Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

June 7, 2008

Từ Thực-dân Ðến Cộng-sản: Phần 2: Nước Mất Lại Còn

Hoàng-văn-Chí – Bản dịch của Mạc-Định

Từ Thực-dân Ðến Cộng-sản  
• Hoàng-văn-Chí

From Colonialism To Communism
Một Kinh-nghiệm Lịch-sử Của Việt-nam

• Bản dịch của Mạc-Định

—— o0o ——

PHẦN 2

NƯỚC MẤT LẠI CÒN
Dẫu cường nhược có lúc khác nhau
Song hào kiệt đời nào cũng có.

BÌNH NGÔ ÐẠI CÁO
(1427)

Chương 3

“BÁC HỒ, VỊ CỨU-TINH CỦA DÂN-TỘC”

Nhìn một cách tổng quát thì có thể nói Cách-Mạng Việt-Nam bắt đầu bằng phong trào Quốc-gia và kết thúc với chế-độ Cộng-sản. Trong hai thế-hệ liên tiếp những người Việt-Nam yêu nước đã đấu tranh dành độc-lập quốc-gia. Họ không thành công nhưng họ giữ ngọn lủa cách-mạng không lúc nào tắt hẳn, và những kinh-nghiệm xương máu của họ đã giúp cho Cộng-sản chiến thắng với danh-nghĩa giảI-phóng quốc-gia, sau một thời kỳ hoạt động trong bóng tối tương đối ngắn hơn. So với phe quốc-gia, Cộng-sản ít bị thiệt hại hơn, và đã thành công tương đối dễ dàng vì nhiều lý do. Trước hết là nhờ sự lãnh đạo khôn khéo của Ðệ Tam Quốc-Tế và hai là nhờ lòng quả cảm của các đảng viên Cộng-sản. Hơn nữa, vì chủ nghĩa Mác-xít có tính chất cấp-tiến nên Cộng-sản đã thu hút được những phần tử trí thức có lý-tưởng, đồng thời huy động được đông đảo quần chúng bằng cách hứa hẹn một con đường tắt đưa tớI mức sống cao hơn. Vì tất cả những yếu tố này mà Cộng-sản mỗi ngày một mạnh thêm, trong lúc phong trào quốc gia mỗi ngày một suy yếu dần. Nhưng cuối cùng sở dĩ Cộng-sản đã thành công, phần lớn là nhờ những chiến thuật hết sức biến ảo, lúc thì hiện hình là Cộng-sản, lúc thì tự nhận là Quốc-gia, tùy theo tình thế đổi thay mà vẫn giữ kín mục tiêu chiến luợc bất di bất dịch của mình.

Cộng-sản bắt đầu xuất hiện ở Việt-Nam từ 1925, là năm ông Hồ-Chí-Minh thành lập Thanh Niên Cách Mạng Ðồng Chí Hội, tuyển mộ các đảng viên đầu tiên trong nhóm thanh-niên Việt-Nam mà phe quốc-gia đã đưa sang Trung-Hoa. Hai mươi năm sau, khi lên nắm chính quyền ở Hà nội, năm 1945, dướI ngọn cờ Việt-minh, ông Hồ-Chí-Minh vẫn còn đội lốt một nhà lãnh-tụ quốc-gia.

Ðối với Việt-cộng, chiêu bài đấu tranh giai-cấp chỉ mang lại cho họ một chút ảnh hưởng trong quần chúng mà không giúp cho họ đạt được thắng lợi to lớn nào cả. Chỉ những khi họ đội lốt Quốc-gia đấu tranh chống thực-dân Pháp mới đạt được những thắng lợi quan trọng. chứng cớ là trong khoảng thờI gian từ năm 1946 đến năm 1951 đảng Cộng-sản Việt-Nam đã phải tuyên-bố tự giải tán và rút lui vào bóng tối, mặc dầu họ vẫn kiểm soát nhân-dân và quân đội. Ở một nước bán khai như Việt-Nam không có lấy một người xứng danh là tư bản thì dĩ nhiên đấu tranh giai cấp chẳng có lợi mấy cho Cộng-sản, còn giai cấp bán-vô-sản, vì quá ít ỏi nên thực ra chẳng đóng một vai trò nào đáng kể trong sự xuất hiện của chủ nghĩa Cộng-sản. Những yếu-tố sau này đã giúp cho Cộng-sản nhiều nhất chính là những yếu-tố mà trong hoàn cảnh bình thường đáng lẽ đã đưa đến một cuộc cách mạng thuần~túy quốc-gia. Những yếu-tố đó là chế-độ thuộc địa của Pháp, đặt trên nền móng bất bình-đẳng dân-tộc, và tính chất hà lạm của quan lại phong-kiến, gây bất-mãn trong nhân dân và tiêu hủy mọi hy vọng canh-tân và dân chủ hóa chế-độ.

Cộng-sản thành công chỉ vì quốc-gia bất lực không hoàn thành nổi sứ mạng lịch sử của mình. Thẳng thắn mà nói, phong-trào quốc-gia thất bại một phần vì không đủ sức chống lại sự đàn áp của thực-dân, nhưng một phần cũng vì bị Cộng-sản xâm lấn và làm cho tiêu hao lực lượng bằng mọi mánh khoé, và cuối cùng bị tiêu diệt bằng võ lực.

Trong hoàn cảnh ấy lãnh đạo Cộng~sản Việt-Nam không cần phải là một lý-thuyết-gia uyên-thâm mà là một nhà “sách-động chuyên nghiệp” có đủ tài ba để giả dạng làm một lãnh tụ quốc-gia. Năm 1926, đệ-tam Quốc-tế đã giao cho ông Hồ-Chí-Minh công tác khó khăn này, và ông đã thành công vì ông có đủ những đức tính cần thiết để đóng vai trò một lãnh tụ nửa Cộng-sản nửa Quốc-gia.

Nhân-dân Việt-Nam bắt đầu nghe tên Hồ-Chí-Minh từ tháng 8 năm 1945. Ngày 28 tháng 8 năm đó (nghĩa là ngày sau ngày Việt-Minh cướp chính quyền) báo chí Hà-Nội công bố thành phần Chính-phủ Lâm-thời Việt-Nam Dân chủ Cộng-hòa mới thành lập do ông Hồ-Chí-Minh làm Chủ-Tịch. Trước đấy, chưa ai nghe đến tên Hồ-Chí-Minh bao giờ, và mọi người đều thắc mắc về cái tên hơi kỳ lạ đó. Nhiều người cho rằng cái tên đó văn hoa quá không phải là tên thật mà chỉ là tên hiệu.

Dư luận bàn tán về lý lịch ông Hồ-Chí-Minh, nhất là các nhân viên trong tân chính phủ hồi ấy lại càng băn khoăn hơn, và tất cả đều nóng lòng muốn biết rõ ông Hồ là ai và tên thật là gì. Nhưng rồi cũng chẳng phải chờ lâu, vì chỉ mấy hôm sau bắt đầu có tin đồn Hồ-Chí-Minh là tên mới của Nguyễn-Ái-Quốc, con người bí mật đã từng “khai sinh ra đảng Cộng-sản Việt-Nam”.

Khi nghe tin đồn này, sở Mật-thám Pháp lập tức lục lại hồ sơ để tìm ảnh Nguyễn-Ái-Quốc. Theo hồ-sơ chính thức thì Nguyễn-Ái-Quốc đã chết ở Hồng-kông năm 1933. Khi đem so sánh bức ảnh đã phai nhạt của Nguyễn-Ái-Quốc với những tấm ảnh của ông Hồ bán đầy đường Hà-Nội, sở Mật thám Pháp mới biết họ Nguyễn vẫn còn sống, và sau 10 năm ẩn náu trong bóng tối đã trở lại chính-trường dưới cái tên Hồ-Chí-Minh. Các chuyên viên sở Mật-thám Pháp quyết đoán Hồ-Chí-Minh chính là Nguyễn-Ái-Quốc mặc dầu sau 20 năm gian khổ, vóc dáng và nét mặt họ Nguyễn có thay đổi rất nhiều. Bằng cớ là vành tai phải của hai bức ảnh đều nhọn, trong khi tai bên trái vẫn đều đặn. Nhưng ông Hồ cứ từ chốI như Cuội, nói rằng mình không phải là Nguyễn-Ái-Quốc. Ngay cả khi tướng Salan đại diện Pháp dự cuộc đàm phán năm 1946, hỏi thẳng vào mặt ông Hồ, ông vẫn một mực chối cãi.

Riêng đối với người Việt thì ông Hồ không chối thẳng nhưng cứ trả loanh quanh. Thí dụ như trong năm 1946, ông đáp tầu Dumont D’Urville trở về Hải-Phòng sau hội nghị Fontainebleau. Cùng đi trên chuyến tầu này có bốn chuyên gia Việt-Nam mà ông Hồ đón từ Paris về nước. Một trong bốn là ông Võ-quý-huân có hỏi ông Hồ: “Thưa Chủ-tịch, Chủ-tịch có biết ông Nguyễn-Ái-Quốc hiện nay ở đâu không ạ ?” Ông Hồ chỉ mỉm cười và đáp : “Chú tìm ông ấy mà hỏi, tôi đâu biết”.

Không những ông Hồ chỉ giữ kín lý-lịch của ông, mà đến quê quán gốc tích của ông, ông cũng hết sức bí mật. Trong một bản danh sách ứng cử Quốc-Hội năm 1946, ông khai sinh quán ở Hà-tĩnh; nhưng hiện nay ai cũng biết rõ ông sinh quán ở Nghệ-An. Việc này được phơi bầy công khai năm 1958 khi một phái đoàn nhân-viên sứ quán các nước Xã-hội Chủ-nghĩa viếng thăm quê hương ông Hồ. Sau cuộc viếng thăm, báo chí Hà-Nội đã thú nhận ông Hồ-Chí-Minh chính là Nguyễn-Ái-Quốc. Tạp chí tranh ảnh Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-Hòa, do Việt-Nam Thông Tấn Xã (Bắc-Việt) ấn hành, trong số tháng 8 năm 1960, có đăng một bức ảnh Nguyễn-Ái-Quốc với giòng chữ chú thích : Ðồng chí Nguyễn-Ái-Quốc (Hồ-Chí-Minh) năm 30 tuổi, đang bôn ba hoạt động ở hải ngoại”.

Mặc dầu lý lịch của ông Hồ đã được xác định rõ rệt, Thế-giới Tự-Do vẫn không biết mấy về con người kỳ lạ ấy, và phần lớn những hoạt động của ông Hồ vẫn chỉ có Ðệ-Tam Quốc-tế biết rõ mà thôi. Tất cả những điều ghi chép về ông Hồ chỉ là dựa vào tập hồ sơ mong manh của Mật thám Pháp, Anh và những lời thuật lại của một vài người đã có dịp gặp ông.

Trong lúc người Pháp đang ngắm nghía những bức ảnh của ông Hồ và dùng viễn vọng kính để nhìn mặt ông mỗi khi ông ra mắt công-chúng, thì tất cả nhân dân Việt Nam đều nhất nhất coi ông Hồ-Chí-Minh là Nguyễn-Ái-Quốc vì họ không tin được rằng trong cùng một thời đại mà một nước lại có thể sinh ra hai người có tài trí như ông Hồ. Ông Hồ nói lưu loát hàng chục thứ tiếng, và đã từng chu du khắp thế-giới dưới nhiều biệt danh, nửa đời sống trong khám đường – có thể cả khám đường Soviet – và nửa đời hoạt động chính trị trong bóng tối. Ông hơn hẳn các đối thủ chính trị của ông về cả chiến thuật cách mạng lẫn kinh-nghiệm chính-trị. Hồi thiếu thời ông đã đọc rất nhiều cổ-thư Trung-Hoa, và sau đó tiếp tục tự học trong khi bôn ba khắp Âu-châu và Mỹ-châu. Suốt trong thời kỳ ấy, ông hoạt động quan sát và học hỏi ở bạn bè cũng như trong sách báo. Cuối cùng ông đã được Ðệ-Tam Quốc-Tế huấn luyện một cách kỹ lưỡng và có quy củ: Do đó ông đã hấp thụ được ba nguồn văn-hóa khác nhau nhưng có giá trị tương đương ; văn-hóa Ðông-phương, Tây-phương và Mác-xít. Ông nói chuyện lưu loát với bất cứ ai, dù là nông dân Việt-Nam, quân-phiệt Trung-Hoa, triết-gia Ấn-Ðộ hay là nhà báo Tây-phương.

Trong suốt thời kỳ hoạt động chính trị trong bóng tối ông Hồ đã phải dùng nhiều mánh khoé, mưu mẹo, để trốn tránh cạm bẫy của Công-an và phá hỏng kế hoạch của kẻ thù. Nhờ sự tập dượt ấy mà ông Hồ đã trở nên một địch thủ vô song, vì qua bao nhiêu năm trời, ông đã học được cái tài đánh lạc hướng bất cứ ai muốn theo dõi ông. Ông đã nhiều lần trốn thoát khỏi tay Quốc-gia Việt-Nam, Trung-Hoa Quốc-dân-đảng, và các cơ quan tình báo Anh, Mỹ.

Ngoài trí thông minh xuất chúng, ông Hồ còn có một nhân phẩm rất cao. Nói tóm lại, ông có đủ những đức tính cần thiết của một nhà lãnh tụ. Nếp sống thanh bạch, lòng nhẫn nại, ý chí sắt đá và sự tận tâm của ông đối với cách mạng là một nguồn phấn khởi cho tất cả những ai đã làm việc dưới quyền ông và phụng sự đất nước nói chung. Nhiều người cho rằng ông Hồ đã thừa hưởng tinh thần cách mạng của tổ phụ và của người đồng hương. Nhẫn nại, thanh đạm và cần cù là những đức tính thường thấy ở ngườI dân Nghệ-An, nơi sinh quán của ông Hồ. Ông Hồ đã phát huy những đức tính của người Nghệ, gần giống đức tính của người Nhật-Bản, nhưng khác ở chỗ là, nói chung người Nhật hết sức có kỷ luật, còn người Nghệ-An thì thường có khuynh hướng chống lại tất cả mỗi chính quyền. Trong suốt thời kỳ Pháp thuộc, Nghệ-An vẫn là đất cách mạng, và cách đây chưa đầy 10 năm, vào năm 1956. Nghệ-An đã là trung tâm cuộc khởi nghĩa của nông dân chống lại chính chế-độ của ông Hồ.

Nhờ tuyên truyền khôn ngoan và những câu chuyện truyền kỳ thêu dệt, mà trong những năm kháng chiến, trước khi xẩy ra những vụ đấu tố trong phong trào “Cải Cách Ruộng Ðất”, ông Hồ-Chí-Minh đã được dân chúng coi là thánh sống. Trên bàn thờ gia đình nào cũng có ảnh ông Hồ, và riêng ở một vài nơi như ở Quảng-Ngãi chẳng hạn, nông dân thường vái chân dung ông Hồ mấy vái trước khi ra đồng làm việc.

Ông Hồ sống rất thanh đạm, những gì là xa xỉ không cần thiết không bao giờ ông dùng đến. Ông chỉ có mỗi một tật là nghiện thuốc lá Mỹ và ông hút luôn mồm. Trong nhiều năm trời, ông ăn mặc in hệt một nông dân, bên ngoài khoác một chiếc “blouson” Gia-nã-đại và đi dép cao-su lốp ô-tô. Nhìn cách ăn mặc của ông, ai cũng biết ông đã hiến cuộc đời của ông để phục vụ nhân dân. Ông Hồ đã bỏ nhà ra đi từ ngày trẻ tuổi, và không có vợ con, cho nên không ai có thể gán cho ông chủ trương gia đình trị hoặc tệ tham nhũng được. Ông Paul Mus, sứ gia của chính phủ Pháp đến gặp ông Hồ vào năm 1947 để đàm phán ngưng chiến, đã có nói như sau : “Ông Hồ-Chí-Minh là một nhà cách mạng cương trực và thanh liêm không khác Saint Just”.

Câu so sánh này là một lời khen vàng ngọc đối với bất cứ một chính khách nào, vì trong thời đại này, nhất là ở cái nước kém mở mang, hiếm có những chính trị gia hoàn toà thanh liêm. Thành thử, riêng về phương diện đạo đức, ông Hồ đã được toàn dân Việt-Nam kính mến trọng vọng. Ông thành công phần lớn là nhờ nổi tiếng cần kiệm liêm chính, vì ở Việt-Nam cũng như ở nhiều nước khiếm khai khác, quần chúng thường tin tưởng ở nhân phẩm và tác phong của vị lãnh tụ, hơn là ở chương trình chính trị của các đảng phái.

Nhìn lại quá khứ, ta thấy không một đối thủ nào của ông Hồ có cơ thắng ông cả. Ông Nguyễn-hải-Thần, đồng chí và là người kế vị của Phan-bội-châu, là một nhà ái quốc chân chính, nhưng trong 40 năm lưu vong ở Trung-Quốc, ông không may đã bị nghiện thuốc phiện. Cựu Hoàng Bảo-đại, mà ngườI Pháp tái phong làm “Quốc Trưởng” năm 1949 đã mang tiếng là một người chơi bời, sống một cuộc đờI trụy lạc trong hơn 20 năm. Sau chót là ông Ngô-đình-Diệm, nhờ áp lực của Mỹ mà cầm quyền ở miền Nam Việt-Nam từ 1954 đến 1963. Ông Diệm và ông Hồ khác nhau về mọi mặt. Trong lúc ông Hồ từ bỏ gia đình từ hồi thanh niên thì trái lại, ông Diệm lúc nào cũng đùm bọc anh em và họ hàng thân thích, giao cho họ quyền cao chức trọng trong chính-phủ và trong quân đội. Trong khi ông Hồ chuyện trò thân mật với thợ thuyền và dân quê thì ông Diệm ngồi bảnh chọe trên chiếc ghế mạ vàng, thò chân cho các tù trưởng dân tộc thiểu số hứng lấy để rửa, in hệt vua chúa thuở xưa nhận lễ quy thuận của người Thượng.

Một điểm quan trọng mà các quan-sát-viên ngoại-quốc thường không để ý đến là sự phẫn nộ của nhân dân Việt-Nam trước nạn tham nhũng của quan lại mà chính-quyền thực dân vẫn hay dung túng. Chỉ riêng nạn quan-tham lại-nhũng cũng đủ là một động cơ thúc đẩy nhiều người hướng theo cách mạng.

Bất cứ người nào mưu loạn, không cần biết họ theo tôn chỉ, lý thuyết nào, cũng được nhân dân Việt-Nam hâm mộ “coi là một đấng trượng phu quả cảm đứng ra bênh vực lẽ phải và công lý. Ðối với nhân dân Việt-Nam, bọn quan lại làm tay sai cho thực dân để lên xe xuống ngựa, “tối rượu sâm banh sáng sữa bò” sống xa hoa giữa một xã hội đói rách, không những có tội “mãi quốc cầu vinh” mà còn làm gai mắt thiên hạ vì thói “no lưng ấm cật”. Có nhiều nguyên nhân gây nên cách mạng, nhưng ở Việt-Nam, nguyên nhân chính là lòng dân khao khát muốn diệt trừ quan lại tham nhũng và cường hào ác bá. Theo sự suy xét của người thường dân Việt-Nam thì cách mạng là đấu tranh giữa “liêm” và “vô liêm”, giữa “chính” và “bất chính”, còn vấn đề chủ-nghĩa mà sau này Cộng-sản gài thêm vào chỉ là yếu tố phụ. Cứ xét theo điểm này, cũng đủ biết viên cựu Hoàng-đế Bảo-đại cũng như viên cựu quan lại Ngô-đình-Diệm không tài nào địch nổi Hồ-Chí-Minh, con người cách mạng thuần túy, điển hình đạo đức, hay theo lờI Paul Mus : Saint Just của thế kỷ thứ 20.

Ông Hồ sinh tại làng Kim-Liên, huyện Nam-đàn, tỉnh Nghệ-an vào ngày nào tháng nào không ai biết, mà có lẽ ông cũng không nhớ, nhưng sau khi làm chủ-tịch, ông nhận đại là ngày 19 tháng 5 năm 1890, vì năm 1946, đúng ngày 19 tháng 5, cao ủy của Pháp là D’Argenlieu tới Hà-Nội. Ông Hồ lấy cớ là ngày sinh nhật của ông để buộc D’Argenlieu phải thân hành đến chúc thọ ông trước. Theo tục lệ ngày xưa ông Hồ được cha mẹ lần lượt đặt cho hai tên. Một tên “cúng cơm” lúc nhỏ và một tên “bộ” khi đến tuổi đi học. Tên cúng cơm của ông là “Côông”. Sự thực là Cung, nhưng vì muốn sau này con cháu khỏI phải kiêng chữ “cung” nên đặt chệch ra là “Côông”. Tên “bộ” của ông là Nguyễn-tất-Thành. Sau này, ông còn tự đặt nhiều tên, nào là Nguyễn-Ái-Quốc, Lý-thụy, Victor, Song Man Tcho, Vương-sơn-nhi, Hồ-Chí- Minh, v.v..; cốt để thay hình đổi dạng tùy theo công tác bí mật của ông.

Ông xuất thân trong một gia đình nho giáo, tiểu địa chủ và tiểu quan lại như đa số những người có chữ nghĩa về thời ấy. Ông nội đỗ Cử nhân được bổ làm tri huyện triều Tự-Ðức nhưng vì gàn bướng nên bị cách chức. Thân phụ ông đậu phó-bảng, tên là Nguyễn-sinh-huy, sau đổi ra là Nguyễn-tất-sắc, thường gọi là cụ Bảng Sắc. Cụ không là quan và tham-gia phong-trào Văn-thân. Bị đày ra Côn-đảo vài năm rồi đưa về cấm cố ở Saigon. Trong thời kỳ này cụ làm nghề bốc thuốc, và theo nhiều người kể lại thì cụ không lấy tiền, chỉ cần một ngày hai bữa do gia đình bệnh nhân cung phụng, như tục lệ lúc bấy giờ.

Sáng sớm cụ thường ngồi trước cửa chợ Bến-Thành, chờ người mời đi chữa bệnh. Nhưng một hôm cụ ngồi suốt từ sáng đến chiều mà không được ai mời cả. Mãi gần tối, một ông bạn đi qua thấy cụ vẫn cứ ngồi yên, mới nhắc cụ là Mồng Một Tết, không ai rước thầy lang về nhà. Cụ mới nhớ ra và nhận lời ông bạn mời về nhà dùng cơm.

Ông Hồ là con út trong gia đình. Khác các anh chị, ông Hồ được theo học trường Pháp-việt vì một ông cố đạo khuyên cụ Bảng như vậy. Ông đậu bằng Cơ Thủy năm 1907 và được bổ làm hương sư nên thường gọi là Cậu Giáo Thành. Phong-trào Văn-thân thức tỉnh lòng ái-quốc của ông và sau khi nghe nói cụ Bảng được đưa về Saigon, ông bỏ việc vào thăm cụ. Bà chị ông Hồ tên là Bạch-Liên, cũng nổi tiếng là một phụ nữ có khí phách cách mạng. Hồi còn trẻ bà đính hôn với Mai-ngọc-ngôn đỗ tú tài, nhưng chưa kịp cưới thì vị hôn-phu của bà bị bắt đưa ra Côn-đảo và chết ngoài đó. Bà ở vậy, không lấy chồng và mất vào khoảng năm 1953.

Anh ruột ông Hồ là Nguyễn-tất-đạt, thường gọi là ông Cả Ðạt. Ông học tài thi phận nên kiếm ăn bằng nghề gõ đầu trẻ. Năm 1946, nghe tin ông Hồ đã trở thành chủ-tịch chính-phủ, hay nói đúng, chủ-tịch Hồ-Chí-Minh chính là em ruột ông, ông đáp đáp tàu ra Hà-Nội mong gặp em sau hơn 30 năm xa cách. Nhưng hồi ấy ông Hồ còn đang dấu tung tích nên không dám tiếp ông anh ở Bắc-bộ-phủ. Ông gửi ông Ðạt ở nhà một người đồng hương là ông Mai-ngọc-thiệu, và tối ông đến thăm. Hai anh em trò chuyện hồi lâu, sau đó ông Ðạt lẳng lặng về Nghệ. Chừng hai năm sau ông Ðạt mất, không có dịp gặp ông Hồ trở lại.

Sau khi ông Hồ vào Saigon thăm cha, Cụ Bảng Sắc bàn bạc với mấy cụ cách mạng khác và quyết định tìm cách cho ông Hồ sang Pháp. Mấy cụ thu xếp cho ông Hồ xuống làm “bồi” dưới tàu La Touche-Treville chạy đường Saigon Marseille. Năm 1912 ông Hồ xách khăn gói xuống tàu, mang theo một bức thư cụ Bảng viết cho cụ Phan-chu-trinh, hồi đó ở Paris, mà cụ quen từ ngày ở Côn-đảo. Cụ Bảng ngỏ ý muốn nhờ cụ Phan dìu giắt ông, lúc bấy giờ còn là một thiếu niên mới lớn lên. Cụ cũng căn dặn ông Hồ phảI hết sức nghe lời cụ Phan.

Tới Paris, ông Hồ đưa trình cụ Phan bức thư giới thiệu của cụ Bảng, và ở với cụ Phan trong một thời gian. Nhưng ít lâu sau ông Hồ không tán thành chính-kiến của cụ Phan, nhất là chủ trương đề huề hợp tác với Pháp. Thất vọng ông Hồ trở lại làm “bồi tàu”, bôn ba khắp năm châu bốn bể – trước khi dừng chân ở Luân-đôn. Trong một chuyến đi ông Hồ có ghé qua Saigon thăm cha là cụ Bảng. Hai cha con chưa kịp hàn huyên thì cụ Bảng đã vác gậy rượt theo ông Hồ, vì từ trước cụ Phan đã biên thư cho cụ Bảng kể chuyện bất đồng chính kiến giữa cụ và ông Hồ ở Paris. Ông Hồ bèn trở xuống tàu, và từ đây ông không gặp cụ Bảng một lần nào nữa. Có thể vì câu chuyện này mà một phần nào ông Hồ đã quyết tâm cắt đứt mọi liên hệ với gia đình. Ngày nay giòng giõi cụ Bảng Sắc chỉ còn một mình ông Hồ, vì ông Cả Ðạt có lấyvợ nhưng không có con.1

Ông Hồ ở Luân-đôn từ 1913 đến 1917, làm phụ bếp cho khách sạn Carlton dưới quyền một ngườI đầu bếp Pháp nổi tiếng, tên là Escoffier. Ngoài giờ làm việc ở khách sạn ông hoạt động cho Liên Hiệp Công Nhân Hải Ngoại, một tổ chức bí mật chống thực dân do công nhân Hoa-kiều và Ấn-kiều thành lập ở Luân-đôn. Hồi Thế Chiến thứ I sắp kết liễu, bạn bè ở Luân-đôn khuyên ông nên sang Pháp tổ chức một phong trào tương tự vì ở Pháp hồi đó có 60.000 Việt kiều cư ngụ (hoặc đi lính Pháp). Tại Paris, ông gặp ông Nguyễn-thế-Truyền, một kỹ sư hóa học. Ông Truyền giới thiệu ông Hồ với một nhóm ái-quốc thuộc các thuộc địa khác của Pháp hồi ấy cũng đang lưu vong ở Ba Lê. Nhóm này thành lập một hội mệnh danh là “Liên Hiệp Thuộc Ðịa”, xuất bản một tờ báo lấy tên là Le Paria; đồng thời ông Hồ và ông Truyền cũng bí mật xuất bản tờ Việt-Nam Hồn, nhờ những người Việt-Nam “làm tàu” lén đưa về Việt Nam. Một mặt khác, dựa vào những tài liệu do Liên Hiệp Thuộc Ðịa cung cấp, ông Hồ viết cuốn “Le Procès de la Colonisation Francïaise” (Lên án Thực-dân Pháp). Nguyễn-thế-truyền đề tựa cuốn sách hồi ấy ông Truyền đã nổi tiếng trong giới khuynh tả ở Pháp. Ông Truyền còn giúp ông Hồ soạn thảo bản “Chương Trình 8 điểm” mà ông Hồ mang vào Versailles, định đưa cho Tổng thống Woodrow Wilson, nhân dịp ông này đến Versailles để ký hòa ước với Ðức. Trong “Chương Trình 8 điểm” ông Hồ đòi tự trị, tự do dân chủ, ân xá các chính trị phạm, bình đẳng Pháp Nam, và bãi bỏ chế độ “làm xâu” thuế muối và chính sách bắt dân tiêu thụ rượu ty. Nhưng lính Pháp không cho ông Hồ vào gặp Tổng Thống Wilson. Do đó ông không có dịp vận động Hoa-kỳ ủng hộ cách mạng Việt-Nam. Về Paris, ông Hồ đăng “Chương trình 8 điểm” trên tờ Việt-Nam Hồn, làm chấn động dư luận ở Việt-Nam khi tờ báo về tới nơi. Những bài ông viết ông đều ký tên Nguyễn-ái Quốc, cái tên rất nhiều người biết cho đến ngày ông đổi thành Hồ-Chí-Minh.

1Theo nhiều nguồn tin thì, hồi ở Hồng-Kông, ông Hồ có một người vợ Tàu, sinh được một người con gái. Hồi năm 1950, ông có nhờ Ðảng-bộ Ðảng Cộng-sản ở Hồng-Kông tìm giùm nhưng không thấy.

Ông Nguyễn-thế-Truyền cũng giới thiệu ông Hồ với nhiều nhân vật khuynh tả ở Paris, như Léon Blum, Marcel Cachin, Marius Moutet v. v… Chịu ảnh hưởng của mấy người này, ông Hồ gia-nhập đảng Xã-Hội Pháp, và viết bài báo cho tờ Le Populaire, cơ quan ngôn luận của đảng. Ðược tham dự đại hộI đảng ở Tours năm 1920, ông Hồ bỏ phiếu tán thành việc thành lập Ðệ Tam Quốc-Tế và chủ nghĩa Cộngsản.

Và ngay từ lúc ấy ông ly khai với ông Nguyễn-thế-Truyền và mấy người Quốc-gia khác ở Paris. Những người này vẫn tiếp tục đấu tranh cho quốc gia dân tộc, còn riêng ông Hồ, ông hiến hẳn đời ông cho Cộng-sản quốc tế.

Năm 1960, nhân dịp sinh nhật thứ 70 của ông, và sau khi đã tự nhận là Nguyễn-Ái-Quốc, ông Hồ có giải thích sự biến chuyển tư tưởng của ông như sau :

“Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa Cộng-sản đã đưa tôi tin theo Lê-nin, tin theo Quốc-Tế Thứ Ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác-Lê, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa Xã-hội, chủ nghĩa Cộng-sản mới giải-phóng được các dân-tộc bị áp-bức và những người lao-động trên thế giới khỏi ách nô-lệ.

Ở Việt-Nam cũng như ở Trung-Hoa có chuyện cẩm nang thần kỳ. Hễ gặp khó khăn chỉ việc mở cẩm nang ra là biết cách xử trí. Ðối với cách mạmg Việt-Nam và dân tộc Việt-Nam, chủ nghĩa Mác-Lê không những là một cẩm nang thần kỳ, một địa bàn chỉ hướng, mà còn là mặt trời soi sáng con đường thẳng tới thắng lợi cuối cùng, tớI chủ-nghĩa Xã-hội và chủ nghĩa Cộng-sản”.

Xem giọng văn kể trên, ta thấy rõ thoạt tiên ông Hồ chỉ coi chủ-nghĩa Cộng-sản như một lợi khí dùng để tranh đấu cho nền độc lập quốc gia; nhưng sau khi “ăn phải bả” ông bèn coi chủ-nghĩa Cộng-sản là một cứu cánh. Ðây là trường hợp thông thường của những người say mê chủ-nghĩa Cộng-sản, nhưng những danh từ ông dùng như “cẩm nang thần kỳ” và “mặt trời soi sáng” chứng tỏ ông tin ở chủ-nghĩa Mác-Lê một cách cuồng tín, in hệt tín đồ tin ở đấng “chí tôn” của mình.

Ông Hồ sang Nga lần thứ nhất năm 1922 với tư cách đại biểu thuộc địa lần đầu tiên tham dự Ðại Hội Thứ Tư của Ðệ Tam Quốc Tế.

Năm 1923, ông Hồ lai sang Nga, tham dự Ðại Hội Nông Dân Quốc Tế, và đến năm 1924 ông trở lại lần nữa để theo học tại trường Ðại Học Công Nhân Ðông Phương. Lần này, ông ở lại Nga hơn một năm trời, nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lê và các chiến thuật Bôn-sê-Vích. Hồi ấy muốn sang Nga các đảng viên Cộng-sản Việt-Nam ở Pháp thường mua giấy thông hành của sứ quán Trung-Hoa ở Paris, bằng giá rất rẻ, giả dạng là Hoa kiều muốn hồi hương qua đường Moscou và Hải Sâm Uy.

Năm 1925, ông Hồ được phái sang Quảng-Châu với công tác truyền bá chủ .nghĩa Cộng-sản vào Việt-Nam. Ngày ông lên đuờng sang Trung-Quốc chính là ngày bắt đầu một giai đoạn khác trong sự nghiệp cách mạng của ông. Sự nghiệp này kết thúc khi ông biệt tăm-trên chính trường Á-đông vào năm 1933. Vì tất cả những hoạt động của ông Hồ trong khoảng thời gian này đều trực tiếp và mật thiết liên hệ với các biến cố ở Việt-Nam, nên chúng tôi sẽ đề cập đến trong Chương 4 nhân dịp trình bày sự phát triển của chủ-nghĩa Cộng-sản ở Việt-Nam.

Chương 4

CỘNG-SẢN XUẤT HIỆN

Lịch trình phát triển của Cộng-sản ở Việt-Nam, kể từ ngày có những tiểu tổ Cộng-sản đầu tiên trên đất Việt cho đến ngày toàn thể Bắc Việt nằm dưới chế độ vô sản chuyên chính, có thể tạm chia làm sáu giai đoạn, mỗi giai đoạn là một phong trào đấu tranh thuận theo hoàn cảnh và tình hình lúc bấy giờ.

Vì vậy nên mỗi phong trào có một khẩu hiệu, một chương-trình giai-đoạn và một chiến lược khác nhau. Việc điều khiển từ bên ngoài cũng thay đổi mỗi thời kỳ một khác. Có khi Việt Cộng trực tiếp nhận huấn thị từ Moscou hoặc Bắc-Kinh, có khi phải thông qua một trạm liên lạc đặt ở Quảng-châu, Thượng-hải, Bangkok, hoặc Paris. Ðại để thì sau mỗi cuộc đấu tranh rầm rộ, hoặc bị khủng bố quá nặng nề, hoặc vì chia rẽ nội bộ, phong trào lại tạm lắng yên trong một thời gian. Sáu phong trào chính, đáng nêu lên là :

1. Phong trào Thanh-niên (1925 . 1929)
2. Phong trào Sô Viết Nghệ An (1930 . 1932)
3. Phong trào Mặt Trận Bình Dân (1936 – 1937)
4. Phong trào Việt Minh (1941 . 1946)
5. Phong trào Kháng chiến (1946 . 1954)
6. Phong trào Cải Cách Ruộng Ðất (1953 . 1956)

Mục đích của phong trào Cải Cách Ruộng Ðất là thiết lập nền “vô-sản chuyên chính”. Sự thực thì phong trào này đã được bố trí từ năm 1951 bằng đạo luật Ban bố Thuế Nông-Nghiệp và cuộc đấu tranh chính trị (xem Chương 7). Trong chương này chúng tôi chỉ kể qua năm phong trào đầu với mục đích làm sáng tỏ phong trào thứ sáu mà chúng tôi sẽ trình bày cặn kẽ trong các chương sau, vì phong trào thứ sáu này mới thực sự áp dụng chiến-thuật Mao-Trạch-Ðông để thiết lập chế độ cộng sản ở Việt-Nam.

PHONG TRÀO THANH-NIÊN

Chỉ mấy tháng sau khi ông Hồ được Ðệ Tam Quốc Tế phái sang Quảng-châu, năm 1925, là ông tổ chức ngay Việt Nam Thanh Niên Cách Mệnh Ðồng Chí Hội. Giả dạng là người Tàu, ông Hồ theo chân phái bộ Nga sang Quảng-Châu với chức vụ công khai là thông dịch viên cho phái bộ, nhưng kỳ thực ông không có trách nhiệm nào khác là tìm cách truyền bá chủ nghĩa cộng sản vào nội địa Việt Nam. Ông mang thông hành Tàu, ghi tên là Lý Thụy, nhưng đối với một số Việt kiều ở Quảng-châu ông nói thực ông là người Việt. Ông lấy bí danh là Vương-sơn-Nhi nên nhiều người thường gọi ông là ông Vương. Có một điều đáng chú ý là thuở ấy, vì mới bắt đầu hoạt động cách mạng, nên ông Hồ còn phạm khuyết điểm về việc dấu kín tung tích. Khi ông lấy bí hiệu là Vương-sơn-Nhi ông đã dùng lối “triết tự” vì ba chữ Vương-sơn-Nhi gộp lại thành chữ Thụy. Vì vậy nên những người Việt có học chữ nho biết ngay Vương-sơn-nhi với Lý-thụy chỉ là một. Cũng vì sơ hở nên chẳng bao lâu mọi người đều biết ông là Nguyễn-Ái-Quốc, một cán bộ cộng sản đã từng nổi tiếng ở Pháp. 15 năm sau, ông trở lại vùng này với một tên khác là Hồ-Chí-Minh, nhưng ông hết sức bí mật nên không ai đoán được tông tích của ông, kể cả ông Nguyễn-tường-Tam cùng bị giam trong một nhà tù.

Quảng-châu là trung tâm cách-mạng của Tôn-dật-tiên và hồi ấy hãy còn là thủ đô chính trị và hành chánh của chính phủ Quốc Dân Ðảng. Việc thiết lập trường Trung Ương Quân Sự Chính Trị ở Hoàng-phố, gần đấy, biến Quảng-châu thành một trung tâm phản-đế thu hút một số đông thanh niên ở khắp Ðông Nam Á, tới đấy để nghiên cứu chính trị và luyện tập quân sự. Việt-Nam chiếm đa số trong nhóm này.

Tới Quảng-châu vào đầu năm 1925, ông Hồ bắt đầu tổ chức Việt-Nam Thanh Niên Cách Mệnh Ðồng Chí Hội để tuyên truyền chủ-nghĩa cộng-sản. Nhưng vì những người Việt-Nam lưu vong ở Quảng-châu đã có chân trong các đoàn-thể quốc-gia có sẵn từ trước, nên ông Hồ phải tự nhận là quốc-gia, làm thân với mấy lãnh-tụ quốc-gia với mục-đích thu hút những đảng-viên thanh-niên trong mấy tổ-chức này.

Ông Hồ biết rõ những người Việt lớn tuổi đã có căn bản Nho-giáo vững chắc, khó lòng tin theo chủ-nghĩa Mác-xít, nên ông chỉ chú trọng đến những phần-tử thanh-niên, cựu học sinh các trường Pháp-việt và do đó đã hấp thụ được ít nhiều tây học. Rất may mắn cho ông là chỉ một năm sau, hàng trăm thanh-niên bãi khóa năm 1925, bị khủng-bố, chạy trốn sang Tàu. Trong số những thanh-niên mới xuất ngoại này, ông Phặm-văn Ðồng, hiện nay làm thủ-tướng Bắc Việt là người học cao nhất. Ông Ðồng đang học trường Bưởi, sửa soạn thi tú tài thì bãi-khóa và bị đuổi. Những thanh-niên khác đều học ở các lớp dưới, nhưng tất cả đều có một điểm giống nhau : họ không có lấy một chút nho học, mặc dầu họ đều xuất thân trong các gia-đình nho học.

Ông Hồ giảng dạy cho các đồng-chí Thanh-niên của ông một số bài về Cách Mạng Nga, lý-thuyết Mác-xít về đấu tranh giai-cấp và một vài tác-động cách mạng. Ông dạy họ cách in truyền đơn bằng thạch, cách vận động dân chúng biểu tình, xúi dục công nhân đình công, v. v… Chương-trình huấn-luyện của ông chỉ có sáu tháng là xong. Cuối năm 1925, ông đã huấn luyện xong một khóa, tuyển lựa những ngườI xuất sắc vào ban lãnh-đạo Thanh-niên còn những người khác thì phải về Việt-Nam tuyên truyền tôn chỉ của Hội và bí-mật tuyển mộ thêm hội-viên. Trụ-sở của Hội đặt ở Quảng-châu. Ban Trung-ương phụ trách xuất bản tờ báo lấy tên là Thanh-niên và phiên dịch những tài-liệu cộng-sản từ chữ Tàu sang tiếng Việt.

Những loạt tài-liệu đầu tiên này thường dịch không sát nghĩa, vì ngay những người Tàu dịch từ nguyên bản tiếng Nga hoặc tiến Ðức sang tiếng Tàu đã dịch sai rồi, đến khi dịch từ tiếng Tàu sang tiếng Việt lạI sai thêm một lần nữa. Có nhiều danh-từ người Tàu dịch sai như Cộng-sản (của chung) hoặc vô-sản (không có của) vẫn còn dùng cho đến ngày nay, nhưng dùng mãi nên quen. Vì dịch không đúng nên hồI ấy các tài-liệu nói về chủ-nghĩa Mác-xít rất khó hiểu. Mãi mấy năm sau, khi có những tài liệu cộng sản xuất bản ở Pháp sang tới Việt-Nam, nhiều người mới có dịp nghiên cứu cặn kẽ chủ-nghĩa Mác-xít.

Vì ông Hồ đã được huấn luyện chính-trị ở Moscou trong những năm Stalin mới cầm quyền nên ông hết sức tin tưởng hai nguyên tắc căn bản của lý-thuyết Stalin-nít :

1 – Muốn thành lập vô-sản chuyên chính nhất thiết phải trải qua hai giai-đoạn . một cuộc cách mạng tư-sản dân-quyền trước, rồi một cuộc cách-mạng vô-sản sau. Cách mạng tư-sản dân-quyền dọn đường cho cách-mạng vô-sản.

2 – Chỉ có giai-cấp công-nhân mới có đủ tài đức để lãnh đạo cách mạng. Giai-cấp nông-dân, vì bản-chất hẹp hòi hám lợi, nên chỉ có thể coi là “bạn lâu dài” của cách mạng.

Vì gắn bó với nguyên tắc thứ nhất, nên trong thời kỳ đầu ông Hồ trông chờ một phần nào ở sự thành công của phe Quốc-gia, ông đợi họ bắc một nhịp cầu để ông bước qua tiến tới cách mạng vô-sản, in hệt như Lênin đã thực hiện ở Nga. Vì vậy nên ông coi những phần tử quốc-gia như “bạn giai-đoạn”, mặc dầu ông vẫn tìm hết cách để lấn át. Thực-dân Pháp trông thấy cộng-sản tranh chấp với quốc-gia và nhiều lần phản-bội phe quốc-gia, nên nhẹ tay một phần nào với cộng-sản. Pháp trông thấy ở cộng-sản một địch thủ lợi hại đối với quốc-gia và hy vọng cộng-sản sẽ tiêu hủy phe quốc-gia mà Pháp ghét nhất vì Pháp cho họ là những phần-tử “cực-đoan chống Pháp”. Tuy những khẩu hiệu của cộng-sản cũng chống đối thực dân, nhưng tương đối không dữ dội bằng khẩu hiệu của phe quốc-gia.

Vì tin ở nguyên tắc thứ hai nên trong thời-kỳ đầu, ông Hồ chú trọng tuyên truyền và tổ chức công-nhân, nhiều hơn nông-dân. Ông chủ-trương huấn-luyện chủ-nghĩa Mác-xít cho một số trí-thức nửa mùa rồi dùng họ để tuyên truyền và tổ chức công nhân ở mấy trung-tâm kỹ-nghệ, thành lập những tiểu tổ cộng-sản.

Chương trình của ông Hồ và của đệ-tam Quốc-tế là như vậy. Nhưng có nhiều biến-cố xảy ra khiến cộng-sản mất uy-tín đối với nhân dân và đưa lại những hậu-quả không tính trước. Việc đầu tiên là các tiểu tổ cộng-sản thiếu tiền để hoạt-động, và muốn “kinh tài”, họ tổ chức “tống tiền” các nhà giàu. Vì chỉ mới được huấn-luyện qua loa nên những đảng viên cộng-sản đầu tiên coi bất cứ người khá giả cũng là “kẻ thù” của “vô-sản”. Giới tư-sản lúc đầu có cảm-tình với cộng-sản, nhưng sau vì bị tống tiền nhiều quá nên hết tín nhiệm.

Vì cộng-sản tống tiền khắp nơi, nên chính-quyền thuộc địa cũng được dịp khép cán-bộ cộng-sản vào tội “cướp của giết người” và giam họ cùng với thường phạm.

Việc thứ hai là vụ ông Hồ chủ-trương bắt cụ Phan nộp cho Pháp khiến cho phe quốc-gia bắt đầu ngờ vực và cắt đứt mọi liên lạc.

Việc không ngờ thứ ba là năm 1927, đột nhiên Tưởng-giới-Thạch trở tay “phản cộng”, bất thình lình tiêu diệt đồng-minh cộng-sản đương cộng-tác với ông trong cuộc hành quân Bắc Phạt. Việc “trở mặt” của họ Tưởng chặn đứng công cuộc vận động của Nga ở Trung-Hoa và ở khắp Á-Ðông. Trưởng phái-bộ Nga là Michael Borodin đã từng làm cố vấn chính-trị cho Trung-Hoa Quốc-dân-đảng từ thời ông Tôn-Văn phải vội vã rời khỏi Trung-Hoa, mang theo tất cả nhân-viên phái-bộ, trong số có ông Hồ.

Hôm Tưởng-giới-Thạch ra lệnh giết Cộng thì ông Hồ đang huấn luyện chính-trị các đảng-viên Thanh-niên. Ông đình ngay lớp học và khuyến cáo các đảng-viên ai nấy nên tìm cách thoát thân về nước.

Hôm sau, một đảng-viên gặp ông ở Quảng-châu, tỏ ý lo ngại và vấn kế ông. Ông Hồ lấy bút chì viết vào mảnh giấy bốn chữ “Tuế hàn tùng bá” và trao cho anh ta. Ý ông Hồ muốn nói là trong cơn khủng-bố những người cách mạng phải giữ vững tinh thần và chỉ có những lúc cách mạng điêu đứng mới rõ ai là người vững tinh thần cũng như mùa đông rét mướt mới thấy rõ cây tùng và cây bá vẫn giữ được mầu xanh, lâu hơn các cây khác.

Từ Quảng-châu Borodin chạy lên Hán-khẩu để hội-đàm với Uông-tinh-Vệ, vì họ Uông cũng chống với Tưởng và chiếm cứ Hán-Khẩu, thành lập chính-phủ Vũ-Hán. Borodin hứa Liên-xô sẽ giúp Uông chống Tưởng đến cùng, nên Uông bằng lòng thực-hiện cải-cách ruộng-đất để lôi kéo nông-dân.

Nhưng rốt cuộc, Uông không nghe lời Borodin và đầu hàng Tưởng. Sau đó toàn thể phái đoàn Nga, trong số đó có ông Hồ phải lên đường về Moscou. Từ ngày ấy trở đi, phong trào cộng-sản Á-châu chuyển một hướng mới, không theo ý muốn của đệ-tam Quốc-tế.

Trước khi lên đường về Nga, ông Hồ chọn người lớn tuổi nhất trong Thanh-niên, tức là ông Hồ-tùng-Mậu, để thay thế ông điều khiển Thanh Niên Cách Mệnh Ðồng Chí Hội. Ông Mậu là người rất xứng đáng vì ông cũng khôn ngoan và cẩn thận như ông Hồ. Ông Hồ dặn ông Mậu nhất thiết phải bám sát đường lối đã vạch sẵn, nghĩa là tiếp tục truyền bá chủ nghĩa Mác dưới hình thức chống thực-dân. Ông Hồ cũng dặn là nên tránh những khẩu hiệu quá khích, có tính cách đấu-tranh giai cấp và có thể gây ảnh hưởng xấu đối với giai cấp tư-sản Việt-Nam mà cộng-sản còn đang cần sự ủng-hộ. Ông Mậu theo đúng lời ông Hồ dặn nhưng chẳng may chỉ một năm sau, ông Mậu bị Quốc-dân-Ðảng Tàu bắt. Người thay thế ông Mậu là Lâm-đức-Thụ và tư cách ông Lâm-đức-Thụ như thế nào chúng ta đã thấy rõ trong Chương 2.

Tháng 5, 1927, Thụ triệu-tập toàn quốc đại-hội tại Hong-Kong. Trong nước phái đại-biểu sang dư, nhưng ba đại biểu tỏ ý bất bình vì nhận thấy Thụ sinh sống một cách quá xa-hoa. Hắn ở một khách sạn vào bực sang nhất, uống rượu whisky và hút xi-gà Manila loại hảo hạng. Họ trông rõ Tổng-bộ ở Hồng-kông đã “hủ hóa” và “hữu khuynh” nên khi họ đề nghị bỏ Thanh-niên, lập Cộng-sản, và đề-nghị của họ bị Thụ bác bỏ, họ đập cửa ra về. Về tới quốc-nội, họ tự động thành lập một đảng Cộng-sản, mệnh danh là Ðông-Dương Cộng-sản Ðảng. Thấy đảng này phát-triển mạnh, Thụ thấy cần phải đổi Thanh-Niên Cách-mệnh Ðồng Chí-hội thành một đảng Cộng-sản khác, mà Thụ đặt tên là An-Nam Cộng-sản Ðảng. Cùng lúc ấy, một số đảng-viên Tân-việt tả khuynh cũng lập một đảng cộng-sản thứ ba, lấy tên là Ðông-Dương Cộng-sản Liên-Ðoàn. Như vậy là cùng một lúc, trong nước có đến ba đảng cộng-sản tranh chấp với nhau. Pháp được dịp đàn áp và không bao lâu hầu hết các đảng viên ba đảng đều bị bắt, và phong-trào cộng-sản hoàn toàn xuy xụp.

PHONG-TRÀO SÔ-VIẾT NGHỆ-AN

Về tới Moscou, ông Hồ được đệ-tam Quốc-tế phái sang Berlin hoạt-động cho Liên-hiệp Phản-Ðế, nhưng chẳng bao lâu, ông lại được phái sang Bangkok là nơi đệ-tam Quốc-tế mới đặt trụ-sở Nam-HảI Vụ. ông Hồ làm việc dưới sự chỉ huy của một đảng-viên cộng-sản Pháp tên là Hilaire Noulens. Ông phụ-trách tuyên truyền và tổ chức Việt-kiều ở mấy tỉnh đông-bắc nước Xiêm, gần biên giới Lào. Việt-kiều ở Xiêm khá đông và gồm có hai loại. Một loại gọi là “An-nam cũ” là con cháu những người theo chúa Nguyễn chạy sang Xiêm từ cuối thế-kỷ thứ 18. Loại thứ hai là “An-nam mới” gồm những người buôn bán ở Lào, có dịp sang Xiêm, rồi thấy ở Xiêm dễ sinh nhai, nên ở luôn bên ấy. Ngoài ra còn một số cách mạng trốn Pháp, chạy sang Lào rồi qua Xiêm. Nhiều người đã quên tiếng Việt và đã sinh hoạt in hệt ngườI Thái, nhưng họ vẫn tha-thiết với quê hương đất tổ. Ðối với họ, ông Hồ lại tái diễn chiến lược của ông đã áp-dụng với Việt-kiều ở Tàu.

Một hôm ông Hồ đang hoạt-động ở miền đông-bắc nước Xiêm thì một người lái buôn cùng làng bắt gặp và nhận ra ông. Người này về kể chuyện lại với người làng và khi tin này đến tai nhóm cộng-sản ở Nghệ-An, họ bèn cử người sang tìm ông Hồ, khẩn khoản yêu cầu ông tìm cách giải-quyết vấn-đề chia rẽ nội bộ, hiện rất trầm trọng. Ông Hồ nhận lời, nhưng mãi một năm sau ông mới được Ðệ tam Quốc-tế cho phép.

Một điều đáng chú-ý là ông Hồ đã từng hoạt-động ở Trung-Hoa mà nay lại phải đổi sang Xiêm, thuộc một khu vực văn hóa khác hẳn. Việc này cũng như nhiều việc khác chứng tỏ, sau khi thất bại thảm bại ở Trung-Hoa và nhất là sau khi Mao-Trạch-Ðông đi trái đường lối của Ðệ tam Quốc tế, Stalin đã tỏ ý chán ghét cộng-sản Tàu. Vì bỏ rơi Trung Cộng, nên Stalin cũng bỏ rơi luôn cả Việt-cộng mà Stalin coi là một chi nhánh. Nhận định rằng cộng-sản da trắng ngoan ngoãn hơn và trung thành hơn cộng-sản da vàng, Stalin đưa ra kế-hoạch “tập hậu” các đế-quốc tư-bản bằng cách ra lệnh cho các đảng cộng-sản Pháp, Anh, Hòa-lan tổ chức cộng-sản ở các thuộc-địa của mấy nước này ở Ðông Nam Á. Vì vậy nên Nam HảI Vụ càng ngày càng quan trọn hơn Ðông Á Vụ. Nhưng từ 1930 trở đi. Stalin lại nhận thấy rằng cộng-sản không thể bành-trướng ở mấy thuộc-địa này, nếu không có sự tham gia của Hoa-kiều, vì hồi đó Hoa-kiều tương-đối giác ngộ chính-trị nhiều hơn dân địa phương. Trụ-sở liên lạc lại đưa trở về Thượng-hải, và sau này về Hồng-kông. Trong khi ấy thì Mao-Trạch-Ðông đã tiến dần về phía Tây, bỏ trống miền duyên-hải. Thấy không còn ảnh hưởng của họ Mao, Stalin lại để ý đến miền này vì là miền khá nhiều công-nghệ và công-nhân, và cử một phái đoàn tới Thượng-Hải để lo xây-dựng lại phong trào. Nhờ chủ trương mới này, ông Hồ mới có dịp trở về Hoa-Nam, gặp lại các đồng-chí cũ của ông mà trong mấy năm liền ông không được phép liên lạc.

Ngày 6 tháng Giêng năm 1930, ông Hồ triệu-tập đại-biểu ba đảng Cộng-sản đến Hồng Kông, “đả-thông tư-tưởng” và hợp nhất ba đảng làm một lấy tên là “Việt-Nam Cộng-sản Ðảng”, nhưng mười tháng sau đổi lại là “Ðông Dương cộng-sản Ðảng”, có ý bao gồm cả Lào và Cam-Bốt. Ðể đi sát với phong-trào, trụ-sở của Tổng-bộ cũng đưa về quốc-nội, đặt tại Hải-phòng. Sau công-tác này, ông Hồ được chỉ-định làm Vụ-trưởng Ðông-Á Vụ và giữ việc liên-lạc giữa Moscou và tất cả các cơ-quan hoạt-động của đệ-tam Quốc-tế tại Ðông và Ðông Nam á-châu.

Vì trách-nhiệm quá lớn, và bao biện nhiều việc nên ông Hồ phải ủy-thác phong-trào Việt-Nam cho các đồ-đệ của ông. Những người này đều là thanh-niên chưa chín chắn như ông Hồ, và vì phần đông đã được huấn-luyện bên Tàu nên họ dễ bị ảnh-hưởng của Cộng-sản Trung-Hoa. Vì được chứng-kiến vụ Quảng-châu Công-xã, vụ Nông-dân Bạo-động ở Hồ-nam, nên phấn-khởi muốn noi gương bạo động của Trung-cộng. Việc V.N.Q.D.Ð. bị thất-bại đau đớn năm 1930 cũng kích-thích họ muốn làm hơn phe Quốc-gia. Một mặt khác, nạn kinh-tế khủng-hoảng trên thế-giới đã tràn tới Việt-Nam và làm cho nông-dân Việt-Nam điêu đứng. Năm nào cũng được mùa mà thóc thừa thãi, nhưng gạo không xuất-cảng được khiến từ địa-chủ đến bần-cố-nông đều sống dở chết dở. Nông-thôn bị kiệt-quệ khiến thương-gia ở thành-thị cũng bị phá sản. Tất cả mọi từng lớp nhân-dân đều “méo mặt” duy chỉ có công-chức là, trái lại, phong lưu hơn trước. Vì lương vẫn y nguyên mà, vì nạn giảm-phát, giá-trị đồng bạc tăng lên 4, 5 lần. Công-nhân những xí-nghiệp lớn cũng được coi là may mắn vì số lương tuy có bị giảm ít nhiều, nhưng dù sao cũng còn “đồng ra đồng vào”, không như các tầng lớp khác trong dân gian, không chạy đâu ra tiền đong gạo và đóng thuế.

Vì công-nhân và công-chức tự thấy may mắn hơn người khác nên phải cố bám lấy việc làm. Vì vậy Việt-Cộng không thể vận-động họ đấu-tranh theo đúng chủ-trương của đệ-tam Quốc-tế. Ngược lại, vì nông-dân mỗi ngày một điêu-đứng nên tình-hình nông-thôn sẳn-sàng bùng nổ. Họ chết đói trong khi gạo phải dùng để đốt “xúp-de”. Ðứng trước tình-trạng ấy, Việt-cộng không kìm hãm nổi ý thích bắt chước Trung-cộng tổ-chức nông-dân khởi loạn. Nhân ngày 1-5-1930, họ huy-động nông-dân kéo đến huyện lỵ biểu-tình đông như kiến. Chính-phủ thuộc-địa dùng lính lê-dương đàn áp, nã liên-thanh vào đoàn người biểu-tình. Bị thất-bại, các lãnh-tụ cộng-sản ở Nghệ-An rút lui về một vài căn cứ và tuyên bố thành-lập chính-quyền Soviet, theo in hệt kế-hoạch của Mao-Trạch-Ðông đã từng áp-dụng ở Hồ-Nam từ bốn năm trước. Nhưng sở dĩ ông Mao còn duy-trù được phong trào vì ông đã tổ-chức Hồng-quân để kháng cự với quân-đội “Tàu-phù” của Tưởng-giới-Thạch, không lấy gì làm oai hùng lắm. Còn Việt-cộng thì hồi đó chưa hề tổ-chức dân-quân nên không thể nào chống cự nổi sự đàn-áp của lính lê-dương. Vài tháng sau phong trào Soviet Nghệ-An hoàn toàn tan vỡ và đến cuối năm 1931 tất cả các đảng-viên cộngsản đều bị Pháp bắt và đưa đi tù đày.

Về phần ông Hồ thì ông bị người Anh bắt ở Hồng Kông cuối năm 1931. Ðược tha, có lẽ là vào khoảng năm 1932 (không có tài liệu đích xác về ngày ông đựợc tha) ông đi Singapore, bị bắt tại đấy rồI điệu trở về Hồng Kông. Vì bị bệnh lao, hoặc khai là vậy, ông được đưa về bệnh-viện rồi đột nhiên ông mất tích. Chính quyền Anh ở Hồng Kông không hề tuyên bố bề việc ông Hồ đã biến mất trong trường hợp như thế nào, nhưng có dư luận ngờ rằng ông đã bí-mật thỏa thuận với mật-thám Anh là nếu để ông thoát, ông sẽ giúp họ một việc quan trọng nào đó. Việc này cũng rất có thể vì trước kia ông Hồ đã từng thỏa thuận như vậy với mật thám Pháp (Xem Chương 2). Báo Daily Worker, cơ-quan của Ðảng Cộng-sản Anh đăng một tin vắn tắt, nói ông Hồ đã chết vì bệnh lao trong khám đường Hồng Kông nên cả mật thám Pháp lẫn Cộng-sản Việt-Nam đều tin là thực. Năm 1933, mật-thám Pháp ghi vào hồ-sơ Nguyễn-Ái-Quốc là đã chết ở Hồng Kông. Không ai biết ông Hồ đi đâu, nhưng có điều chắc là từ ngày ông biến khỏI Hồng Kông cho đến năm 1941 ông im hơi lặng tiếng trên trường chính-trị không hề liên-lạc với Ðông-Dương Cộng-sản Ðảng.1

Ngoài ông Hồ và một số nhân viên cao cấp trong điện Kremlin, không ai có thể biết ông ở đâu và làm gì trong thời gian tám năm ông biệt tích. Ngay đến Nguyễn-khánh-Toàn, dạy Việt văn ở Moscou từ 1927 cũng tin là ông Hồ đã chết thực. Sau khi về nước, Toàn có tâm sự với một số bạn bè về nỗi ngạc nhiên khi thình lình thấy ông Hồ tới nhà, vào đầu năm 1941. Ông Hồ đến để rủ Toàn về nước hoạt-động cách-mạng. Toàn đồng-ý và chỉ mấy ngày sau, giấy tờ làm xong hai người đáp tàu xuyên Si-bê-ri về Diên-An.

Toàn cũng tiết-lộ một câu chuyện về đời tư của ông Hồ. Toàn nói, mấy giờ sau khi hai người lên đường, một thiếu phụ người Nga đến gõ cửa, nói là để làm vợ ông Hồ trong khi ông lưu trú tại Moscou.

Ðối với những người quá bí-mật như ông Hồ thì ai nói gì chúng ta hẵng biết làm vậy, không nên tin hẳn mà cũng không nên gạt hẳn. Nhưng xét cho cùng thì câu chuyện của Toàn cũng không phải hoàn toàn vô-lý vì chính ngay Toàn, đã có vợ Nga và có con ở Moscou, mà khi ghé qua Diên-An cũng “có” ngay một cô vợ Tàu, đẻ luôn hai con. Rồi khi về Việt-Nam năm 1946, lại về một mình và hai năm sau “chính thức” lấy một con gái điền-chủ mới 17 tuổi (Hồi ấy Toàn đã 50). Hình như đệ-tam Quốc-tế có lệ cung-cấp “vợ giai-đoạn” cho những cán-bộ quốc-tế vì thường xuyên phải lưu-động và giữ tông-tích bí-mật nên không mang gia-đình theo được. Những “vợ” của các cán-bộ đi lại được “gán” cho các cán-bộ đến, thành một thứ “vợ luân chuyển”. Việc Thiếu-tướng Nguyễn-sơn sau khi bỏ vợ ở Diên-An về nước được Hội Phụ Nữ Cứu-Quốc gán hết nữ cán-bộ này đến nữ cán-bộ khác cho phép chúng ta ngờ rằng những việc “kiếm vợ” cho các cán-bộ lưu-động thuộc trách-nhiệm các đoàn-thể phụ-nữ địa-phương.

Việc Toàn rất đổi ngạc nhiên khi thấy ông Hồ đột nhiên đến nhà tăng thêm giá-trị, giả-thuyết ông Hồ đã bị “cấm cố” tại một địa-điểm nào đó trong nội-địa Liên-Xô từ 1933 đến 1941. Ðấy chỉ là một giả-thuyết, nhưng có một điều chắc chắn là năm 1941 ông đến Diên-An với Toàn là lần đầu tiên. Giả-thuyết ông bị Stalin đưa đi cấm cố cũng dựa trên một lý luận khác nữa. Hồi phong-trào Sô-viết Nghệ-An phát khởi, thái-độ của ông Hồ không được rõ rệt. Hình như ông không tán thành, nhưng ông không hề ngăn cản, hoặc ngăn cản không nổi. Trong khóa Chỉnh-Huấn năm 1953-54, Ðảng-ủy có giảng là ông Hồ bỏ phiếu chống việc phát-động nhân-dân bạo-động, theo kiểu Mao-Trạch-Ðông mà Stalin cho là phản lạI đường lối Lenin, nhưng vì chỉ có một mình ông chống nên vì thiểu số, ông phải phục-tùng đa-số câu chuyện này cốt ý đề cao tinh thần phục tùng đa-số của ông Hồ. Dù ông Hồ không ngăn cản, hoặc ngăn cản không nổi, đấy cũng là lần đầu tiên ông phạm khuyết điểm về lãnh-đạo, và không làm tròn nhiệm-vụ Stalin và Ðệ tam Quốc-tế đã giao phó cho ông. Có lẽ vì ông Hồ phạm khuyết-điểm về phong-trào Soviet Nghệ-An nên Stalin mới quyết-định giao trách-nhiệm lãnh-đạo Ðông-Dương Cộng-sản Ðảng lại cho Maurice Thorez, lãnh-tụ Cộng-sản Pháp. Stalin phải “đưa” ông Hồ đi khuất một chỗ, nếu không phải là để trừng phạt, thì cũng là để Thorez có điều kiện nắm trọn quyền, vì nếu ông Hồ còn lảng vảng ở Á-Ðông, thì rất có thể Việt-cộng vẫn tiếp tục nghe theo ông Hồ mà không chịu tuân lệnh Thorez. Vắng mặt ông Hồ, Ðảng Cộng-sản Pháp nghiễm nhiên làm trung-gian giữa Moscou và Việt-cộng. Thể thức này tồn tại trong mười năm, cho đến ngày Thế-Chiến thứ Hai cắt đứt mọi giao-thông giữa Pháp và Việt-Nam.

1 Ngày nay Việt Cộng nói ông Hồ ở Diên-An và có gửi bài về đăng báo Le Travail (1937) nhưng đấy là chuyện hoàn toàn bịa đặt.

PHONG TRÀO MẶT TRẬN BÌNH DÂN

Chính sách dùng Cộng-sản “Mẫu-quốc” thay mặt Moscou điều-khiển Cộng-sản “Thuộc-quốc” bắt buộc Ðệ-tam Quốc-tế phải thay đổi chiến lược. Vì Cộng-sản thuộc-quốc từ nay phải tuân theo lệnh cộng-sản mẫu-quốc nên Ðệ-tam Quốc-tế không cho đề cao tinh-thần dân-tộc và bắt phải gác bỏ các khẩu hiệu chống thực-dân, thay thế bằng những khẩu-hiệu chống tư-bản. Từ đấy, tuyên truyền cộng-sản không đả kích chính-quyền thuộc-địa mà chỉ đả kích tư bản Pháp và Việt.

Ðệ tam Quốc-tế cũng thu xếp cho Việt Cộng ở Pháp và một số ở Nga lên đường về nước. Phần lớn về Nam-kỳ vì nhờ có chế-độ thuộc-địa tương đối rộng rãi hơn chế-độ bảo-hộ nên họ dễ bề hoạt-động hơn. Họ xúi-dục công nhân các xí-nghiệp và các đồn-điền đấu-tranh chống “bọn sài lang da trắng và da vàng” đang hút máu hút mủ giai cấp công-nhân. Phong-trào phát triển rất mạnh, nhưng lần này Cộng-sản đệ-tam không nắm được độc-quyền vận-động vì Cộng-sản đệ-tứ cũng ở Pháp về cạnh tranh với họ rất gắt gao. Nói chung Cộng-sản đệ-tứ gồm nhiều trí-thức xuất-sắc hơn, nên được giới trí-thức và tiểu tư-sản Nam-kỳ hâm mộ hơn. Nhưng phần đông quần chúng vẫn do Cộng-sản đệ-tam nắm vững. Ðồng-thời các đảng-viên Ðông Dương Cộng-sản Ðảng còn đang bị giam trong các nhà tù dung thì giờ nhàn rỗi để trau dồi lại lý-thuyết Mác-Lê và giảng dạy chính-trị cho nhau. Nhiều cựu đảng-viên V.N.Q.D.Ð. như Trần-huy-Liệu chẳng hạn, quay theo cộng-sản trong dịp này. Họ ùa theo cộng-sản quá nhiều đến nỗi một cựu đảng-viên V.N.Q.D.Ð. ở Côn-đảo tập-hợp các đồng-chí cũ lại rồi tự đâm cổ để cảnh-cáo họ về tội phản-bội tôn-chỉ quốc-gia và làm hổ uy danh của các bậc tiền bối. Nhưng dần-dà, lý tưởng quốc-gia cũng bị coi là hẹp hòi, lỗi thời và phần đông cho rằng số phận Việt-Nam sau này hay, hay dở, là do ở sự thành bại của các đảng tả phái bên Pháp. Vì vậy nên khi Mặt-trận Bình-dân lên nắm chính-quyền ở Pháp, họ lại càng tin-tưởng và phấn khởi.

Vì bên mẫu-quốc chính-quyền đột nhiên thay đổi, nên chính-phủ Ðông Dương bị bỡ ngỡ, không biết nên xử-trí với Cộng-sản ra sao. Tiếp tục khủng-bố thì sợ trái với chính-sách mới của mẫu-quốc, mà không khủng-bố thì sợ cộng-sản làm già. Vì chính-quyền địa-phương do dự nên phong-trào bột phát rất nhanh chóng. Trong Nam, Stalin-nít và Tờ-rốt-kýt thi-đua hoạt-động. Nhưng vì Tờ-rốt-kýt không phục Cộng-sản Pháp và không tín-nhiệm Mặt trận Bình-dân nên có thể công-kích chính-quyền thuộc địa dữ-dội hơn Cộng-sản đệ-tam, và vì vậy nên được dân chúng hâm mộ hơn. Vì phải tuân lệnh Moscou, không được phép đả-kích thực-dân nên cộng-sản đệ-tam khó ăn khó nói. Ở ngoài Bắc thì trí-thức thuộc mọi xu hướngchính trị tập-hợp, xuất bản một tờ báo tiếng Pháp lấy tên là Le Travail . vì chỉ có báo viết bằng Pháp văn mới được xuất bản không cần phải xin phép và không bị kiểm-đuyệt. Nhóm Le Travail gồm nhiều người yêu nước không đảng phái, một số đệ-tam mới ở tù ra, một cộng-sản Ðệ-tứ (Ðệ tứ rất bành-trướng trong Nam nhưng hầu như không có ở ngoài Bắc) và hai cựu đảng-viên Tân-việt là Ðặng-thái-Mai và Võ-nguyên-Giáp. Hai người này đã gia-nhập Ðông-Dương Cộng-sản Liên-đoàn từ 1930.1

Trong mấy tháng đầu, nhóm Le Travail hợp tác chặt chẽ và gây nhiều hào hứng trong nhân-dân. Sau đó, những người Pháp có chân trong Ðảng Xã-Hội S.F.I.O. thành lập hai chi-nhánh của Ðảng, một ở Hà-Nội và một ở Saigon, thu nhận người Việt làm đảng-viên. Vì họ trực thuộc đảng Xã-hội Pháp đang nắm chính-quyền bên mẫu-quốc nên chính quyền thuộc-địa tỏ ý kính-nể và để mặc họ đấu tranh bênh vực thợ-thuyền và chống những bất-công xã-hội. Cộng-sản đứng ngoài tiếp tay bằng cách huy-động công nhân biểu-tình, đình-công để ủng hộ những yêu sách của đảng Xã-hội. Một kết-quả tưng bừng của cuộc hợp-tác này là lễ kỷ niệm ngày 1 tháng 5, 1937. Ðảng Xã-hội đứng lên tổ chức, nhưng Cộng-sản huy động hai vạn quần chúng tới dự và biểu-tình, tuần hành khắp Hà-Nội.

1 Mai và Giáp đều là “con nuôi” của Louis Marty, giám đốc phòng chính-trị của phủ Toàn-quyền. Marty kiếm việc cho Mai dậy học ở Trường Gia-Long mà giám-đốc là Bailey, một người Pháp, và giao Giáp, hãy còn là sinh-viên, cho Mai trông coi. Trong khi những đảng-víên Tân-việt khác bị tù-đày hoặc cấm cố thì hai người ung dung sống ở Hà-nộI cho đến ngày Giáp được Pháp đưa sang Tầu theo Việt Minh chống Nhật. Giáp có theo học lớp “chiến tranh du-kích” do Mỹ mở ở Tỉnh-tây, nhưng không bao giờ lên Diên An. Giáp và Mai coi nhau là “anh em kết nghĩa” nhưng sau khi vợ Giáp chết trong tù, Giáp lấy cô Hà, con gái Mai kém Giáp gần 20 tuổi mà trước kia Giáp vẫn bế trong tay hồi còn là “chú cháu”.

Sau khi Mặt-trận Bình-dân lên nắm chính-quyền ở Pháp được ít lâu thì chính-quyền Ðông-Dương ra lệnh ân-xá cho tất cả chính-trị phạm. Ðược thả ra, các đảng viên cộng-sản lập tức hoạt động lại. Nhưng lần này họ rất thận trọng. Họ chia làm hai nhóm, một nhóm chuyên về hoạt động công-khai. (Ðặng-xuân-Khu, Hạ-bá-Cang1, v.v…) một nhóm bí mật (Phạm-văn-Ðồng, Lê-văn-Hiến, v.v…) phụ trách việc xây dựng lại các tiểu-tổ. Nhóm công khai do Ðặng xuân-khu lãnh-đạo, xâm nhập báo Le Travail và mưu đả phá nhóm Tờ-rốt-kýt. Nhưng chẳng bao lâu tờ báo cũng bị kiện và đóng cửa. Sau đó, cộng-sản đệ-tam tổ chức một nhóm riêng, xuất bản hai tờ báo, một tờ tiếng Pháp lấy tên là Rassemblement, và một tờ báo Việt lấy tên Tin-Tức, nhưng cả hai đều nặng mùi cộng-sản và không có trí-thức ngoài đảng tham gia nên bán không chạy.

Dần dần nhân dân mất hào hứng. Chính-phủ Mặt-trận Bình-dân tỏ ra không kém thực-dân hơn các chính-phủ trước. Chương-trình “cách-mạng” của Mặt-trận chỉ biểu lộ bằng những lời hứa hão, và nếu cần vẫn áp-dụng chính-sách khủng-bố. Sau khi Mặt-trận Bình-dân ở Pháp tan rã thì phong-trào Mặt-trận Bình-dân ở Việt-Nam cũng tiêu tan và tiếp đến là Thế-chiến thứ Hai. Ðảng Xã-hội ngừng hoạt-động, còn Cộng-sản thì lẳng-lặng lui vào bóng tối. Vì giao-thông giữa Pháp và Việt-Nam bị cắt đứt, nên đảng Cộngsản Pháp không thế nào chỉ huy cộng-sản đàn em ở Việt-Nam được nữa.

Tuy không bạo-động, Mặt-trận Bình-dân cũng ảnh-hưởng rất nhiều đến chuyển biến sau này của Cách-mạng Việt-Nam. Chính nhờ dịp này mà lần đầu tiên báo chí, sách vở cộng-sản xuất bản ở Paris và ở Moscou tràn ngập các hiệu sách Việt-Nam và cũng là lần đầu tiên mà trí-thức và tiểu-tư-sản Việt-Nam có tài liệu chính xác về lý-thuyết Mác-xít. Hệ thống tư-tưởng Mác-xít bắt đầu thay thế cho ý niệm thô sơ của xu-hướng quốc-gia. Công chúng quan tâm nhiều đến chế-độ dân chủ hơn là độc-lập quốc-gia, và theo quan niệm của nhiều người thì Cộng-sản là một thứ Dân-chủ tuyệt đối.

Vì được thụ hưởng ít nhiều quyền lợi dưới thời Mặt-trận Bình-dân nên công-nhân coi cộng-sản là kẻ chính-thức đứng ra bênh vực họ. Nông-dân hồi đó chưa biết đọc, biết viết nên không hiểu Mác-xít, Stalin-nít là nếp tẻ gì cả, nhưng họ cũng lấy làm bùi tai khi nghe cán bộ cộng-sản hứa sẽ chia đều ruộng đất. Cộng-sản tuyên-truyền họ gia nhập những hội tương-thân, tương-trợ do cán-bộ cộng-sản kiểm-soát.

Những đảng-viên cộng-sản hồi đó phần lớn thuộc thành phần khá giả trong nông-thôn, địa-chủ hoặc phú-nông không có địa-vị trong làng, xã và thường bị quan-lại áp-bức. Cộng-sản lui vào bí-mật nhưng vẫn nắm vững các tiểu tổ gồm 1 vạn đảng-viên thực-thụ mà một số cảm-tình đông hơn. Nhưng từ 1939 cho đến 1941 cộng-sản mất dần uy-thế, một phần vì chính-quyền khủng bố, một phần vì sau khi quân đội Nhật kéo vào Việt-Nam, nhân dân Việt-Nam bỗng nhiên quay lại xu hướng quốc-gia. Một mặt khác, vì Liên-xô ký hiệp-ước bất-xâm-phạm với Ðức Quốc-xã và giữ thái độ trung-lập đối với Nhật nên Việt-cộng, cũng như cộng-sản tất cả các nước khác đều lúng túng không biết ăn làm sao, nói làm sao. Nhưng mặc dầu ngậm miệng, họ vẫn giữ vững lòng tin và nắm vững quần chúng của họ không cho lý tưởng quốc gia xâm-nhập. Sau cùng, họ gặp hai may mắm là Nhật-Bản trịnh trọng tuyên-bố tôn-trọng chủ-quyền thực dân của Pháp ở Ðông Dương và Liên-xô, bị Ðức tấn-công, nghiễm nhiên trở thành đồng-minh của các nước dân chủ Tây-phương. Việt-cộng liền đưa ngay ra khẩu hiệu “Tiêu diệt cả thực dân Pháp lẫn fát-xít Nhật”. Khi Nhật bị yếu thế và các lãnh-tụ cộng-sản trốn sang Tàu trở về với danh-nghĩa “giải-phóng”, uy-tín cộng-sản lại lên rất cao. Ðấy là phong trào Việt-minh.

1 Ðặng-xuân-Khu bây giờ là Trường-Chinh, Hạ-bá-Cang bây giờ là Hoàng-quốc-Việt.

Chương 5

CÓ CÔNG MÀI SẮT, CÓ NGÀY NÊN KIM

Việc Việt-cộng cướp được chính quyền ở Việt-Nam có thể coi là một hậu quả của Thế-chiến thứ Hai. Nhiều tác giả đã trình bày cặn kẻ về vụ này, nên trong cuốn sách nhỏ này chúng tôi chỉ lược kê lịch trình tổng quát, thay vì nghiên-cứu tỉ mỉ, vì chúng tôi muốn dành chỗ để nói nhiều hơn về một điểm mà chưa ai nói tới. Ấy là việc Việt-cộng áp-dụng chiến lược Mao-Trạch-Ðông để thành lập chế-độ vô-sản chuyên-chính tại Việt-Nam. Về một vài sự việc nào đó, sự trình bày của chúng tôi có thể khác với sự trình bày của một quan sát viên từ bên ngoài nhìn vào. Sở dĩ như vậy là vì chúng tôi chỉ căn cứ vào những sự tai nghe mắt thấy trong thời gian tham gia kháng chiến, không dựa vào những tài liệu của Cộng sản hoặc của Pháp, vì những tài liệu đó thường mâu thuẩn và nhiều khi không xác thực.

PHONG-TRÀO VIỆT-MINH

Năm 1940, ba tháng sau khi Pháp bị bại trận thì quân-đội Nhật kéo vào Việt-Nam. Vì đã ký một hiệp ước bất-xâm-phạm với Ðức-Quốc-Xã, nên Nga giữ thái độ trung lập, mặc cho hai phe, “đế quốc” và “phát-xít” đánh nhau. Nhưng ngồi xa nhìn rõ, có lẽ đệ-tam Quốc-tế đã dự đoán hậu quả của việc Nhật chiếm đóng Ðông-Dương tiên kiến việc Nhật lật đổ chính quyền thực dân Pháp và có lẽ cả việc Nhật bại trận. Moscou nhận định tình hình Việt-Nam rất thuận lợi cho một cuộc cách-mạng cộng sản. Ông Hồ từ một nơi khuất nẻo nào đó được gọi về Moscou và được phái sang Hoa Nam để tiếp tục một sứ-mạng màông đã phải bỏ dở trong ngót mười năm.

Như đã tường thuật trong Chương 3, ông Hồ lên đường sang Trung-Hoa vào mùa xuân năm 1941 ; cùng đi với ông có Nguyễn-khánh-Toàn. Nhưng cùng ngồi trên xe lửa, ông Hồ nhận thấy Toàn đã mất hết tác phong cách-mạng, một điều mà ông thực quả không ngờ. Trong 15 năm sống ở Moscou Toàn được hưởng quy chế “chuyên viên ngoại quốc”, sống một cuộc đời thảnh thơi với một số lương to hơn lương người bản xứ. Thấy Toàn ăn uống luôn mồm ông Hồ biết là Toàn đã quen thói phong lưu, không thể nào chịu đựng sự gian khổ của một người cách-mạng hoạt động trong bóng tối. Vì vậy nên đặt chân đến Diên-An, ông Hồ liền thu xếp với Mao gửi Toàn ở lại và hẹn với Toàn sẽ nhắn Toàn về khi nào cách-mạng thành công. Toàn biết vậy và vui vẻ ở lại. Các đảng viên Cộng-sản kỳ cựu cho rằng đời sống của ông Hồ và của Nguyễn-khánh-Toàn là hai thái cực. Ông Hồ thì luôn luôn chịu đựng gian khổ còn Toàn thì luôn luôn phong lưu, có thể nói là “trưởng giả”, mặc dầu hai người đều là cách-mạng cộng sản.

Toàn lưu lại Diên-An và một lần nữa, lại được hưởng quy-chế dành riêng cho “chuyên viên ngoạI quốc”, được hưởng chế-độ “tiểu táo” trong khi người vợ bản-xứ ngồi cùng bàn phải ăn “đại táo”.1 Năm 1945 sau khi cướp được chính quyền, ông Hồ bận quá nên quên khuấy Toàn. Chừng một tháng sau có một ký giả Ca-na-đa ghé qua Diên-An kể cho Toàn nghe ở Việt-Nam mới có chính phủ mới và người cầm đầu là một ông già nói tiếng Anh rất thạo. Toàn đoán chắc là ông Hồ nên quyết định về nước. Sau khi được Mao-Trạch-Ðông chuẩn y, Toàn lên đường về Việt-Nam cùng với Nguyễn-sơn, một người Việt đã gia nhập Ðảng Cộng sản Trung-Hoa từ 1927. Trung-cộng nhận hai người là nhân viên của phái đoàn Trung-cộng xuống Trùng-khánh điều đình đình-chiến với chính phủ Tưởng-giới-Thạch, nhưng tớI Trùng-Khánh. Trung-cộng nhờ một Hoa kiều buôn bán ở Bangkok, nhận chuyển về, đưa hai người về tớI Lạng-sơn. Toàn về tới Hà-Nội vào khoảng tháng Chạp 1945, và sau một thời gian được cử làm Thứ- trưởng Bộ Giáo-dục, với nhiệm vụ kiểm soát Nguyễn-văn-Huyên, bộ-trưởng, nhưng chưa có chân trong Ðảng.

1 Tiểu táo (bếp nhỏ) : một người đầu bếp hầu riêng một người ăn, thức ăn sang trọng. Ðại táo (bếp lớn) : ăn theo kiểu tập-đoàn, thức ăn sơ sài.

Sau khi để Toàn ở lại Diên-An, ông Hồ lẩn qua vùng Quốc-Dân-Ðảng và một mình lặn lội xuống Hoa-Nam, tới sát biên-giới Việt-Nam. Ông dấu kín lý lịch, tự xưng là Hồ-Chí-Minh, giả dạng làm một chiến sĩ Quốc-gia Việt-Nam chủ trương đánh đuổi Phát-xít Nhật ra khỏi nước. Ông kết liên với nhóm quốc-gia đương tích cực hoạt động ở Hoa-Nam, nhưng đồng thời ông cũng tập hợp những đồ đệ cũ của ông lẩn quất trong vùng, trong số có ông Hồ-tùng-Mậu. Cùng với họ, ông Hồ tổ chức Mặt-trận Việt-Minh (tức là Việt-Nam Ðộc-Lập Ðồng-Minh). Ông cử người về nước liên lạc với các tiểu tổ cộng-sản còn đang ẩn náu trong bóng tối. Không bao lâu, những đảng viên quan trọng trước kia bị Pháp bắt giam trong các trại tập trung lần lượt thoát khỏi trại giam chạy sang Trung-Hoa. Pháp bắt giam các đảng viên cộng-sản hồi Nga buông tay cho Ðức đánh Pháp, nhưng sau khi Nhật chiếm Ðông-Dương và Nga bị Ðức tấn công thì cộng-sản và Pháp không còn kình địch nhau nữa mà chỉ còn một kẻ thù chung trước mắt là Nhật. Vì vậy nên cộng-sản bị giam vượt ngục không cần phải trèo tường.

Ông Hồ tình nguyện dùng tổ chức bí mật của ông trong nội địa Việt-Nam làm tình báo cho quân đội Ðồng Minh Anh . Mỹ. Ông đảm nhận việc dò xét và báo cáo những di-chuyển của quân-đội Nhật và giúp các phi công Mỹ bị Nhật bắn rơi trốn thoát sang Trung-Hoa. Sau khi chiếm được Madagascar, Anh phóng thích các đảng viên cộng-sản “trong số có Hoàng-hữu-Mam) bị Pháp mang sang cấm cố ở đây và thả dù họ xuống vùng du-kích Việt-minh ở Cao Bằng1. Ngược lại, Mỹ cho Việt-minh một số radio xách tay và vài trăm tiểu-liên. Việt-minh dùng số khí giới này để tấn công mấy đồn Khố-xanh và lính dõng, nhưng tránh không giao-phong với quân-đội Nhật can trường và đầy đủ võ trang hơn. Chủ trương của ông Hồ là bảo toàn võ khí do Mỹ cung cấp để sau khi quân đội Nhật thất trận sẽ dùng để cướp chính quyền và đối phó với phe quốc-gia. Mọi việc đã xẩy ra đúng như ông Hồ đã tiên liệu. Sau khi Pháp được Ðồng-minh giải phóng và phe De Gaulle lên nắm chính quyền, viên toàn Decoux ở Ðông-Dương hổ thẹn vì đã theo chính phủ Vichy, và muốn đái tội lập công, dự định một cuộc tấn công đánh úp Nhật. Nhưng Nhật biết rõ âm mưu nên ngày 9 tháng 3, 1945, Nhật đảo chính Pháp trước khi Pháp kịp trở tay. Nhật bắt giam tất cả binh lính và thường dân Pháp, để Bảo-đại tiếp tục làm Hoàng-đế và giao cho cụ Trần-trọng-Kim thành lập một chính phủ “hữu danh vô thực”, chỉ có bộ Thanh-niên, không có bộ Quốc-phòng. Cụ Trần và một số nhân-viên trong chính-phủ của cụ là những người thật thà yêu nước nên việc đầu tiên họ làm là thả hết chính-trị phạm, kể cả cộng-sản. Nhưng sau khi ra khỏi tù việc đầu tiên của cộng-sản lại là gia-nhập phong-trào Việt-Minh để lật đổ chính-phủ Trần-trọng-Kim. Ngày 19 tháng 8, 1945, Việt-minh cướp chính quyền ở Hà-Nội. Vì Nhật đã đầu hàng Ðồng-minh từ 5 hôm trước nên bỏ ngỏ thành-phố không can-thiệp. Việt-minh chỉ biểu tình và bắn một vài phát súng sáu là viên khâm-sai Phan-kế-Toại vội vã đầu hàng. Bảo-đại cũng thoái vị và ông Hồ trở thành Chủ-tịch Chính-phủ Lâm-thời Việt-Nam Dân-chủ Cộng-hòa. Mấy ngày sau, theo đúng Hiệp-ước Postdam, quân đội Anh đổ bộ lên Saigon và quốc quân Trung-Hoa tiến vào Hà-Nội để tước võ khí của bại quân Nhật-Bản. Hai đội quân chiếm đóng tìm cách ngăn cản phong trào Việt-minh. Trong Nam thì quân Anh thả tù binh Pháp, cho họ khí giới để đánh chiếm lại Việt-Nam, còn ngoài Bắc thì quân đội Lư-Hán giúp V.N.Q.D.Ð. và Việt-Nam Cách-mạng đồng-minh Hội chống chọi với Việt-minh. Phe quốc gia tuyên truyền chống Việt-minh bắt cóc và thủ tiêu cán-bộ cộng-sản và chiếm giữ một vài địa điểm làm căn cứ quân sự.

1 Cộng-sản xui Anh không tha những người Quốc-gia, trong số có cụ Nguyễn-thế-Truyền.

Bị chống đối mỗi ngày một kịch liệt, ông Hồ bắt buộc phải nhượng bộ phe quốc-gia, dành cho họ 80 ghế trong Quốc Hội bầu cử giả hiệu, thành lập Chính-phủ Liên Hiệp1 và hô hào toàn dân đoàn kết chống Pháp. Ðảng Cộng-sản tuyên bố tự giải tán để chứng tỏ nhiệt tâm của họ đối với chính nghĩa quốc gia, nhưng thật ra vẫn tiếp tục hoạt động bí mật và kiểm soát quần chúng. Trong khi ấy phe quốc gia cũng củng cố vị trí và tăng cường tuyên truyền chống Cộng. Trong lúc ông Hồ đang lúng túng vì bị Pháp và Quốc gia tấn công hai mặt thì một thỏa hiệp giữa Pháp và chính phủ Tưởng-giới-Thạch mang lại cho ông một lối thoát bất ngờ. Theo thỏa hiệp này, Tưởng-giới-Thạch ưng thuận rút quân ra khỏi miền Bắc Việt-Nam nhường chỗ cho quân đội Pháp.

Sau khi quân đội Lư Hán rút khỏi, Cộng sản lập tức tấn công và tiêu diệt V.N.Q.D.Ð., và sau đó tìm cách điều đình với Pháp. Ngày mùng 6 tháng 3 năm 1946, Việt-minh ký hiệp-định sơ bộ với Pháp, theo đó nước Pháp “thừa nhận Việt-Nam Dân-chủ Cộng-hòa là một quốc gia ’tự do’ thuộc khối Liên Hiệp Ðông Dương và Liên Hiệp Pháp, có chính phủ, quốc hội, quân đội, và một nền tài chính riêng”. Sau này, Việt-minh cố gắng điều đình sửa lại một vài điều khoản trong Hiệp ước đó để cho Việt-Nam được hoàn toàn độc lập, vì theo Hiệp định sơ bộ thì quân đội Pháp vẫn có quyền chiếm đóng Việt-Nam. Hai cuộc hội nghị Ðà-Lạt (tháng 4 và tháng 5 năm 1946) và Fontainebleau (tháng 7 và tháng 8 năm 1946) đều thất bại mặc dầu ông Hồ đã đích thân sang Paris để vận động. Rốt cuộc, không lẽ ra về tay không, ông Hồ phải ký với tổng trưởng Pháp quốc quốc Hải ngoại, Marius Moutet, một đảng viên Xã hội mà ông đã quen trên 20 năm, một bản Tạm-ước xác nhận những điều khoản đã quy định trong Hiệp định sơ bộ. Nhưng quân Pháp không tôn trọng hiệp định cứ viện đủ mọi cớ để chiếm hết vị trí này đến vị trí khác, khiến chịu không nổi, ông Hồ phải trả đũa bằng một cuộc tấn công bất ngờ vào ngày 19 tháng Chạp năm 1946. Ông Hồ quyết định 11 giờ sáng, và định giờ khởi sự là 8 giờ tới. Võ-nguyên-Giáp đã lập tức truyền lệnh này đến tất cả các lục lượng Việt-minh trên toàn lãnh thổ. Nhưng, vào khoảng 2 giờ trưa hôm ấy, Giáp nhận được tin là Marius Moutet sắp lên đường sang Việt-Nam nên vội vã đến Bắc Bộ Phủ báo cáo với ông Hồ và hỏi ông xem có nên hoãn việc tấn công lại hay không. Ông Hồ bảo “cứ việc”, và thế là đêm ngày 19 tháng Chạp năm 1946 mở màn cho một cuộc chiến tranh kéo dài tới hơn tám năm trời.

Trước kia ông Hồ có ý đấu dịu với Pháp vì ông muốn cho Việt-minh có đủ thì giờ củng cố chính trị và quân sự. Có lẽ ông cũng ráng chờ xem Pháp Cộng và Trung Cộng làm ăn như thế nào, nhưng đến khi tình thế bắt buộc phải tự lực chống Pháp ông vẫn tin chắc thắng lợi cuối cùng sẽ về ông. Ông thừa biết Việt-Nam cách xa Pháp hàng ngàn dặm, và nước Pháp vẫn chưa hoàn toàn phục hồi sau cuộc chiếm đóng của Ðức-Quốc-Xã. Hơn nữa, sau Thế chiến thứ 2 quốc tế đã thay đổi hẳn khiến một cuộc chiến tranh tái chiếm thuộc địa là một chuyện không thể nào thực hiện được nữa. Ông Hồ nhận định rằng Pháp càng đánh thì càng củng cố thêm uy thế của Việt-minh, vì sẽ làm cho Cộng-sản trở thành những chiến sĩ chân chính bảo vệ đất nước và thực sư giải phóng quốc gia, không “ngáp phải ruồi” như hồi mới cướp chính quyền. Ông Hồ trở thành biểu tượng của đoàn kết quốc gia, và mọi người nhiệt liệt hưởng ứng phong trào kháng chiến chống Pháp.

Cuộc kháng chiến

Võ-nguyên-Giáp muốn rập theo kế hoạch của Nhật trong cuộc đảo chính mùng 9 tháng 3, tấn công các trại binh Pháp đúng 8 giờ tối là giờ các sĩ quan Pháp đang ăn uống. Nhưng một tên Pháp lai làm tự vệ cho Việt-minh báo cho Pháp biết nên Pháp đủ thì giờ chuẩn bị. Ở một vài nơi không đủ sức chống đỡ, Pháp phải đầu hàng, nhưng Pháp giữ vững những thành phố hoặc vị trí mà quân số của họ đông hơn Giải-phóng quân cuả Việt-Minh. Tình trạng kéo dài trong ba năm : quân đội Pháp không dám mạo hiểm ra khỏi các vị trí hoặc thành phố, quân đội Việt-minh kiểm soát vùng quê, phá cầu, cắt đứt đường giao thông. Dần dần quân đội Pháp nới rộng vòng kiểm soát, nhưng đồng thời Việt-minh cũng tiến-bộ về quân sự. Tình-trạng cứ giằng co như thế cho đến ngày chính phủ Nam-Kinh xụp đổ và Mao-Trạch-Ðông tuyên bố thành lập nước Cộng-Hòa Nhân-dân Trung-Hoa ở Bắc-Kinh ngày mùng 1 tháng 10 năm 1949.

1 Chính-phủ Liên-Hiệp gồm có cộng-sản, quốc-gia và trung lập có thể coi là một thí-nghiệm “tam đầu chế” đầu tiên trong lịch-sử thế-giới.

Thấy ông Mao thành công ở Trung-Hoa, ông Hồ bèn yêu cầu viện-trợ. Tháng Hai năm 1950, Mao-Trạch-Ðông cử tướng Lã-quý-Ba làm cố vấn quân sự cho Võ-nguyên-Giáp. Ít lâu sau, Trung-cộng lại cử thêm nhiều chuyên viên sang giúp Việt-minh trong mọi ngành. Ngoài ra Trung-cộng còn ra lệnh cho hai tỉnh giáp giới Việt-Nam . là Quảng Tây và Quảng Ðông . cung cấp lương thực, võ khí và đạn dược cho quân đội Việt-minh. Và rất nhiều sĩ quan Việt-Nam được gửi sang Trung-Quốc học tập quân sự.

Ðược Trung-cộng ủng hộ, quân đội Việt-minh tổng tấn công các vị trí của quân đội Pháp dọc biên giới Việt Hoa, buộc quân đội Pháp phải rút về đồng bằng sông Nhị Hà ở phía nam. Thấy bước đầu thành công, tướng Lã-quý-Ba khuyên Việt-minh truy kích tấn công vào các vị trí Pháp ở đồng bằng. Nhưng vì Lã tướng quân không có mấy kinh nghiệm về sự tàn phá của không quân nên trong trận Ninh-bình quân đội Việt-minh đã bị tổn thất nặng nề, phải tháo chạy tán loạn vì bị phi cơ Pháp dùng bom napan đốt phá. Sau khi nhận thấy là đã tính lầm, Lã tướng quân bèn thay đổi chiến lược và tìm cách dụ quân đội Pháp tiến vào vùng rừng núi. Ðể thực hiện kế hoạch này, ông khuyên Việt Minh tấn công các đồn binh Pháp ở Lào. Vì nằm ở phía sau dẫy núi Trường-sơn, nên Pháp yên trí các vị trí này không bị tấn công, do đó không hề chuẩn bị đề phòng.

Việt-minh bắt đầu dự trữ lương thực . phần lớn là gạo và cá khô . vì ở Lào dân cư thưa thớt, không kiếm được lương thực tại chỗ. Việt-minh trưng dụng xe đạp mà dân chúng đã buôn lậu từ các khu vực bị Pháp chiếm đóng, dùng để “thồ” lương thực và đạn dược. Việt-minh vượt qua dẫy Trường-sơn và tiến qua các rừng núi Lào nhanh đến nỗi Pháp không kịp trở tay.

Việt Minh mở tất cả ba chiến dịch lớn ở Lào. Chiến dịch thứ nhất nhầm tấn công Luang Prabang, thủ đô Hoàng gia Lào. Trong chiến dịch này, Việt-minh đã tiến tới cách Luang Prabang chưa đầy 50 cây số về phía Bắc, vào ngày 30 tháng 4 năm 1953. Sợ Việt-minh tấn công một lần nữa, ngày 20 tháng 11 năm 1953, Pháp cho 6 tiểu đoàn nhảy dù xuống Ðiện Biên Phủ. Việt-minh bèn mở cuộc tấn công thứ 2 vào Trung Lào và chiếm đóng Thakhek ngày 28 tháng Chạp, và sau đó tiến quân xuống Hạ Lào. Mục đích là buộc Pháp phải chia quân đi trấn giữ mọi nơi ở Lào, và làm cho Pháp phải dùng số lớn phi cơ vào việc tiếp tế các đồn binh tản mát ở những nơi hẻo lánh. Rồi cuối cùng, Việt Minh mở một chiến dịch thứ ba, lần này cũng lại nhầm đánh Luang Prabang, và ngày mùng 8 tháng 2 năm 1954 chỉ còn cách thành phố này chưa đầy 35 cây số. Quốc vương Lào sang bên kia sông Cửu Long lánh nạn, còn Pháp thì vội vàng thả dù thêm quân xuống Ðiện Biên Phủ.

Tuy chẳng to tát gì, nhưng Luang Prabang cũng là một “thủ đô” nên Pháp phải bảo vệ đến cùng. Kế hoạch của Pháp là chặn cuộc hành quân của Việt-minh bằng cách cắt đứt đường tiếp vận của họ ở Ðiện Biên Phủ, một đồn binh nằm sâu trong vùng thượng du và ở ngay phía sau chiến tuyến Việt-Minh. Việt-minh bao vây Ðiện-Biên-Phủ. Pháp càng thả dù thêm quân thì Việt-minh càng bao vây thêm cho đến ngày Việt-minh dùng cao xạ rất chính xác của Tiệp-khắc hạ máy bay khiến Pháp không thả dù được nữa.

Việt Minh tấn công Lào, không phải nhằm chiếm đóng Lào mà thật ra chỉ để nhử Pháp lọt vào vùng núi. Tướng De Lattre de Tassigny là một chiến-lược-gia có tài, nhưng người kế vị ông kém quá nên không địch nổi với chiến lược Việt Minh. Chỉ vì muốn đánh vào hậu quân Việt Minh mà Pháp đã lọt vào tròng. Với quan niệm quân sự cổ điển Tây Phương, Pháp đã lâm vào thế bị động và không sao giữ nổI Ðiện Biên Phủ.

Ðến lúc ấy, Liên-xô hở cho Pháp biết là có thể chấm dứt chiến tranh mà Pháp không bị mất mặt nhiều. Pháp hưởng ứng ngay và Hội Nghị Genève được triệu tập năm 1954. Thoạt đầu Pháp ngần ngạI không chịu chấp nhận điều kiện của Việt-minh, nhưng trong lúc Pháp đang lưỡng lự, thì Việt-minh tấn công đại quy mô vào Ðiện Biên Phủ. Quân đội Pháp phải đầu hàng ngày mùng 7 tháng 5 năm 1954. Tin Pháp thua to ở Ðiện Biên Phủ làm náo động dư luận Pháp, và kết quả là chính phủ Mendès Frances phải hấp tấp ký một hiệp định nhượng bộ cho Việt-minh nhiều hơn là các lãnh tụ Việt-minh từng hy vọng.

Chiến tranh chấm dứt giữa lúc tỉnh Thanh Hóa sắp lâm vào nạn đói. Nằm trong khu vực phì nhiêu sông Mã, Thanh Hóa vẫn được coi là vựa lúa thứ hai của miền Bắc. Tự ngàn xưa, Thanh Hóa vẫn là nơi nuôi quân để chống lại quân Tầu. Vì không hề bị Pháp chiếm đóng, nên trong thời kỳ kháng chiến Thanh Hóa lại là nguồn tiếp tế lương thực cho quân đội Việt-minh. Có lẽ Pháp không đủ quân lực để chiếm vùng này, nhưng có thể là tại các tướng lãnh Pháp không chịu nghiên cứu lịch sử Việt-Nam và binh pháp Tôn Tử1 nên đã không chú ý đến tỉnh này. Muốn hiểu Thanh Hóa quan trọng nhường nào đối với kháng chiến, thì chỉ cần biết tỉnh này đã cung cấp 76 phần trăm tổng số lương thực cho quân đội Việt-minh ở Ðiện Biên Phủ. Con số này đã được nêu lên trong một điện văn tuyên dương thành tích của nhân dân Thanh Hóa. Một điều nữa nên biết là chỉ có 10 phần trăm số gạo xuất kho từ Thanh Hóa đến tới Ðiện Biên, vì hàng vạn dân công gánh gạo ăn dọc đường hết 90 phần trăm. Mỗi người gánh 15 ki lô, mỗi đêm đi 15 cây số. Ðể tránh máy bay họ nghỉ ngày, đi đêm. Tối đến có hàng vạn dân công lên đường, cứ 5 người lại có một người cầm đèn soi đường và mỗi khi có tiếng máy bay là lập tức thổi tắt đèn Ðứng trên đồi cao nhìn xuống đoàn người cầm đèn, người xem có cảm tưởng chứng-kiến một cuộc múa rồng múa rắn vĩ đại.

Nếu Pháp đã bị kiệt quệ vì chiến tranh Ðông-Dương, thì Việt-Minh cũng gần tê-liệt. Việt-Minh đã dành được thắng lợi vì kiên nhẫn hơn và biết dấu kín những nỗi khó khăn nội bộ. Ôn lại chín năm kháng chiến người ta có cảm tưởng như Pháp cứ đánh từ từ, tập rượt cho quân đội Việt Minh mỗi ngày một lớn mạnh, cho tới ngày “học viên” quật ngã huấn-luyện-viên. Hồi kháng chiến mới bùng nổ năm 1946, Việt-Minh chỉ có gậy tầm vông, một vài khẩu súng lục và tiểu liên do Mỹ cung cấp hoặc mua rẻ của sĩ quan trong quân đội Lư-hán. Nhưng ngày nay, quân đội Bắc-Việt là một quân đội tinh nhuệ, võ trang đầy đủ và tinh thần dũng cảm cao đến tột bực.

Trái với một số người vẫn tưởng, quân Nhật không hề giúp võ khí cho Việt-Minh. Trong mấy ngày đầu sau khi họ đầu hàng, quân Nhật quả có ý định giúp Việt-Minh một số võ khí và quân trang, nhưng họ đình ngay khi có tin Võ-nguyên-Giáp, ngày 17 tháng 8, 1945 trong khi kéo quân từ Thái-Nguyên về Hà-Nội đã tấn công đồn binh Nhật ở Thái-Nguyên để “ra oai” với mấy phóng viên báo Mỹ cũng đi theo. Nhật đốt hết kho tàng của họ và trao lại cho quân đội Lư-Hán ở Hải-Phòng 400.000 tấn võ khí đạn dược.

Trong vùng kháng chiến, mọi người đều công nhận rằng, ngoài số võ khí và đạn dược chiếm được của quân Pháp, có 5 vật tư, không thu nhưng mua được của Pháp, đã giúp Việt-Minh chiến thắng. Những vật tư ấy là :

1. Thuốc sốt rét, để quân đội dùng ở những vùng nước độc.
2. Nylon nhẹ, không thấm nước, dùng để che mưa hoặc để bọc quần áo và thức ăn; làm phao bơi qua sông.
3. Vỏ xe hơi cũ dùng làm dép “cụ Hồ” để trèo đèo lội suối.
4. Xe đạp để “thồ” lương thực và đạn dược.
5. Dầu hỏa để thắp đèn.

1 Tôn Tử chủ trương “Thứ nhất công tâm, thứ hai công lương và thứ ba công đồn”, nghĩa là trong mỗi cuộc tấn công phải lo chiếm cảm tình nhân dân địa phương trước, thứ đến triệt nguồn lương thực của địch, và cuối cùng mới tính chuyện tiến đánh đồn địch. Ðối chiếu với binh-pháp Tôn Tử chúng ta thấy Pháp ngày xưa cũng như Mỹ ngày nay chú trọng quá nhiều vào hành-động thứ ba mà coi nhẹ hành-động thứ nhất và thứ nhì, trong khi Việt Cộng cũng như Trung Cộng lúc nào cũng theo đúng lời dậy của Tôn Tử ?

Pháp nhập cảng các thức này vào Việt-Nam, và con buôn mang lậu ra hậu, thường khi có sự thông đồng của các trưởng đồn Pháp.

Chiến tranh Ðông Dương kết liễu ngày 21 tháng 7 năm 1954, khi Pháp và Việt-Nam Dân-chủ Cộng-hòa, cùng với Cam-bốt, Lào, Nga-sô, Trung-cộng, và Anh ký vào bản Tuyên Ngôn Cuối Cùng của Hội Nghị Genève ; đây là bản hiệp định đương nhiên thừa nhận chủ quyền của chính phủ Hồ-Chí-Minh trên toàn miền Bắc Việt-Nam. Trong 5 năm sau đó, tình hình tương đối được yên tĩnh vì Cộng Sản còn bận hoàn thành công cuộc tập thể hóa miền Bắc và huấn luyện những phần tử thân Cộng tập-kết ở miền Nam để tổ chức chiến tranh du kích hiện còn đang tiếp diễn.

Củng cố chính trị

Về chính trị và văn hóa Việt-minh cũng đạt được những tiến bộ tương tự như về quân sự. Năm 1945, 80 phần trăm dân số hãy còn mù chữ, mà đến đầu năm 1950 nạn mù chữ đã hoàn toàn thanh toán. Nhờ mẫu tự La-tinh và cách đánh vần rất hợp lý, nên một người lớn tuổi thường chỉ học độ một tháng là đủ biết đọc biết viết. Muốn bắt dân chúng phải học đọc, học viết, Việt-Minh đặt cán bộ đứng khảo chữ ở cổng chợ, bến đò hoặc ngay giữa đường, có đánh vần đúng mới được đi qua.

Tuy trình độ văn hóa của nhân dân vẫn còn thấp vì nói chung họ học chính trị nhiều hơn là văn hóa, song làng nào cũng có một trường tiểu học, huyện nào cũng có một trường trung học, và có rất nhiều lớp học bổ túc buổi tối cho tất cả những người lớn tuổi.

Tiến bộ về tổ chức chính trị cũng lớn lao vô cùng. Từ một thiểu số viên chức và chuyên viên thiếu kinh nghiệm, đảng Lao Ðộng đã đào tạo được hàng ngàn cán bộ chuyên môn về mọi kỹ-thuật, và một đoàn cán-bộ khổng lồ phụ trách việc kiểm soát đời sống hàng ngày của toàn thể nhân dân. Việc kiểm soát nhân dân . công cuộc vĩ đại nhất của Cộng sản . có thể tạm chia làm hai giai đoạn : giai đoạn “phản đế” bắt đầu từ 1946 và chấm dứt năm 1949 và giai đoạn “phản phong” từ 1950 đến 1956.

Giai đoạn Phản Ðế 1946-1949

Khẩu hiệu của thời kỳ này là “Tổ Quốc trên hết”. Ông Hồ hô hào toàn dân đoàn kết ủng hộ chính phủ kháng chiến chống Pháp. Ðể trí thức bớt nghi ngờ, đảng Cộng sản Ðông Dương tuyên bố tự ý giảI tán, và trịnh trọng giao quyền lãnh đạo chính trị cho Mặt Trận Liên Việt. Quyền tư hữu tài sản được triệt để tôn trọng, và địa chủ vẫn được quyền thu thóc. Có nơi nông dân bị truy tố vì không trả đủ địa tô cho địa chủ. Trí thức được trìu mến, nhiều người được giữ chức vụ cao cấp nếu không có thực quyền thì ít nhất cũng có danh vọng còn thân hào nhân sĩ vẫn được trọng vọng như xưa. Ðể lôi kéo những ngườI khao khát muốn tham gia việc nước, Cộng sản thành lập nhiều đoàn thể chính trị “hữu danh vô thực” như Ðảng Dân chủ, dành cho địa chủ và phú thương ; Ðảng Xã-Hội, dành cho trí thức, và Mặt Trận Liên Việt, dành cho nhân sĩ và bô lão, già không hoạt động nặng nhọc được, nhưng vẫn còn uy thế đối với con cháu. Những tổ chức này thực ra chỉ là một tấm bình phong để Cộng sản nấp sau giật dây. Vì quả thực là bù nhìn, dành riêng cho từng giới, nên chẳng bao lâu mấy đoàn thể nói trên mất hết uy tín đối với dân chúng.

Ðảng Dân chủ do một nhóm sinh viên đại học lập ra hồi Nhật chiếm đóng, đã bị rơi ngay vào vòng kiểm soát của Cộng sản vì tình nguyện hợp tác với Việt-Minh để chung sức chiến đấu chống Pháp và Nhật. Ngày nay Ðảng Dân Chủ đã trở thành một tổ chức hoàn toàn bù nhìn có nhiệm vụ kiểm soát “thành phần tư sản”.

Hai đảng Xã-Hội và Dân-Chủ ngày nay chỉ còn có tên. Còn “Mặt Trận” thì đã đổi tên đến ba lần: từ Mặt trận Việt-minh đến Mặt trận Liên-việt, rồi từ Mặt trận Liên-Việt đến Mặt trận Tổ-qưốc, và cuối cùng từ Mặt trận Tổ-quốc đòi thành Mặt trận Thống Nhất Quốc-gia. Mỗi khi đổi tên thì bản cương lĩnh cũng được thay đổi chúc ít để phù hợp với nhu cầu của tình thế. Có nhiều quan sát viên sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng những bản tuyên ngôn chính thức của các “Mặt trận”, cho rằng có một vài thay đổi thực sự trong đường lối chính sách. Nhưng thực ra sự thay tên đổi dạng này chẳng vì một thay đổi quan trọng nào về chính sách, mà chỉ vì mặt trận đương thời đã mất hết uy tín. Thí dụ như hồi đầu Mặt Trận được gọi là Việt-minh, viết tắt là VM, đọc nhanh thành Vẹm. Không bao lâu câu thành ngữ Việt-Nam “nói như vẹt” được đổi ra “nói như Vẹm”, nghĩa là nói liến thoắng như cán bộ Việt-Minh, rồi từ đó sinh ra những thành ngữ “nói dối như Vẹm, thủ đoạn như Vẹm”. Chữ Vẹm làm cho Cộng-sản khó chịu, nên họ đổI thành Liên-Việt. Nhưng vẫn thói viết tắt Liên-Việt thành L.V, đọc theo lối “truyền bá quốc ngữ” thành “lờ vờ” và quả thật các cụ trong Mặt Trận Liên-Việt lúc nào cũng chỉ hoạt động một cách lờ vờ. Trong giai đoạn đầu còn nhiều tính chất dân chủ, bộ máy chính quyền đã củng cố rất nhiều mặc dầu vì ưa dùng thủ đoạn nên chế độ mỗi ngày mỗi mất uy tín đối với nhân dân.

Giai đoạn Phản Phong, 1950-1956

Việt Minh giả dạng dân chủ cho đến ngày chiến thắng quân Pháp ở Lạng sơn, tháng 9 năm 1950, tiến sát tới biên giới Hoa Việt. Có tin đồn hồi đầu năm 1951 ông Hồ đã bí mật vi hành sang gặp ông Mao và đã bị các lý thuyết gia Trung Cộng phê bình là ông “hữu khuynh”, vì họ cho rằng ông Hồ đã chú trọng quá nhiều đến kháng chiến chống Pháp mà coi nhẹ nhiệm vụ thiết lập chế độ Cộng sản.

Sau khi ông Hồ từ Bắc Kinh trở về, đảng Cộng sản đã gỡ bỏ mặt nạ và xuất hiện với cái tên mới lạ Ðảng Lao Ðộng Việt-Nam (ngày mùng 3 tháng 3 năm 1951). Khẩu hiệu mới của Ðảng là : “Ðưa Phản Phong lên ngang hàng với Phản Ðế”. Trước đó, mọi khẩu hiệu đều nhằm vào chiến tranh chống Pháp, nhưng nay vì chính sách đã thay đổi nên khẩu hiệu cũng phải thay đổi. Nhưng nếu đột nhiên thay khẩu hiệu bằng khẩu hiệu mới thì sợ gây hoang mang mà Cộng sản hết sức muốn tránh, nên họ bắt đầu thay đổi dần dần, nay một chữ, mai một chữ, cho đến khi khẩu hiệu mất hết ý nghĩa cũ. Chẳng hận như khẩu hiệu “Sẵn sàng Tổng Phản Công” năm 1950, đổi thành “Sẵn sàng chuẩn bị Tổng Phản Công” vào năm 1951 ; sang năm 1952 lại giảm xuống “Sẵn sàng Hoàn Thành Chuẩn bị Tổng Phản Công”, và cuối cùng cất biến. Ðến khi phản công thực sự, năm 1954, thì Cộng-sản đã đầy đủ uy quyền để bắt dân chúng phảI tuân lệnh. Vì không còn cần phải “thuyết phục theo đường lối dân chủ” nữa, nên khẩu hiệu kể trên đã trở thành vô dụng.

Hồi khẩu hiệu “Ðưa Phản Phong lên ngang hàng với Phản Ðế” mới xuất hiện, dân chúng không hiểu “Phản Phong” là gì. Nhiều người cho rằng Phản Phong nghĩa là xóa bỏ tàn tích phong kiến còn sót lại trong guồng máy chính quyền nhà nước. Chỉ có cán bộ được huấn luyện ở Trung-Quốc về mới biết rõ Phản Phong có nghĩa là “tiêu diệt giai cấp địa chủ”. Mãi đến khóa chỉnh huấn đầu tiên, nên, năm 1953, danh từ “Phản Phong” mới được định nghĩa rõ ràng (xem phần 4).

Chiến dịch chính trong giai đoạn Phản Phong là chiến dịch Cải Cách Ruộng Ðất (1953-1956); hy sinh hơn nửa triệu người (tức là 4 phần trăm dân số Bắc-Việt). Trước khi phát động chiến dịch Cải Cách Ruộng Ðất long trời lở đất này, đảng Lao-Ðộng đã phát động hai chiến dịch khác để dọn đường trước.

Thứ nhất là chiến dịch thuế Nông-Nghiệp, rập theo mẫu của Trung-cộng, nhằm mục đích bần cùng hóa toàn dân và biến xã-hội Việt-Nam thành một xã hội bần cố. Tiếp theo là cuộc “đấu tranh chính trị” nhằm thủ tiêu “tất cả mọi phần tử phản động đầu xỏ”. Còn chính chiến dịch Cải Cách Ruộng Ðất thì thực hiện làm hai đợt, hoặc hai chiến dịch liên tiếp : chiến dịch “Giảm Tô” và chiến dịch “Cải Cách Ruộng Ðất” thực sự. Sau chiến dịch “Cải Cách Ruộng Ðất” đến chiến dịch “Sửa Sai” với mục đích bình thường hóa tình hình quá căng thẳng sau mấy chiến dịch khủng bố có tổ chức. Mỗi chiến địch đều được sửa soạn trước bằng một khóa chỉnh huấn để chuẩn bị tinh thần cán bộ khỏi bị giao động trước những hành động đẫm máu của chiến dịch. Toàn bộ chiến dịch này chỉ được thực hiện từ mấy năm trước ở Trung-Quốc, và thường được mệnh danh là “chiến thuật Mao-Trạch-Ðông”. Vì tầm quan trọng của các chiến dịch này cũng như sự phản ảnh chủ tâm của các lãnh tụ Cộng sản, chúng tôi sẽ trình bầy mỗi chiến dịch riêng biệt trong các chương sau. Chúng tôi mong độc giả sẽ có một quan niệm tổng quát về toàn bộ chiến thuật mà Mao-Trạch-Ðông đã vạch ra cho Trung-Quốc, và tin rằng có thể áp dụng cho tất cả các nước kém mở mang, như Việt Nam chẳng hạn.

(Còn tiếp)

Bài đã đăng: Mời quý bạn đọc bấm vào đây xem

Phần 1 Cái Vinh & Cái Nhục Của Một Tiểu Nhược Quốc

Phần 3 Chuẩn Bị Thành Lập Chế Ðộ Ðộc Tài

Advertisements

Leave a Comment »

No comments yet.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Create a free website or blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: