Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

October 13, 2008

Dự thảo luật của CSVN cho phép “Việt kiều” có 2, 3 quốc tịch, là một cái bẫy?

Filed under: Chính trị, xã hội — tudo @ 1:42 am

Lê Minh
Lời mở đầu:
Trong bài phỏng vấn của báo Tuổi Trẻ trong nước hồi tháng 5 vừa qua, Bộ trưởng Tư pháp CSVN Hà Hùng Cường đã cho biết rằng quốc hội CSVN sẽ sửa đổi luật để cho phép “công dân VN có thể có hai, ba quốc tịch”.
Trong khuôn khổ hạn hẹp của bài viết này, theo thiển ý của mình, người viết chỉ xin phân tích một số khía cạnh pháp lý lợi hại có liên quan đến luật pháp của Úc, và cũng xin mời đọc giả triển khai, bổ túc thêm các khía cạnh pháp lý khác có liên quan đến luật pháp các nước có người tỵ nạn Việt Nam đang sinh sống.

Để thực thi Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị ĐCSVN, quốc hội CSVN hiện đang dự thảo Bộ luật quốc tịch sửa đổi để “công dân VN có thể có hai, ba quốc tịch”. “Công dân Việt Nam” ở đây là “Việt kiều”, tức là người Việt Nam đã đi tỵ nạn, di dân ra nước ngoài và hiện đang định cư ở các nước này.

Luật hiện hành của CHXHCNVN quy định rằng, người Việt Nam dù sinh sống ở bất cứ nơi dâu (kể cả con cháu trực hệ sinh ra ở ngoại quốc) cũng “bị” xem là công dân Việt Nam, bởi vì bộ luật này chi phối và ràng buộc “cả nơi sinh và huyết thống”. Điều này có nghĩa là, những người tỵ nạn Việt Nam đã chạy trốn ra nước ngoài, nay cho dù đã định cư, nhập quốc tịch nước sở tại, nhưng dưới cái nhìn của luật CHXHCNVN vẫn bị xem là “công dân Việt Nam”, bởi vì họ chưa hề chính thức “từ bỏ quốc tịch Việt Nam”. Câu thòng này chính là lý do để yêu cầu dẫn độ về nước hoặc là cái cớ để nhà nước CSVN có thể tùy tiện bắt bớ, giam cầm những “Việt kiều không yêu XHCN” mỗi khi về nước thăm quê hương.

Tình hình “song tịch” hiện nay trên thế giới và tại Úc

Trước khi đi vào bài phỏng vấn Bộ trưởng Tư pháp CSVN Hà Hùng Cường trên tờ Tuổi Trẻ, chúng ta hãy nhìn sơ một vòng tình hình “song tịch” hiện nay trên thế giới. (xem phụ bản phía dưới)

Theo Thư Viên online của Quốc hội Úc thì cả Việt Nam và Úc đều nằm trong danh sách các quốc gia không cho phép song tịch cũng như có thể “du di” cho phép song tịch trong một vài trường hợp đặc biệt.

Theo luật hiện hành của Úc, Phần 17 của Bộ luật Quốc tịch năm 1948 quy định rằng “bất cứ công dân Úc nào từ 18 tuổi trở lên, nếu vì một lý do nào đó (ngoại trừ việc kết hôn), mà có thêm một quốc tịch ngoại, thì việc có được quốc tịch đó sẽ chấm dứt việc mang quốc tịch Úc”. Điều này có nghĩa là, một khi trở thành công dân một nước khác thì đồng thời cũng đưa đến việc đánh mất quốc tịch Úc.

Luật quốc tịch CHXHCNVN định nghĩa “công dân” bằng nơi sinh và cả huyết thống

Luật pháp CHXHCNVN định nghĩa rằng hễ sinh ra tại Việt Nam, hoặc có huyết thống là Việt Nam (ông bà cha mẹ là người Việt Nam) thì phải là “công dân Việt Nam” (ràng buộc cả “nơi sinh và huyết thống”), trong khi luật quốc tế chỉ quy định “công dân” theo nơi sinh ra.

Cha mẹ mang quốc tịch VN, con cái phải thi hành
“nghĩa vụ quân sự”
Vậy mà khi phát biểu với tờ Tuổi Trẻ, Bộ trưởng Tư Pháp CSVN Hà Hùng Cường đã nói “dư thừa” rằng “trẻ em sinh ra trên lãnh thổ VN thì cố gắng không để xảy ra trường hợp không có quốc tịch”. Sở dĩ có chuyện “trẻ em sinh ra ở VN có trường hợp không có quốc tịch” là vì trong thời gian vừa qua có những trường hợp các cô gái Việt lấy chồng Hàn, Đài Loan ly dị trở về nước khi đang mang thai rồi sinh con tại VN đã không được chính quyền địa phương cấp giấy khai sinh. Trong khi đó luật CHXHCNVN lại “quơ quào” rằng “trẻ em có cha mẹ là công dân VN thì dù sinh ra ở đâu cũng có quốc tịch VN” cho dù đã định cư đến thế hệ thứ tư.

Ông Cường còn cho biết luật sửa đổi sẽ “mềm dẻo” để “Việt kiều” có thể có vài ba quốc tịch, tiện cho nhà nước CSVN “thống kê số liệu công dân” và để “thực hiện chính sách bảo hộ công dân” tránh những tranh chấp có thể xảy ra.

Lạ đời thật, nhà nước CSVN có bao giờ thực tâm “bảo hộ công dân Việt Nam” trên xứ người bao giờ. Hãy nhìn xem thái độ “đem con bỏ chợ” của họ đối với “Việt kiều Campuchia”, hàng trăm ngàn cô dâu Việt tại xứ Đài, xứ Hàn và hàng trăm ngàn công nhân lao động Việt Nam ở nước ngoài.

Hiển nhiên cộng đồng người Việt sinh sống tại Campuchia chưa được nhà nước “quan tâm sâu sắc”, bởi vì họ quá nghèo, khác với “Việt kiều thứ thiệt” sinh sống tại các nước tư bản giàu có rất được nhà nước “quan tâm ưu ái” nên được gọi là “khúc ruột ngàn dặm”.

Công nhân VN đi làm lao động ở nước ngoài bị chủ bóc lột, đối xử tàn tệ nhưng có bao giờ các tòa đại sứ VC quan tâm đến họ đâu. Gần đây nhất, Liên Minh Bài Trừ Nô Lệ Mới Ở Á Châu (CAMSA) đã phải can thiệp giúp cho 176 nữ công nhân Việt ở Jordan được giải cứu khỏi cảnh bị bóc lột và đánh đập; và vụ việc nhà thầu may mặc của hãng Nike tại Mã Lai đối xử tàn tệ, nô lệ hóa công nhân (trong đó có công nhân VN) đã bị Ủy ban Bảo vệ Người Lao động Việt Nam (UBBV) tố cáo với đài số 7 của Úc. Việc tố cáo này ( web ) đưa đến việc hãng Nike chính ở Mỹ phải can thiệp, và nhờ đó tình trạng lao động và điều kiện ăn ở của công nhân mới được cải thiện. Còn chuyện công nhân làm việc ở các hãng xưởng trong nước bị các chủ nhân ông Đài Loan, Đại Hàn, Trung Quốc bóc lột, đối xử tàn tệ, thậm chí chuyện đánh đập cũng xảy ra như cơm bữa, nhưng có bao giờ nhà nước CSVN can thiệp hay phạt nặng đâu.

“Việt kiều” chưa thôi quốc tịch VN và có ước muốn nhập tịch trở lại quốc tịch VN?

Trong số khoảng hơn 3 triệu người Việt hiện đang sinh sống trong các cộng đồng trên khắp thế giới, nhà nước CSVN đã “ước đoán” là 75% trong số này đã nhập quốc tịch nước sở tại nhưng chưa thôi quốc tịch Việt Nam.

Đúng là “Việt kiều” ở các nước hầu hết đã nhập quốc tịch, hoặc sẽ nhập tịch nước sở tại, tuỳ theo điều kiện của mỗi nước. Tuy nhiên con số 75% là không chính xác, bởi vì tuỳ theo luật của mỗi nước, khó hay dễ, lâu hay mau. Vả lại, có thể nói là đến hơn 99% người VN tỵ nạn CS muốn từ bỏ quốc tịch VN, mà nói chính xác hơn là từ bỏ quốc tịch CHXHCNVN.

Ông Cường cho rằng có đến 2.5 triệu trong số hơn 3 triệu người Việt ở hải ngoại “vẫn chưa thôi quốc tịch VN”. Đây là câu nói mơ hồ đầy hàm ý, bởi vì người Việt Nam chạy trốn Việt Cộng thì có ai muốn giữ quốc tịch CHXHCNVN. Càng hàm hồ hơn nữa khi ông Cường cho rằng “trước mắt sẽ có hàng trăm ngàn kiều bào thuộc thế hệ thứ nhất đăng ký quốc tịch Việt Nam”.

“Hàng trăm ngàn kiều bào thuộc thế hệ thứ nhất” ư? Họ là ai? Họ là những quân, dân cán chính đã từng phục vụ cho chế độ Việt Nam Cộng Hòa, đã từng bị tù tội, đọa đày, thì làm gì có chuyện “hàng trăm ngàn kiều bào thuộc thế hệ thứ nhất” có ước nguyện quay trở về xin nhập tịch CHXHCNVN.

Quyền lợi và nghĩa vụ khi trở thành “công dân CHXHCNVN”


Sửa đổi luật quốc tịch để móc hầu bao
“Việt kiều” nhiều hơn nữa

Một khi trở thành công dân của một nước thì người đó đương nhiên phải có “quyền lợi và nghĩa vụ” đối với quốc gia đó. Tuy nhiên, đối với “Việt kiều”, ông Cường có thêm rằng Việt kiều cũng có quyền đi bỏ phiếu (theo kiểu “Đảng cử dân bầu”), và cũng có quyền ra ứng cử “đại biểu quốc hội”. Tuy nhiên để ra ứng cử thì phải thường trú trong nước, phải có “nhận xét của nơi cư trú” và phải qua “hiệp thương của Mặt trận”, tức là phải có xác nhận của công an chính quyền địa phương, và phải được Mặt trận Tổ quốc đề cử. Như thế này thì chắc chắn chỉ có “Việt kiều yêu nước” mới “đạt yêu cầu”.

Báo chí trong nước cũng từng kháo rằng khi cầm cái Hộ chiếu CHXHCNVN thì “Việt kiều” sẽ được đối xử như người Việt bản địa trong cách tính giá. Cứ cho rằng một tí lợi này là có thật thì việc trở thành công dân Việt Nam, đồng nghĩa với việc sẽ phải thực thi “quyền lợi và nghĩa vụ” như người Việt Nam, kể cả việc “thực hiện nghĩa vụ quân sự” đối với nam công dân, thì liệu Việt kiều nào có đủ can đảm xin “đăng ký quốc tịch” CHXHCNVN không? Ngoài ra việc trở thành công dân CHXHCNVN sẽ thuận lợi hơn cho nhà nước CSVN khi truy tố, kể cả việc dẫn độ “Việt kiều không yêu nước” về Việt Nam.

Cách đây 1 năm trên trang web của Bộ Ngoại giao, Phó Thủ tướng CSVN kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm đã nói rõ chiêu “miễn thị thực” (mtt ) là để thực thi Nghị quyết 36, nhằm dụ khị thêm “người Việt Nam ở nước ngoài về thăm quê hương, thân nhân, thờ cúng tổ tiên”. Nay đi thêm bước nữa, nhà nước CSVN sẽ sửa đổi luật quốc tịch “theo hướng mềm dẻo” để “Việt kiều có thể có hai, ba quốc tịch” hầu có thể “về thăm quê hương, thân nhân, thờ cúng tổ tiên” thường xuyên hơn nữa, dễ dàng chuyển tiền bạc tài sản kể cả “lương hưu, bảo hiểm của họ” về nước nhanh hơn; Tức là nhà nước CSVN có thể móc hầu bao của “Việt kiều” nhiều hơn nữa, làm giàu nhanh hơn nữa cái túi tham không đáy của các quan chức nhà nước.

Úc Châu ngày 12/10/2008
Lê Minh




Nguồn: Thư Viện online ( web) của Quốc Hội Úc

src


Thứ Tư, 21/05/2008, 08:25 (GMT+7)

Dự thảo luật quốc tịch (sửa đổi): Công dân VN có thể có hai, ba quốc tịch

TT – Hàng triệu người VN ở nước ngoài chưa thôi quốc tịch VN có thể đăng ký quốc tịch VN. Những người này có thời hạn năm năm kể từ khi luật có hiệu lực để đăng ký quốc tịch VN.

Việc đăng ký này khác với các trường hợp xin trở lại quốc tịch VN ở chỗ không cần thủ tục gì đặc biệt, có thể thực hiện đăng ký ở nước ngoài. Đó là một trong những nội dung của dự án Luật quốc tịch (sửa đổi).

Xung quanh vấn đề này, trước khi Quốc hội có những phiên họp riêng về dự án luật nêu trên, Tuổi Trẻ đã trao đổi cùng Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường.

Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường (ảnh) cho biết:

– Theo nguyên tắc hiện hành, Nhà nước chỉ công nhận công dân VN có một quốc tịch là quốc tịch VN, nghĩa là công dân VN không thể có quốc tịch nước khác. Nhưng thực tế nước ta có nhiều đồng bào đang định cư ở nước ngoài, hơn nữa đặt trong bối cảnh hội nhập hiện nay thì nguyên tắc nêu trên là không khả thi.

Về quốc tịch, nhiều nước qui định trẻ em sinh ra trên lãnh thổ nước tôi là có quốc tịch nước tôi, không cần biết huyết thống như thế nào, còn nước ta qui định cả nơi sinh và huyết thống. Tức là trẻ em sinh ra trên lãnh thổ VN thì cố gắng không để xảy ra trường hợp không có quốc tịch, nhưng mặt khác trẻ em có cha mẹ là công dân VN thì dù sinh ra ở đâu cũng có quốc tịch VN. Trong khi đó, đồng bào ta ở nước ngoài nhiều gia đình đã định cư đến thế hệ thứ tư, có thể họ vẫn giữ quốc tịch VN nhưng hầu như không có giấy tờ chứng minh. Như vậy nguyên tắc nêu trên cũng trở thành hình thức. Và, ở đây cách làm luật của ta là cố gắng nhìn thẳng vấn đề, sao cho qui định sát thực tế.

* Vậy, dự án luật xử lý nguyên tắc một quốc tịch theo hướng nào, thưa ông?

– Theo hướng mềm dẻo. Nếu dự án luật được thông qua, có thể chấp nhận những trường hợp đang có hai quốc tịch, thậm chí ba quốc tịch, và anh được đăng ký đàng hoàng để một mặt chúng ta dễ thống kê số liệu công dân, mặt khác để thực hiện chính sách bảo hộ công dân, tránh những tranh chấp có thể xảy ra.

* Được biết, khoảng 75% trong số hơn 3 triệu người VN đang sinh sống ở nước ngoài đều đã nhập quốc tịch nước sở tại, nhưng chưa thôi quốc tịch VN?

– Hiện có xu hướng nhiều kiều bào về sống trong nước, họ muốn trở lại quốc tịch VN nhưng có nguyện vọng được giữ quốc tịch nước ngoài, vì các chế độ như lương hưu, bảo hiểm của họ đều ở nước ngoài. Để giải quyết, dự án luật mở ra hướng chấp nhận cho họ được trở lại quốc tịch VN.

Trong số hơn 3 triệu người VN ở nước ngoài, không kể những người vẫn có hộ khẩu thường trú trong nước, số còn lại hơn 2,5 triệu người đã ra nước ngoài từ lâu nhưng vẫn chưa thôi quốc tịch VN. Vấn đề pháp lý đặt ra là hơn 2,5 triệu người đó có còn tiếp tục là công dân VN nữa hay không? Tinh thần của dự án luật là vẫn công nhận họ có quốc tịch VN và qui định thời hạn năm năm kể từ khi luật có hiệu lực để những đồng bào đó đăng ký quốc tịch VN. Việc đăng ký này khác với các trường hợp xin trở lại quốc tịch VN nêu trên, ở chỗ không cần thủ tục gì đặc biệt. Chúng tôi dự tính nếu luật được ban hành, trước mắt sẽ có hàng trăm ngàn kiều bào thuộc thế hệ thứ nhất đăng ký quốc tịch VN.

* Khi đăng ký quốc tịch VN thành công thì kiều bào được hưởng những quyền lợi và nghĩa vụ như thế nào, liệu có được tham gia ứng cử vào các cơ quan dân cử?

– Được hưởng các quyền và nghĩa vụ của công dân VN phù hợp với hoàn cảnh sống xa Tổ quốc. Đó là những quyền và nghĩa vụ nào thì lại do những đạo luật cụ thể qui định, ví dụ như Luật bầu cử hiện hành qui định nếu anh về nước có đăng ký tạm trú anh được đi bỏ phiếu, nhưng nếu anh muốn ứng cử đại biểu Quốc hội thì anh phải thường trú trong nước, rồi có nhận xét của nơi cư trú, phải qua hiệp thương của mặt trận… Nghĩa là nếu anh không thường trú trong nước thì anh không được ứng cử.

* Vậy trong trường hợp kiều bào đăng ký quốc tịch VN và trở về thường trú trong nước thì sao, thưa ông?

– Xu hướng là bà con đã trở về VN để định cư và thường trú thì bà con sẽ được hưởng các quyền và gánh vác nghĩa vụ như mọi công dân VN.

* Đã có những người nước ngoài xin nhập quốc tịch VN như trường hợp thủ môn Santos, vậy theo dự án luật họ có được giữ quốc tịch vốn có, thưa ông?

– Dự án luật mở rộng ra một số trường hợp người nước ngoài có thể được Chủ tịch nước cho phép giữ hai quốc tịch, trong trường hợp họ xin nhập quốc tịch VN nhưng có lý do chính đáng để xin giữ quốc tịch vốn có của họ. Đơn cử như những người nước ngoài có những đóng góp cho sự nghiệp khoa học, thể thao, văn hóa… của VN.

* Dự án luật lần này đã hướng đến việc đơn giản hóa các thủ tục hành chính liên quan đến vấn đề quốc tịch?

– Chúng tôi đã cố gắng để giảm hẳn các loại giấy tờ, thủ tục. Ví dụ khi bà con trở lại quốc tịch VN thì không bắt buộc các điều kiện chặt chẽ như trước đây là phải lấy vợ (chồng) VN, hoặc trở về định cư ở VN. Chúng tôi chỉ qui định đơn giản trở lại quốc tịch VN là quyền của anh, và cơ bản Nhà nước tạo điều kiện cho anh thực hiện quyền và nguyện vọng chính đáng đó. Về mặt thời gian, có cái khó là các vấn đề liên quan đến quốc tịch, không những phải giải quyết từ nước ngoài về trong nước, mà còn phải giải quyết qua nhiều cơ quan như ngoại giao, công an, tư pháp, Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước, lên đến Chủ tịch nước, nên chúng tôi dự kiến phấn đấu rút ngắn từ một năm xuống chín tháng và từ sáu tháng xuống ba tháng, thời gian tới ứng dụng công nghệ thông tin tốt hơn thì sẽ rút ngắn nữa.

VÕ VĂN THÀNH thực hiện

tt

Advertisements

September 3, 2008

Video: Cộng Sản Vu Khống Giáo Sứ Thái Hà

Video: Truyền Thông Cộng Sản Xuyên Tạc Giáo Xứ Thái Hà!!!!

Truyền Thông cs thi nhau lập công dâng đảng … Lương tâm không bằng lương tháng !

Xin mời quý bạn đọc vào trang trong để xem video đài truyền hình cộng sản Việt Nam xuyên tạc tin tức về giáo xứ Thái Hà, và những video ghi nhận về sự kiện lập biên bản người xịt hơi cay tại giáo xứ Thái Hà.

Đài truyền hình cộng sản đua tin xuyên tạc giáo xứ Thái Hà

Lập biên bản với công an vụ xịt hơi cay



Nhóm thanh niên quấy rối

Phản ứng của người bị xịt hơi cay:

Sự Suy Đồi Lương Tâm, Đạo Đức Xã Hội

CL Tu do Video: Cộng Sản Vu Khống Giáo Sứ Thái Hà

July 27, 2008

Bích Liên: Vài suy nghĩ về luật trưng mua, trưng dụng tài sản

Bích Liên

Ngày 3/6/2008, Quốc hội thông qua nhanh chóng Luật trưng mua, trưng dụng tài sản. Nhưng báo chí trong nước đều im hơi lặng tiếng về sự kiện này cho đến lúc có công bố của Chủ tịch nước vào ngày 23/6/2008. Báo giới chính thống cũng chỉ giới thiệu vài dòng, không một bình luận nào. Và nếu có, thì chỉ «khen» «luật này ra đời rất đúng lúc». Thế nhưng, trái ngược với không khí «thanh bình» mà báo chí trong nước cố tạo ra, mối nguy về sự bất an dâng lên trong lòng dân lại luôn thường trực.

Ưu tư của một sinh viên ngành luật

Luật đòi hỏi ở người dân sự hi sinh quá lớn về quyền lợi kinh tế

Hi sinh quyền lợi kinh tế thể hiện không những ở loại tài sản có thể bị trưng dụng, trưng mua, mà còn cả mức giá trưng mua hoặc mức bồi thường.

Tài sản thuộc phạm vi trưng mua, trưng dụng là rộng, bao gồm : đất, nhà, các tài sản gắn với đất ; thuốc chữa bệnh, lương thực, thực phẩm, công cụ, dụng cụ và vật tư, vật dụng thiết yếu khác ; phương tiện giao thông vận tải, thông tin liên lạc và phương tiện kỹ thuật khác. (điều 13+23)

Cá nhân, tổ chức có tài sản là đối tượng trưng mua, trưng dụng hoàn toàn bị cưỡng chế, thậm chí chỉ bằng lời nói (trường hợp trưng dụng), không có pháp lí nhưng hiệu lực trưng dụng lại ngay lập tức.

Đối với giá tài sản trưng mua và mức bồi thường trưng dụng, khi không tìm được sự đồng thuận với cá nhân, tổ chức có tài sản, người có thẩm quyền «có thể thành lập hội đồng xác định giá trưng mua tài sản» (khoản 1c) điều 18 ) và «mức bồi thường» (với tài sản trưng dụng, khoản 2 điều 34). Có ai dám chắc trong một nước tham nhũng từ lâu trở thành quốc nạn như VN, hội đồng ấy sẽ đưa ra mức giá[1] chính xác, hoàn toàn dựa trên những thông số kĩ thuật, khách quan ? Và nếu thật sự có một hội đồng công minh ở VN, thì cũng không có nghĩa là người dân có được sự đảm bảo nào đó. Ngay điều 18 và 34 cho thấy người có thẩm quyền chưa chắc theo mức giá mà hội đồng đưa ra vì « quyền quyết định giá » của người có thẩm quyền tồn tại độc lập với việc thành lập hội đồng này ; hơn nữa, «thành lập» hay không hội đồng này thuộc quyền hạn của người có thẩm quyền trưng mua hay trưng dụng.

Như thế, quyền sở hữu- được Hiến pháp bảo đảm (điều 58 HP 1992) và quyền sử dụng tài sản của «tổ chức (ngoài nhà nước), cá nhân, hộ gia đình» có thể bị đưa ra hi sinh chỉ với mức giá rất thấp !

Sự hi sinh lại được bảo đảm bởi công lý…nửa vời

Trong tình trạng chiến tranh, đe dọa nguy hại đến an ninh, sự tồn tại của quốc gia, Nhà nước có quyền thâu tóm tất cả quyền lực (hay là quyền lực tuyệt đối –cho phép dùng vũ lực để cưỡng chế). Nhưng bù lại, cần phải có sự kiểm soát của tòa án để quyền lực ấy không bị lạm dụng.

Luật thông qua ngày 3/6 vừa qua đã trao một quyền lực tuyệt đối cho vài cơ quan Nhà nước khi thực hiện các biện pháp trưng mua, trưng dụng tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc sử dụng của người dân. Thế nhưng, thiếu độc lập với các cơ quan quyết định và thi hành quyết định trưng mua, trưng dụng, tòa án VN không thể nào có được «quyền kiểm soát» quyền lực ấy và như vậy, việc lạm dụng quyền lực là không thể tránh khỏi.

Sự công nhận quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện của người có tài sản tại điều 10 khoản 1c cũng vì thế không có giá trị gì trên thực tế. Thiếu đi tính độc lập, cơ quan tư pháp – đáng lý là quyền lực đối trọng với các quyền lực chính trị khác- rất khó đứng về phía người dân để bảo vệ quyền và tự do của họ, nhất lại trong mối quan hệ giữa công dân với Nhà nước. Tôn chỉ xử án quan trọng nhất của Toà án VN là bảo vệ ổn định xã hội. Sự tương thích giữa tính chất của các hoàn cảnh cho phép áp dụng luật này (xem điều 5- điều kiện trưng mua, trưng dụng) và biện pháp cần thiết để «ổn định xã hội» tạo điều kiện cho tòa án « giúp » cơ quan hành chính chà đạp lên quyền khiếu nại, tố cáo…

Công nhận trên văn bản một quyền mà không đảm bảo sự thực thi trên thực tế, việc đòi công lý là xa vời.

Công lý cũng không thể được thực thi khi một cơ quan vừa là bị cáo vừa là quan tòa. Theo luật này, Bộ tài chính vừa là cơ quan có thẩm quyền quyết định trưng mua (điều 14 khoản 2), trưng dụng (điều 24 khoản 1), lại vừa là cơ quan có «trách nhiệm… thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về trưng mua, trưng dụng tài sản», vừa đảm nhận «giải quyết khiếu nại, tố cáo» (điều 9, khoản 2d và 2đ). Có chăng công lý chỉ đến từ một Bộ tài chính liêm khiết, chính trực. Nhưng trong cơ chế hành chính ở VN hiện nay còn khó tìm thấy một viên chức liêm khiết, dám chống lại cả hệ thống bằng cách thiết lập công lý cho người bị oan, chứ đừng nói gì cả một nhóm người trong Bộ tài chính ?! Chỉ là công lý…nửa vời !

Thậm chí, giả sử tòa án là độc lập, thì với khoản 1c) của điều 10, khi được quyền «Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về trưng mua, trưng dụng tài sản theo quy định của pháp luật », người dân không biết phải tìm «quy định của pháp luật» này ở đâu để áp dụng cho đúng. Những quy định giải quyết xích mích liên quan đến quyết định và thi hành quyết định trưng mua, trưng dụng tài sản có thể nằm ở « luật đất đai », «luật đê điều», «luật bất động sản», «luật môi trường», «luật xây dựng», «luật khiếu nại, tố cáo»… Sự chồng chéo quy định như thế, có khác gì muốn làm nản lòng người khởi kiện.

Người dân đã có thể chờ đợi một cách chính đáng khả năng truy tố trách nhiệm cá nhân của người có thẩm quyền khi thực hiện sai việc trưng dụng, trưng mua như điều 48 trong dự án luật[2]. Nhưng luật thông qua ngày 3/6 không giữ lại điều luật này. Như thế có nghĩa là việc truy tố trách nhiệm chỉ còn giải quyết ở mặt hành chính. Vậy mà, theo hai điều 18 và 34, khi cá nhân, tổ chức có tài sản là đối tượng của luật không đồng ý với mức giá quyết định đơn phương bởi người có thẩm quyền thì họ chỉ có quyền khiếu nại[3]. Quyền tố cáo, quyền khởi kiện không áp dụng ở đây. Nhưng quyền khiếu nại chỉ cho phép người có tài sản bị trưng mua, trưng dụng «đề nghị» lên người có thẩm quyền [4] «xem xét lại» quyết định hoặc hành vi hành chính xâm phạm lợi ích của mình[5] . Nếu không có giải quyết thì sao ? Luật không đề cập đến.

Trong điều kiện đó, mất quyền tố cáo và quyền khởi kiện, lại thiếu khả năng truy tố trách nhiệm cá nhân, nguy cơ mất trắng tài sản (nếu mức giá ấn định là rất thấp) của người dân là rất cao. Mất trắng mà không biết kêu cứu ở đâu, đi đâu để tìm công lý !

Luật sẽ đặt đất nước vào tình trạng khó khăn bởi thất thoát vốn đầu tư và nguy cơ biểu tình cao

Nghiên cứu đồng thời điều 23 và điều 25 Hiến pháp 1992 cho thấy Hiến pháp chỉ đề cập đến vấn đề trưng mua, trưng dụng tài sản của tổ chức, cá nhân trong nước (khi thật cần thiết), mà không đề cập gì đến vấn đề này đối với người nước ngoài (ngay cả khi thật cần thiết). Hơn nữa, điều 25 «Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không bị quốc hữu hoá» có nghĩa là tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp không thể chuyển thành tài sản thuộc sở hữu của nhà nước, dù với bồi thường (trưng mua) hoặc không (tịch thu). Vậy ít nhất đối với vấn đề trưng mua tài sản, có thể hiểu rằng Hiến pháp cấm áp dụng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Cũng chính vì thế mà luật đầu tư năm 1996 (sau này bị sửa đổi bởi luật đầu tư 2005 theo hướng của luật 2008 này) quy định «Trong quá trình đầu tư vào Việt Nam, vốn và tài sản hợp pháp khác của nhà đầu tư nước ngoài không bị trưng dụng hoặc tịch thu bằng biện pháp hành chính, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không bị quốc hữu hoá»

Khi mở rộng « nạn nhân » của các biện pháp trưng mua, trưng dụng tới người nước ngoài, trong đó có Việt kiều- đối tượng mà mấy năm gần đây cung cấp khoản đầu tư lớn vào nền kinh tế VN, nền kinh tế VN có thể sẽ chịu khoản thất thoát lớn về nguồn vốn bởi sự ra đi của các nhà đầu tư này. Như thế sẽ chỉ làm nặng thêm khoản vay nước ngoài hiện nay vốn đã không có khả năng chi trả.

Tại sao lại lựa chọn một cách làm tự giết chết nền kinh tế của đất nước như thế ? Phải chăng chỉ là vì quyền lợi của bộ máy lãnh đạo khi cảm giác không đủ khả năng tháo gỡ nền kinh tế, tài chính của đất nước thoát khỏi khủng hoảng ?!

Khủng hoảng trong lòng dân cũng không thể tránh khỏi. Tài sản mà bộ luật đề cập đến bao gồm đất đai. Trước tình hình bất lực của chính quyền trong việc giải quyết các khiếu nại, tố cáo từ những cuộc thu hồi đất trong và sau hai cuộc chiến, phải chăng sự ban hành luật này nhằm mục đích hợp pháp hóa vấn đề cưỡng chế thu hồi đất ?! Luật ra đời có lẽ không phải để giải quyết các vấn đề khiếu kiện (đáp ứng lòng dân), mà trái lại cung cấp cho chính quyền một công cụ pháp lý để dễ dàng hơn trong việc thu hồi đất. Nhưng những cuộc biểu tình của bà con các tỉnh trước văn phòng QH ở HN và SG từ năm vừa qua đã cho thấy nỗi uất ức của người dân đang chuyển thành hành động. Khi luật này bắt đầu áp dụng, nạn nhân sẽ nhân lên, nguy cơ biểu tình cũng vì thế có thể lan rộng.

Lời kết : làm sao để tự bảo vệ tài sản của mình ?

Làm thế nào trước khi luật này có hiệu lực (1/9/2009 ) bảo vệ ít nhiều tài sản của mình ? Chẳng nhẽ tìm cách chuyển tài sản của mình thành những tài sản «không thuộc đối tượng trưng mua, trưng dụng» ?! Tức là bán tất cả rồi chuyển vào ngân hàng nước ngoài ?! Thế thì sẽ ở đâu, làm ăn ra sao ?! Ôi, không lẽ trong thời bình, người dân lại phải nghĩ đến chuyện di tản ?!

Bích Liên
© Tạp chí Phía Trước

[1] «Giá» ở đây, xin hiểu là giá trưng mua tài sản và mức bồi thường trưng dụng.
[2] mời xem tại http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2008/02/05/56472/
[3] «nếu người có tài sản… không đồng ý với giá này thì vẫn phải chấp hành nhưng có quyền khiếu nại.»
[4] «người có thẩm quyền» bao gồm người chịu trách nhiệm trực tiếp với quyết định, hành vi hành chính nào đó và cả người cấp trên của người đó.
[5] xem định nghĩa «khiếu nại» tại trang Hướng dẫn nghiệp vụ-BTP http://nghiepvu.moj.gov.vn/xembai.aspx?nv=295

Nguồn:
http://blog.360.yahoo.com/blog-V3M_NEolerbUJtSbv.5KMo8GAUmgg7A-?cq=1

Thư gửi Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc của những nạn nhân bị CSVN khủng bố

Bản tiếng Việt:

Ngày 26 tháng 7 năm 2008

Kính gửi:

– Ông Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki-moon

– Quí vị đại diện các quốc gia thành viên Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc

Kính thưa quý vị,

Chúng tôi, những người Việt Nam cư trú tại nhiều địa phương trên đất nước Việt Nam, viết thư này khẩn thiết yêu cầu quí vị để tâm đến những vi phạm nhân quyền và khủng bố nghiêm trọng, có tính toán và có kế hoạch, cuả chính phủ Việt Nam đối với những công dân hoặc gia đình họ trong sự bày tỏ một cách ôn hoà những đòi hỏi về quyền con người và các quyền tự do dân chủ.

Chúng tôi xin liệt kê những bằng chứng cụ thể về những sự việc mới xẩy ra trong vòng vài tháng qua, mà trong đó chính chúng tôi là các nạn nhân:

Ngày 29/4/2008, một số người đã bị công an bắt giữ và đánh đập, thẩm vấn liên tục nhiều giờ đồng hồ chỉ vì họ biểu tình ôn hòa, chống hành động xâm lược của chính quyền Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Trong thời gian bị bắt giữ, những người này đã bị tước đoạt tài sản cá nhân, chủ yếu là các phương tiện liên lạc.

Cụ thể những người bị bắt hôm 29/04/2008 gồm:

1. Ông Nguyễn Xuân Nghĩa, Hải Phòng

2. Ông Vi Đức Hồi, Lạng Sơn

3. Ông Vũ Hùng, Hà Tây

4. Anh Ngô Quỳnh, Bắc Giang

5. Anh Nguyễn Văn Nhất, Bắc Giang

6. Chị Lê thị Kim Thu, Đồng Nai

7. Anh Nguyễn Tiến Nam, Yên Bái

8. Anh Vũ Anh Sơn, Hải Phòng.

Ngày 28/06/2008, hai người đấu tranh dân chủ là Phạm Văn Trội và Ngô Quỳnh đã bị công an đến gây khó dễ và giả trang xã hội đen hành hung trọng thương tại Lạng Sơn khi đi thăm mẹ của một người đấu tranh Dân chủ.

Ngày 02/07/2008, ông Phạm Đức Chính cũng bị công an giả danh côn đồ hàng hung, gây thương tích tại Lạng Sơn.

Ngày 04/07/2008, cô Phạm Thanh Nghiên, một người đấu tranh Dân chủ ở Thành phố Hải Phòng cũng bị công an giả danh côn đồ hành hung giữa đường phố, sau đó cô bị quản thúc tại gia nhièu ngày bằng lệnh miệng của công an, không có một văn bản pháp luật nào.

Cùng với cô Phạm Thanh Nghiên, các công Vũ Cao Quận, Nguyễn Xuân Nghĩa cũng bị quản thúc tại gia bằng lệnh miệng, sau khi họ viết đơn xin biểu tình và bị nhà cầm quyền từ chối.

Ngày 12 tháng 2, 2009, Công an canh giữ nhà Mục su Nguyễn Công Chính thuộc tổ 10, phường Hoa lư, thành phố Plei ku, tĩnh Gia lai, đã hành hung, gây thương tích Mục sư Chính (ảnh đính kèm).

Đặc biệt, trong tháng 7, 2008, chúng tôi ghi nhận một loạt các hành vi xách nhiễu của nhà cầm quyền đối với những người bất đồng chính kiến như triệu tập hoặc mời đến các trụ sở công an để thẩm vấn và bị công an ngăn cản trái phép quyền tự do di lại.

Những sự việc liệt kê trên chỉ là những vụ vi phạm mới xảy ra. Trong lịch sử Việt Nam từ năm 1954 tại miền Bắc và từ năm 1975 trên toàn đất nước đến nay, còn có vô vàn những trường hợp khủng bố và nhân quyền bị chà đạp bằng nhiều mức độ và hình thức khác nhau .

Tình trạng vi phạm nhân quyên và khủng bố có hệ thống vừa kề là hậu qủa tất yếu của đảng CSVN tự coi mình là chủ nhân ông duy nhất, sở hữu tất cả mọi quyền hành tại Việt Nam. Độc quyền cai trị này được hiến định hoá bằng điều 4 trong Hiến Pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Đảng Cộng Sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-LêNin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội”. Dựa vào từ ngữ mơ hồ gọi là “lãnh đạo”, đảng này đã đứng ngoài và trên luật pháp, dùng bộ máy cai trị làm tay sai với nhiệm vụ duy nhất là bảo vệ quyền lực và quyền lợi cho các đảng và những người lãnh đạo đảng, không ngần ngại thi hành bất cứ thủ đoạn nào để đàn áp thô bạo những người không cùng chính kiến.

Chúng tôi nhận thấy cần phải lưu ý quý vị về tình trạng nghịch lý sau: Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện là nước thành viên cuả Liên Hiệp Quốc, là thành viên không thường trực cuả Hội Đòng Bảo An, theo thứ tự luân phiên hiện đang giữ vai trò chủ tịch Hội Đồng này, lại là một quốc gia trong đó nhà cầm quyền ngang nhiên xâm phạm nhân quyền và khủng bố một cách có hệ thống và thường trực, dày xéo lên Hiến chương Liên Hiệp Quốc và luật quốc tế về nhân quyền.

Hội Đồng Bảo An được ra đời sau đệ nhị thế chiến nhằm duy trì những quan hệ hòa bình giữa các quốc gia, bảo vệ an ninh cho thế giới. Muốn làm tròn sứ mạng này Hội Đồng Bảo An không thể dung dưỡng những hành vi xâm phạm nhân quyền, nhất là của một thành viên của mình như đã và đang xảy ra hàng ngày qua những sự việc: đàn áp tôn giáo, đàn áp những người bất đồng chính kiến, đàn áp dân oan đòi công bằng.

Nếu tình trạng này cứ tiếp diễn, một cuộc khủng hoảng chính trị rất có thể nổ ra tại Việt Nam bất cứ lúc nào và sẽ có hậu quả nặng nề, đe doạ hoà bình và ổn định trong vùng.

Với những sự kiện trên, chúng tôi, những công dân Việt Nam yêu chuộng dân chủ và khát khao nhân quyền nhưng lại là nạn nhân cô đơn và khốn cùng của chính sách đàn áp và khủng bố của nhà cầm quyền Hà Nội, khẩn thiết kêu gọi:

– Ngài Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc,

– Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc,

– Các quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc,

– Các tổ chức quốc tế,

hãy dùng ảnh hưởng của mình cấp thời can thiệp hầu chấm dứt ngay tình trạng mất nhân quyền, phản dân chủ, hiện đang diễn ra tại Việt Nam, chấm dứt tức khắc chính sách khủng bố có kế hoạch đối với đối với những người ôn hoà đấu tranh đòi các quyền dân chủ như chúng tôi.

Chúng tôi xin trân trọng cám ơn sự quan tâm của quý vị và sẵn sàng cung cấp thêm những chi tiết vi phạm nhân quyền tại Việt Nam nếu quý vị cần.

Trân trọng,

Danh sách ký tên:

1. Vũ Cao Quận: Cầu Tre, Ngô Quyền, Hải Phòng

2. Nguyễn Xuân Nghĩa: 828 Trường Chinh, Hải phòng

3. Phạm Thanh Nghiên: 17 Phương Lưu 2, Đông Hải, Hải An, Hải Phòng

4. Vi Đức Hồi: khu An Thịnh, Hữu Lũng, Lạng Sơn

5. Vũ Hùng: khu tập thể chi cục thú y, Hà Đông, Hà Tây

6. Phạm Văn Trội: Chương Dương, Thường Tín, Hà Tây

7. Lê Thị Kim Thu: tổ 3. khu phố 6. Vĩnh An, Đồng Nai

8. Nguyễn Tiến Nam: tổ 24, Yên Thịnh, Yên Bái.

9. Ngô Quỳnh, Xuân Cẩm, Hiệp Hòa, Bắc Giang

10. Mục sư Nguyễn Công Chính, tổ 10, phường Hoa Lư, Pleiku,Gia lai

Đồng thông báo:

– Các tổ chức nhân quyền quốc tế.


Mục sư Nguyễn Công Chính ngụ tại tổ 10, phường Hoa lư, thành phố Plei ku, tỉnh Gia lai bị Công an hành hung ngày 12 thang 7,2008.

Bản tiếng Anh:

July 26, 2008

To: Mr. Ban Ki-moon, Secretary-General of the United Nations

Representative Members of the Security Council of the United Nations

Dear Sirs/Mesdames,

We, Vietnamese residing in various regions of Vietnam, write this letter to draw your attention to the serious violations of human rights and calculated terrorism by the Vietnamese government vis a vis citizens or their families in their peaceful quest for human rights and democratic freedoms.

We respectfully list below the events within the last few months, in which we have been the victims:

On 29 April 2008, a number of people were arrested and brutalized, interrogated by the security police, because they participated in peaceful demonstrations against the invasion of the Vietnamese Paracel and Spratly Archipelagos by China. During their incarceration, their private properties, mainly means of communication, were confiscated.

The people arrested on 29 April 2008 were:

1. Mr. Nguyen Xuan Nghia, Hai Phong

2. Mr. Vi Duc Hoi, Lang Son

3. Mr. Vu Hung, Ha Tay

4. Mr. Ngo Quynh, Bac Giang

5. Mr. Nguyen Van Nhat, Bac Giang

6. Ms. Le Thi Kim Thu, Dong Nai

7. Mr. Nguyen Tien Nam, Yen Bai

8. Mr. Vu Anh Son, Hai Phong.

On 26 June 2008, two democracy activists — Pham Van Troi and Ngo Quynh — were harassed by police. The police, disguised as members of the underworld, assaulted them, causing bodily harm, while Mr. Troi and Mr. Quynh were in Lang Son to visit the mother of another democracy activist.

On 2 July 2008, Mr. Pham Duc Chinh was also assaulted with bodily harm by police disguised as members of the underworld in Lang Son.

On 4 July 2008 Ms Pham Thanh Nghien, a democracy activist in Hai Phong, was similarly assaulted. Afterwards, she was confined to house arrest, upon oral orders from police, without any written documentation.

Together with her were Mr. Vu Cao Quan and Mr. Nguyen Xuan Nghia. They were similarly put under house arrest, without any written orders, after they had submitted an application to organize a demonstration which was refused.

On 12 July 2008, police guarded the residence of Pastor Nguyen Cong Chinh, section 10, Hoa Lu sub-district, Pleiku City, Gia Lai province, and assaulted him, causing bodily harm (photograph attached).

Especially in July 2008, we noticed a series of official harassments vis a vis people with dissenting political views, such as requesting them to report to police stations for questioning and police restricting their freedom of movement.

The facts in the list are only recent violations. In our history from 1954 in the North and 1975 in the whole country, there are innumerable cases of state terrorism and violations of human rights under different forms.

Such violations of human rights are the result of the fact that the Communist Party of Vietnam regards itself as the sole owner of political power in Vietnam. This dictatorship has been enshrined through article 4 of the constitution:

“The Communist Party of Vietnam, the vanguard of the Vietnamese working class, loyal deputy of the interests of the working class, laboring people and the whole nation, followers of Marxism-Leninism and the thoughts of Ho Chi Minh, is the force leading the state and society.”

On the basis of this vague “leading force”, the party stands outside and above the law. It uses the mechanism of government as means to protect the power and interests of the party and its leaders, repressing all political dissent without quarters.

We draw you attention to the following contradiction:

The Socialist Republic of Vietnam is a member state of the United Nations, member of the Security Council, and is rostered to preside over this council. However, it is a nation whose political leaders are engaged in flagrant violations of human rights, systemic and sustained state terrorism, in violation of the content of the United Nations’ Charter and international conventions on human rights.

The Security Council was founded after the Second World War with a view to secure peace between nations and international security. It cannot tolerate among its membership those who violate human rights, especially one who does it on a daily basis such as: religious oppression, oppression of political dissent and of aggrieved citizens who demand justice.

If this trend is allowed to continue, there will be a political crisis in Vietnam with serious consequences threatening peace and stability in the region.

In these circumstances, we, Vietnamese citizens who are the victims of such repression and terrorism by the Hanoi regime earnestly call upon:

-The Secretary General of the UN

-The Security Council of the UN

-Member nations of the UN

-International organizations,

to exercise your influence and intervene to put a stop to the violations of human rights, absence of democracy, systematic and premeditated state terrorism against peaceful democracy activists.

We hereby express our deep gratitude and are ready to provide further details on such violations of human rights in Vietnam if you so request.

Yours respectfully,

Copy to: – International Human Rights Organizations

List of signatories:

1. Vũ Cao Quận: Cầu Tre, Ngô Quyền, Hải Phòng

2.. Pastor Nguyen Cong Chinh, to 10, phuong Hoa Lu,Pleiku, Gialai

3. Nguyễn Xuân Nghĩa: 828 Trường Chinh, Hải phòng

4. Phạm Thanh Nghiên: 17 Phương Lưu 2, Đông Hải, Hải An, Hải Phòng

5. Vi Đức Hồi: khu An Thịnh, Hữu Lũng, Lạng Sơn

6. Vũ Hùng: khu tập thể chi cục thú y, Hà Đông, Hà Tây

7. Phạm Văn Trội: Chương Dương, Thường Tín, Hà Tây

8. Lê Thị Kim Thu: tổ 3. khu phố 6. Vĩnh An, Đồng Nai

9. Nguyễn Tiến Nam: tổ 24, Yên Thịnh, Yên Bái.

10. Ngô Quỳnh, Xuân Cẩm, Hiệp Hòa, Bắc Giang

———————————————————————–

Giết Người Để Diệt Khẩu? Chồng Và Anh Rể Của Dân Oan Mai Thị Nở Bị Giết Chết Tại Đồng Nai!!!

PMU18: Ông Syhoang phản biện ông Vũ Hải Triều

Filed under: a1 audio, Chính trị, xã hội, Tham nhũng — tudo @ 12:59 am

Phản biện của ông Syhoang về đoạn 1 buổi nói chuyện xuyên tạc sự thật của tướng cs Vũ hải Triều
Download syhoang va VuHaiTrieu – PMU18: phản biện 1

Download syhoang va VuHaiTrieu – PMU18: phản biện 1 bis

——–
http://www.vietnamexodus.org/vne0508/modules.php?name=News&file=article&sid=418

Nội Bộ Cộng Sản Đấu Đá Nhau Vì Vụ PMU18

(Tựa do chúng tôi đặt – phần âm thanh trích đăng lại từ Blog của Tắc Kè)

 

 

Vào ngày 20 tháng 07, 2008 vừa qua, trung tướng cộng sản Vũ Hải Triều đã có một buổi nói chuyện về lý do tại sao lại bắt hai nhà báo liên quan đến việc loan tin vụ tham nhũng tại PMU18. Chúng tôi xin trích đăng lại phần ăm tranh của buổi nói chuyện này từ Blog Tắc Kè để quý bạn đọc tham khảo.

Đọan 1

 

 Tốc Độ 56K Modem

 Lấy Xuống Máy Nghe

 Xin bấm vào đây để nghe

 Xin bấm vào đây để lấy xuống máy nghe

Đọan 2

 

 Tốc Độ 56K Modem

 Lấy Xuống Máy Nghe

 Xin bấm vào đây để nghe

 Xin bấm vào đây để lấy xuống máy nghe

Đọan 3

 

 Tốc Độ 56K Modem

 Lấy Xuống Máy Nghe

 Xin bấm vào đây để nghe

 Xin bấm vào đây để lấy xuống máy nghe

Đọan 4

 

 Tốc Độ 56K Modem

 Lấy Xuống Máy Nghe

 Xin bấm vào đây để nghe

 Xin bấm vào đây để lấy xuống máy nghe

Đọan 5

 

 Tốc Độ 56K Modem

 Lấy Xuống Máy Nghe

 Xin bấm vào đây để nghe

 Xin bấm vào đây để lấy xuống máy nghe

Đọan 6

 

 Tốc Độ 56K Modem

 Lấy Xuống Máy Nghe

 Xin bấm vào đây để nghe

 Xin bấm vào đây để lấy xuống máy nghe

Đọan 7

 

 Tốc Độ 56K Modem

 Lấy Xuống Máy Nghe

 Xin bấm vào đây để nghe

 Xin bấm vào đây để lấy xuống máy nghe

Đọan 8

 

 Tốc Độ 56K Modem

 Lấy Xuống Máy Nghe

 Xin bấm vào đây để nghe

 Xin bấm vào đây để lấy xuống máy nghe

Đọan 9

 

 Tốc Độ 56K Modem

 Lấy Xuống Máy Nghe

 Xin bấm vào đây để nghe

 Xin bấm vào đây để lấy xuống máy nghe

Đọan 10

 

 Tốc Độ 56K Modem

 Lấy Xuống Máy Nghe

 Xin bấm vào đây để nghe

 Xin bấm vào đây để lấy xuống máy nghe

July 26, 2008

Trung Quốc Khuấy động – Thỏa thuận Dầu lửa Ngoài khơi

Filed under: Chính trị, xã hội, Hoàng Sa Trường Sa — tudo @ 9:30 pm

Bài của Peter Navarro
Ngày 23-7-2008
Permanent Link

Trong cuộc đụng độ nho nhỏ khác vào lúc này về quyền khai thác dầu lửa trên Biển Đông *, Trung Quốc đã khai hỏa bằng một cảnh báo cứng rắn ngáng ngang qua trước mũi con tàu của hãng ExxonMobil Corporation. Trung Quốc đang mếch lòng trước việc Exxon tìm cách ký kết một thỏa thuận khai thác dầu với PetroVietnam trên vùng biển bao quanh các chuỗi quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa đang có tranh chấp về chủ quyền.

Trung Quốc đã khuyên Exxon hãy rút khỏi thỏa thuận thăm dò dầu khí, coi dự án như là một hành động xâm phạm chủ quyền quốc gia của Trung Quốc, theo như tờ South China Morning Post cuối tuần qua cho hay qua việc trích dẫn những nguồn tin giấu tên gần gũi với hãng dầu lửa này của Hoa Kỳ.

Thông tin cho hay các nhà ngoại giao Trung Quốc tại Washington đã có những lời lẽ phản đối qua trao đổi trực tiếp với những thành viên hội đồng quản trị của ExxonMobil trong những tháng gần đây, và cảnh báo họ rằng các lợi ích kinh doanh trong tương lai của bản hãng tại đại lục có thể sẽ gặp rủi ro. Những phản ứng có liên quan tới một thỏa thuận hợp tác sơ bộ không đòi hỏi thời điểm ký kết.

Có nhiều đề tài trong cuộc tranh cãi mới nhất này, và phần nhiều được biết về sự phát triển chiến lược hải quân ngoài biển khơi của Trung Quốc. Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng của Hoa Kỳ, Biển Đông có trữ lượng dầu đã được xác định rõ là vào khoảng 7 tỉ barrel trong khi cơ quan Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ lại ước tính có thể vào khoảng 20 tỉ barrel đã được phát hiện. Về phần mình, Trung Quốc tuyên bố một cách lạc quan về trữ lượng chưa được phát hiện có thể lên đến đỉnh điểm 200 tỉ barrel. Số lượng mới nhất này là đủ để cung cấp cho Trung Quốc từ một đến hai triệu barrel dầu mỗi ngày, tức là bằng 25% lượng tiêu thụ hàng ngày gần 8 triệu barrel của nước này.

Phần lớn trữ lượng chưa được phát hiện được cho rằng đang nằm sâu dưới chuỗi quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đang tranh chấp. Quần đảo Hoàng Sa nằm trong khoảng cách gần như tương đương với cả Trung Quốc, Việt Nam và Philippines; và cả Trung Quốc và Việt Nam cũng như Đài Loan đều đưa ra tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo này. Tuy nhiên, sự tức giận của Hà Nội là việc Trung Quốc trên thực tế đã đưa quân tới trú đóng trên mặt đất của Hoàng Sa.

Năm 1974, Trung Quốc đã lợi dụng cuộc nội chiến đang diễn ra giữa Nam và Bắc Việt Nam để đánh chiếm một cứ điểm quân sự trên đảo Hoàng Sa do quân đội Nam Việt Nam chiếm đóng, và Trung Quốc đã giữ vị trí này cho tới nay, trước những phản ứng rất mạnh mẽ của chính quyền miền Nam Việt Nam.

Trong khi đó với Trường Sa, toàn bộ hoặc nhiều phần của quần đảo này đang thuộc quyền sở hữu của Trung Quốc và Việt Nam cũng như Brunei, Malaysia, Philippines, và Đài Loan. Tương tự, chúng bao gồm một lượng lớn các đảo nhỏ và dải đá ngầm và chứa đựng một trữ lượng dầu lửa chưa xác định được song có thể là rất lớn.

Được cho là có liên quan tới nguồn lợi dầu hỏa, quả là không ngạc nhiên khi Trung Quốc cũng đã tự buộc mình vào những xung đột quân sự với Việt Nam tại Trường Sa. Năm 1988, Việt Nam và Trung Quốc đã tham gia vào một trận hải chiến chớp nhoáng trên vùng quần đảo đang tranh cãi chủ quyền. Kết quả đã mang lại thêm cho Trung Quốc sáu trong tổng số chín hòn đảo và dải đá ngầm. Năm 1994, Các pháo hạm của Việt Nam đã dùng vũ lực đẩy một tàu nghiên cứu của Trung Quốc khỏi một khu vực tranh chấp.

Loạt đạn mới đây nhất của Trung Quốc nã vào Exxon theo sát gót một nỗ lực thành công đẩy một hãng dầu khí đa quốc gia của nước ngoài khác ra khỏi Trường Sa. Vào năm ngoái, một đe doạ tương tự của Trung Quốc đã buộc hãng BP (trước đây gọi là British Petroleum) phải tạm ngưng các kế hoạch hợp tác với Việt Nam trong một sự án khí gas tự nhiên trị giá 2 tỉ đô la.

Nỗ lực hăm doạ gần đây nhất của Trung Quốc chỉ có thể làm gia tăng những căng thẳng giữa hai nước vốn từ lâu vẫn nóng lòng nuôi dưỡng số quân thường trực rất hùng hậu. Quân đội Trung Quốc hiện đông nhất thế giới trong khi quân đội Việt Nam thì đông nhất Đông Nam Á.

Trong lúc các mối quan hệ kinh tế đã và đang nở hoa kết trái gần đây giữa Trung Quốc và Việt Nam, thì bối cảnh lịch sử và chính trị dài lâu lại là một mối oán cừu và ngờ vực lớn. Về điểm này, không bên nào quên về “Cuộc chiến tranh Việt Nam” khác nữa đã xảy ra. Năm 1979, Trung Quốc đã xâm lược Việt Nam bằng xe tăng và khoảng 90.000 quân để trả đũa những hành động ngả theo Liên Xô của Việt Nam ở Cambodia. Trong khoảng thời gian chưa tới 10 ngày giao tranh, khoảng 40.000 đến hơn 100.000 binh lính Trung Quốc và Việt Nam đã bị thương vong, tuỳ theo cách ước tính của mỗi bên. Số thương vong này có thể so kè được với toàn bộ số quân Mỹ chết trận trong hơn 10 năm cuộc chiến ở Việt Nam (khoảng 52.000).

Không chỉ với số quân đội hiện diện thường trực tham dự vào yếu tố địa lý chính trị ở đây. Như đã được ghi nhận, Trung Quốc đã xây dựng một chuỗi các căn cứ quân sự trong vùng Biển Đông, trong khi đó nước này cũng là quốc gia duy nhất đang tìm cách phát triển một lực lượng hải quân có khả năng hoạt động ở vùng nước sâu tạo nên thách thức đối với Hoa Kỳ. Mục tiêu to lớn của một lực lượng hải quân dưới lòng đại dương này là để che chở và bảo vệ Eo biển Malacca chống lại một lệnh cấm vận dầu lửa của Hoa Kỳ vào thời điểm nếu như xảy ra cuộc xung đột.

Trên thực tế, Eo biển Malacca rất chật hẹp nối Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương thường được lưu tâm tới như là một nút cổ chai trên biển. Nó có tầm quan trọng chiến lược tối cao bởi hầu hết lượng dầu thô nhập khẩu nuôi sống cỗ máy công nghiệp khổng lồ của Trung Quốc được vận chuyển ngang qua Eo biển này, và Trung Quốc từ lâu đã lo sợ một lệnh cấm vận của Hoa Kỳ được thực hiện bởi hạm đội Thái Bình Dương nếu như các mối quan hệ của Trung Quốc với Đài Loan trở nên xấu đi hay do một số vấn đề khác.

Trong bối cảnh tình hình năng lượng đang rất khác thường hiện nay, các căn cứ trên Biển Đông và sức mạnh trên biển đang ngày càng gia tăng của Trung Quốc cũng đáp ứng chương trình nghị sự chiến lược mang tính hiệp lực khác. Chúng không chỉ giúp bảo vệ một hải lộ quan trọng. Chúng còn cho phép thực hiện cuộc “bao vây” vùng quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa giàu nguồn năng lượng tiềm tàng – một thực tế cuộc sống mang tính thực dụng để khỏi mất vào tay Việt Nam và điều này đã được Nghị sĩ Hoa Kỳ Dana Rohrbacher cách đây khá lâu vào năm 1998 ghi nhận là có thể xảy.

Tất nhiên, tấn thảm kịch ở đây trước việc Trung Quốc liên tục ức hiếp và hăm doạ đang làm chậm trễ thêm việc triển khai thăm dò khai thác dầu khí, là công việc cần thiết khẩn cấp cho khu vực trong lúc các thị trường dầu lửa tiếp tục bị siết chặt. Hợp tác phát triển các nguồn dự trữ này sẽ thúc đẩy những cơ hội cho tất cả các quốc gia liên quan trong cuộc tranh chấp, đồng thời giảm sức ép bởi nguồn cung cấp trên thị trường dầu lửa thế giới.

Peter Navarro là một giáo sư về thương mại thuộc trường đại học University of California-Irvine, một cộng tác viên của đài truyền hình CNBC, và là tác giả của cuốn sách The Coming China Wars (Nhà xuất bản FT).

Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

* Nguyên văn:
“Biển Nam Trung Hoa”.
Ở đây có vấn đề tranh chấp từ biển đảo cho tới tên gọi. Cái tên Biển Đông là của Việt Nam. “Biển Nam Trung Hoa” là do Trung Quốc đặt. Báo chí nước ngoài viết thường dùng tên do Trung Quốc đặt, còn trong bài dịch ra tiếng Việt, xin được gọi theo tên do người Việt đặt (Trần Hoàng-Ba Sàm chú thích).

ASIA TIMES

China stirs over offshore oil pact
By Peter Navarro

Jul 23, 2008

In yet another skirmish over oil rights in the South China Sea, China has fired a stern warning shot across the bow of ExxonMobil Corporation. China is miffed that Exxon is seeking to enter into a deal with PetroVietnam to explore for oil in waters surrounding the disputed Spratly and Paracel island chains.

China has warned Exxon to pull out of the exploration deal, describing the project as a breach of Chinese sovereignty, according to the South China Morning Post at the weekend, citing unnamed sources close to the US company.

Chinese diplomats in Washington had made verbal protests to ExxonMobil executives in recent months, and warned them the company’s future business interests on the mainland could be at risk, the report said. The protests involved a preliminary cooperation agreement, it said, without indicating when it was signed.

There is much at stake in this latest dispute, and much to be learned about China’s growing blue water navy strategy. According to the US Energy Information Agency, the South China Sea has proven oil reserves of around 7 billion barrels while the US Geological Survey has estimated there may be another 20 billion barrels to be discovered. For its part, China optimistically claims the undiscovered reserves could top 200 billion barrels. This latter amount would be enough to provide China with one to two million barrels of oil a day, or as much as 25% of its current daily consumption of close to 8 million barrels.

Much of the undiscovered reserves are believed to be beneath the disputed Paracel and Spratly island chains. The Paracels are roughly equidistant from China, Vietnam and the Philippines; and both China and Vietnam as well as Taiwan lay claim to the islands. However, to Hanoi’s outrage, it is China that actually commands the Paracel turf.

In 1974, China took advantage of the ongoing civil war between South and North Vietnam to overrun a garrison on the Paracels manned by South Vietnamese troops, and China has held this position to this day, over the strenuous protests of the Vietnamese government.

As for the Spratlys, all or portions are laid claim to by China and Vietnam as well as Brunei, Malaysia, the Philippines, and Taiwan. They similarly consist of a large number of small islands and reefs and contain an undetermined but possibly vast amount of reserves.

Given the high energy stakes involved, it is hardly surprising that China has also engaged in military clashes with Vietnam over the Spratlys. In 1988, Vietnam and China fought a brief naval battle over the contested islands. This left China in control of six more islands and reefs for a total of nine. In 1994, Vietnamese gunboats forced a Chinese research vessel from a disputed area.

China’s latest salvo against Exxon follows on the heels of a successful effort to push another foreign multinational oil company out of the Spratlys. Last year, a similar threat by China forced BP (formerly British Petroleum) to halt plans to cooperate with Vietnam on a US$2 billion natural gas project.

China’s latest effort at intimidation can only escalate tensions between two countries that have longed maintained very large standing armies. China’s army is the largest in the world while Vietnam’s is the largest in Southeast Asia.

While economic relations have been blossoming of late between China and Vietnam, the longer term historical and political context is one of great enmity and mistrust. In this regard, neither side has forgotten that other “Vietnam War”. In 1979, China invaded Vietnam with tanks and about 90,000 troops in retaliation for Vietnam’s pro-Soviet actions in Cambodia. In the space of fewer than 10 days of fighting, anywhere from 40,000 to more than 100,000 Chinese and Vietnamese troops were killed or wounded, depending on the estimates. These figures rival the entire number of American soldiers killed in battle during its more than 10-year war in Vietnam (about 52,000).

It’s not just standing armies that enter into the geopolitical equation here. As noted, China has built a string of military bases in the South China Seas while the country is the only nation seeking to develop a deep water navy capability to challenge the United States is China. A major goal of such a deep water navy would be to protect and defend the Strait of Malacca against a US oil embargo in time of conflict.

In fact, the very narrow Strait of Malacca connecting the Pacific and Indian oceans is generally regarded as a maritime chokepoint. It is of supreme strategic significance because most of the imported crude oil that fuels China’s mighty industrial machine passes through this Strait, and China has long feared a US embargo by America’s Pacific fleet should relations sour over Taiwan or some other issue.

In the particular energy context, China’s South China Sea bases and growing sea power also serve another synergistic strategic agenda. They not only help protect an important sea route. They allow for the “encirclement” of the potentially energy-rich Spratlys and Paracels – a realpolitik fact of life that has not been lost on Vietnam and a possibility noted as far back as 1998 by US Congressman Dana Rohrbacher.

Of course, the tragedy here is that continued China bullying and blustering is further delaying the development of oil and gas reserves that will be urgently needed by the region as oil markets continue to tighten. Cooperative development of these reserves would boost the fortunes of all of the countries involved in the dispute while reducing pressures on the supply side of the world oil market.

Peter Navarro is a business professor at the University of California-Irvine, a CNBC contributor, and author of The Coming China Wars (FT Press). www.peternavarro.com

July 21, 2008

Chế Độ Tàn Ác CSVN ; Công An Hải Phòng Vừa Mới Bắn Vào Dân Chỉ Vì Không Đội Mũ Bảo Hiểm

Filed under: a1 Video, Chính trị, xã hội, Việt Nam — tudo @ 5:23 pm

(Hải Phòng) Vào tối ngày 19 tháng 9 , một thanh niên trong lúc chạy xe ngang Nhà Hát lớn thuộc thành phố Hải Phòng. Công An Hải Phòng thuộc đội CSGT đã thổi còi chận người thanh niên nầy lại . Khi người thanh niên đã chạy chậm lại để dừng xe thì một Công An đã móc súng và bắn thẳng vào người thanh niên nầy trước mặt đám đông.

Người thanh niên may mắn là không tử vong nhưng trên người đã trúng nhiều phát đạn và máu chảy nhiều . Báo chí CSVN sau khi đưa tin nầy lên đã bị Bộ Văn Hóa Thông Tin ra chỉ thị lấy xuống ngay để che đậy sự tàn ác của đảng CSVN tuy nhiên hình ảnh nầy đã được một thanh niên dùng điện thoại quay lại và đưa lên Youtube kịp thời . Nhiều người dân có mặt tại hiện trường đã tỏ ra bất bình và phản đối sự tàn ác của tập đoàn CSVN.

Mời bạn đọc cùng xem một đoạn hình ảnh ghê rợn nói lên tội ác của đảng CSVN luôn coi người dân như cỏ rác .

http://www.vietland.net/main/showthread.php?s=5b019acfe8b96ea3f4045f90c21bc947&t=1357

– Công an “nhân dân” đàn áp nhân dân tại Q. Tân Bình, Saigon, 7/2008:

– “Tell Me Why” Victims of Injustice in Communist Vietnam

July 19, 2008

Phê duyệt hành lang kinh tế Lạng Sơn-Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh

Thứ ba, 15/07/2008

Hành lang kinh tế này nằm trong vành đai kinh tế 2 nước Việt Trung- là đầu mối đi châu Âu và Asean.

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định phê duyệt Quy hoạch phát triển Hành lang kinh tế Lạng Sơn-Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh đến năm 2020.

Quy hoạch dựa trên quan điểm hợp tác phát triển “Hai hành lang, một vành đai kinh tế” Việt Nam-Trung Quốc và tính tới phát triển toàn tuyến đi châu Âu và các nước ASEAN.

Mục tiêu của quy hoạch là đưa mức tăng trưởng GDP toàn tuyến lên gấp 1,2-1,4 lần mức trung bình cả nước. Nâng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu qua hành lang kinh tế này đạt bình quân hơn 20%/ năm, đạt khoảng 2 tỷ USD vào năm 2010; 4,5-5 tỷ USD vào năm 2015 và trên 10 tỷ USD vào năm 2020.

Hành lang kinh tế sẽ có 3 cặp cửa khẩu quốc tế, 4 cặp cửa khẩu chính và 13 cặp chợ biên giới; xây dựng Khu hợp tác kinh tế biên giới Đồng Đăng-Bằng Tường và một số trung tâm thương mại, du lịch trên tuyến hành lang và khu kho vận tại Bắc Giang. Sau năm 2015, hợp tác hành lang kinh tế sẽ được triển khai toàn diện.

Mục tiêu xây dựng Hà Nội thành TP quốc tế, là trung tâm kinh tế lớn của tuyến Hành lang kinh tế Nam Ninh-Lạng Sơn-Hà Nội-Hải Phòng. Tuyến cao tốc Hà Nội-Hữu Nghị Quan (Lạng Sơn) 6 làn xe sẽ được xây dựng với tổng vốn đầu tư dự kiến 1,4 tỷ USD.

tuyến cao tốc Hà Nội- Hải Phòng, kéo dài đến cảng Lạch Huyện (Hải Phòng) gồm 6 làn xe, dự kiến khởi công năm 2008, hoàn thành vào năm 2010 vơi tổng vốn 19.000 tỷ đồng.

Đồng thời Việt Nam sẽ hợp tác với Trung Quốc trong việc xây dựng tuyến đường sắt liên vận quốc tế có lợi cho hành lang kinh tế. Cảng Phả Lại sẽ được đầu tư xây dựng thành cảng đầu mối quan trọng trong tuyến đường thủy của hành lang.

Hai nước cũng sẽ thực hiện thí điểm mô hình thông quan “kiểm tra một lần” tại cửa khẩu Hữu Nghị.

Theo TTXVN
http://tintuc.timnhanh.com/kinh_te/20080715/35A7DCF2/
********************************************************************************

**********************************************
ý kiến:
– Chính sách ” tằm ăn dâu ” thôn tính VN của TQ là RÕ RÀNG, không thay đổi !!!
– Thời chiến tranh, TQ dùng chiêu bài “giúp đỡ, làm đường xe lửa, chuyển súng đạn cho dễ” để di dân lấn đất vùng biên giới phía bắc, Hoàng Trường sa ! Hiện nay, VN ĐÃ mất HS TS, và đất đai phía bắc cho TC.
– Thời “hòa bình”, TQ dùng chiêu bài ” phát triển kinh tế” !!
– Nanning vẫn có thể dùng làm nơi chuyển hàng sang Asean và EU, tại sao lại phải lấn sang VN ???
– CSVN là người TQ, TQ cài vào BCT !!? Csvn thực thi chính sách bành trướng của TQ !!?

July 13, 2008

Thư ngỏ : “Liên Minh các lực lượng đấu tranh vì Tự Do Dân Chủ cho Việt Nam”.

Filed under: Chính trị, xã hội, Tự do Dân chủ, Công lý — tudo @ 12:35 am

Thư ngỏ : Kêu gọi cùng nhau thảo luận về việc thành lập 

“Liên Minh các lực lượng đấu tranh vì Tự Do Dân Chủ cho Việt Nam”.

&&&& 

Kính thưa tất cả quí vị đang ưu tư đến vận mệnh đất nước, quí vị lảnh đạo tinh thần các Tôn Giáo, quí vị đại diện các Cộng Đồng, quí vị đại diện các tổ chức Chính trị cùng các vị nhân sĩ trong và ngoài nước. 

Kính thưa quí vị 

Kể từ sau biến cố đau thương 30/04/1975, chúng ta đã liên tục đấu tranh 33 năm miệt mài, khởi đi từ những tấm lòng tự phát của vài cá nhân, của vài nhóm nhỏ, nay chúng ta đã có đưọc nhiều Cộng Đồng vững mạnh trãi dài trên khắp năm châu, nhiều tổ chức Chính trị vững chắc qui động được nhiều nhân tài, với sự đóng góp của biết bao nhiêu công sức, tài lực, kể cả những sinh mạng của những người đã nằm xuống vì đại cuộc đấu tranh giành lại Tự Do Dân Chủ cho cả nước. 

Hiện nay cuộc đấu tranh cho Tự Do Dân Chủ của chúng ta không còn được coi là nhiệm vụ riêng của một vài tổ chức hay của một vài nhân sĩ, hay của những người lính trong QLVNCH, mà cuộc đấu tranh này đã lan rộng trên ba miền đất nước và trãi dài trên khắp năm châu, với sự tham dự càng lúc càng đông của mọi tầng lớp khác nhau trong xã hội, không phân biệt quá khứ, tuổi tác. 

Chiến tranh sẽ kết thúc bằng sự thắng bại quân sự trên chiến trường giữa hai phe đối nghịch, trong khi đấu tranh không dựa vào sức mạnh của vũ khí, đấu tranh dựa vào sức mạnh tất thắng của chính nghĩa và sự nhận thức chính nghĩa của quần chúng. Phe nào có chính nghĩa sẽ được lòng dân và sẽ chiến thắng.

Cuộc đấu tranh của chúng ta hay nói khác đi là của dân tộc Việt Nam ngày nay hoàn toàn có Chính Nghĩa, vì đây là khát vọng Tự Do của toàn dân Việt Nam sau gần một phần ba thế kỷ rên xiết trong bộ máy độc tài toàn trị của đãng CSVN, kẻ đã áp đặt thuyết Mác-Lê lên đầu dân tộc VN, một chủ nghĩa tội ác của nhân loại. Tự Do là bản năng tự nhiên của Thượng Đế ban cho, mọi người sinh ra đều phải được bình đẳng và tự do, không ai có quyền cướp đoạt lấy nó.   

Từ bấy lâu nay, mọi người chúng ta đều mặc nhiên công nhận : Cuộc đấu tranh của chúng ta là cuộc đấu tranh bất bạo động, lấy Tự Do Dân Chủ làm Chính Nghĩa, lấy sức mạnh Dân tộc làm căn bản, vận động sự hổ trợ của thế giới làm đòn bẩy, dùng truyền thông làm vũ khí vận động toàn dân đứng lên làm cuộc Cách Mạng lịch sử, mà internet đã đóng góp hữu hiệu trong gần một thập niên qua. 

Chúng ta có chính nghĩa, chúng ta đã đi đúng đường, tuy nhiên chúng ta cũng phải bình tâm nhìn thẳng vào thực trạng ở quốc nội và hải ngoại để tìm ra một giãi pháp hữu hiệu, rút ngắn ngày quang phục lại quê hương. 

Thống kê cho thấy 80% dân số VN ngày nay đều sinh sau 1975, thành phần này không hiểu chính xác lịch sử về cuộc chiến chống Thực Dân Pháp và cuộc chiến bảo vệ Tự Do (1954 – 1975), mơ hồ về khái niệm Tự Do Dân Chủ, bởi họ lớn lên trong sự nhồi nhét giáo điều, bị bưng bít sự thật do bộ máy tuyên truyền xuyên tạc của chế độ độc tài CSVN. Tuy nhiên bằng sự cai trị ngu dốt hà khắc, bóp nghẹt tự do, cán bộ tham nhũng thối nát, phản bội tiền nhân, dâng đất nhượng biển cho bọn ngoại bang Trung Cộng, đã làm lòng dân oán hận ngút trời. Nhiều bậc sĩ phu đã đứng lên đấu tranh đều bị đàn áp và giam nhốt.

Trong khi ở hải ngoại, sau nhiều thập niên định cư hội nhập trên đất khách, người Việt hải ngoại đã thành công trên nhiều lảnh vực khoa học kỹ thuật, nhưng vẫn không bỏ quên nhiệm vụ giữ gìn và phát huy văn hóa dân tộc. Thế hệ trẻ ở hải ngoại thừa hưởng được nền giáo dục tự do và nền gíáo dục mang bản sắc dân tộc từ gia đình và Cộng Đồng, họ đã tham gia vào nhiều tổ chức chính trị và các sinh hoạt Cộng Đồng. Điển hình là trong các cuộc biểu tình đòi tự do dân chủ, trên 60% là thành phần tuổi trẻ tham gia. 

Một điều mà chúng ta phải công nhận là các tổ chức Chính Trị và các Cộng Đồng dân sự từ trong nước ra hải ngoại, vẫn chưa có một sự kết họp đồng loạt và chặt chẻ trong các kế hoạch đấu tranh. Việc này đã làm cho một số người vội vả kết luận : người Việt chúng ta thiếu đoàn kết !. Nhưng đa số thì nhận định : chúng ta có đoàn kết nhưng chúng ta thiếu tổ chức. 

Do đó, chúng tôi những người ký tên dưới đây, đến từ các nơi trên thế giới, từ trong nước ra hải ngoại ước mong được lắng nghe ý kiến của tất cả quí vị lảnh đạo tinh thần các Tôn Giáo, quí vị lảnh đạo các tổ chức Chính trị, quí vị đại diện các Cộng Đồng, quí vị trí thức nhân sĩ quốc nội cũng như hải ngoại, bàn về việc thành lập « Liên Minh các lực lượng đấu tranh vì Tự Do Dân Chủ cho Việt Nam ». Các buổi thảo luận sẽ được lần lượt tổ chức tại  Diễn đàn Paltalk: TiengNoi TuDo cua NguoiDan VietNam.

Cần lưu ý : 

         Liên Minh các lực lượng đấu tranh không có nhu cầu thay thế vai trò đãng phái (đãng phái vẫn độc lập trong việc phát triễn nhân sự và kế hoạch).

         Liên minh không phải là một chính phủ lâm thời, mà là tập họp những người có khả năng và tâm huyết đến từ các tổ chức, các Cộng Đồng, các nhân sĩ : nghiên cứu kế hoạch vận động quốc tế, vận động phương tiện truyền thông về trong nước (radio 24/24 hay tổ chức các buổi trao đổi ý kiến của người dân trong nước và hải ngoại).

         Liên minh phải được coi như nơi qui động các lực lượng đấu tranh của toàn dân, để đối đầu với đãng CSVN, một nhóm người thiểu số đang cai trị bằng một chính sách độc tài.

 

Kính xin quí Ông Bà Anh Chị vào link dưới đây, đóng góp ý kiến cho những bước đầu kêu gọi thành lập Liên Minh các lực lượng đấu tranh cho Tự Do Dân Chủ. Mọi ý kiến ghi nhận đều được lưu trữ làm tài liệu, xin quí Ông Bà Anh Chị đóng góp một cách chân tình và nghiêm túc.   

 

Thay mặt tất cả quí vị thân hữu trên khắp thế giới thường xuyên tham gia sinh hoạt trên diễn đàn 

Paltalk: TiengNoi TuDo cua NguoiDan VietNam

Ban Điều Hành 

 

*** Xin Quí Vị vào đây: Góp ý kiến

***  

 

Vài đề nghị : Góp ý là thể hiện tính Dân Chủ, hãy sử dụng quyền Dân Chủ của mình 

1) Ý kiến tán đồng hoặc không tán đồng, tại sao ? 

2) Những trở ngại nào có thể xảy ra ? xin góp ý để tìm hiểu và kiện toàn 

3) Quí vị nào mà chúng ta thấy có thể mời đến diễn đàn thảo luận được ? tên gì ? ở quốc gia nào ? người đó là ai ? (xin quí anh chị không cần cho số phone hay địa chỉ)

4) Mục góp ý này cũng được coi là nơi để liên lạc : quí vị muốn liên lạc có thể vào đây Góp ý kiến

Các giai đoạn tiến đến việc thành lập “Liên Minh các lực lượng đấu tranh vì Tư Do Dân Chủ cho VN” như thế nào ? 

1) Thu nhận ý kiến, đề nghị từ các nơi về việc kêu gọi thành lập “Liên Minh các lực lượng đấu tranh vì Tư Do Dân Chủ cho VN”

2) Chúng ta sẽ thành lập danh sách quí vị lảnh đạo tinh thần các Tôn Giáo, quí vị đại diện các Cộng Đồng, quí vị đại diện các tổ chức Chính trị cùng các vị nhân sĩ trong và ngoài nước.

3) Lên chương trình thảo luận và thảo luận đề tài nào ? 

4) Soạn lá thư mời từng đợt quí vị lảnh đạo tinh thần các Tôn Giáo, quí vị đại diện các Cộng Đồng, quí vị đại diện các tổ chức Chính trị cùng các vị nhân sĩ trong và ngoài nước, đến Diễn dàn Paltalk: TiengNoi TuDo cua NguoiDan VietNam để thảo luận.

.

5) Sau các buổi thảo luận : đề nghị bầu chọn Ban Chấp Hành tạm thời, để tổ chức ĐẠI HỘI TOÀN THẾ GIỚI. 

6) ĐẠI HỘI TOÀN THẾ GIỚI sẽ bầu Ban Chấp Hành thực thụ, soạn điều lệ, hình thành các ban ngành (vài thí dụ : Ban Quốc tế vận, Ban Dân vận, Ban truyền thông v.v.)

7) “Liên Minh các lực lượng đấu tranh vì Tư Do Dân Chủ cho VN” bắt đầu hoạt động.     

 — 

NB: Cần phổ biến

– Đề nghị quí anh chị cố gắng phổ biến lời kêu gọi này đi các websites hoặc gởi qua các BLOGS hay các Groups (Yahoo, MSN v.v.v)

Hướng dẫn vào Paltalk :  http://lthvsg.neuf.fr/chidanpaltalk.htm ( coi chỉ dẫn ở mục số 2 )

– Download Paltalk : www.paltalk.com

July 12, 2008

“Tinh thần” vô cảm

Filed under: Chính trị, xã hội, Đạo lý — tudo @ 11:57 pm

Nguyễn Xuân Nghĩa

Ngày nay không một quốc gia văn minh nào trên thế giới này vô cảm với sinh mạng và các quyền lợi hợp pháp của công dân nước mình.

Các nước Mỹ, Anh, Pháp, Nhật… cho đến ngày nay vẫn tiếp tục tìm kiếm tin tức và hài cốt những công dân của họ, dù đã từ thế chiến thứ hai, hoặc chiến tranh Việt Nam.
Bằng mọi cách họ phải giải cứu các con tin là công dân nước họ bị bọn khủng bố bắt cóc ở nước ngoài, có thể phải bỏ ra hàng chục triệu USD tiền chuộc.

Chính họ cũng đang kêu gọi chính phủ nước khác tha án tử hình cho công dân của mình, dù công dân này có nguồn gốc từ cộng đồng nhập cư trong đó có cộng đồng ngừời Việt, khi công dân này phạm trọng tội tại nước ngoài.

Chính phủ và người Việt Nam ta thì sao?

Không biết từ bao giờ chính phủ và người Việt Nam chúng ta đã làm quen với thói vô cảm.

Việc Chính phủ, giới truyền thông và người dân trong nước phản ứng lấy lệ khi tàu chiến Trung Quốc bắn chết và bắn bị thương 9 ngư dân Việt Nam người Thanh Hóa vào năm 2005, khi đang đánh cá trên vùng biển chúng ta có nói lên rằng chúng ta đang vô cảm với chính người dân của chúng ta hay không?

Và mới đây nhất, tối ngày 29/6/2008 hai công dân Trung Quốc đánh đập đến chết một kỹ sư Việt Nam, ngay trên đất thủ đô của Việt Nam mà không có sự can thiệp (hoặc có nhưng quá muộn) có nói lên điều này không?

Sự kiện đau lòng này bắt buộc chính phủ nếu có lương tâm, trách nhiệm với công dân cũng như tất cả các công dân còn lương tri phải suy nghĩ.

Đây không phải là một nhát dao hoặc viên đạn trúng vào huyệt sinh tử để nạn nhân tử vong cấp tính, đến nỗi những người chứng kiến không kịp can thiệp.

Mà đây là một vụ hành hung, theo mô tả của truyền thông, từ các hành vi đấm đá đến cầm chân nạn nhân dốc ngược, đập đầu xuống đất cho đến tử vong ít nhất cũng kéo dài trên dưới 30 phút.

Giữa một đường phố đông đúc ở thu đô Hà Nội và giữa nạn nhân là người Việt và kẻ giết người là người Trung Quốc ( đang trong giai đoạn nhạy cảm) vậy những người đi đường, chứng kiến và đều là người Việt Nam ở đâu, sao không can thiệp?

Chúng ta đã là một cộng đồng vô cảm, vô cảm đối với cả người ruột thịt của mình.
Rất nhiều nhà nghiên cứu, nhiều tác giả đã phê phán “tinh thần” vô cảm của người Việt Nam chúng ta.

Xuất phát điểm của người dân chúng ta không phải là vô cảm. Cha ông ta đã để lại những câu ca: “ Bầu ơi thương lấy bí cùng/ tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”
Vậy; “tinh thần” vô cảm này xuất hiện từ bao giờ?.

“Tinh thần” vô cảm của cộng đồng chúng ta có quan hệ gì đến một xã hội yếu kém tạo ra do một chính quyền yếu kém hay không?

Ai trả lời câu hỏi này?

Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa

Older Posts »

Create a free website or blog at WordPress.com.