn là đóng góp chút ít vào công cuộc phát triển khoa học xã hội, và đồng thời cống hiến các tác giả ngoại quốc thường viết về Việt-Nam hoặc về Á-Ðông, một vài chi tiết mà tự trước tới nay họ chưa từng biết.

Toàn bộ vấn đề không thể thu gọn trong một cuốn sách nhỏ, nên ở đây tôi chỉ nêu lên một cách hết sức khách quan một vài yếu tố chính của vấn đề Việt-Nam. Tôi cũng muốn nhấn mạnh là tôi không định tâm bênh vực hoặc đả phá một lý-thuyết hay một chế độ chính trị nào, vì tôi quan niệm tất cả đều lỗi thời. Tôi không có hoài bão nào khác là trình bày đứng đắn những kinh nghiệm xưa và nay của Việt-Nam để góp phần xây dựng cho mai hậu, một triết lý hoàn toàn mới, phù hợp với những phát minh mới nhất của khoa học và kỹ thuật hiện-đại.

Paris, tháng 6, 1962
Hoàng-Văn-Chí

MỤC-LỤC

Giới thiệu Tác-giả và Tác-phẩm

Lời Giới-thiệu của Giáo-sư P.J. Honey

Lời Tựa của Tác-giả

Phần 1 . CÁI VINH VÀ CÁI NHỤC CỦA MỘT TIỂU NHƯỢC QUỐC
Chương 1 Sứ mạng Lịch-sử của Dân tộc Việt-Nam
Chương 2 Việt-Nam trong lịch-sử Hiện-đại

Phần 2 . NƯỚC MẤT LẠI CÒN
Chương 3 “Bác Hồ”, vị Cứu-tinh của Dân-tộc
Chương 4 Cộng-sản xuất hiện
Chương 5 Có công mài sắt, có ngày nên kim

Phần 3 . CHUẨN-BỊ THÀNH-LẬP CHẾ-ÐỘ ÐỘC-TÀI
Chương 6 Bần-cùng-hóa toàn dân
Chương 7 “Ðấu Tranh Chính Trị”
Chương 8 Danh sách Việt-gian

Phần 4 . CẢI-TẠO TƯ-TƯỞNG
Chương 9 Công tác Tư-tưởng
Chương 10 Kiểm-thảo
Chương 11 Chỉnh-huấn
Chương 12 Năm bài học

Phần 5 . CẢI-CÁCH RUỘNG-ÐẤT
Chương 13 Ðại-cương về Cải-Cách Ruộng-Ðất
Chương 14 Chiến-dịch Giảm Tô
Chương 15 Cải-Cách Ruộng Ðất Ðích-thực
Chương 16 Sửa Sai
Chương 17 Chống đối Chế-độ
Chương 18 Con đường thẳng tới Cộng-sản Chủ-nghĩa

 

—— o0o ——

PHẦN 1

CÁI VINH và CÁI NHỤC
của một TIỂU NHƯỢC QUỐC

“Một việc phi thường mà không một sử gia nào có thể giải thích một cách thoả đáng – mặc dầu đã nghiên cứu rất nhiều là: Tại sao, sau hàng ngàn năm đô hộ, dân tộc Việt Nam vẫn không bị đồng hóa, và Việt-Nam vẫn còn là một quốcgia biệt lập”.

Joseph BUTTINGER
The Smaller Dragon

Chương 1

SỨ-MẠNG LỊCH-SỬ CỦA DÂN-TỘC VIỆT-NAM

Việt-Nam là một phần đất của Á-châu. Vị-trí địa-lý của Việt-Nam đối với lúc địa Á-châu quyết-định một phần lớn tiền-đồ cũng như sứ-mạng mà lịch-sử đã giao phó cho dân tộc Việt-Nam trong mấy ngàn năm nay.

Chúng ta hãy so sánh Âu-châu và Á-châu. Âu-châu là một đơn-vị địa-lý duy nhất, núi không cao, sông không rộng nên trong nội-địa Âu-châu văn-hóa thường được trao đổi và các nòi giống thường được pha trộn một cách tương đối dễ dàng. Ðịa-lý Á-châu có một điểm trái ngược với Âu-châu. Lục-địa Á-châu bị dẫy núi Hi-ma-lay-a, và tiếp thể là dẫy Trường-sơn phân chia thành hai đơn-vị địa-lý văn-hóa riêng biệt. Ðơn-vị phía Bắc thuộc ảnh hưởng Trung-Quốc, đơn-vị phía Nam chịu ảnh hưởng Ấn-Ðộ.

Việc phân chia địa-lý này rất có nhiều ảnh-hưởng. Trong khi một vài tư-tưởng và đạo-lý có thể truyền-bá từ Nam lên Bắc, và một vài bộ-lạc có thể từ từ di-chuyển từ Bắc xuống Nam, qua dẫy Hi-malay-a, dẫy núi này vẫn là một “Vạn lý trường thành” chặn đứng không cho bên nào tấn công quân sự bên nào. Chính nhờ vậy mà Ấn-Ðộ và các quốc-gia khác thuộc Nam-Á đã duy trì được nền văn-hóa, tổ-chức xã-hội và chính-trị riêng biệt của họ, không bị văn-hóa Hán-tộc xâm nhập và không hề bị binh mã của “Thiên-triều” quấy nhiễu. Ngay cho tới ngày nay, dẫy trường thành này vẫn đóng một vai trò tối quan trọng.

Nếu một ngày kia Ấn-Ðộ và Trung-cộng có thể thỏa-thuận công nhận giới tuyến Mac Mahon là biên-giới thiên-nhiên giữa hai nước, và nếu Hoa-kỳ đủ sức bảo-vệ Việt-narn Cộng-hòa và duy trì một nền trung lập chân chính ở Lào thì dẫy Hi-ma-lay-a . Trường-sơn, chạy dài từ Kashmir ở phía Tây đến Việt nam ở phía Ðông, sẽ là bức bình phong đứng giữa hai khối : khối Cộng-sản và khối không Cộng-sản trên lục-địa Á-châu. Chỉ vì kỵ-binh của Hán, Nguyên, và Thanh-triều không hề vượt qua dẫy núi này, vì không vượt nổi, nên nhiều chính-khách ở Nam và Ðông-Nam-Á đã nhẹ dạ tin tưởng ở cái mà họ mệnh danh là “tình hữu-nghị cổ truyền với Trung-Quốc”. Khi họ đề ra thuyết trung lập và sống chung hòa bình, họ đã trông cậy quá nhiều vào dẫy núi này coi như một cái mộc che chở cho xứ sở của họ. Nhưng những biến cố gần đây đã chứng tỏ rằng bức trường thành thiên tạo này không còn hiệu nghiệm như xưa không chặn nổi sự xâm nhập và cả những cuộc tấn công quân sự của Cộng-sản. Về phía Tây thì Ấn-Ðộ hiện đương lo phòng thủ biên-thùy Ấn – Hoa, còn về phía Ðông, Hoa-kỳ đương ra sức bảo-vệ Việt-Nam Cộng-hòa, Lào và Thái-lan khỏi bị rơi vào tay Cộng-sản. Nhưng so sánh thì các nước ở phía Ðông bị đe dọa nhiều hơn các nước ở phía Tây, vì dẫy Truờng-sơn phân cách Lào và Việt không cao và hiểm trở bằng dẫy Hi-ma-lay-a phân cách Ấn-Ðộ và Tây-Tạng. Hơn nữa, Bắc-Kinh nối liền với Hà-Nội bằng một đường xe lửa mà-trái lại, đường bộ từ Bắc-Kinh đến Lhasa, thủ-đô Tây-tạng, thì khó khăn, hiểm trở. Vì vậy nên hiện nay cũng như từ ngàn xưa, Trung-Quốc vẫn coi Việt-Nam là con đường thuận tiện nhất cho mọi cuộc Nam-tiến.

Nhìn vào bản đồ hai nước (trang 16), chúng ta có thể ví Trung-Quốc với một cái loa phễu khổng lồ, mà Việt-Nam là cái cuống phễu vừa hẹp vừa dài. Hình ảnh cái phễu khổng lồ trên đây có thể giảI thích một phần lớn đặc điểm của nền bang gia Hoa – Việt, nếu chúng ta hình dung Trung-Hoa như một chất lỏng chứa đựng trong loa phễu, và suốt trong lịch-sử lúc nào cũng muốn chẩy dọc thểo cái cuống phễu để tràn xuống những miền đồng bằng phì-nhiêu thuộc đông-nam-á. Lịch-sử đã giao phó cho Việt- Nam, nằm ở đầu cuống phễu, một trách nhiệm nặng nề : ngăn chận không cho quân lực Trung-Hoa tràn qua để xuống tới các đồng bằng kể trên. Dân-tộc Việt-Nam đã làm tròn nhiệm vụ ấy, và đã đánh bật trở lại tất cả các cuộc chinh phạt liên tiếp của các triều đại, Hán, Nguyên, Minh, Thanh, đặc-biệt nhất là các đoàn kỵ-binh hùng hậu của Hốt-Tất-liệt mà từ Ðông sang Tây không một quốc-gia nào kháng cự nổi.

Hoàn thành được nhiệm vụ lịch-sử kể trên, dân tộc Việt-Nam không những đã bảo toàn được nền tự chủ của mình, mà còn giữ cho tất cả các dân-tộc khác ở đông-Nam-á khỏi bị Hán-hóa.

Theo Hán-sử thì ngày xưa ở phía Nam sông Dương-Tử có một trăm bộ-lạc, gọi là Bách-việt. Các bộ-lạc này đều bị Hán-hóa hoàn toàn, bắt đầu từ cuộc chinh phạt của Tần Thủy-Hoàng, thế-kỷ thứ 3 trước Tây-lịch. Theo nhiều học giả chuyên về nhân-chủng và phong-tục học thì phần lớn các bộ-lạc này thuộc chủng tộc In-đô-nê-si-a. Dân-tộc Việt-Nam cũng thuộc về khối này. Theo một truyền-thuyết . một truyền-thuyết đã trở thành định-kiến . nhiều người Việt Nam hiện còn tin rằng tổ tiên của họ ngày xưa cũng là một trong các bộ-lạc Bách-việt, nhưng đã may mắn thoát khỏi nạn Hán-hóa mà tất cả các bộ-lạc khác phải chịu.

Về truyền-thuyết này, có một câu chuyện khá lý thú đáng được ghi lại. Sau cuộc Cách-mạng Tân hợi (1911), va sau khi nhường chức tổng-thống cho Viên-Thế-Khải. Ông Tôn-Văn sang viếng thăm Nhật- Bản, với tư cách là đảng trưởng Quốc-dân-đảng Trung-Hoa, và được ông Khuyển-Duỡng-Nghị, đảng trưởng Quốc-Dân-Ðảng Nhật, thết tiệc khoản đãi. Giữa bữa tiệc, lừa khi ông Tôn-Văn bất ý, ông Khuyển-Dưỡng-Nghị đột nhiên hỏi : “Tôi được biết tiên-sinh đã có dịp qua Hà-Nội, xin tiên-sinh cho biết tôn-ý về dân tộc Việt-Nam?” Bị hỏi một cách bất thình lình, ông Tôn-Văn đáp : “Người Việt-Nam vốn nô-lệ căn tính. Ngày xưa họ bị chúng tôi đô-hộ, ngày này họ lại bị người Pháp đô-hộ. Dân-tộc ấy không có tương lai”. Ðược dịp, ông Khuyển-Dưỡng-Nghị nói tiếp: “Về điểm này tôi xin phép không đồng ý với tiên sinh.

Ngày nay họ thua người Pháp, vì họ thiếu khí giới tối tân, nhưng cứ xét lịch-sử thì trong số Bách-việt chỉ có họ là thoát khỏi, không bị Hán-hóa. Tôi tin rằng một dân-tộc đã biết tự bảo-vệ một cách bền bỉ như vậy thì thế nào sớm muộn cũng sẽ lấy lại được quyền tự-chủ”. Ông Tôn-Văn đỏ mặt không trả lời vì biết mình đã nói hớ. Ông hiểu ý ông Khuyển-Dưỡng-Nghị muốn châm chọc, cho rằng ông là người Quảng-Ðông, tổ-tiên cũng là “Việt” nhưng kém xa dân tộc Việt Nam vì đã bị đồng-hóa hoàn toàn, không còn chút gì là “Việt” nữa. Sau buổi tiệc, ông Khuyển-dưỡng-nghị gọi giây nói mời mấy học-sinh Việt-Nam tị nạn ở Nhật đến kể truyện cho nghe tỏ ý hớn hở đã thắng nhà chính khách Trung~hoa trong cuộc đối thoại. Trong số những người được ông Khuyển-dưỡng-nghị mời đến và thuật lại câu chuyện có cụ Lê-Dư. Chính Cụ Lê-Dư đã kể lại câu chuyện này cho tác-giả.

Trong hơn hai ngàn năm, dân-tộc Việt-Nam đã giữ một vai trò in hệt dân Sparte ở ải Thermopile. Công nghiệp của dân-tộc Việt-Nam đối với các lân bang ở Ðông-Nam-Á chưa được các sử gia công nhận một cách đầy đủ. Có một điểm cần nêu lên là những Hoa-kiều hiện nay đông đảo ở Sin-ga-po, Mã-lai-á và ln-đô-nê-si-a đều tới định cư ở những nơi này bằng đường biển, và mới gần đây. Họ được di cư tới các xứ này một cách dễ dàng vì các chính quyền thực-dân Anh, Pháp, Hòa-Lan thấy họ cần cù và khéo léo hơn dân bản xứ.

Trở lại hình ảnh cái phễu khổng lồ, chúng ta có thể hình dung dân-tộc Việt-Nam như một cái nút bông ngăn chặn quân lực Trung-Hoa không cho tràn qua, nhưng vẫn để văn hóa Trung-Quốc, ví như nước trong, thấm dần qua cái cuốn phễu. Dân-tộc Việt-Nam thấm nhuần nền văn-hóa phong phú này và sử dụng nó như một lợi khí để tự bảo vệ, và đồng thời Nam-tiến chinh phục Chiêm-Thành. Nước này bị xâm chiếm theo kiểu tầm ăn lá dâu và biến khỏi lịch sử năm 1697. Sau khi đã tiến đến miền cực nam của bán đảo Ðông-Dương, dân-tộc Việt-Nam bắt đầu vòng quanh dẫy núi Trường-sơn để tiến vào nội địa Cam-bốt, nhưng muộn quá, vì người Pháp đã tấn công và chặn lại bắt đầu từ năm 1858. Mặc dầu là nạn nhân của đế quốc Trung-Hoa, người Việt đã có tinh thần đế quốc không kém ai, và dân Cam-bốt thực sự đã chịu ơn người Pháp cứu họ khỏi bị Việt-hóa, mãnh liệt không kém Hán-hóa.

Về ảnh hưởng của văn-hóa Trung-Quốc, có hai điểm đáng được nêu lên một cách khách quan : đấy là thái độ của thượng lưu trí thức Việt-Nam đối với Trung-Hoa và nền văn-hóa Hán-tộc. Nói chung thì người Việt vẫn coi người Tầu là kẻ thù lịch-sử (mười lăm cuộc xâm chiếm trong hai ngàn năm, và một ngàn năm Bắc-thuộc), nhưng mỗi khi có nội biến hay ngoại xâm, thường có nhiều người vội vã chạy sang Trung-Quốc để khẩn cầu ngoại viện; và mỗi lần như vậy là một lần đại đội binh mã Trung-Quốc kéo sang và ngang nhiên chiếm đóng cho tới khi bị đánh bật ra khỏi.

Gần đây, ông Hồ-Chí-Minh có nhận viện-trợ của ông Mao, nhưng, để bào chữa thái độ của ông, ông nói: Nhân-dân Việt-Nam và nhân-dân Trung-Quốc bao giờ cũng coi nhau như anh em. Chỉ có phong-kiến Trung-Quốc là kẻ thù của cả hai”, Lý-luận của ông Hồ rất thông, nhưng giới trí thức kháng chiến thường không chấp nhận. Họ phê bình là ngụy biện.

Một điểm thứ hai đáng được nêu lên là từ ngàn xưa sĩ phu Việt-Nam thường ngưỡng-mộ văn hóa Trung-Quốc một cách quá mức. Ngay trong thời kỳ tự chủ, các nho sĩ Việt-Nam thường học thuộc lòng từng câu, từng chữ, trong các kinh, các sách của các vị “thánh hiền” Trung-Quốc không hề suy luận, phê phán. Họ sùng bái văn-học Trung-Quốc đến nỗi họ gọi “chữ nho” . chữ của người Tầu . là chữ ta”, mà chính tiếng Việt, họ lại gọi là “tiếng nôm”. Vì quá lệ thuộc vào nền văn-hóa Trung-Quốc nên ngay trong thời-đại tự-chủ, Việt-Nam vẫn là một chư hầu văn-hóa của nước láng-giềng phương Bắc. Cũng vì vậy mà số phận Việt-Nam bị gắn liền vào số phận Trung-Quốc. Cả hai đều bị phá sản trước sự tấn công của các học-thuyết Tây-phương và Mác-xít. Ðể sáng tỏ thêm vấn-đề, chúng ta có thể đối chiếu Việt Nam với Nhật-Bản. Trước kia cả hai đều là đệ-tử của nền văn-hóa Trung-Quốc. nhưng dù vậy, thái độ của mỗi nước đối với Trung-Hoa có khác.

Trong khi các sĩ-phu Việt Nam coi trọng văn-học Trung-Quốc như chính của nước mình thì người Nhật, vì là dân đảo-quốc, vẫn coi Trung-Quốc là ngoại bang và triết học Trung-Quốc là một thứ hàng nhập cảng. Vì vậy mà người Nhật duy trì được tinh thần phê phán, có thể lựa chọn và hấp thụ một số học thuyết cũng xuất xứ từ Trung-Quốc, nhưng bị Trung-Quốc coi là tà thuyết và bác bỏ. Trong số những học thuyết này có học-thuyết Lương-tri của Vương-dương-minh (1472 – 1528 ) mà các triết gia cận đại coi là một giải thích khổng-giáo hướng theo thực-tế.

Học-thuyết nầy được truyền sang Nhật vào đầu thế-kỷ thứ 17. Chính vì đã hấp thụ được học thuyết Lương-tri mà nho sĩ Nhật giữ được một phần nào sáng-suốt, không đến nỗi quá hủ lậu như giới Tống nho Trung-Quốc và Việt-Nam, và do đó, họ dễ dàng công nhận giá trị của kỹ-thuật Tây phương.

Nhờ sự phản ứng kịp thời của sĩ-phu Nhật-Bản mà các lãnh-chúa Nhật phải thay đổi chính sách, giao thông với Tây-phương và thực-hiện cuộc cách-mạng Minh-trị (1876) tiến đến công cuộc canh tân toàn bộ đời sống.

Cũng nên nhắc lại là cũng vào thời kỳ này, học thuyết Lương-tri đã có cơ truyền sang Việt-Nam nhưng không thành. Hồi đó một môn-đệ của Vương-dương-minh là Chu-chi-dư hiệu là Thuần-thủy, trốn khỏi Trung-Quốc sau khi Trung-Quốc bị Mãn-Thanh chiếm đóng, và sang tị nạn ở Hội-an Chúa Hiền biết ông là người hay chữ nên thường mời ông vào cung đàm đạo về văn-chương chữ nghĩa. Ðấy là một dịp rất tốt cho nhà triết học Trung-Hoa truyền bá học-thuyết của mình, nhưng điều rất không may là chúa Hiền không đủ học vấn để nhận định những sai lầm của học-thuyết Chu-hy và công-nhận những điểm hay của học-thuyết Lương-tri, và trong khi đó thì các triều thần, thấy chúa coi trọng ông Chu, cũng tìm cách làm thân, nhưng chỉ hỏi ông về lý số. Sau khi trú ngụ trên đất Việt-Nam trong mười năm mà không truyền bá được tư tưởng của mình, Chu tiên-sinh bèn nghe lời một lái buôn Nhật, lên thuyền của họ di cư sang Nhật. Ông là một trong những người đã có công truyền bá học-thuyết Vương-Dương-Minh trên đất Nhật.

Chỉ vì tôn sùng văn-hóa Hán-tộc một cách quá đáng mà mãi cho tới khi mất nước hằng chục năm rồi, các nho gia Việt Nam mới nhận thấy Tây-phương cũng có một nền văn hóa không kém và đáng được noi theo. Cho đến cuối thế kỷ thứ 19, họ nhất thiết không chịu quan sát thế giới bên ngoài và không bận tâm đến những phát minh khoa-học và kỹ-thuật của Tây-phương. Trong khi dân-tộc Phù-tang hối-hả canh tân đảo quốc của họ thì vua Tự-Ðức vẫn điềm nhiên xướng-họa với mấy vị đại-thần. Tám bản “điều trần” của Nguyễn Trường Tộ (1853-1871) lần lượt bị bác bỏ, mà trong khi ấy thì Pháp chiếm Hội-an (l858), Nam-việt (1862-l867), Hà-Nội (l873-l882) và hoàn thành cuộc đô-hộ năm I884.

Nhìn lại lịch trình tiến-hóa của dân-tộc Việt-Nam chúng ta phải công nhận với sử-gia Trần-trọng-Kim là sở dĩ Việt-Nam dành lại được quyền tự chủ và xây dựng được một cơ cấu xã-hội, chính-trị, có nền tảng vững chắc, là nhờ ở sự hấp-thụ và tiêm nhiễm văn-hóa Hán-tộc, mà bộ phận chính là Khổng-giáo với tinh thần duy-lý. Tuy nhiên chúng ta cũng phải nhận định thêm rằng Việt-Nam chỉ thực sự phú-cường dưới triều-đại Lý, Trần, là thời kỳ mà Phật giáo có được coi là quốc-giáo; và trái lại, Việt-Nam bắt đầu suy nhược từ cuối Trần, sau khi Khổng-giáo đã chiếm địa-vị độc tôn, đánh bật Phật giáo ra ngoài vòng chính-trị. Theo thiển ý của tác-giả thì có hai nguyên nhân chính. Một là từ Tống trở đi, học-phái Chu-hi được coi là học-phái chính thống đã đưa Khổng-giáo vào một khuôn khổ chật hẹp, hủ lậu, và hai là chế độ thi cử dành cho Khổng giáo độc quyền lựa chọn quan lại, lâu ngày trở thành xa lìa quần chúng, nên mỗi lần quốc-gia bị xâm lăng Khổng-giáo không đủ sức hấp dẫn để huy động quảng đại quần chúng tham-gia kháng chiến. Vì vậy nên những vị anh hùng cứu quốc từ Lê-Lợi đến Nguyễn-Huệ, đều không phải là những người xuất thân ở cửa Khổng sân Trình. Nói về lịch sử hiện-đại thì mất nước với Pháp về cuối thế-kỷ trước, và đất nước tan tành trong hoàn cảnh hiện nay cũng chung một nguyên nhân: Tinh thần nô lệ đối với “Trung-Hoa vĩ đại”. Về điểm này sử-gia Trần-trọng-Kim đã phê bình như sau:

“… Mà sự học của mình thì ai cũng yên trí rằng cái gì đã là của Tầu là hay, là tốt hơn cả: từ tư tưởng cho chí công-việc làm, điều gì mình cũng lấy Tầu làm gương. Hễ ai bắt chước được Tầu là giỏi, không bắt chước được là dở”.

Những sự việc trình bày sau đây sẽ chứng minh hậu quả tai hại của tinh-thần hướng ngoại kể trên.

Chương 2

VIỆT-NAM TRONG LỊCH-SỬ HIỆN ÐẠI

  

 

Nghe theo mưu kế của một giáo-sĩ đạo gia-tô tên là Pigneau de Béhaine, thường gọi là Bá-Ða-Lộc, Pháp bắt đầu can-thiệp vào nội-tình Việt-Nam, nam 1787, dưới hình thức một giao-ước ký với vị giáo-sĩ này, đại-diện cho Nguyễn-Ánh, hứa viện-trợ cho Nguyễn-Ánh một số thuyền bè và võ-khí để kháng cự với Tây-sơn. Ðiều-kiện bắt buộc là nếu thắng, Nguyễn vương sẽ phải cống-hiến hàng năm, giúp Pháp khuếch trương buôn bán, chinh phục thêm đất đai ở Viễn-đông và nhường đứt cho Pháp cửa Hội-an và quần đảo Côn-lôn. Nhưng ngay sau khi ký, Pháp ngần-ngại không viện-trợ và chỉ hai năm sau cuộc Ðại Cách-mạng Pháp bùng nổ, Pháp-đình bị lật đổ nên tờ giao ước “bán nước” trở thành giấy lộn.

Suốt trong nửa thế-kỷ sau không một chính phủ Pháp nào dám chủ-trương chinh-phục Việt-Nam vì sợ quá mạo-hiểm. Cuộc thôn tính Việt-Nam sau này một phần lớn là do sự vận~động của một số võ-quan “hiếu-động” và của các giáo-sĩ gia-tô muốn mượn gươm súng để khuếch trương địa-vực của Cơ-đốc giáo.

Vì vậy nên cuộc xâm chiếm của Pháp có tính cách chập chờn, xúc tiến trong những lúc tình hình chính-trị và kinh-tế của Pháp tương đối ổn-định, và tạm thời trì hoãn mỗi khi Pháp có nội biến hoặc ngoại-xâm. Mãi đến năm 1880 vì uy tín quốc-gia và vì muốn đua tranh với các liệt cường khác, Pháp mới ấn-định một chương-trình cướp đất có quy củ và quyết tâm thôn-tính nốt toàn cõi Việt-Nam.

Nhưng Pháp chiếm Việt-Nam không phải chỉ vì Việt-Nam mà dụng tâm của Pháp là dùng Việt-Nam như chiếc bàn đạp để bành trướng thế lực ở Viễn-đông, chờ dịp cấu xé Trung-Hoa là miếng mồi ngon hơn. Pháp bắt đầu chiếm đóng Nam-kỳ với chủ tâm ngược sông Cửu-long để tiến lên phía Bắc, nhưng vì sông Cửu-long không lưu thông được nên Pháp chiếm Bắc-kỳ, hy-vọng sẽ tới được Vân-Nam bằng sông Nhị-Hà. Cuối cùng Pháp chiếm nốt Trung-kỳ để nối liền Nam, Bắc, và chiếm luôn cả Lào và Cam-bốt mà Pháp coi là thuộc quốc của Việt-Nam.

Từ ngàn xưa, Trung-Hoa vẫn mưu tràn qua Việt-Nam để Nam-tiến. Lần này, ngược lại, Pháp chủ-trương Bắc-tiến bằng cách chui qua cái cuống phễu Việt-Nam để thông lên cái loa phễu Trung-Hoa. Nhưng tuy không đủ sức để kháng cự quân-đội Viễn-chinh Pháp, nhân đân Việt-Nam cũng nổi loạn liên miên khiến Pháp phải hao binh tổn tướng, mất nhiều thì giờ vào công cuộc bình-định và đặc nền cai-trị, nên Pháp lỡ mất cơ hội Bắc-tiến. Trung-Hoa đã bừng tỉnh giấc mơ và thực hiện cuộc Cách-mạng Tân-Hợi (1911), và Nhật bản, với oai-phong một đại cường-quốc đã coi toàn thể Ðông-Nam-Á là “Khối Thịnh vượng Chung” của mình. Năm 1940 quân-đội Nhật-Hoàng tiến vào Ðông-Dương và tháng 3, 1945, Nhật lật đổ Pháp, kết thúc 80 năm đô-hộ của Pháp ở Ðông-Dương.

LIÊN BANG ÐÔNG PHÁP

Trước khi hoàn toàn mất nước, năm 1884, Việt-Nam đã lập ngoại-giao với nhiều cường quốc như Anh, Pháp, I-pha-nho, Bồ-đào-nha, Hòa-lan, Hoa-kỳ, Nhật-Bản, v. v…. nhưng sau khi mất nước thế-giới bên ngoài quên đứt hai chữ Việt Nam, vì Pháp đã cố ý cắt đứt quốc-gia Việt-Nam thành ba “Kỳ” riêng biệt. Người Việt sinh đẻ ở mỗi “kỳ” mang theo một “quốc-tịch” và bị đặt dưới một chế-độ cai-trị khác nhau Dân “Nam-kỳ” được coi là “thuộc dân” và được hưởng chế độ “thuộc-địa” tương đối rộng rãi hơn chế-độ “trực-tiếp bảo-hộ”, hoặc “gián-tiếp bảo-hộ” dành cho Bắc-kỳ và Trung-kỳ. Tòa-án Nam-kỳ xử theo bộ luật “Dân luật Giãn yếu 1883” do Pháp soạn thảo, còn Bắc-kỳ và Trung-kỳ vẫn theo luật vừa lạc-hậu, vừa nghiêm khắc bội phần. Thực-dân Pháp duy-trì luật cũ của Nam-triều và bộ máy quan-lại để dùng làm công-cụ đàn-áp gián-tiếp, với dụng tâm lẩn tránh trách-nhiệm trước dư-luận. Dĩ-nhiên các cấp bực quan-lại và triều-đình Huế chỉ là cái bung xung để che đậy cho chính quyền thực dân nấp sau lưng, nắm trọn quyền cai-trị.(*) Năm “xứ” Trung-kỳ. Bắc-kỳ, Nam-kỳ, Ai-lao và Cam-bốt gộp lại thành Liên-Bang Ðông-Pháp, đặt dưới quyền cai-trị của một viên toàn-quyền Pháp, vì Pháp nhận thấy Việt – Mên – Lào, mặc dầu có những điểm dị-đồng về chủng-tộc và văn-hóa vẫn có thể hợp thành một khối địa-lý, chiến-thuật duy nhất. Và quả thực, nếu so sánh Ðông-Pháp với thân-thể một con người thì, trên bản đồ, dẫy Trường-sơn in hệt xương sống, và sông Cửu-Long, nếu chế-ngự được, sẽ là động mạch chính của toàn thể bán đảo. Bao gồm trong Liên-Bang Ðông-Pháp, ba nước đã có dịp trao đổi văn-hóa và kinh-tề, và cả ba đã đồng đều phát-triển.

Có một điểm chúng ta nên khách quan công nhận là mặc dầu đã gây nên nhiều tai họa không cần phải nhắc tới, đế quốc chủ-nghĩa cũng có lưu lại một công-trình hữu ích. Ðế quốc đã bao gồm nhiều tiểu quốc hoặc nhiều bộ-lạc nhỏ thành những đơn vị rộng lớn hơn. Liên-bang Sô-viết là nước rộng nhất thế-giới chẳng qua là con đẻ của đế-quốc Nga-la-tư, và nếu họ Mao tự cho mình quyền mang quân-độ chiếm đóng Tây-Tạng và đòi “thu hồi” cả Ðài-Loan, chẳng qua là vì họ Mao đã tự nhận là kẻ “thừa tự” của các đấng “Thiên Tử” thuở xưa. Một số khá đông các quốc-gia hiện nay có chân trong Liên Hiệp Quốc đã được hình-thành dưới chế-độ thực-dân của các đế-quốc Tây-phương.

Nhưng ngay về điểm này Liên-Bang Ðông-Pháp cũng không được may mắn như các cựu thuộc địa khác vì ngay sau khi chính-quyền thực-dân bị lật đổ thì ba quốc-gia liên hiệp lập tức ly-khai. Sở dĩ như vậy, một phần lớn, là tại chính-quyền thực-dân chỉ liên-kết ba nước để tiện việc hành chính và quân sự, trong khi vẫn ngấm ngầm chia rẽ và gây thù oán giữa người Việt, Miên, Lào và ngay cả giữa người Nam-việt và Bắc-việt. Tuy nhiên, lỗi không phải hoàn-toàn ở người Pháp, vì đứng vào địa vị thống-trị, họ phải áp-dụng phương-ngôn “chia để trị”, và nhân danh là nước “bảo-hộ” họ phải ngăn chặn không cho người Việt tràn vào Mên, Lào. Pháp tìm mọi cách khó dễ không cho dân Trung, Bắc-kỳ di cư sang Mên, Lào và ngay cả vào Nam-kỳ. Trái lại, để giải quyết nạn nhân mãn ở Bắc-kỳ, họ có ý định đưa bớt dân Bắc kỳ sang tận một nơi không ai nghĩ đến là xứ Cameroun thuộc Phi-châu. Ðể thực hiện chương-trình này, năm 1938, Pháp cử một phái đoàn sang thăm dò điều-kiện định-cư ở Cameroun, nhưng chẳng may vừa mới tới, một nhân viên phái đoàn là bác-sĩ Trần-văn-lai đã mắc ngay bệnh “sốt rét vàng”, nên toàn-bộ kế-hoạch phải gác bỏ.

Chỉ vì chính sách “chia để trị” mà sự-nghiệp to lớn nhất của Pháp ở Viễn-đông tức là Liên-Bang Ðông-Pháp đã bị tan rã. Bây giờ thêm nạn cộng-sản đã nắm chính-quyền ở Bắc-Việt, xâm-nhập Ai-lao và đang muốn thôn tính Nam-Việt, nền tự-chủ của các quốc-gia trên bán đảo Ðông-Dương đương bị đe dọa một cách trầm trọng. Sát nách sáu, bảy trăm triệu người Tàu, hiện nay hung hăng hơn bao giờ hết, hai trăm triệu nhân dân vùng Ðông-Nam-Á khó tránh nạn diệt-vong, nếu họ không đồng-tâm nhất-trí tìm cách tự-vệ. Muốn như vậy, họ phải trông thấy mối nguy trước mắt, gác bỏ những tị-hiềm cũ và liên-kết dưới một hình thức nào đó. Nhưng khốn thay việc này rất khó thực hiện vì các dân-tộc tản mác ở vùng này không chịu quên những xích-mích cũ và vẫn đương đố-kỵ lẫn nhau. Vì tình trạng ấy nên lửa chiến-tranh vẫn đang ầm-ỉ ở Ðông-Dương, nơi mà nhiều người coi là gót chân Achille của Thế-giới Tự-do.

(*)Mặc dầu danh từ “bắc-kỳ”, “nam-kỳ” và “Trung kỳ” nghe có vẻ lạc hậu, và nhắc lại thời kỳ Pháp thuộc, chúng tôi vẫn phải dùng những danh từ này mỗi khi nói đến ba “kỳ” mà Pháp đã phân chia . đối chiếu với Tonkin, Cochinchine và Annam . vì danh-từ Bắc-Việt, Nam-Việt hiện nay có nghĩa khác, và danh từ Bắc-bộ, Nam-bộ, Trung-bộ là những danh-từ Việt-Minh mới đặt sau này, vừa không phổ-biến trong toàn-quốc vừa không đúng với thời gian lúc bấy giờ.

CÔNG CUỘC CHỐNG PHÁP

Suốt trong thời-kỳ đô-hộ, không lúc nào phong-trào chống Pháp ngừng hẳn và ngay trong những khoảng thời-kỳ không có vũ-trang kháng cự, cuộc tranh-đấu cũng vẫn tiếp tục dưới hình-thức công khai.

Thời-kỳ ổn-định nhất là từ 1918 đến 1929, cũng là thời-kỳ mà nền kinh-doanh của thực dân phát-triển đến mực cao độ nhất. Mặc dầu, giữa thời-đại “hoàng kim” này của chế-độ thực-dân, một liệt-sĩ Việt-Nam là Phạm-hồng-Thái cũng ném được một quả bom, mưu giết viên Toàn-quyền Merlin trong một bữa tiệc ở Sa-Diện, hội viên toàn-quyền này viếng thăm Quảng-châu, năm 1924.

Ngoại-trừ phong-trào cộng-sản (1925 – 45) tất cả các phong-trào chống Pháp khác đều theo tôn chỉ quốc-gia. Theo thứ-tự thời-gian, chúng ta có thể lược kê mấy phong trào chính như sau : Phong trào Cần-vương (1885 – 1912) phong trào Văn-thân (1907 – 08), Phong trào Ðông Du (1905 . 39) và Việt Nam Quốc-Dân-Ðảng (1925 . 33 và 1945 – 46).

Trong những trang sau đây chúng tôi xin lược qua mấy phong trào quốc-gia, còn phong trào cộng-sản sẽ xin kể riêng trong Phần 2.

Phong Trào Cần-Vương.

Phong trào Cần-vương bao gồm nhiều vụ nổi loạn liên tiếp hoặc đồng thời, nhưng rời-rạc không liên kết, như vụ Tôn-thất-Thuyết chống Pháp và mang vua Hàm-Nghi ra khỏi kinh-thành (1885 – 88), vụ Phan-đình-Phùng khởi nghĩa (1885 – 95), Vụ Bãi Xậy (1885 . 89), vụ Hoàng-hoa-Thám xưng hùng ở Yên-thế (1890 . 1913). Tất cả những vụ nổi loạn kể trên có thể coi là tiếp tục võ-trang chống Pháp và đã lần lượt thất bại vì những người cầm đầu là vua quan hoặc nho sĩ, không hiểu biết về quân sự tối-tân. Một yếu-tố thất bại là dưới chế-độ nho-giáo phong-kiến người dân không hề được tham gia qưốc-sự. Ðối với họ, sơn hà Việt-Nam là của riêng của vua chúa nhà Nguyễn và việc phòng giữ đất nước là nhiệm vụ riêng của triều-đình. Quan lại xuất thân trong nho-giáo quen thói sống xa nhân dân hống hách khinh miệt quần-chúng nên gặp lúc quốc-gia lâm nguy không khai thác được lực-lượng hùng hậu của nhân dân. Vì vậy nên tinh-thần yêu nước của nhân dân không trỗi dậy và chỉ riêng giới sĩ-phu thức thời mới nhận thấy mối hiểm họa của nền đô-hộ ngoại-bang.

Phong Trào Văn-Thân.

Trong mấy chục năm đầu dưới chế-độ cai-trị của Pháp nho-sĩ Việt-Nam, không khác nho-sĩ Trung-Quốc, vẫn đinh ninh văn-hóa Tây-phương kém xa văn-hóa Trung-Quốc. Vì vậy nên họ nhất thiết không cho con cái theo học Pháp-văn. Về phía người Pháp, họ thấy cũng chẳng cần phải khuyến-khích, vì quan-lại họ tiếp-tục tuyển-mộ theo lối khoa-cử vẫn có thể cai-trị đắc-lực dưới sự điều-khiển của họ, qua việc thông-dịch của một vài thông-ngôn. Pháp chỉ lo đào tạo một số ít nhân-viên tòng-thuộc cần-thiết cho một vài cơ quan chuyên môn.

Nên nhắc lại là thời-kỳ ấy chính-quyền thuộc-địa hết sức dấu kín những tư-tưởng dân-chủ do các triết-gía Pháp, như Rouseeau, Voltaire, Montesquieu đề-xướng. Ðồng thời trong mấy cuốn sách giảng dạy ở các trường Pháp-Việt những đoạn nói về cuộc đại-cách-mệnh Pháp 1789 cũng chỉ phớt qua. Mãi về sau, vì đọc những bản dịch sang chữ Hán, xuất bản ở Thượng-Hải, các nho-gia Việt-Nam mới nhận thấy triết-học Tây-phương cũng có nhiều điểm thiết thực hơn triết-học Ðông-phương. Bừng mắt tỉnh dậy, các cụ bèn đốc thúc con cái nộp đơn xin vào các trường Pháp-việt mà trong suốt một thế hệ các cụ đã tích cực tẩy chay. Vì trường ốc quá ít ỏi mà chính quyền thuộc địa không muốn mở thêm, nên các cụ tự ý mở trường để phổ biến kiến thức Tây-phương, kể cả các lý-thuyết về kinh-tế chính-trị (1907). Chính quyền thuộc-địa ra lệnh đóng cửa trường và bỏ tù những người đứng ra tổ chức. Sang năm sau, các cụ Văn-thân bèn mở rộng diện tích đấu tranh, huy động nông dân biểu tình trước dinh công-sứ các tỉnh, đòi giảm thuế và mở thêm trường học. Cuộc biểu tình ở Quảng-nam bị đẫm máu: nhiều nho sĩ bị hành quyết tù đầy.

Mãi sau thế-chiến thứ Nhất, Pháp mới cảm thấy phải thực hiện chút ít nhiệm vụ “khai hóa” của mình. Họ mở thêm nhiều trường Pháp-việt, tuyển lựa một số học sinh con nhà quyền quý vào trường Trung học Albert Sarraut ở Hà-Nội, bãi bỏ thi cử khoa bảng (1917) và mở trường Cao-đẳng Hà-Nội (1918). Việc phát triển giáo dục cần thiết cho sự phát triển kinh doanh của Pháp, làm cho một số sĩ phu Việt-Nam tin rằng, bằng cách đề huề hợp tác với Pháp cũng có hi vọng canh tân được xứ sở và dân-chủ hóa được chế độ. Người chủ xướng phong trào là Cụ Phan-chu-trinh bị đày ra Côn-đảo, nhưng sau được Hội Nhân-quyền can thiệp và đưa sang Paris năm 1911. Cụ truyền bá lý tưởng dân chủ và nhiệt liệt lên án Nam-triều, nhưng mặc dầu lời kêu gọi của Cụ được giới trí thức nhiệt liệt hoan nghênh, cuộc đấu tranh của Cụ vẫn chẳng mang lại được mảy may thay đổi về chính sách cai trị của người Pháp. Cụ về nước và mất ở Saigon tháng ba năm 1926. Ðược tin cụ Phan từ trần, học-sinh trong toàn quốc mặc tang phục để tang Cụ. Pháp ra lệnh khủng bố, học sinh bãi khóa để phản kháng, nên Pháp lại càng khủng bố thêm.

Phong Trào Ðông-Du.

Cũng vào khoảng đầu thế kỷ, một số các nhà nho khác lại cho rằng không thể nào đề huề hợp tác được với thực dân Pháp và phải đấu tranh bằng võ khí để dành lại chủ quyền, mới có cơ hội canh tân xứ sở. Hồi đó phong trào cách mạng đang sôi nổi ở Hoa Nam và tin Nhật-Bản chiến thắng Nga-la-tư làm cho giới nho sĩ Việt-Nam tin tưởng ở tinh thần đoàn kết Á-châu, và mang lại cho họ hoài bão Á-châu sẽ tự giải-phóng dưới sự lãnh-đạo của Nhật-Bản. Cụ Phan-bội-Châu trốn sang Tầu, sang Nhật. và cổ-động thanh niên bí mật xuất dương. Cụ tổ chức Việt-Nam Quang-phục Hội, đặt trụ sở ở Quảng-châu, và thiết lập một hệ-thống bí mật từ Nam chí Bắc. Cụ bôn ba khắp Viễn-đông và cùng mấy vị lãnh-tụ Á-châu khác thành lập Ðông-Á Ðồng-Minh Hội. Cụ có dịp giao-du với Tôn-văn, Khuyển-dưỡng-nghị, va nhiều lãnh-lụ Trung, Nhật khác, cũng lý-tưởng như cụ . và quyên được nhiều tiền cho Hội, không kể tiền quyên trong nước, nhiều nhất là ở Nam-Việt gởi qua. Cụ xin được học bổng cho một số đông thanh niên Việt-Nam sang rghiêng cứu quân sự và chính trị ở Nhật và ở Tàu. Cụ đưa được chừng bốn chục người vào đại-học quân sự Nhật và một số khác . tác giả chỉ được biết có hai người là cụ Lê-Dư và cụ Bùi-Uyên . vào đại-học Waseda ở To-ki-o, và vài chục người khác vào trường Trung-Ương Chính-trị Quân-sự Hoàng-phố. Về sau, những học-sinh tốt nghiệp các trường này về nước tổ chức cuộc bạo-động ở Nam-kỳ vào năm 1913, tấn công đồn Tà-Lùng với khí-giới nhận được của lãnh sự Ðúc ở Bangkok, xúi dục binh sĩ nổi loạn ở Thái-nguyên, và cuối cùng là cuộc khởi-nghĩa ở Lạng-sơn năm 1940.

Giữa lúc phong-trào Quang-phục Hội đang gặp khó khăn nhưng chưa tan rã hẳn thì cụ Phan bị ông Nguyễn-Ái-Quốc lập mưu bán cho Pháp lấy 10 vạn đồng (hồi ấy một con trâu trị giá 5 đồng). Cụ Phan vốn biết ông Nguyễn-Ái-Quốc là Cộng-sản, nhưng cụ cho rằng Cộng-sản cũng nhiệt tình yêu nước như Quốc-gia, nên cụ quý trọng và hoàn toàn tín nhiệm ông Nguyễn. Cụ theo lời ông đến một địa-điểm ở Thượng-hải mà Cụ không biết là thuộc tô-giới Pháp. Cụ bị cảnh sát Pháp bắt và đưa về Việt-nam để xử tội. Giới cách-mạng Việt-Nam ở Trung-Quốc đều biết rõ việc này, và một người đồ-đệ của ông Nguyễn-Ái-Quốc đã thuật lại với chúng tôi rằng sau vụ này ông đã giải thích hành động của ông như sau : Cụ Phan đã già lẫn, không còn ích lợi cho cách mạng; việc Pháp bắt cụ và xử án cụ tất nhiên sẽ gây phong trào phản đối trong quốc nội, rất có lợi cho tinh thần cách-mạng; sau hết, tiền nhận được của Pháp sẽ dùng để đưa thêm thanh-niên trong nước xuất ngoại.

Việc này ông Nguyễn-Ái-Quốc đồng mưu với Lâm-đức Thụ1 (tên thật là Nguyễn-công-Viễn) một thời là đại-diện cho cụ Phan ở Hồng-kông và sau theo Cộng-sản. Hai người chia đôi số tiền nhận được của Pháp. Về phần ông Nguyễn-Ái-Quốc thì quả thật ông dùng tất cả phần tiền của ông để chi phí cho Thanh-niên Cách-mạng đồng-chí Hội do ông tổ chức ở Quảng-châu, nhưng còn Lâm-đức-Thụ thì hắn tiêu xài hết phần tiền của hắn vào cuộc đời xa đọa ở Hồng-kông.

Việc buôn bán cách mạng này tiếp tục trong nhiều năm. Mỗi thanh niên Quang-phục Hội đưa sang Tàu phải nộp cho Lâm-đức-Thụ ở Hồng-kông hoặc cho đại diện của hắn ở Quảng-châu hai bức hình, nói là để lập hồ sơ xin vào trường Hoàng-phố. Ðến ngày những sinh viên này tốt nghiệp, sẵn sàng lên đường về nước để hoạt động cách-mạng thì số phận của mỗi người đã được định sẵn. Những người đã nghe theo tuyên truyền Cộng-sản và đã gia nhập Thanh-niên Cách-mạng đồng-chí Hội thì được an toàn trở về quê hương để hoạt động bí mật. Còn những người vẫn khăng khăng giữ vững lập trường quốc-gia thì hễ qua khỏi biên giới là bị mật thám Pháp đón bắt: vì theo ám hiệu của Cộng sản, Lâm-đức-Thụ trao cho lãnh sự Pháp ở Hồng-kông một tấm ảnh của những người mà Cộng-sản không thu phục được. Những thanh niên này bị bắt và đưa dần vào tù, khiến phong-trào quốc-gia ở Việt-Nam mất liên lạc với trụ sở ở Quảng-châu. Những người trong nước phái ra liên lạc với bên ngoài cũng hoặc bị Cộng sản thu hút, hoặc bị Pháp bắt vào tù. Tình trạng cứ tiếp diễn đến nỗi những sinh viên tốt nghiệp Hoàng-phố mà không chịu theo Cộng-sản thường không giám về nước, và chỉ còn cách là gia nhập quân đội Quốc-dân-đảng Tàu. Dần dà phong trào quốc gia mỗi ngày mỗi xuy xụp và phong trào Cộng-sản mỗi ngày một bành trướng.

Vì đưa thanh niên ra ngoài để sau ít năm bán cho Pháp nên Lâm-đức-Thụ được mệnh danh là “lái thanh-niên”. Hắn trở nên cực kỳ giàu có và sống rất xa hoa ở Hồng-Kông. Những chỉ mấy năm sau, vì không còn thanh niên để bán nên Thụ hết tiền, không còn phương tiện sinh nhai, phải xin pháp trợ cấp và che chở cho về Nam Vang, và sau cùng về sinh quán ở Thái-bình. Gặp cuộc khởi nghĩa Việt-minh, Thụ hoảng sợ, nhưng để thoát thân, hắn bí mật đến yết kiến ông Hồ, lúc ấy đã trở thành Chủ-tịch Chính-phủ Việt-Nam Dân chủ Cộng-hòa. Ông Hồ hứa che chở cho Thụ, nhưng bảo Thụ phải về sống yên ổn ở làng, không được tiết lộ những hoạt-động của hai người lúc còn ở Hông-kông. Thụ về Kiến-xương sống yên ổn trong mấy năm liền, nhưng vào khoảng năm 1950, khi quân đội Pháp tiến gần đến huyện, thì cán bộ Việt-minh, theo cẩm nang của Ðảng đã giao sẵn từ trước, bỏ Lâm-đức-Thụ vào rọ mang trôi sông. Thụ để lại một người vợ Tàu và mấy đứa con lai. Nói về cụ Phan, thì sau khi cụ bị bắt cụ bị mang ra xử ở Hà-Nội, và kết án tử hình. Ðúng theo lời tiên đoán của ông Nguyễn-ái-Quốc, tin cụ bị bắt và bị lên án làm sôi nổi dư luận từ Bắc chí Nam. Nhờ phong trào phản đối, và cũng nhờ chính phủ Cartel de Gauche lên cầm quyền ở Pháp viên Toàn quyền Alexandre Varenne, đảng viên đảng Xã hội Pháp, ân xá cho cụ, nhưng bắt cụ phải cấm cố tại Huế. Cụ mất ngày 20 tháng 10 năm 1940, vài ngày sau khi quân đội Nhật đổ bộ vào Việt-Nam, việc mà cụ Phan vẫn ước mong trong suốt đời bôn ba của cụ. Cụ tin tưởng Nhật-Bản sẽ thực tình giúp Việt-Nam dành lại độc lập.

1 Có hai người nữa cũng bị tình nghi về vụ này là Nguyễn-thượng-Huyền con cụ Nguyễn-thượng-Hiền và Tổng-Oánh, rể cụ Phan, nhưng Tổng Oánh hết sức chối cãi.

Nhật-Bản bắt đầu tấn công Pháp ở Lạng-sơn tháng 9 năm 1940, và giúp nhóm cựu đảng viên Quang-phục Hội nổi lên chống Pháp. Nhưng chỉ vài ngày sau, vì chính phủ Pháp ở Vichy nhượng bộ Nhật, nên Nhật giao trả Lạng-sơn cho Pháp và sau đó, Pháp triệt-hạ những người thân Nhật chống Pháp.

Cuộc chiến tranh Trung – Nhật đã làm cho cụ Phan thất vọng từ mấy năm trước, nhưng trong khi cụ nằm trên giường bệnh, tin những đồ đệ cuối cùng của cụ bị Nhật bỏ rơi và Pháp xử bắn ở Lạng-sơn hình như hối hả cái chết của Cụ. Mấy ngày trước khi Cụ từ trần, viên khâm-sứ Pháp đến tán tỉnh Cụ và đưa Cụ ký một bức thư cổ võ Pháp-Việt đề huề. Không ai rõ là Cụ đã phủ nhận đường lối đấu tranh của Cụ hay vì ốm đau mà cụ mất minh mẫn, nhưng dù sau nhân dân Việt-Nam vẫn coi Cụ là một anh hùng dân tộc trong lịch sử hiện-đại.

Phong Trào Việt-Nam Quốc-Dân-Ðảng.

Ba phong trào kể trên bao gồm những thế hệ ra đời trước khi mất nước, hoặc khi mới mất nước. Các nhân vật lãnh đạo đều xuất thân trong nho-giáo và không biết hoặc biết rất ít về tây-học. Phong-trào thứ tư khác hẳn mấy phong trào trước ở điểm các nhân vật tham gia đều sinh và đầu thế-kỷ, được đào tạo ở các trường Pháp . Việt và có tiêm nhiễm chút ít tân học. Thế hệ mới này đứng giữa thế hệ cựu-học và thế hệ tân-học hiện nay. Họ giống thế hệ trước về tinh thần bài Pháp và giống thế hệ sau về tinh thần dân chủ. Nhưng trái lại họ vẫn không khác các bực tiền bối ở chỗ họ không vọng ngoại, và lập trường của họ không khác lập trường của phong-trào “Tự-lập” (Sein-fein) ở Ái-nhĩ-Lan.

Nhưng vì thiếu kiến thức chính trị và kinh nghiệm cách mạng nên họ không thắng nổi đối thủ là Cộng-sản và kẻ thù là thực dân. Hồi ấy Cộng-sản đã lôi kéo được phân nửa các phần tử yêu nước, và thực-dân, với màng lưới mật thám dầy đặc, đã thừa sức đàn áp. Chung quy, phong-trào quốc gia có thể coi là hậu quả của cuộc đàn áp thanh niên hồi cụ Phan-bội-Châu bị bắt và cụ Phan-chu-Trinh từ trần.

Phong-trào Quốc gia phát xuất tự lòng căm hờn cao độ bộc phát trong tâm hồn giới tiểu trí-thức đã giác ngộ chính trị nhân dịp bãi khóa sinh viên. Sinh viên bắt đầu bãi khóa năm 1925 khi cụ Phan-bội-Châu bị bắt. Bị đàn áp, phong-trào lại chỗi dậy vào dịp để tang cụ Phan-châu-Trinh. Nhiều học sinh, sinh viên bị đuổi khỏi trường và cấm không được thi cử. Phần lớn thuộc giai cấp trung-lưu, họ là từng lớp thanh cao nhất của xã-hội Việt-Nam thuở ấy. Sau thế chiến thứ nhất, giai cấp thượng lưu (quan-lại và tư-sản) đã mất tiết tháo vì bị sa vào vòng quyền lợi của thực dân ban bố, và lối sống xa đọa của Tây-phương mang lại. Họ không còn đủ chí khí để hi-sinh cho cách mạng. Tuy nhiên một số con cháu họ có tâm hồn lý-tưởng – như phần lớn con nhà giàu có – hướng theo một tín-ngưỡng mới là chủ-nghĩa Mác, và lãnh đạo cuộc cách mạng Cộng-sản sau này.

Người thủ xướng và lãnh đạo phong trào Quốc-gia là Nguyễn-thái-Học, một cựu sinh viên trường Sư-phạm. Những đảng viên khác phần đông là tiểu thương, tiểu công chức, tư chức, và hạ sĩ quan trong quân đội. Một thiểu số là công nhân và phụ nữ cũng đóng một vai trò quan trọng.

Ðiều đáng chú ý là Nguyễn-thái-Học và các đồng chí của ông có phần gần vô-sản hơn là các lãnh tụ Cộng-sản. Sự thực thì không một đại điền-chủ, đại tư-sản, hay một đại trí thức nào gia nhập phong-trào quốc-gia, mà trái lại, phần lớn các lãnh-tụ Cộng-sản đều là con cái quan-lại hoặc đại địa-chủ. Nhiều ông là cựu sinh viên trường Cao-đẳng Hà-Nội hoặc đã từng du học tại Pháp. Phần lớn những người tham gia phong trào quốc-gia năm 1930 thuộc thành phần trung lưu. Họ là những người trực tiếp bị thực dân bạc đãi hoặc đàn áp nên nóng lòng muốn lật đổ chế-độ. Trái lại, những người theo Cộng-sản là con nhà khá giả, có học thức, có điều kiện để chờ đợi, đủ kiến-thức để nhìn rộng trông xa, nên họ tin tưởng ở một “lý-thuyết khoa-học” mà họ cho rằng tất nhiên phải toàn thắng.

Năm 1927, Nguyễn-thái-Học và mấy người bạn của ông thành lập Nam-Ðồng Thư-xã, một nhà xuất bản ở Hà-Nội với định ý kiếm lợi để hoạt động chính trị và đồng thời giác ngộ nhân-dân Việt-Nam về chính trị quốc-tế, truyền bá tư tưởng dân chủ bằng sách vở báo chí. Chẳng bao lâu Nam-Ðồng Thư-xã bị nhà cầm quyền ra lệnh đóng cửa nhưng căn nhà vẫn dùng làm nơi tụ họp và rút cục, toàn nhóm quyết định thành lập Việt-Nam Quốc-Dân-Ðảng.

Vì thiếu kiến thức chính trị nên họ chỉ biết theo gương cách mạng Trung-Quốc. Bắt đầu bằng cách dùng ba chữ Quốc-Dân-Ðảng và dựa theo chủ nghĩa Tam Dân của Tôn dật-tiên. Ðể đánh lạc hướng mật thám Pháp, Nguyễn-thái-Học dùng một mưu mẹo sau này tỏ ra khá có hiệu lực. Ông chia Quốc-Dân-Ðảng thành hai nhóm riêng biệt, một nhó bán công khai và một nhóm hoàn toàn bí mật. Nhóm bán công khai gồm nhiều nhân vật mà mật thám Phắp vừa biết mặt vừa quen tên, chỉ có nhiệm vụ là gây nhiệt khí trong nhân dân. Họ thường xuyên lai vãng Việt-Nam Hotel, một quán cơm của Ðảng thành lập ngay giữa phố Hàng Bông, Hà-Nội.

Hoạt-động ngay trước mặt mật thám Pháp và không làm gì trái pháp luật, họ làm chiếc bình phong che đậy cho nhóm thứ hai hoạt động bí mật. Vì chiến thuật này nên Việt-Nam Quốc-dân-đảng bành trướng rất nhanh. Ở Hà-Nội không ai không biết Việt-Nam Hotel và đến tháng Giêng năm 1929.

Ðảng có tới 120 tiểu-tổ bí mật, gồm 1500 đảng viên, trong số có hơn một trăm binh lính. Nguyễn-thái-Học và các lãnh tụ V.N.Q.D.Ð. hi-vọng tiếp tục như vậy trong ít năm nữa, vừa bán công khai vừa bí mật, để chờ thời cơ, đủ lực lượng khởi nghĩa chống Pháp. Nhưng nhiều sự việc đã xảy ra không như ý muốn, bắt buộc V.N.Q.D.Ð. phải khởi nghĩa trước khi có đủ thì giờ sửa soạn.

Tối hôm mùng 9 tháng 2 năm 1929 một tên trùm thực dân Pháp là René Bazin, chuyên việc mộ phu Bắc-kỳ cho các đồn điền cao-su Nam-kỳ, bị một thanh-niên Việt-Nam bắn chết ngay trước nhà hắn.

Vụ này hiện còn là một bí mật. Chàng thanh-niên đón Bazi trước cửa, và khi hắn xuống xe thì giao cho hắn một bức thư. Trong khi Bazin đương loay hoay mở bao thư thì chàng thanh niên rút súng sáu bắn chết tại chỗ. Bazin lăn quay ra giữa đường, nằm trong tay một mảnh giấy có mấy giòng chữ “mày là tên thực dân hút máu Việt-Nam”. Mật thám Pháp không tìm ra hoặc tìm ra nhưng không công bố đích danh thủ phạm. Về vụ này một sử gia Mác-xít là ông Lê thành-Khôi ghi rằng (trong cuốn Le Việt-Nam Paris 1955, tr. 439) thủ phạm là một tay sai (agent provocateur), của sở Mật-thám Pháp. Lối giải thích của ông Khôi có hơi khó tin vì lẽ dưới chế-độ Pháp thuộc, và hồi đó thực dân vẫn nắm trọn quyền cai trị, không lẽ nào bè lũ thực dân phải hy sinh tính mạng một phần tử trong bọn để kiếm cớ đàn áp. Có một giả thuyết nghe xuôi hơn là vụ ám sát này do Cộng-sản chủ trương, vì Cộng-sản nhắm hai mục tiêu. Một là làm tan vỡ chương trình của Quốc-dân-đảng, hai là gây ảnh hưởng đối với công nhân các đồn điền cao su của Pháp.

Pháp phản ứng tức khắc bằng cách bắt bớ tất cả những phần tử bán công khai của V.N.Q.D.Ð và đưa một số đi Côn-Ðảo. Nhưng về sau, vì thiếu bằng cớ nên chừng hai trăm người được tha về. Nguyễn-thái-Học vẫn không bị bắt, nhưng về sau vụ án Bazin, mật thám Pháp biết có nhóm Q.D.Ð. bí mật, và sợ rằng không hành động ngay thì quá muộn, nên Nguyễn-thái-Học ra lệnh tích cực sửa soạn tổng khởI nghĩa.

Một trong những việc sửa soạn là chế tạo bom, nhưng vì giao phó công việc pha chế chất nổ cho một học sinh trường Bưởi mới 17 tuổi [1], nên nhiều vụ nổ đã xẩy ra, khiến Mật thám Pháp biết rõ công cuộc đang tiến hành. Nhiều đảng viên quan trọng bị bắt và Nguyễn-thái-Học cũng bị theo rõi. Trong tình thế bắt buộc, “không thành công cũng thành nhân”, Nguyễn-thái-Học ra lệnh tổng khởi nghĩa và ngày 10 tháng 2, 1930. Nhưng sau ông lại ra lệnh hoãn đến 15 tháng 2. Vì giao thông khó khăn nên lệnh hoãn không tới kịp đồn Yên-Báy. Kết quả đồn này khởi nghĩa đúng ngày 10 tháng 2.

Dĩ nhiên là Pháp thẳng tay đàn áp. Làng Cổ-Am là nơi các lãnh tụ họp bị ném bom, và chỉ trong vài tuần là tất cả guồng máy lãnh-đạo bị bắt gần hết. Ngày 17 tháng 7 năm 1930 mười ba chiếc đầu rơi ở Yên-báy, trước khi hô to “Việt Nam Muôn Năm”. Cô Giang ý trung nhân của Nguyễn-thái-Học, trà trộn vào đám đông để chứng kiến vụ hành quyết. Sau đó cô về làng họ Nguyễn, ngồi dưới gốc cây đa đầu làng và dùng súng lục tự vẫn.[2]

Nhưng một số đảng-viên cũng trốn thoát sang Tàu và thành-lập lại V.N.Q.D.Ð. Nhân dịp Nhật đầu hàng, họ trở về nước và cùng một lúc chiến đấu chống Việt-Minh mới nhanh tay cướp chính-quyền, và chống Pháp đương ra sức chiếm lại Việt-Nam. Họ chiến đấu với một tinh thần vô cùng anh-dũng nhưng vì cấp lãnh-đạo thiếu đường-lối chính-trị nên không được đa số nhân dân ủng hộ. Họ được quân đội Lư-Hán tích cực giúp đỡ nhưng sau khi quân-đội này đột nhiên rút khỏi Việt-Nam họ bị Cộng-sản tức khắc tấn công và tiêu-diệt. Theo lời ông J.H. Brimmel tác-giả cuốn Communism in South East Asia, trang 181, thì Pháp không những để mặc mà còn giúp Cộng-sản phương-tiện để tấn công phe Quốc-gia vì Cộng-sản đã thỏa-thuận nhường cho Pháp một vài thuận lợi nào đó.

Bị đánh bật sang Tàu, nhóm V.N.Q.D.Ð. lại tổ chức lại, nhưng chẳng lâu Hồng-quân của họ Mao đã tràn qua sông Dương-tử tiến xuống Hoa Nam. Vị lãnh-tụ mới là Vũ-hồng Khanh mang một vạn quân, phần lớn là người Tàu, trở về Việt-Nam. Việt-minh tránh đường cho toán quân này kéo qua, nhưng Pháp mang lục-quân và không-quân ngăn chặn, bắt họ phải thừa nhận uy-quyền của chính-phủ Bảo-đại. Từ đó V.N.Q.D.Ð. không còn là một đảng chính-trị có tổ chức. [3]

1 Ông Trịnh-văn-Yên, sau này có công chế-tạo thuốc nổ và nhiều hóa-chất cho chính-quyền Việt-minh.2 Sở dĩ Cô Giang về tận quê nội Nguyễn-thái-Học để tự tử vì cô muốn bắt buộc các nhà chức-trách địa-phương phảI chôn cất cô ngay tại đây, gần nghĩa-địa của họ Nguyễn. Cô tự coi là vợ chính-thức của Nguyễn-thái-Học, tức là con dâu họ Nguyễn nên cô muốn “sống không có dịp làm dâu thì chết cũng nhất thiết làm dâu” họ Nguyễn. Ðiều đáng tiếc là khi chép vụ này, sử gia Lê-thành-Khôi đã dựng đứng câu chuyện là Cô Giang đã tự tử dưới gốc cây đa, vì trước kia hai người đã tình tự nơi đây. Ông Khôi sinh sau đẻ muộn nên không biết Nguyễn-thái-Học, quê ở Vĩnh-Yên, và Cô Giang quê ở Bắc-giang, đã gặp nhau ở Hà-nội trong dịp cùng hoạt-động Cách-mạng. Dựng nên câu chuyện “tình tự duới gốc cây đa” hình như nhà viết sử Mác-xít muốn hạ giá Cô Giang từ một liệt-nữ xuống hạng một cô gái lãng-mạn.


Phần 2 . Nước Mất Lại Còn  

 

Ngược dòng lịch sử  : 
Từ Thực-dân Ðến Cộng-sản (Hoàng-văn-Chí)  
Từ thực dân đến cộng sản… !

Đời sống nhân dân Miền Nam dưới thời Việt Nam Cộng Hòa
DVD : Chiến tranh VN – Những điều chưa được biết đến !
Sách đen về Chủ nghĩa Cộng Sản (Livre noir du commumisme)

Advertisements

Leave a Comment »

No comments yet.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: