Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

July 26, 2008

BÀI HỌC LỊCH SỬ VỀ VIỆC ĐI DÂY CỦA VC VỚI NGA-TÀU QUA CUỘC CHIẾN BIÊN GIỚI 1979-1989

Filed under: Hoàng Sa Trường Sa, Tài liệu, Việt Nam — tudo @ 9:43 pm

Vài giờ sau khi chiếc trực thăng cuối cùng chở toán quân của Thiếu Tá Thủy Quân Lục Chiến Mỹ Jim Kean rời nóc nhà của Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Miền Nam VN để bay ra biển Đông, lên chiến hạm về nước trong danh dự, cũng là lúc bộ đội Bắc Việt vào Sài Gòn bỏ ngỏ qua lệnh đầu hàng của Tổng Thống Dương Văn Minh. Cái bi hài của vở kịch, nước mắt trước cơn mưa, là lúc mà chính phủ hai ngày của VNCH đang hồ hởi hòa hợp hòa giải, để chờ chim bồ câu trắng hòa bình hiện ra, thì cũng là giờ G ngày N của Hà Nội đã điểm.

Đây cũng là thời khắc mà Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, quyền Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH, nhân danh TT Minh, ra lệnh cho các đơn vị miền Nam đang phòng thủ quanh Sài Gòn phải cố giữ vững vị trí chiến đấu, chờ sáng để nhận được phép lạ từ trên trời rớt xuống. Lúc đó, đồng hồ chỉ đúng 12 giờ khuya đêm 29 rạng sáng ngày 30-4-1975. Đây là giờ quy định của Bộ Tư Lệnh Miền do Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Văn Tiến Dũng, Trần Văn Trà chỉ huy.. ban lệnh cho B3 hợp với tất cả các lộ quân từ năm hướng, đồng loạt tấn công vào nội thành thủ đô. Đó cũng là thời gian lộ mặt của các đội biệt động, đặc công.. từ các nơi nằm vùng, nổi dậy bắt liên lạc với các cánh quân bên ngoài. Đó là giờ quy định cho tất cả cán bộ đảng, cán bộ chính trị nằm trong hàng ngũ VNCH, lột mặt nạ cầm đầu Sư Đoàn 304 quàng khăn đỏ đang có mặt khắp thôn làng hẻm phố, sẵn sàng tiếp thu chiến lợi phẩm và còng bắt tù binh, nếu cần hạ sát tại chổ..

Cũng từ đó lịch sử dân tộc được lật sang trang, chấm dứt một cuộc chiến dơ bẩn nhất tại VN do Cộng Sản dàn dựng từ đầu đến cuối, với mục đích tạo chiến tranh để đổi đời, nắm quyền, do một thiểu số cùng đinh cực ác trong xã hội xướng xuất. Cho nên thành phố Sài Gòn, một địa danh được các vị chúa Nguyễn và người dân Đại Việt tạo dựng bằng mồ hôi máu mắt, từ ba trăm năm trước, cũng bị mất tên và được gán vào danh xưng Hồ Chí Minh (đại phản tặc của dân tộc, mà đời đời kiếp kiếp, miên viễn bị bia miệng nguyễn rũa), như những thành phố tại Nga Sô Viết trong thời kỳ Cách Mạng Tháng Mười năm 1917. Cũng nhờ “cách mạng”, “giải phóng” nên từ đó tới nay, đồng bào cả nước trước sau rủ nhau xuống hố xã hội chủ nghĩa để tìm thiên đàng Mác-Lê-Mao-Hồ trong vũng bùn duy vật biện chứng pháp, mà gần hết nhân loại đã ném vào cát bụi từ những năm đầu thập niên, cuối thế kỷ XX khi Liên Xô, Đông Đức, Đông Âu tan hàng trước chủ nghĩa tự d, dân chủ, mà không cần phải đốt rụi Trường Sơn, giết hại hằng triệu triệu người Việt của hai miền.

Một trăm hai mươi lăm nhà báo da trắng, da màu đủ loại nhưng tuyệt đối đều sùng bái VC như thần thánh trong suốt cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai (1960-1975), sau ngày bị chính quyền mới trục xuất, đều viết : ‘Quang cảnh Sài Gòn ngày hôm đó cũng vẫn như mọi ngày. Nếu có khác biệt, đó là sự hiện diện của những bộ đội miền Bắc, với quân phục may bằng vải kaki nội hóa màu xanh lá cây, đầu đội cối có gắn sao, chân mang dép râu làm bằng vỏ xe phế thải. Tất cả ngơ ngơ ngáo ngáo như người cõi trên, trước cái cảnh trang đài sang giàu lầu cao phố đẹp của Sài Gòn, hòn ngọc Viễn Đông, không giống với luận điệu tuyên truyền của đảng .. là dân nguỵ bị Mỹ-Thiệu kềm kẹp nên nghèo mạt rệp, rách đói đến nỗi ngay cả trí thức nhà báo khoa bảng cũng phải đi ăn mày..’. Tóm lại Sài Gòn ngày đó như mọi ngày, chẳng thấy ai tiếp đón ai, cũng không có cảnh biểu tình đồng khởi hoan hô mà đảng hằng mong đợi. Người Sài Gòn đã dửng dưng trước thời cuộc, như chưa hề biết là đã đổi đời.

Cũng hôm đó, trên đại lộ Thống Nhất dẫn vào trung tâm quyền lực nhất của Nam VN, là Dinh Độc Lập, mà mới vài giờ trước đây chính khứa quan quyền đủ loại ra vào tấp nập để xin quan mua chức; nay quang cảnh vắng hoe, kể cả người lính gác cổng cũng cao bay xa chạy, đang được bộ đội Bắc Việt tùng thiết trên mấy chiếc T54 của Liên Xô viện trợ tới tiếp thu một căn cứ quân sự bỏ ngỏ, không phòng thủ.

Một vài chục tên Việt gian thời cơ, trở cờ, cánh tay mang băng đỏ, tay khác cầm cờ máu, lá cờ mà mấy chục năm nay cứ khoe là của nước Việt, mặt thật là sao chép y chang cờ máu của đảng Tàu Cộng, ngược xuôi xuôi ngược hò hét lập công. Nhưng mùa Xuân có trăm hoa đua nở, có vạn vật hài hoà.. cho nên với một lá cờ máu tạo dựng bằng núi xuơng sông máu đồng bào, bán nước bán đất, tiêu diệt tín ngưỡng cùng văn hiến dân tộc, đang do một đám sâu bọ đội lớp người trí thức dân chủ, cổ võ bung xung, thì làm sao dựng nổi một mùa Xuân? Văn Tiến Dũng, Bùi Tín quen tuyên truyền nên đã loạn ngôn cuồng bợ, viết sai các dữ kiện lịch sử trong ngày ‘Sài Gòn bỏ ngỏ tháng 4-1975, từ lúc Dương Văn Minh phát tiếng trong đài, ra lệnh QLVNCH, phải buông súng đầu hàng quân Bắc Việt ‘, qua các tác phẩm mang tên ‘Mùa Xuân Đại Thắng, Ánh Sáng Của Lịch Sử .. ’ ’

Hôm đó phường phố Sài Gòn thật sự vắng hoe, cũng không có cảnh xuống đường với biển người rừng cờ như Hà Nội và đám Việt Gian miền Nam mong đợi, để nhờ bọn ký giả phương Tây thân Cộng lúc đó quay phim chụp ảnh, tuyên truyền với thế giới bên ngoài rằng là cách mạng giải phóng đã thành công.. Chỉ có một vài kẻ đa sự, tình cờ hay bị bắt buộc, bặm môi dừng lại bên đường để trố mắt nhìn bộ đội miền bắc và tăng pháo do Nga-Tàu viện trợ, mà mới hôm qua đọc trên các báo chí đối lập Sài Gòn nói là quân Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, do anh Thọ, chị Bình, chị Định.. chỉ huy để chống lại chính phủ VNCH tham nhũng, gian ác, đàn áp tôn giáo, ngăn cấm tự do..

Chỉ có đám dân chiến nạn từ miền Trung di tản theo lính vào Sài Gòn, giờ bơ vơ đói rách, bồng bế nhau hồi cư theo lệnh của chủ mới. Chỉ có những quân, công, cán, cảnh miền Nam tan hàng rã ngủ, biết thân phận mình, rủ nhau tới các địa điểm trình diện. Sau rốt là đại đa số dân nghèo cực, không có phương tiện hay chẳng bao giờ mơ ước xuất ngoại nên đành ở lại với cảnh tranh tối tranh sáng, kéo tới các kho đụn, nhà giàu, sở Mỹ cùng dinh thự đồ sộ của các quan tướng.. đã bỏ chạy để hôi của kiếm ăn. Sài Gòn mặt thật của những phút giờ đổi đời là thế đấy. Hiện có nhiều nhân chứng hôm đó, chắc là còn sống, tuy tuổi đã cao nhưng không mất trí nhớ đang ở khắp các nẻo đường hải ngoại, thì ai dám bẻ cong ngòi bút, lếu láo vẽ rắn thêm chân, đem thúng úp voi, dấu đầu lòi đuôi cho được ?

Người dân Sài Gòn cố gắng mở to đôi mắt hôm đó để tìm trong hàng ngũ bộ đội tân lập 304 băng đỏ, cũng dép râu, nón tai bèo và khăn rằn xanh quàng cổ, hình dáng thân thương của các thầy, quý cha, anh chị em văn nghệ sĩ.. từng hò hét khản cổ, kêu gọi phản chiến, hòa hợp hòa giải năm xưa. Nhưng hỡi ơi, trong đó tìm hoài đâu thấy một ai. Các vị chỉ muốn đấu võ mồm, đâm sau lưng người lính, phá thối chính quyền đương thời. Đến lúc nhà tan nước mất, giặc Bắc không hòa hợp mà chỉ xâm lăng, cướp của giết đồng bào.. thì các vị cũng đã nhanh chân ôm Mỹ, để kịp chạy ra hải ngoại, tiếp tục đối lập trọn đời, để lần nữa phá thối cuộc sống tạm dung chốn quê người, của những thân phận VN, cũng vì họ mà ngày nay phải sống đầu đường xó chợ, khác nào những tên nô lệ Pháp, Mỹ, trên vãn nẻo đường lưu vong, lấy nước mắt làm canh, đêm ngày hoài mơ viễ n xứ, thương khóc tưởng nhớ quê mình.

Tệ nhất là hết đợt này tới lần khác, cứ tự do lập đảng, để lường gạt niềm tin và tiền bạc đóng góp của đồng bào. Tiền bạc là thứ có thể kiếm được nhưng NIỀM TIN PHỤC QUỐC, QUANG PHỤC QUÊ HƯƠNG, để tiêu diệt Cộng Sản, đã bị lừa bịp tiêu hủy từ mười mấy năm trước. Do đó bây giờ đến lược những người yêu nước thật sự dấn thân, cũng chẳng còn ai, nhất là giới trẻ và tuyệt đại đồng bào Tị Nạn VC thầm lặng, tin tưởng. Đó chính là một sự thật não nùng của Dân Tộc.

Bảy mươi sáu năm trôi qua (1930-2007), dù bây giờ chuyện gì người dân cũng đã biết đủ. Thế nhưng Cộng Sản và Việt gian thì chứng nào tật đó, vẫn tỉnh bơ hãnh diện, tiếp tục gian dối bịp lừa đồng bào. Tóm lại, đối với Cộng Sản, tất cả chỉ là giai đoạn, nên không bao giờ có chuyện tình nghĩa đồng chí, đồng đảng, đồng đội.. thì nói làm chi tới tình đồng bào, đồng nước. Cũng nhờ gần hết bí mật lịch sử cận đại được khai quật phổ biến, nên ngày nay chúng ta mới nhận diện được bộ mặt thật của những người từng ôm nhau hôn hít, từng nhận là anh em môi hở răng lạnh hay sông liền sông, núi kế núi.. thế nhưng cũng chẳng có gì ngoài nhu cầu hợp tác và giai đoạn.

Sau năm 1990, Liên Bang Sô Viết và Nam Tư tan rã thành từng mảnh vụn. Những người mới đó cùng đứng chung dưới một màu cờ, một đảng bộ.. đã vội bôi mặt chém giết nhau một cách tận tuyệt. Tuy nhiên bi thảm hơn hết, vẫn là sự tương tàn đẫm máu, giữa ba đảng Tàu, Việt và Miên Cộng.. xảy ra từ các năm cuối thập niên 70 của thế kỷ XX, sau khi Đệ Tam Quốc Tế đã tạm hợp tác, thỏa hiệp chống Mỹ thành công. Từ kinh nghiệm năm đó, giờ nhìn lại thái độ lưng chừng của Việt Cộng trong vai trò chọn lựa để được làm đầy tớ Hoa Kỳ hay Trung Cộng, khiến cho đồng bào trong và ngoài nước phải ngao ngán vì biết chắc dù VC có theo ai chăng nữa thì đất nước lần nữa, rồi sẽ tan nát nếu có chiến tranh xảy ra.

Lần trước Polpot và Đặng Tiểu Bình mới chỉ có tàn sát đồng bào vô tội cũng như tàn phá tận tuyệt các tỉnh biên giới của VN. Lần này Trung Cộng binh hùng vũ khí tối tân, lại có nhiều bom nguyên tử, chắn chắn là Tàu sẽ thẳng tay tiêu diệt con Hồng cháu Lạc cả nước. Biến cố ngư dân Thanh Hoá bị Trung Cộng thảm sát trong vịnh Bắc Việt vào ngày 8-1-2005, như một khúc dạo đầu của điệu ru nước mắt, mà VN đang dần bước vào nẻo tuyệt lộ vì giặc Tàu qua đồng thuận của Việt Cộng, từng bước xâu xé gấm vóc giang sơn của dân tộc Đại Việt, một cách công khai và man rợ, như chúng từng làm trong quá khứ

‘ .. ôi trọn kiếp, lòng ta hoài mơ ước
cảnh thanh bình trên vạn nẻo quê hương
nên thường hay chợt khóc giữa đêm trường
khi tưởng tới ngày mai về cố quốc.. ’ ’
tấn công tàu buôn Hoa Kỳ :.

Nam Vang thất thủ trước Sài Gòn mười ba ngày (17-4-1975). Để chiếm thủ đô, Polpot đã ra lệnh cho Khmer đỏ pháo kích bừa bãi dã man vào thành phố, gây thương vong nhiều người vô tội tại các khu vực đông dân cư, làm tê liệt phi trường Pochentung. Vì vậy đại sứ Mỹ là John Gunther và Tổng Thống Lonnol (kẻ đã ra lệnh cáp duồng hằng vạn Việt Kiều tại Kampuchia năm 1970) nếu không nhanh chân chạy lên trực thăng vù ra biển, chắc cũng đã bị Polpot phanh thây như triêu người dân Miên khác bị kẹt lại.

Ngay khi chiếm được nước, các lãnh tụ Miên đỏ đã bất chấp luân thường đạo lý, ra lệnh tàn sát gần hết đồng bào mình một cách rùng rợn. Làm cho thế giới văn minh của nhân loại, dù ở tận phương trời góc biển, đã phải xanh mặt, tím ruột, khi được đối diện với mặt thật của những hung thần cọng sản quốc tế, qua hình ảnh của thảm kịch ‘The Killing Fields (Những Cánh Đồng Xác Người). Ngoài ra theo lệnh chủ mới là Tàu Cộng, Polpot trả ơn Việt Cộng, chủ cũ cũng là kẻ đã cưu mang chúng từ khi còn trong trứng nước tới hồi lớn mạnh, bằng cách tấn công biên giới, biển đảo, để mong chiếm lại miền Thủy Chân Lạp của 300 về trước đã bị VN tới khai thác khi bị bỏ hoang.

Polpot cũng đã mở màn cho cuộc chiến Đông Dương lần thứ III (1975-1990) bằng lệnh khai hỏa vào chiếc tàu buôn của Mỹ tên Mayaguez trong lúc đang bỏ neo ngoài khơi hai đảo Kohtang và Poulo Wai (Đảo Trọc), nguyên là lãnh thổ của VN, nằm trong vịnh Phú Quốc, bị Khmer đó chiếm sau tháng 4-1975.

Ngay khi bị lực lượng người Nhái của Polpot tấn công, thuyền trưởng chiếc tàu buôn trên đã đánh khẩn điện về nước để cầu cứu và đã được chính Tổng Thống Mỹ lúc đó là Ford ra lệnh cho TQLC cùng Không Quân đang ở căn cứ Utapao (Thái Lan) đến giải thoát họ. Nhưng Polpot khôn ranh, đã ra lệnh cho kéo chiếc tàu trên cùng thủy thủ đoàn 37 người về giam tại hải cảng Kompong Som, trước khi TQLC Mỹ dùng trực thăng, đổ bộ lên đảo Poulo Wai, sáng ngày 15-5-1975.

Một trận ác chiến sau đó đã xảy ra trên đảo Kohtang giữa TQLC và quân Khmer đỏ. Kết quả có hai trực thăng Mỹ chở quân bị bắn hạ và ngay cả TQLC cũng bị vây khổn trong trận địa. Để giải vây quân tiếp viện cũng như chiếc tàu buôn đang bị bắt, lần nữa TT Ford ra lệnh cho KQ tại Thái Lan oanh tạc Nam Vang và hải cảng Kompong Som, phá hủy nhiều máy bay Mig của Trung Cộng vừa viện trợ, đồng thời đốt rụi nhà máy lọc dầu duy nhất của Kampuchia tại hải cảng Sihanouk. Thấy Hoa Kỳ làm dữ quá, Polpot giả vờ đổ thừa cho địa phương vì phương tiện truyền tin eo hẹp nên không nhận được lệnh Trung Ương, rồi ra lệnh thả chiếc tàu buôn cùng thủy thủ. Ngoài ra TQLC cũng được lệnh rút khỏi đảo Kohtang, bỏ lại xác hai chiếc trực thăng. Trong trận chiến này, có 15 binh sĩ Mỹ tử thương trong khi đụng độ.

Vụ tàu buôn Mỹ Mayaguez bị tấn công và 15 TQLC bỏ mạng trên đường hồi hương được Ford cùng báo chí giữ kín. Người Mỹ muốn gì khi im lặng hay thật sự đã nhìn thấy trước, cảnh huynh đệ tương tàn trong các đảng cọng sản đệ tam quốc tế. Sau này qua các tài liệu đã giải mật, được Ford giải thích: ‘Đó là sự châm ngòi cho ý nghĩa mới. Một cơ hội để cho các đảng Cộng Sản anh em tự thanh toán lẫn nhau, dọn đường cho tư bản trở lại Đông Dương và Đông Nam Á‘. Cuối cùng Hoa Kỳ đã tiên đoán đúng. Từ thập niên 90 về sau, chẳng những các nước Đông Dương, mà ngay cả Trung Cộng, Liên Bang Nga lẫn Bắc Hàn đều trải thảm đỏ, mở cửa rộng để quỳ đón Âu Mỹ, Nhật, Triều Tiên.. đem đô la vào cứu đảng.

2- Cuộc chiến đẫm máu giữa Miên và Việt Cộng:

+ POLPOT THEO TRUNG CỘNG, PHẢN VIỆT CỘNG:
Theo các tài liệu hiện hành, ta biết đảng Cộng Sản Cam Bốt được thành lập vào tháng 9-1951, qua danh xưng ‘Đảng Nhân Dân Cách Mạng Khmer – Khmer People ‘s Revolutionary Party‘ thường viết tắt là KPRP. Polpot tên thật là Saloth Sar, người Việt gốc Miên. Trong thời gian du học tại Pháp, qua sự móc nối của một đảng viên VC tên Phạm Văn Bá từng hoạt đông tại Nam Vang, nên Polpot gia nhập đảng KPRP năm 1953. Hiệp định về Đông Dương ký tại Geneve 1954 ra lệnh cho đảng này giải tán. Do đó hơn 2000 đảng viên KPRP phải tập kết tới Hà Nội. Chính sự tan rã của đảng Cộng Sản Miên là nguyên cớ sau này để Polpot vin vào lên án VC đã bán đứng đồng chí khi cuộc chống Pháp của hai đảng đã đạt được thành công.

Tuy nhiên dù bị cấm đoán, Cộng Sản Miên vẫn âm thầm hoạt động lén lút dưới sự lãnh đạo của Shieu Hang và Ton Samouth. Từ tháng 7-1962, Polpot mới được cử làm bí thư đảng, hoạt động chung với Ieng Sary và Son Sen. Bắt đầu từ năm 1965 trở về sau, Mỹ ào ạt đổ quân vào Nam VN, làm cường độ chiến tranh càng lúc càng gia tăng. Tai Miên, ngoài mặt Sihanouk mang chiêu bài trung lập, nhưng đã gần như công khai để Cộng Sản Bắc Việt sử dụng lãnh thổ xứ chùa Tháp làm căn cứ điạ dưỡng quân, đồn trú, lánh nạn và trực tiếp nhận viện trợ của khối Cộng Sản tại hải cảng Sihanoukville. Mục đích cũng chỉ để trục lợi mà thôi. Trong giai đoạn này, Bắc Việt đã lập một đơn vị đặc nhiệm gọi là P36 chuyên huấn luyện bộ đội Khmer đỏ của Polpot, cũng như ngăn cản không cho đụng chạm tới Quân Đội Hoàng Gia Cam Bốt của ông Hoàng Sihanouk.

Năm 1970, lợi dụng Sihanouk xuất ngọai, Tướng Lonnol và Hoàng Thân Sirik Matak làm cuộc đảo chánh và đón quân Mỹ vào. Nhờ vậy gần như tất cả các căn cứ địa của bộ đội Bắc Việt và Khmer đỏ trú đóng trên đất Miên bị tiêu diệt bởi Mỹ giội bom và các cuộc hành quân Toàn Thắng của liên quân Hoa Kỳ-VNCH.

Trước nguy cơ bị tiêu diệt, lần nữa hai đảng Cộng Sản anh em lại hợp tác để sống còn. Rồi lợi dụng tiếng tăm của Sihanouk, Bắc Việt dụ dỗ tuyên truyền dân chúng Miên gia nhập bộ đội, giúp cho lực lượng Khmer đỏ lên tới 30.000 quân. Tất cả đều do Hà Nội cưu mang, từ huấn luyện cho tới trang bị và tiếp tế. Trong những lần đụng độ với quân của Lonnol, bộ đội Bắc Việt luôn đi đầu hứng đạn, còn lính của Polpot thi đi sau, nếu thắng thì đòi chia chiến lợi phẩm. Ngược lại khi bộ đội Bắc Việt thua trận, quân Polpot lập tức bỏ chạy hay ác hơn là bắn lén sau lưng. Tình đồng chí của Cộng Sản là vậy đó.

Năm 1972, Polpot nghe lời dụ của cáo già Kissinger hợp mật. Nhưng đây chỉ là kế ly gián của Mỹ nhằm gây rạn nứt giữa hai đảng Cộng Sản. Vì sau đó Mỹ đã oanh tạc từ 257-465 tấn bom xuống tàn phá gần hết các căn cứ của quân Khmer đỏ, rồi phao tin là Hà Nội đã chỉ điểm. Đòn chí tử này đã khiến Polpot trở mặt chống Bắc Việt từ đó nhưng ngoài mặt thì giả vờ liên minh hợp tác.

Tháng 8-1974 Polpot hạ sát 71 đảng viên Cộng Sản Miên thân Hà Nội. Tiếp theo vào tháng 9 cùng năm có 100 người khác cùng chung số phận. Nhưng trong số này có 2 người còn sống sót tên Hemsamin và Yospor trốn thoát tới Bắc Việt. Chưa hết, có 2 phóng viên Bắc Việt bị giết tại Kampong Chàm và trọn một phái đoàn của MTGPMN, từ Mỹ Tho vào tham quan vùng xôi đậu trong Đồng Tháp Mười nhưng lại lạc qua Miên, bị Khmer đỏ phục kích hạ sát. Thêm vào đó, đã có hàng vạn Việt kiều bị Khmer đỏ cáp duồng. Tất cả Hà Nội đều biết, nhưng vẫn im lặng, đã vậy Bắc Bộ Phủ còn nỗ lực giúp cho Polpot chiếm được Kampuchia và Nam Vang vào ngày 17-4-1975. Ngoài ra để che dấu sự thật, mục đích phỉnh gạt đồng bào, lừa bịp dư luận thế giới, hằng ngày hai đảng vẫn ra rả lập đi lập lại những từ ngữ hào nhoáng tuyên truyền như ‘Đoàn kết vĩ đại, tình hữu nghị anh em cách mạng Cam Bốt-Việt Nam bất diệt.. ’. Cuối cùng ngày 12-4-1975, Ieng Sary chính thức yêu cầu Trung Cộng trực tiếp viện trợ cho Kampuchia mà không cần VN trung gian như từ trước.

Để mở màn cho bi kịch máu đã tới lúc chín mùi, ngày 4-5-1975, Polpot ra lệnh tấn công hai đảo Thổ Châu và Phú Quốc. Quân Khmer đỏ chém giết dã man hằng ngàn đồng bào vô tội, cướp của đốt nhà và trước khi rút, đã bắt 500 người VN, đa số là đàn bà con gái. Để trả đủa, ngày 18-5-1975, VC huy động Hải Lục Không Quân, tái chiếm hai đảo trên và đảo Pulau Wai mà Miên đã chiếm từ trước, bắt giữ 300 tù binh. Thấy VN làm dữ, Polpot lại xuống giọng. Rồi thì màn kịch đồng chí đồng đảng được hai nước tô son trét phấn trở lại hằng ngày trên đài, trên báo, khi Mười Cúc-Nguyễn Văn Linh dẫn phái đoàn sang Cam Bốt thăm viếng xã giao ngày 2-6-1975. Ngược lại, Polpot cùng Ieng Sary và Noun Chen trên đường sang chầu Trung Cộng, đã ghé Hà Nội để đáp lễ vào ngày 12-6-1975.

Tại Trung Cộng, tình hình nội bộ đảng Cộng Sản biến chuyển mạnh sau khi Mao Trạch Đông chết. Đêm 6-10-1976, Hoa Quốc Phong, Diệp Kiếm Anh và Uông Đông Hưng.. ra lệnh cho đơn vị đặc nhiệm tại Bắc Kinh 2341 bất thần tấn công bắt trọn ổ Tứ Nhân Bang gồm Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Vương Hồng Văn và Diệu Văn Nguyên.. rồi tôn Đặng Tiểu Bình lên ngôi hoàng đế đỏ, dù Hoa Quốc Phong vẫn là tổng bí thư đảng bù nhìn. Đặng công khai ủng hộ Polpot, bất chấp dư luận thế giới đang nguyền rủa tên sát nhân và Khmer đỏ. Từ đó qua chỗ dựa chắc chắn, Polpot theo hẳn Trung Cộng, cắt đứt liên hệ với VC. Về nước, Polpot ra lệnh hạ sát hơn 10.000 đảng viên tại Trung Tâm Thẩm Vấn Tuol Sleng ở Nam Vang, vì họ bị nghi là thân với Hà Nội. Máu của đồng bào hai nước tiếp tục chảy hằng ngày, trong lúc hai cái loa của hai đảng, vẫn không ngớt ca tụng, tuyên truyền tình hữu nghi thắm thiết, một cách trơ trẽn và lố bịch, khiến cho ai nghe cũng muốn lợm giọng.

Cuối tháng 3-1977, sau khi đã thanh trừng hết tay chân của Hà Nội, Polpot ban hành Nghị Quyết 870, công khai chống VN, ra lệnh tàn sát Việt kiều tại đất Miên, đồng thời tấn công các tỉnh biên giới.

Ngày 30-4-1977, trong lúc Bắc Bộ Phủ từ trên xuống dưới đang mở đại tiệc ăn mừng chiến thắng cướp được VNCH, thì từ Hà Tiên, Châu Đốc, An Giang, Đồng Tháp lên tới Tây Ninh.. hằng chục sư đoàn Khmer đỏ vượt biên giới tấn công vào các làng xã của VN. Giống như quan thầy Trung Cộng, lính Miên đỏ hung dữ dã man chưa từng thấy qua hành động giết người rồi chặt đầu, mổ bụng, phanh thây và cắt bỏ các cơ quan sinh dục của nạn nhân. Sau đó đốt sạch nhà cửa và bắt hết trâu bò, heo ngựa của người Việt đem về Căm Bốt. Do sợ Trung Cộng, nên Hà Nội vẫn im lặng nhưng khắp nước đồng bào đều lên tiếng phản đối, cả tờ báo Quân Đội Nhân Dân cũng lên tiếng đòi chính phủ trả đũa. Do trên, Bắc Bộ Phủ đã ra lệnh cho A37 oanh tạc, rượt đuổi quân Miên chạy về bên kia biên giới.

Tháng 8-1977, tờ Cờ Đỏ của Polpot (Democratic Kampuchia Advance) cho phát hành một bản đồ nước Căm Bốt mới, không theo đường ranh Bravie củ. Bản đồ này ngoài lãnh thổ nước Kampuchia hiện hữu, còn bao gồm tất cả các hải đảo của VN và Nam Phần mà Polpot gọi là Thuỷ Chân Lạp. Việc này vào tháng 2-1992, Quốc Hội Trung Cộng cũng đã ban hành phổ biến một bản đồ của nước Tàu mới, trong đó hải phận Trung Hoa chạy dọc suốt bờ biển VN, Thái Lan, Mã Lai Á, Nam Dương, Brunei và Philippine. Như muốn đổ dầu vào lò lửa đang ngùn ngụt cháy, Đặng Tiểu Bình, Hoa Quốc Phòng.. và đảng Cộng Sản Tàu công khai cổ võ hành động Polpot chống lại VN.

Trước nổi cô đơn thê thiết vì bị Mỹ ngoảnh mặt, Tàu bỏ rơi, thế giới lợm giọng, đàn em Polpot phản bội và dân chúng miền Nam ù lỳ thụ động bất hợp tác. Vì vậy với bản chất lật lọng, quen chịu làm đầy tớ bất cứ ai nếu có lợi cho đảng và cá nhân. Nên VC lại chạy sang quỳ lạy Nga Sô, chịu gia nhập khối kinh tế Comecon và trên hết cho Hải Quân Nga vào các hải cảng Đà Nẳng, Nha Trang, Cam Ranh, Vũng Tàu. Ngày 6-6-1977, một phái đoàn quân sự Nga tới thăm Hà Nội. Tháng 10-1977, VC cho chở một số lớn chiến lợi phẩm tịch thu của VNCH từ tháng 4-1975 gồm phi cơ, chiến xa, đại pháo.. sang bán cho Ethiopie, một quốc gia Bắc Phi, nói là để lấy tiền trả nợ cho Trung Cộng. Cũng từ đó, VC công khai làm chư hầu Liên Xô, nên được đàn anh viện trợ cho một số quân dụng cũ, gồm 2 tàu ngầm, một khu trục hạm, 4 phi đội MIG 21 cùng với đoàn cố vấn Nga đông đảo. Như vậy thế chân vạc của Cộng đảng trong cuộc chiến Đông Dương lần thứ III đã thành hình. Một bên gồm Liên Xô-VC-Lào Cộng. Phe kia có Trung Cộng và Khmer đỏ. Người Mỹ đứng giữa đâm thọc cả hai phía, để giật dây cũng như đổ thêm dầu vào đám cháy đang rực lửa. Đó cũng là lối trả thù quý phái của bọn tư bản nhà giàu trong canh bạc bịp được coi như lớn nhất thế kỷ XX.

Ngày 24-9-1977, Khmer đỏ lại vượt biên tấn công Tây Ninh, phanh thây xé xác hằng trăm đồng bào vô tội. Lần này Bắc Bộ Phủ lột chức Trần Văn Trà, cho Lê Đức Anh thay thế. Một ký giả Hung Gia Lợi tên Sandor Giory đã tới tận hiện trường quay phim, chụp hình nhưng bị công an tịch thu phim máy. Đã vậy, 4 ngày sau cuộc tấn công đẫm máu tại Tây Ninh, Hà Nội vẫn gủi điện văn tới chúc mừng Polpot trong dịp lễ ăn mừng 20 năm thành lập đảng Miên Cộng.

Rồi thời cơ chín mùi qua sự hứa hẹn của Nga Sô sẽ ra mặt can thiệp nếu Trung Cộng tấn công VN. Để lấy lòng tin thằng đầy tớ mới, Nga Sô cho hằng chục sư đoàn trải dài khắp biên giới Nga-Hoa và phái một mẫu hạm thường trực tuần thám trong hải phận vịnh Bắc Việt. Cũng từ đó, Hà Nội mới bắt đầu trả đũa, tung quân chiếm lại các làng mạc bị Khmer đỏ cưởng chiếm. Quân VN còn thọc sâu vào lãnh thổ tỉnh Svay Riêng để giải thoát cho các tướng lãnh Miên đang bị Polpot thanh trừng đuổi giết, như Hunsen, Heng Samrin, Bonthang.. đem về VN. Sau đó VC cho diễn lại vở tuồng cũ năm 1960 ở miền Nam VN, dùng các quân bài trên để thành lập cái gọi là ‘Mặt Trận Giải Phóng Căm Bốt‘.

Ngày 5-10-1977, Trung Cộng và Polpot chính thức ký một ‘Nghị Định Thư‘ (Protocol), để bổ túc cho Hiệp Định Quân Sự mà hai bên đã ký ngày 1-2-1976. Theo đó, Trung Cộng sẽ viện trợ quân sự cho Khmer đỏ vô điều kiện không hoàn trả. Ngày 1-11-1977, Trung Cộng cắt đứt đường bay Bắc Kinh-Hà Nội. Ngày 21-11-1977, Tổng Bí Thư Lê Duân sang chầu thiên triều xin tạ tội nhưng bị Đặng Tiểu Bình xua đuổi. Thế là đảng VC quyết định theo hẳn Nga Sô chống Tàu Cộng từ đó, tuy nhiên trước khi sang Mạc Tư Khoa ký kết, Võ Nguyên Giáp được lệnh bí mật bay tới Tân Đề Ly nhờ giúp đỡ. Nhưng thời thế đã đổi thay, vì lúc đó Ấn Độ theo Tây phương, không trung lập thân cộng, nên đã từ chối lập tức. Thế là lò lửa chiến tranh giữa ba đảng anh em Tàu-Việt-Miên, đã chính thức bùng cháy, không ai có thể dập tắt được.

+ TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG QUÂN SỰ GIỮA KHMER VÀ VIỆT NAM CS:
Trên bán đảo Đông Dương, đối với Lào, CamBốt kể cả Thái Lan, thời nào VN cũng đều đạt ưu thế quân sự. VN có dân số đông nhất trong vùng, hơn nửa lúc nào cũng luôn sẵn sàng chống trả sự xâm lăng của Tàu, nên quân số đông đảo, thường trực. Đối với Khmer đỏ lúc đó, quân VN nhiều gấp mấy lần, lại thiện chiến, có vũ khí quân dụng dồi dào, tối tân. Bởi vậy cả Trung Cộng còn phải nể nang, thì làm sao Kampuchia dám gây chiến, trừ phi VC vì lý do chính trị đã nhượng bộ.

Thật vậy, sau tháng 5-1975, VN là nước có dân số đông thứ 13 trên thế giới. Về quân sự, quân đội VN xếp hàng thứ bốn, sau Trung Cộng, Hoa Kỳ và Liên Sô, đông hơn nhiều lần, quân số của sáu nước ASEAN (Thái, Nam Dương, Phi, Mã, Tân Gia Ba và Bruein) cộng lại. Do sự đối nghịch của Kampuchia và Trung Cộng, nên dù mang tiếng có hòa bình sau ngày 30-4-1975, Bắc Bộ Phủ vẫn duy trì và tăng cường quân số nhiều hơn trước, nên chỉ riêng chính quy, đã có từ 700000-1.000. 000 người. Về chiến lược, cả nước chia thành 7 quân khu: I, II, III, IV, V, VII và IX. Ngoài ra còn có quân khu Thủ Đô Hà Nội), Đặc khu Quảng-Ninh và HCM (Sài Gòn). Quân đội vẫn gồm ba binh chủng Hải, Lục và Không Quân. Từ sau tháng 4-1975, Lục quân được tổ chức thành bốn quân đoàn lưu động, như các bỉnh chủng Dù, TQLC và BDQ tổng trừ bị của QLVNCH. Các quân đoàn mang số 1 (Quyết Thắng), II (Hương Giang), III (Tây Nguyên) và IV (Cửu Long). Từ năm 1979 về sau, do tình hình chiến sự, quân số đã tăng lên tới tám quân đoàn. Mỗi quân đoàn có quân số chính quy gần 50.000 người, cộng thêm các đơn vị yểm trợ như thiết giáp, công binh, pháo binh, truyền tin, quân y.. Không kể chiến lợi phẩm thu được của miền Nam (phần lớn đã bán cho Châu Phi), lúc đó bộ đội CS có trên 1000 thiết giáp T34, 54, 55, 59, 62 cộng với 500 xe PT76, nhiều súng đại bác đủ loại, mấy ngàn súng phòng không, sử dụng hỏa tiễn Sam. Ngoài lực lượng chính quy Miền tức là quân khu, còn có chủ lực tỉnh như trung đoàn Bắc Thái, Gia Định, Sông Bé, Vàm Cỏ.. Về lực lượng Dân Quân, có tỉnh đội, huyện đội, xã đội.. Lục Quân còn có các đơn vị đặc biệt như Đặc Công, Lữ Đoàn 305 Dù, Quân Đoàn 559 Công Binh, Sư Đoàn 673 cao xạ..

Sau 1975, Hải Quân CS.VN có hơn 1000 tàu chiến đủ loại, lớn nhỏ, trong số này có nhiều tàu của VNCH để lại. Hải phận chia thành năm vùng trách nhiệm và các Bộ Tư Lệnh Vùng đóng tại Hải Phòng, Vinh, Đà Nẳng, Vũng Tàu và Rạch Giá. HQ gồm hai hạm đội : Hàm Tử phụ trách biển Bắc (Vịnh Bắc Việt) và Bạch Đằng có trách nhiệm ở phía Nam, tới vịnh Phú Quốc.

Riêng Không Quân có quân số chừng 20.000 người. Ngoài số phi cơ A37,F5, vân tải, trực thăng.. của VNCH bỏ lại, còn có các máy bay chiến đấu MIG 21, 23 – trực thăng võ trang do Nga Sô viện trợ. Tất cả chừng 1000 chiếc, lập thành các không đoàn oanh tạc, chiến đấu, vận tải, huấn luyện. BTL Không Quân đóng tại phi trường Bạch Mai ( Hà Nội). Năm 1980, quân đội VN có quân số hơn 2 triệu người, đứng hàng thứ 3 thế giới (Tàu, Nga, VN, Mỹ).

Trái lại quân đội Kampuchia lúc đó chỉ có 68.000 quân, rồi tăng lên 150.000 khi đánh nhau với VN và chia thành 23 sư đoàn. Riêng Hải và Không Quân thì không đáng kể, với một số lượng tàu chiến nhỏ cũng như một số máy bay cũ kỹ lỗi thời và vài máy bay Mig 15, 17 chưa xử dụng. Binh sĩ thì đa số là du kích không quen lối đánh vận động chiến, có thiết giáp pháo binh phối hợp. Tuy nhiên vì cùng xuất thân một lò Cộng Sản, được nhồi sọ, nên rất cuồng tín đa sát, dù đã bại trận nhưng cũng đã gây cho VN nhiều tổn thất nặng nề trong thời gian Kampuchia bị VC chiếm đóng (1979-1990).

+ ĐẴM MÁU GIỮA VIỆT CỘNG VÀ KHMER ĐỎ:
Sau khi đi Tàu cầu hòa lần chót bị thất bại nên phải chạy theo Nga, vì vậy Lê Duẩn quyết định tấn công trả đũa Polpot. Ngày 2-12-1977, Quân Đoàn 4 hay Binh Đoàn Cửu Long, gồm các SD chính quy 7, 9, 341 có Không Quân, Thiết Giáp, Pháo Binh yểm trợ, do Hoàng Cầm chỉ huy với quân số trên 60.000 người, cộng thêm nhiều Thanh Niên Xung Phong lo phần tiếp vận, công binh.. đồng loạt tấn công tái chiếm phần đất Tây Ninh bị chiếm, rồi tràn vào đất Miên tiêu diệt Quân Khu Đông của Khmer đỏ. Vì lúc đó Bộ Trưởng Nguyễn Duy Trinh đang thăm khối ASEAN, nên quân VN được lệnh rút về nước ngày 6-1-1978. Lập tức Đại Sứ Kiều Minh và toàn bộ ngoại giao đoàn bị trục xuất khỏi Nam Vang. Ngoài ra Polpot cho triệu hồi Đại Sứ Sokheng từ Hà Nội về rồi giết chết. Cũng từ đó đã có sự rạn nứt trong nội bộ, đưa tới sự thanh trừng làm suy yếu quân đội.

Trong trận tấn công vừa qua, VN đã giải thoát và đem về nước hơn 60.000 nạn nhân bị Polpot cáp duồng gồm Việt-Hoa kiều và một số dân Miên. Tất cả được tạm trú tại các Trại Tị Nan mới lập ở Bến Sành (Tây Ninh) và Bến Tranh (Định Tường), do Liên Hiệp Quốc bảo trợ. VC nhân cơ hội vào trại tuyên truyền và tuyển mộ lính. Ngày 15-2-1978, Lê Duẩn và Lê Đức Thọ từ Hà Nội vào Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia của VNCH ở Sài Gòn để chủ tọa buổi ra mắt cái gọi là ‘Mặt Trận Kháng Chiến Khmer‘. Những cán bộ Miên Cộng thân Hà Nội như Pensovan, Chensi, Heng Sarin, Tang Soroun và Chesoth đều được chỉ định làm cấp lãnh đạo. Tân binh Miên được VN huấn luyện cấp tốc tại các quân trường cũ của miền Nam như Chí Lăng, Vị Thanh và Long Giao. Ngày 22-4-1978, thành lập Lữ Đoàn 1 Kháng Chiến Miên, rồi đưa về nước đánh Polpot. Trong lúc đó, quân Khmer đỏ lại tự tàn sát lẫn nhau tại các tỉnh miền đông như Kampong Chàm,Svayr Rieng và Prey Veng. Lợi dụng sự chia rẽ trên, VC kêu gọi dân Miên nổi lên lật đổ Polpot.

Tháng 6-1978, Hà Nội lại oanh tạc Kampuchia. Tháng 9-1978, Phạm Văn Đồng sang du thuyết giải độc tại 6 nước ASEAN nhưng bị thất bại. Ngày 1-11-1978, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Cơ Thạch .. lại sang Nga Sô để ký hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa hai nước trong vòng 25 năm. Theo đó Nga đã viện trợ quân sự cũng như nhân đạo 1,5 triệu tấn mễ cốc cứu đói. Ngoài ra Nga còn cam kết sẽ can thiệp nếu Trung Cộng xâm lăng VN. Cũng vì quá tin tưởng vào lời hứa cuối này mà VC đã sử dụng gần 3/4 quân số khi tấn công Khmer đỏ, nên không đủ lực lượng phòng thủ biên giới phía Bắc khi Trung Cộng xâm lăng VN.

Ngày 2-12-1978, Lê Đức Thọ, Đồng Văn Cống .. đã đến chủ tọa ngày thành lập ‘Mặt Trận Cứu Nguy Cam Bốt‘, gọi tắt là KNUFNS, tại một khu rừng già trong tỉnh Kratie vừa chiếm được. Tại đây đã tập họp được một lực lượng đông đảo chống Polpot gồm tân binh, lính Khmer đào ngũ và Ham Samsin được phong chức chủ tịch mặt trận. Rồi hằng ngày tiếng nói của những người Miên chống đối được phát thanh, đồng thời VC dùng máy bay rải truyền đơn chống Polpot được rải khắp lãnh thổ Cambốt. Song song, lá cờ cũ của Khmer Issarak năm 1950, với hình năm ngôi tháp vàng trên nền đỏ, được xài lại. Bộ chỉ huy tiền phương của VN đóng bên cạnh quân Miên, chuẩn bị tấn công quân Khmer đỏ của Polpot.

Để tiêu diệt Khmer đỏ qua thời gian kỷ lục, đặt dư luận thế giới trước sự đã rồi, Hà Nội đã mở cuộc hành quân thần tốc, sử dụng trên 200.000 quân sĩ của ba trong bốn quân đoàn chính quy và một lực lượng yểm trợ hải-không quân, hỏa tiễn và thiết giáp. Lê Đức Thọ vào thay Lê Trọng Tấn, giám sát chiến dịch, còn Lê Đức Anh làm tổng tư lệnh chiến trường. Sư đoàn 2 và Trung đoàn chủ lực Tây Ninh khai pháo trước một ngày, khi Chu Huy Mậu tổng cục trưởng TCCT bắn phát súng lệnh mở màn chính thức cuộc tấn công Cam Bốt vào lúc 12 giờ khuya đêm Giáng Sinh 1978 tại Ban Mê Thuộc.

Theo kế hoạch, quân VN vượt biên giới tấn công Kampuchia bằng nhiều hướng, Ở phía bắc, Quân Khu V + Quân Đoàn 3 Tây Nguyên (gồm SD10, 320, 31), do Kim Tuấn chỉ huy, đánh chiếm tỉnh Stung Treng và toàn vùng đông bắc giáp với Lào. Cánh quân thứ hai của Quân Khu VII (gồm SD 303, 302, 5) + Quân Đoàn 3 với Lữ Đoàn 12 Thiết Giáp, các trung đoàn tỉnh Tây Ninh, Sông Bé, Long An.. từ hướng bắc Tây Ninh, Ql 7 và 13 tấn công chiếm Kompong Chàm và Kratié. Hướng tấn công chính cũng phát xuất tại Tây Ninh, do Quân Đoàn 4 phu trách (SD 2,7,9,341) + Lữ Đoàn 22 Thiết Giáp, Lữ Đoàn 24 Pháo Binh và Lữ Đoàn 25 Công Binh. Quân Khu IX có Quân Đoàn 2 hay Binh Đoàn Hương Giang tăng cường, tấn công từ An Giang, Hà Tiên. Tóm lại, ngoại trừ SD 306 được giữ lại để phòng thủ Lào, các SD 304, 325 cũng được điều động về nước tăng cường.

Cuộc chiến xảy ra thật đẫm máu và ác liệt, cộng thêm không quân và pháo binh ào ạt giội bom nã đạn, đánh bật 30.000 quân Khmer đỏ và nhiều cố vấn Trung Cộng phải bỏ các tỉnh dọc biên giới Miên-Việt, tháo chạy về Nam Vang. Tại đây, bộ đội VC chiếm được nhiều quân dụng mới chưa sử dụng do Tàu viện trợ cho Cam Bốt như phi cơ, trọng pháo.. Tuy nhiên VN cũng bị thiệt hại nặng trên đường tiến quân về thủ đô vì phục kích, mìn bay tại Fishhock, Kompong Cham và bến phà NeakLuong. Đặc công VC cũng lén đột nhập vào Hoàng Cung để giải thoát cho cựu Hoàng Sihanouk nhưng Polpot đã cho di chuyển đương sự tới Sisophon, nằm sát biên giới Miên-Thái.

Tính đến ngày 4-1-1979, VN làm chủ hoàn toàn các tỉnh miền đông của Cam Bốt. Ngày 6-1-1979, 7 SD của VN + 3 lữ đoàn Miên của Heng Samrin qua phà trên sông Cửu Long, đồng loạt tấn công Phnom Penh. Thủ đô thất thủ sau một ngày kịch chiến. Polpot cùng toàn bộ Khmer đỏ bỏ chạy tới tận TaSanh, sát biên giới Miên-Thái, để tiếp tục chống VC.

Tóm lại ngày 8-1-1979, đồng bào Cam Bốt coi như được giải thoát khỏi bàn tay sát nhân của Polpot và Khmer đỏ. Một Hội Đồng Cách Mạng Kampuchia gồm 8 ủy viên được thành lập, do Heng Samrin làm chủ tịch. Ngày 14-1-1979, Đặng Tiểu Bình, Hàn Niệm Long và nhiều uỷ viên cao cấp trong Bộ Chính Trị Trung Cộng tới Thái Lan tiếp xúc mật với Thủ Tướng Kriang Sok tại căn cứ Utapao. Sau đó, Thái cho Polpot và Khmer đỏ dung thân trên biên giới của hai nước. Qua sự yểm trợ và cưu mang hết mình của Tàu Cộng, Polpot lại tiếp tục đánh du kích với VC khắp nước Miên, cho tới đầu thập niên 90, qua áp lực của thế giới, cũng như sự sụp đổ của Nga Sô-Đông Âu, VC mới chịu rút quân về nước, chấm dứt chiến tranh nhưng thù hận giữa hai đảng Cộng Sản anh em tới nay vẫn ngấm ngầm âm ỹ, dù ngoài mặt Hun Sen luôn bợ Hà Nội.

3- Trung Cộng xâm lăng Việt Nam lần thứ nhất (1979):
Ngày 1-5-1975, VC ban hành một bản đồ mới của nước VN thống nhất, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (hiện do hải quân Bắc Việt chiếm giữ 6 đảo, khi VNCH bỏ) mà chính Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng đã giấy trắng mực đen, xác nhận thuộc chủ quyền của Trung Cộng vào năm 1958. Đây cũng là một nguyên cớ để Tàu xâm lăng VN vào mùa xuân năm 1979. Thật ra tình hữu nghị giữa hai nước đã lung lay từ năm 1967, khi Trung Cộng xuí giục Nam Lào tấn công Pathet Lào, vốn là chư hầu của Bắc Việt. Rồi từ khi Hồ Chí Minh qua đời năm 1969, quyền hành lọt vào tay Lê Duẩn, Lê Đức Thọ vốn thân Nga, lúc đó là kẻ thù không đội trời chung của Trung Cộng, nên sự rạn nứt của tình đồng chí lại càng thêm nứt rạn. Nhưng vì kẻ thù trước mặt là Nga-Mỹ vẫn còn, vì vậy hai đảng cố quên bất đồng để hợp tác giai đoạn.

Nhưng tới khi Mao Trạch Đông thăng hà vào năm 1976, Đặng Tiểu Bình lên nối ngôi, đã chấm dứt sự leo dây của VC, vì Đặng đã biết rõ VC lúc ấy đang ngả hẳn theo Nga. Nhiều cuộc đụng độ đã xảy ra tại biên giới Hoa-Việt mà chủ động luôn luôn do Hồng Quân gây hấn theo lệnh của Đặng Tiểu Bình. Đây là một đòn hù dọa cũng như áp lực VC lúc đó đang tiến hành chính sách cải tạo công thương nghiệp, cướp của và đánh đuổi Hoa Kiều Miền Nam, nhất là tại Sài Gòn-Chợ Lớn, ra biển, về Tàu.

Giữa lúc tình hữu nghị của hai nước căng thẳng tột độ, thì Trung Cộng ngang nhiên xua 30.000 Hồng Quân vào các tỉnh Luang Namtha, Udom Say, Phong Salay, Luang Prabang và Sầm Nứa, nói là để bảo vệ công nhân Trung Hoa đang làm thiết lộ Bắc Lào-Vân Nam. Nhưng thực chất Trung Cộng muốn uy hiếp Pathet Lào và bao vây biên giới phía tây bắc của VN. Đây cũng là ý đồ của Tàu, muốn mở một con đường thông thương từ Vân Nam xuống đất Miên để tiện tiếp tế cho quân Khmer đỏ của Polpot lúc đó đang du kích chiến với bộ đội VN.

Nhưng Hà Nội đã biết rõ ý đồ của Bắc Kinh, nên đã ra tay trước. Đầu tiên là cùng Pathet Lào ký một hiệp ước quân sự và biên giới ngày 18-7-1977. Sau đó đem 50.000 quân trấn đóng tại Trung và Nam Lào, vừa bảo vệ Pathet Lào, cũng như ngăn cản không cho Trung Cộng vào đất Miên. Sự gây hấn đã trở thành công khai vào năm 1978, khi Bắc Kinh gọi Hà Nội là ‘tiểu bá quyền khu vực‘, còn VC thì bảo Trung Cộng là ‘chủ nghĩa bành trướng bá quyền Đại Hán‘.

Ai cũng biết quan hệ giữa hai đảng Cộng Sản Việt-Trung, vô cùng gắn bó từ sau năm 1949 khi Mao Trạch Đông chiếm được toàn cõi Hoa Lục. Từ đó, Trung Cộng hết lòng giúp đỡ VC mọi mặt, từ quân sự cho tới kinh tế, chính trị, ngoại giao. Nhờ vậy Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản mới chiếm được miền Bắc vào năm 1954.

Trong cuộc chiến Đông Dương lần thứ 2 (1960-1975), hầu như nguồn viện trợ quân sự, kinh tế cho Bắc Việt xâm lăng VNCH đều của Trung Cộng. Trên đất Bắc, Tàu giúp Hà Nội xây dựng nhiều công trình nhà máy, đường xá.. Theo tài liệu công bố, tính tới năm 1978, Tàu đã viện trợ cho VC hơn 20 tỷ Mỹ Kim. Từ năm 1965-1970, theo yêu cầu của Hồ Chí Minh, đã có hơn 100.000 quân Trung Cộng sang giúp Bắc Việt để xây dựng và phòng thủ. Đã có cả ngàn lính Tàu chết ở VN trong cuộc chiến

Sau 1970, nhiều biến chuyển lịch sử đã xảy ra, nhất là khi HCM chết, làm cho Hà Nội càng ngày càng ngả theo Nga Sô. Do nhu cầu cuộc chiến, VC cần có nhiều quân dụng tối tân như Mig21, tăng 54,55, hoả tiễn Sam.. để đối đầu với vũ khí Mỹ. Nhưng những thứ này chỉ có Nga mới có. Trung Cộng biết hết, nhưng vẫn tiếp tục giúp đỡ VC cho tới khi Hà Nội chiếm được miền Nam.

Rồi vì đầu óc thiển cận, các chóp bu trong Bắc Bộ Phủ tự coi như các đỉnh cao của loài người, coi thường mạng sống đồng bào cả nước, lại mù quáng chạy theo chủ thuyết cọng sản đã lỗi thời và nhất là tôn sùng Nga Sô hơn thần thánh. Từ đó, không cần cảnh giác về những kẻ thù xung quanh, lại mù quáng trở mặt và thách đó Trung Cộng. Đó là nguyên nhân chính khiến kẻ thù có cớ xâm lăng VN vào năm 1979.

Hồng Quân Trung Hoa hay quân đội Trung Cộng tuy được thành lập vào năm 1927 nhưng thật sự chỉ thống nhất sau năm 1949 khi chiếm được Hoa Lục. Nói chung VC đã theo đúng khuôn mẫu của Mao để tổ chức binh đội. Còn chủ thuyết Mao được coi như nền tảng tư tưởng, dùng làm chiến thuật và chiến lược, gọi là chiến tranh nhân dân, lấy nông thôn bao vây thành thị.

Thời nào, quân đội Tàu cũng đông nhất thế giới. Năm đó, Hồng Quân có hơn 4 triệu người, bao gôm hai binh chủng Hải và Không Quân trên nửa triệu. Cả nước được chia thành bảy quân khu: Lan Châu (Tân Cương và Thanh Hải), Bắc Kinh (Nội Mông, Bắc Kinh, Hà Bắc, Sơn Tây), Trấn Giang (Hắc Long Giang, Liêu Ninh), Kiến An (Hà Nam, Sơn Đông), Nam Kinh (Phúc Kiên, Giang Tây, Thượng Hải, An Huy), Thành Đô (Vân Nam, Tứ Xuyên, Quý Châu, Tây Tạng) và Quảng Châu (Quảng Đông, Quảng Tây, Hồ Bắc, Hồ Nam). Mỗi quân khu có nhiều quân đoàn. Ngoài chính quy và chủ lực, Trung Cộng còn có hơn bảy triệu dân quân. Tất cả do chủ tịch quân ủy trung ương, tức là chủ tịch đảng lãnh đạo, khi Đặng nắm quyền kiêm nhiệm luôn chức này.

Năm 1979, Hà Nội sau khi bị Trung Cộng tố cáo là vong ơn bạc nghĩa, kể cả sự phanh phui Võ Nguyên Giáp không phải là người chỉ huy mặt trận Điện Biên Phủ năm 1954. Để trả đũa, VC cho phổ biến bạch thư nói về quan hệ Việt-Trung trong 30 năm qua, đồng thời tố cáo Hoa Kiều trong nước là gián điệp, tay sai của Trung Cộng chống lại VN. Tiếp theo VC xua quân tấn công tiêu diệt Polpot và Khmer đỏ, vốn là đàn em chư hầu của Tàu, khiến cho dầu được đổ thêm vào lửa chiến tranh giữa hai nước, chỉ chờ bùng nổ.

Tại miền Nam, ngày 24-3-1978 bắt đầu đánh tư bản. Hằng ngàn công an, bộ đội và nam nữ thanh niên xung phong đeo băng đỏ trên tay, rải khắp các đường phố Sài Gòn-Chợ Lớn, Gia Đình, xông vào các hãng xưởng, nhà buôn, tư gia.. những người có máu mặt Hoa lẫn Việt, để lục lọi, vơ vét, xoi khám tịch thu tiền bạc, đô la, vàng ngọc, hàng hóa và tất cả tài sản riêng tư của dân chúng, những ai bị đảng kết tội là mại sản. Theo tài liệu được “bật mí”, chỉ riêng mẻ lưới trên Hà Nội đã vơ vét của người giàu Sài Gòn hơn

Ngày 3-5-1978, cả nước lại được đổi tiền lần thứ ba khiến đồng bào trước sau trở thành vô sản chuyên chính. Ở miền Bắc, hằng ngàn Hoa Kiều bị trục xuất về nước. Trong Nam, hằng vạn người Hoa trắng tay, tiêu tan sản nghiệp, bị đầy ải lên vùng kinh tế mới tận Bình-Phước Long, Bình Tuy, Long Khánh, Bà Rịa.

Để trả đũa, Trung Cộng ngưng hẳn 72 công trình xây dựng viện trợ cho VN. Đã có 70.000 người Hoa tại VN hồi hương về Hoa Lục. Ngày 16-5-1978, Trung Cộng tuyên bố gửi hai chiến hạm tới Hải Phòng và Sài Gòn để đón hết Hoa kiều. Nhưng đây chỉ là đòn tuyên truyền chính trị, vì tàu chiến chỉ đậu ngoài khơi một ngày rồi kéo neo về nước. Nắm được yếu điểm của đàn anh, VC lần chót hốt hết những gì còn sót lại của Hoa Kiều qua chiến dịch ‘xuất cảng người‘, sau đó tống khứ họ ra khơi khiến cho hơn triệu người bị chết vì sóng gió và hải tặc Thái Lan trên biển Đông, mà những trang Việt sử cận đại gọi là cơn hồng thủy của thế kỷ.

Sau khi VN bỏ lỡ cơ hội nối lại bang gioa với Hoa Kỳ. Ngày 24-5-1978, phụ tá an ninh của tổng thống Mỹ Carter là Brezinski tới Bắc Kinh ký một hiệp ước liên minh quân sự với Tàu. Từ đó Đặng Tiểu Bình đã có chỗ dựa chống Nga, nên mới ra mặt quyết tâm xâm lăng VN để rửa thù phục hận.

Từ 28 tới 30-1-1979, Carter và Đặng Tiểu Bình đã họp mật tại Tòa Bạch Ốc. Sau đó tổng thống Mỹ đồng ý để Trung Cộng trừng phạt VN và còn giúp cầm chân Nga, bằng cách chịu ký với LX hiệp ứơc SALT II. Để thêm kế nghi binh, Hoa Kỳ cử bộ trưởng tài chánh là Blumenthal tới công tác tại Bắc Kinh. Ngoài ra còn cho Hàng không mẫu hạm Constellation lảng vảng ngoài khơi vịnh Bắc Việt. Tất cả mơ mơ màng màng, khiến cho LX cũng không biết đâu mà mò.

Ngày thứ bảy 17-2-1979, lúc 3 giờ 30 sáng, khi vạn vật, chim chóc và con người đang chuẩn bị cho một ngày sống mới, thì 600.000 quân Tàu, tiền pháo hậu xung, ào ạt mở cuộc xâm lăng đại quy mô vào VN, trên vùng biên giới từ Lai Châu tới Móng Cáy. Thế là tình nghĩa vô sản quốc tế trong sáng giữa hai nước, đã trở thành hận thù thiên cổ. Những địa danh Cao Bằng, Lạng Sơn, Đồng Khê, Thất Khê.. lại đi vào những trang Việt sử đẫm máu, của VN chống xâm lăng Tàu.

Để tấn công VN, Trung Cộng đã huy động nhiều quân đoàn từ nhiều quân khu khác nhau, gồm QD 13,14 tấn công Lai Châu-Lào Kay. Hai QĐ 41,42 tân công Cao Bằng. Riêng mạn Lạng Sơn, Quảng Yên, Hải Ninh thi giao cho quân đoàn 43,54,55. Tất cả do Hứa Thế Hữu và Dương Đắc Chí chỉ huy trong mấy ngày đầu.

Về phía VN, một phần vì sự tự cao bách thắng của các đỉnh cao tại bắc bộ phủ. Phần khác do quá tin tưởng sự liên minh quân sự với LX. Nên gần như sử dụng gần hết các đơn vị chính quy tại mặt trận Kampuchia. Bởi vậy ngay khi cuộc chiến bắt đầu, trong lúc quân Trung Cộng đông đảo lên tới 150.000 chính quy, thì việc phòng thủ miền bắc, nhất là thủ đô Hà Nội, được giao cho các Sư Đoàn 308,312,390 của quân khu I. Nói chung, trong cuộc chiến đấu với Trung Cộng tại biến giới, chỉ có các sư đoàn chủ lực của quân khu tham dự như Sư đoàn 3,327, 337, Tây Sơn ( mặt trận Lạng Sơn). SD 567, B46, SD.Pháo binh 66 (mặt trận Cao Bằng). Các tuyến từ Hà Giang tới Lai Châu, do các SD316,345, Đoàn B68, M63, các trung đoàn chủ lực tỉnh, huyện đội, công an biên phòng. Sau đó khi thấy tình hình quá nguy ngập, Hà Nội mới gấp rút điều động các trung đoàn từ các tỉnh trung châu, cùng với các sư đoàn chủ lực của quân khu II và IV từ Kampuchia về tiếp viện.

Cuộc chiến thật đẫm máu ngay từ giờ phút đầu. Quân Tàu dùng chiến thuật cổ điển thí quân với tiền pháo hậu xung, bằng các loại hỏa tiễn 122 ly và đại bác nòng dài 130 ly, với nhịp độ tác xạ 1 giây, 1 trái đạn. Sau đó Hồng quân tràn qua biên giới như nước lũ từ trên cao đổ xuống. Tuy nhiên khắp nơi, Trung Cộng đã gặp phải sức kháng cự mãnh liệt của VN, một phần nhờ địa thế phòng thủ hiểm trở, phần khác là sự yểm trợ hùng hậu của pháo binh các loại, gây cho giặc Tàu nhiều tổn thất về nhân mạng tại Lạng Sơn và Cao Bằng.

Sự thất bại trong những ngày đầu, khiến Đặng giao chỉ huy mặt trận cho Dương Đắc Chí, đồng thời cũng thay đổi chiến thuật, dùng tăng pháo mở đường và bộ binh tùng thiết. Do quân Tàu quá đông, nên sau 10 ngày cầm cự, bốn thị xã Lai Châu, Lào Kay, Hà Giang, Cao Bằng lần lượt bị thất thủ. Riêng tại thị xã Lạng Sơn, Trung Cộng tung vào chiến trường tới sáu sư đoàn chính quy 127,129, 160,161, 163,164 cùng hằng trăm thiết giáp và đại pháo từ khắp nới bắn vào yểm trợ. Phía VN có quân đoàn 14 gồm các SD 3,327,338,347, 337 và 308. Trong lúc đó hai SD chính quy 304 và 325 từ Kampuchia, cũng đựợc không vận và di chuyển bằng xe lửa, tới Lạng Sơn tiếp viện. Nhưng cuối cùng Lạng Sơn cũng bị thất thủ đêm 4-3-1979. Sau đó giặc Tàu dùng mìn, bom phá nát hết các thành phố, thị xã tạm chiếm, kể cả hang Pắc Pó, suối Lê Nin và núi Các-Mác mà Hồ Chí Minh từng tạm trú, trước khi về Hà Nội cướp chính quyền vào tháng 9-1945. Ngày 16-3-1979, Đặng Tiểu Bình ra lệnh rút quân về nước.

Tóm lại sau 16 ngày giao tranh đẫm máu, Trung Cộng cũng như Khmer đỏ, tàn phá tất cả tài sản của dân chúng, bắn giết tận tuyệt người VN, san bằng các tỉnh biên giới, mà suốt cuộc chến Đông Dương lần II (1960-1975), gọi là vùng an toàn. Đã có hằng trăm ngàn vừa dân vừa lính của cả hai phía thương vong. Tại miền bắc, hằng triệu dân chúng phải phân ly. Nhà cửa, vườn ruộng, của cải vật chất, đền đài, miếu võ, nhà thờ, di tích tổ tiên bao đời để lại.. đều vì VC gây chiến tranh, mà tan tành theo cát bụi.

+ Trung Cộng Xâm Lăng VN lần thứ hai (1984-1989):

Cuộc chiến tưởng đâu đã chấm dứt, vì VC dấu nhẹm tin tức, từ ấy cho đến năm 2006, nhờ mạng lưới Internet của Bộ Quốc Phòng Trung Cộng (Defense-China. com) và tác phẩm Dữ kiện bí mật của cuộc chiến tranh Trung-Việt (Secret Records of Sino-Vietnamese War) của Jin Hui, Zhang Hui Sheng và Zhang WEi Ming, cả thế giới biết được ‘Bí Mật Lịch Sử Về Việc Tàu Chiếm Núi Đất Của VN, Trong Cuộc Chiến Biên Giới Lần Hai (1984-1989) ‘.Theo tài liệu dẫn chứng, năm 1984 Trung Cộng lại vin cớ CSVN thường pháo kích và tấn công biên giới, nên bất thần tấn công cưởng chiếm Núi Đất của VN tại tỉnh Hà Giang (Thượng Du Bắc Phần), mở màn cho cuộc chiến Biên Giới Việt Hoa lần thứ hai, kéo dài từ năm 1984-1989 mới chấm dứt, do Việt Cộng tự bỏ đất rút quân, nhượng bán (?) lãnh thổ cho giặc Tàu.

Núi Đất (VN) hay Lão Sơn (Tàu), dù có gọi bằng cái tên gì chăng nữa, cũng vẫn là một ngọn núi của VN, tại xã Thanh Thủy, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang. Trong trận chiến đẳm máu này, hai bên đã dành giựt quyền kiểm soát cứ điểm 1509m, được coi như là một vị trí chiến lược rất quan trọng về phía VN, được cũng cố xây dựng từ sau cuộc chiến biên gới 1979.

Thế là ngày 28-4-1984, vào lúc 5 giờ 50 sáng, Trung Đoàn 118, Sư Đoàn 40 BB, thuộc Quân Đoàn 14, Quân Khu Côn Minh, tiền pháo hậu xung, đồng loạt tấn công đỉnh 1509 và các cứ điểm quan trọng khác của VN. Cuộc chiến thật gay go vì gặp sự kháng cự mãnh liệt của quân phòng ngự VN, cấp đại đội. Tất cả đã tử chiến trước quân thù, đặc biệt trong số này có 4 nữ cán binh CSVN, thà chịu chết trước súng phun lửa của giặc Tàu, chứ không đầu hàng. Vì vậy nên trận chién kéo dài tới 15 giờ 30 chiều mới kết thúc, giặc bỏ xác tại chỗ 198 tên, cùng một số khác bị thương nặng..

Này 11-6-1984 , một tiểu đoàn CSVN tấn công tái chiếm núi nhưng bị đẩy lui. Ngày 12-7-1984, hai bên đụng độ lớn cấp sư đoàn. Phía CSVN đã huy động tới 6 trung đoàn Bộ Binh của các SĐ312,313, 316 và 356 để tái chiếm đỉnh núi. Cuối cùng Trung Đoàn 982 thuộc Sư Đoàn 313 CSVN, đã tái chiếm được cứ điểm 1509, sau khi đã chịu tổn thất hơn 3700 người. Nhưng sau đó không biết vì lý do gì, chóp bu Hà Nội đã ra lệnh bỏ ngõ cứ điểm trên cho quân Trung Cộng tới tái chiếm. Rồi lại giành giật từ 1984-1987 ở cấp đại đội, cho tới ngày 13-2-1991 thì chấm dứt với kết quả: Trung Cộng hoàn toàn chiếm lĩnh Núi Đất nằm trong lãnh thổ VN tại Tỉnh Hà Giang, và đổi lại tên Tàu là Lão Sơn.

Tính ra, từ ngày Hồ Chí Minh và Đảng CSQT chiếm được nữa nước VN, qua Hội Nghị Genève 1954, sau đó cưởng chiếm Miền Nam ngày 30-4-1975 và cai trị cả nước tới 2007, chỉ hơn nữa thế kỷ (1955-2007), đã bán cho nhượng Tàu hai quần Đảo Hoàng Sa-Trường Sa, nhiều đất đai tai biên giới Hoa Việt, trong đó có Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, Hang Pắc Pó, Núi Đất và nhiều vùng đánh cá thuộc lãnh hải của VN. Tất cả hành động bán nước trên đều mờ ám, bịp lừa, mục đích cũng chỉ để che dấu mọi tội lỗi, hầu tiếp tục kéo dài sự thống trị của tập đoàn thực dân đỏ tham nhũng, bất tài nhưng trong tay nắm đủ quyền lực, tiền bạc và trên hết đã sai khiến được một thiểu số trí thức khoa bảng mù quáng hám danh, đang cố sức quậy bùn công cuộc chiến đấu quang phục đất nước của Người Việt Tị Nạn Hải Ngoại và Đồng bào quốc nội.

Sau khi cưởng chiếm đuợc cả nước VN, CSQT bỏ Tàu theo Nga, gây nên một cuộc chiến long trời lở đất với Miên và Trung Cộng, cuối cùng cắt đất dâng biển đảo của VN cho Tàu để xin được làm tôi tớ của thiên triều như cũ. Bài học của lịch sử chưa khô máu trên thân thể mẹ VN nhược tiểu, thì một cuộc chiến đẳm máu khác đã thấy ló dạng, qua cuộc cờ ‘ đội Tàu, bợ Mỹ ‘, mà bất cứ ai cũng thấy rõ hành động của Đảng CSVN, từ những tháng cuối năm ngoái, khi TT Bush tới Hà Nội nhưng trắng trợn nhất là hai lần du Mỹ của Nguyễn Minh Triết (tháng 6-2007) và Nguyễn Tấn Dũng (tháng 9-2007).

Lần trước Trung Cộng chỉ mới tàn phá được miền thượng du Bắc Việt bằng súng đạn cổ điển. Lần này nếu lại có chiến tranh, Trung Cộng với bản chất dã man và khát máu, chắc chắn giặc sẽ tận dụng hết khả năng quân sự trong đó có bom nguyên tử để xoa sổ VN trên bản đồ Châu Á. Sự tổn thất về nhân mạng và tồn vong của dân tộc chỉ có người dân cùng đất nước hứng chịu, còn đảng với gia đình chắc chắn đã cao bay xa chạy tới những khung trời hạnh phúc ở hải ngoại mà thiên đường đâu có nơi nào sánh bằng Hoa Kỳ với tiền núi vàng tấn đã được chuyển tới đây từ khuya.

Nên cuối cùng chỉ còn một con đường duy nhất mà bất cứ ai nắm vận mệnh của dân tộc VN đều phải tuân thủ: Đó là phải làm theo ý nguyện của đồng bào cả nước đang khao khát có tự do, dân chủ và chén cơm manh áo trong cuộc sống hằng ngày. Được như vậy, nhà cầm quyền mơi mong ĐOÀN KẾT SỨC MẠNH DÂN TỘC để chống lại cuộc xâm lăng của Trung Cộng đang diễn ra trên quê hương VN từng giờ từng ngày, chứ không phải cứ chạy theo Nga, Tàu, Mỹ, Nhật.. lẩn quẩn loay hoay trong vòng nô lệ rốt cục cũng vẫn làm nô lệ cho ngoại bang mà thôi.

Xóm Cồn
Tháng Mười 2007
MƯỜNG GIANG

TÀI LIỆU THAM KHẢO:
– Brother Ennemy của Nayan Chanda do Phạm Quốc Bảo dịch.
– Giọt Nước Trong Biển Cả, Hoàng Văn Hoan
– Mặt Thật của Thành Tín
– Chinese aggression against VietNam
– Death in The Rice Field của Peter Scholl Latour
– Các tạp chi TP,PNDD..
– Tài liệu ‘Trận Biên Giới Hoa Việt Lần 2’ trên Diễn Đàn Việt Nam Exodus..

Leave a Comment »

No comments yet.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: