Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

September 3, 2008

Video: Cộng Sản Vu Khống Giáo Sứ Thái Hà

Video: Truyền Thông Cộng Sản Xuyên Tạc Giáo Xứ Thái Hà!!!!

Truyền Thông cs thi nhau lập công dâng đảng … Lương tâm không bằng lương tháng !

Xin mời quý bạn đọc vào trang trong để xem video đài truyền hình cộng sản Việt Nam xuyên tạc tin tức về giáo xứ Thái Hà, và những video ghi nhận về sự kiện lập biên bản người xịt hơi cay tại giáo xứ Thái Hà.

Đài truyền hình cộng sản đua tin xuyên tạc giáo xứ Thái Hà

Lập biên bản với công an vụ xịt hơi cay



Nhóm thanh niên quấy rối

Phản ứng của người bị xịt hơi cay:

Sự Suy Đồi Lương Tâm, Đạo Đức Xã Hội

CL Tu do Video: Cộng Sản Vu Khống Giáo Sứ Thái Hà

July 12, 2008

“Tinh thần” vô cảm

Filed under: Chính trị, xã hội, Đạo lý — tudo @ 11:57 pm

Nguyễn Xuân Nghĩa

Ngày nay không một quốc gia văn minh nào trên thế giới này vô cảm với sinh mạng và các quyền lợi hợp pháp của công dân nước mình.

Các nước Mỹ, Anh, Pháp, Nhật… cho đến ngày nay vẫn tiếp tục tìm kiếm tin tức và hài cốt những công dân của họ, dù đã từ thế chiến thứ hai, hoặc chiến tranh Việt Nam.
Bằng mọi cách họ phải giải cứu các con tin là công dân nước họ bị bọn khủng bố bắt cóc ở nước ngoài, có thể phải bỏ ra hàng chục triệu USD tiền chuộc.

Chính họ cũng đang kêu gọi chính phủ nước khác tha án tử hình cho công dân của mình, dù công dân này có nguồn gốc từ cộng đồng nhập cư trong đó có cộng đồng ngừời Việt, khi công dân này phạm trọng tội tại nước ngoài.

Chính phủ và người Việt Nam ta thì sao?

Không biết từ bao giờ chính phủ và người Việt Nam chúng ta đã làm quen với thói vô cảm.

Việc Chính phủ, giới truyền thông và người dân trong nước phản ứng lấy lệ khi tàu chiến Trung Quốc bắn chết và bắn bị thương 9 ngư dân Việt Nam người Thanh Hóa vào năm 2005, khi đang đánh cá trên vùng biển chúng ta có nói lên rằng chúng ta đang vô cảm với chính người dân của chúng ta hay không?

Và mới đây nhất, tối ngày 29/6/2008 hai công dân Trung Quốc đánh đập đến chết một kỹ sư Việt Nam, ngay trên đất thủ đô của Việt Nam mà không có sự can thiệp (hoặc có nhưng quá muộn) có nói lên điều này không?

Sự kiện đau lòng này bắt buộc chính phủ nếu có lương tâm, trách nhiệm với công dân cũng như tất cả các công dân còn lương tri phải suy nghĩ.

Đây không phải là một nhát dao hoặc viên đạn trúng vào huyệt sinh tử để nạn nhân tử vong cấp tính, đến nỗi những người chứng kiến không kịp can thiệp.

Mà đây là một vụ hành hung, theo mô tả của truyền thông, từ các hành vi đấm đá đến cầm chân nạn nhân dốc ngược, đập đầu xuống đất cho đến tử vong ít nhất cũng kéo dài trên dưới 30 phút.

Giữa một đường phố đông đúc ở thu đô Hà Nội và giữa nạn nhân là người Việt và kẻ giết người là người Trung Quốc ( đang trong giai đoạn nhạy cảm) vậy những người đi đường, chứng kiến và đều là người Việt Nam ở đâu, sao không can thiệp?

Chúng ta đã là một cộng đồng vô cảm, vô cảm đối với cả người ruột thịt của mình.
Rất nhiều nhà nghiên cứu, nhiều tác giả đã phê phán “tinh thần” vô cảm của người Việt Nam chúng ta.

Xuất phát điểm của người dân chúng ta không phải là vô cảm. Cha ông ta đã để lại những câu ca: “ Bầu ơi thương lấy bí cùng/ tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”
Vậy; “tinh thần” vô cảm này xuất hiện từ bao giờ?.

“Tinh thần” vô cảm của cộng đồng chúng ta có quan hệ gì đến một xã hội yếu kém tạo ra do một chính quyền yếu kém hay không?

Ai trả lời câu hỏi này?

Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa

May 19, 2008

Thời đại luân thường đảo lộn: Đầy tớ trấn áp chủ nhân tại thôn My Điền, Bắc Giang

Về cuộc đàn áp công nhân đình công đòi tăng lương ở Công ty bao bì Hoa Hạ và cuộc trấn áp tàn bạo nông dân ở thôn My Điền, xã Hoàng Ninh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang ngày 08/5/2008.

 

Khoảng 10 giờ 30 trưa ngày 08/5/2008 tại khu công nghiệp Đình Trám – huyện Việt Yên – tỉnh Bắc Giang nằm bên tay trái đường cao tốc Hà Nội – Bắc Ninh, Bắc Giang – Lạng Sơn cách Hà Nội khoảng 45 km đã nổ ra một cuộc đình công lớn. Công nhân của Công ty sản xuất Bao bì Hoa Hạ chủ là người Trung Quốc quản lý và làm giám đốc, do lương thấp rẻ mạt trong khi giá cả leo thang do đồng tiền bị lạm phát chóng mặt, làm đời sống người công nhân đã bấp bênh lại thêm lao đao khốn đốn. Cụ thể đồng lương tối thiểu của người làm thuê ở công ty này chỉ khoảng từ 500 000 đồng VN – đến  700.000 đồng VN ( trị giá khoảng từ 31 USD đến 44 USD/tháng ).Thế nên công nhân làm việc trong Công ty đã yêu cầu chủ người Trung Quốc phải xem xét lại mức lương cho họ để đảm bảo cuộc sống tồn tại tối thiểu nhất trong thời buổi vật giá leo thang như hiện nay. Ban Giám đốc Công ty Hoa Hạ đã tiếp công nhân bằng những lời lẽ không hề nhã nhặn, ôn tồn kèm theo vũ lực rất thô bạo. Một nữ công nhân 20 tuổi đang mang thai bị chủ người Trung Quốc cầm thanh sắt dài hơn  1 mét thục vào cằm. Lúc này đã có 4 công an Việt Nam đứng ngay bên cạnh chứng kiến sự việc, nhưng vẫn để chủ người Trung Quốc đánh công dân Việt Nam của mình, nên mọi người càng bất bình và phẫn nộ. Điêù đáng nói là đa số công nhân của công ty là người địa phương tại đây, nên người dân thôn My Điền – xã Hoàng Ninh, huyện Việt Yên – tỉnh Bắc Giang đã kéo ra khu trụ sở Công ty để phản đối hành động đánh đập công nhân Việt Nam của chủ người Trung Quốc.

Đám đông dân chúng trong thôn và các làng bên cạnh kéo đến càng ngày càng đông để lên án bọn chủ người Tàu đánh đập thô bạo công dân Việt Nam. Trước tình hình đó công an huyện Việt Yên và công an tỉnh Bắc Giang được huy động về hàng trăm người nhưng không hề bảo vệ người dân Việt Nam trái lại họ đã vào hùa với giới chủ Trung Quốc và chỉ thấy đánh đập là chính dân thôn My Điền và dân các làng khác cùng tham gia đấu tranh đòi bọn chủ người Trung Quốc phải bồi thường và xin lỗi đã đánh đập tàn nhẫn dân Việt Nam.

 

Bà Đỗ Thị Nghiên – 66 tuổi có con dâu làm ở công ty Hoa Hạ, thấy con bị bắt lên trại giam thị trấn Kế của tỉnh Bắc Giang đã đến Công ty để đòi thả người thì thấy rất nhiều công an huyện và tỉnh Bắc Giang đánh dân tới tấp không tiếc tay.

Có 1 cháu bé đi chăn bò, tên là Vũ bị công an bắt, bà cháu thấy thế đến cứu cháu thì bị công an đánh đập rất đau, không đi được con cháu phải đưa dùm về….

Có khoảng từ 35 đến 60 người công nhân của công ty Bao bì Hoa Hạ và người dân của làng My Điền, xã Hoàng Ninh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang hiện nay đang bị bắt giam tại trại tạm giam thị trấn Kế khét tiếng.

Trước sự đình công của công nhân Công ty Bao bì Hoa Hạ bị đàn áp, khủng bố đời sống thấp kém, bà con dân làng My Điền là những người đã nhượng đất để làm khu công nghiệp đã đứng lên đòi công bằng, lẽ phải. Nông dân bị mất đất, việc làm ít, lương ăn không đảm bảo, đời sống bấp bênh, các công ty được tỉnh cấp đất ruộng của dân thì không đảm bảo cuộc sống nâng lên cho nông dân đã bị mất ruộng canh tác, lại còn bị lũ ngoại bang kết hợp với bộ máy chính quyền áp bức đè nén đến đường cùng. Nông dân thôn My Điền bị mất tới 90% đất nông nghiệp không ruộng cấy cày để sinh sống.Vì vậy họ phải lang thang đi làm thuê làm mướn buôn bán nhì nhằng khắp nơi để sống qua ngày trong nghèo đói khổ cực.

Hiện nay khu công nghiệp Vân Trung nằm đối diện khu công nghiệp Đình Trám cách nhau con đường cao tốc Hà Nội – Lạng Sơn cũng thuộc của dân làng My Điền đang trong giai đoạn đền bù, san lấp. Số tiền đền bù khoảng 25 triệu đồng/ 1 sào bắc bộ ( khoảng 360m2) và chính quyền hứa cứ 1250m2 đất bị thu thì sẽ được chia đất 72m2 nhà ở làm dịch vụ buôn bán để người dân kiếm sống. Nhưng nền đất ở này hiện nay bà con vẫn chưa được chia theo lời họ hứa hẹn với dân làng. Cuộc sống nông dân bị dồn vào đói khổ, bà con thôn quê đã đồng lòng đào hào sâu để ngăn xe ô tô không cho chở đất san lấp mở rộng khu công nghiệp tại đây nữa. Nói về vấn đề giải quyết đền bù đất ruộng cho nông dân chủ yếu là cướp trắng với giá rẻ mạt như bèo bằng các văn bản hành chính và bạo lực là chủ yếu. Trong bài này chúng tôi xin minh hoạ một văn bản kiểu cưỡng bức bằng vũ lực như trên của chính quyền độc tài CSVN ở địa phương để quý vị biết rõ thêm.

Cuộc đình công của công nhân Công ty bao bì Hoa Hạ đã là ngòi nổ đẩy cuộc đòi đất của người dân My Điền lên cao hơn bằng những hành động cụ thể như : Cắm lều trại ngoài khu đất, ăn ở luôn tại đó, đào hào ngăn xe ô tô cướp ruộng đất của nông dân…

Nhóm nhà báo tự do chúng tôi kêu gọi mọi hành động bạo lực với nhân dân ở thôn My Điền và công nhân Công ty bao bì Hoa Hạ phải được chấm dứt và đòi trả tự do ngay cho những người bị bắt giữ trong vụ này. Những ai tham gia đàn áp người dân phải bị xử lý bằng trước pháp luật. Những ai bị thương do đánh đập phải được điều trị và bồi thường thoả đáng. Chúng tôi cũng đòi phía chính quyền CS tỉnh Bắc Giang phải đối thoại một cách dân chủ, công khai, minh bạch và thích đáng nhất với nông dân trong việc lấy đất ruộng của người dân địa phương


Thôn My Điền, xã Hoàng Ninh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang và TP – Hà nội ngày 15/5/2008

Nhóm phóng viên Phong trào Dân chủ, Nhân quyền Việt Nam tường trình và phổ biến

(Doi-thoai)

April 27, 2008

Phát Biểu Của LM Phan Văn Lợi Nhân 30-04

PHÁT BIỂU CỦA LINH MỤC PHAN VĂN LỢI NHÂN LỄ TƯỞNG NIỆM 33 NĂM NGÀY QUỐC HẬN 30-04 và CẦU NGUYỆN CHO CÔNG LÝ TẠI VIỆT NAM
do Uỷ Ban YTPTDCVN/ Washington tổ chức tại Seattle, Washington ngày 26-04-2008

Kính thưa – Quý Lãnh đạo Tinh thần các Tôn giáo, – Quý Lãnh đạo Cộng Đồng Tỵ Nạn bang Washington, Quý Tổ chức, Đoàn thể, Cộng đồng người Việt sở tại,-Quý Ủy ban Yểm trợ Phong trào Dân chủ VN bang Washington-Quý Thân hào Nhân Sĩ cùng toàn thể Quý Đồng bào Tỵ Nạn.

Hôm nay, chúng ta cùng nhau tụ họp nơi đây để tưởng niệm 33 Năm Ngày Quốc Hận và thắp nến cầu nguyện cho Công Lý tại Việt Nam. Từ trong nước, chúng tôi rất hân hạnh được ban Tổ chức cho phép hiệp thông cùng Quý vị trong buổi lễ thiêng liêng và trang trọng này. Vậy trước hết chúng tôi xin kính chào toàn thể Quý vị và hết lòng cảm ơn Ban Tổ chức.

Kính thưa Quý vị

Chúng ta hôm nay tưởng niệm 33 năm Ngày Quốc hận 30-04, không phải trong niềm đau thương và tủi nhục do sự thất trận quá khứ. Nếu không vì thân phận nhược tiểu của đất nước trên bàn cờ chính trị quốc tế thời ấy, và nếu không vì hành động ngu xuẩn của tập đoàn lãnh đạo CSVN ở miền Bắc nhằm mục đích mở rộng đế quốc đỏ theo lệnh của Đệ tam Quốc tế, thì lịch sử đất nước đã chẳng có ngày 30-04-1975 đầy đau thương và tủi nhục.

Chúng ta hôm nay tưởng niệm 33 năm Ngày Quốc hận vì những gì xảy ra trên Quê hương kể từ sau ngày đó và mãi tới hôm nay. Cái gọi là cuộc giải phóng miền Nam đã chỉ là sự nô dịch hóa toàn thể dân tộc. Cái gọi là chiến thắng Mỹ Ngụy đã chỉ là sự thất bại hoàn toàn của CS trong mọi lãnh vực của đời sống nhân dân và đất nước. Quả thế, sau ngày đó, Cộng đảng Việt đã đem một chủ nghĩa hết sức phi nhân và sai lạc đầu độc trí óc và lương tâm con cháu Lạc Hồng. Những gì là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín đã và đang bị cái chủ nghĩa Mác-Lê tồi tệ đó xóa sạch. Ngày nay, xã hội VN là một môi trường trong đó chỉ có dối gian, bạo hành, con người dẫm đạp lên nhau mà sống và kiếp nhân sinh chỉ còn là cuộc tranh đua vơ vét và thụ hưởng, nhất là nơi những kẻ nắm quyền lực. Thói gian dối và bạo hành này thậm chí còn len lỏi vào những nơi mà người ta tưởng chỉ phải có sự chân thật và lòng nhân ái, tức là học đường, bệnh viện và nhiều cộng đoàn giáo hội.

Cũng sau ngày đó, Cộng đảng Việt đã đem một chế độ hết sức hà khắc và độc đoán khống chế toàn bộ xã hội và hết thảy mọi cộng đoàn. Những gì là tự do, dân chủ, công bằng, pháp trị mà miền Nam Việt Nam đã bắt đầu hưởng nếm trong hơn 20 năm -từ 1954 đến 1975- đã bị cái chế độ rừng rú kiểu Stalin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh loại bỏ. Ngày nay, đất nước VN là một trại lính khắc nghiệt, một nhà tù khổng lồ trong đó người dân chỉ còn có hai quyền là quyền vâng lời đảng và quyền xin phép nhà nước, cán bộ đảng viên tại địa phương là những ông trời con còn tập đoàn lãnh đạo Việt cộng là chúa tể tối thượng, nắm trong tay mọi tài nguyên đất nước, giữ trong tay mọi nhân quyền và dân quyền. Luật đảng, luật rừng, luật tiền thay thế luật pháp. Xã hội VN rơi vào cơn khủng hoảng mọi mặt: văn hóa biến chất, đạo đức suy đồi, giáo dục băng hoại, kinh tế tụt hậu, luật pháp bá đạo, y tế tang thương, môi sinh ô nhiễm, chênh lệch giàu nghèo ngày càng gia tăng… Tất cả những gì hào nhoáng cơ ngơi chỉ là nhờ vay mượn ngoại tệ mà nhân dân sẽ phải nai lưng trả nợ. Tất cả những gì rình rang lễ hội chỉ là do sự lèo lái của đảng CS nhằm mục đích củng cố chế độ độc tài. Và nguy hiểm nhất là tổ quốc mất dần từng mảng lãnh hải và lãnh thổ to lớn vào tay kẻ thù truyền kiếp Bắc phương xâm lược, do sự đồng lõa của tập đoàn lãnh đạo Cộng sản buôn dân bán nước, vong bản vô tổ quốc!

Nói tóm lại, quê hương ta đang thiếu công lý trầm trọng! Chính vì ý thức được việc này mà bao con cái Mẹ Việt trong nước đã đứng lên, cách cá nhân lẫn cách tập thể, với sự hỗ trợ của bao con cái Mẹ Việt khắp bốn phương trời. Điển hình là Khối 8406 mà trong những ngày này đang kỷ niệm 2 năm thành lập, là nhiều tổ chức công dân, chính đảng dân chủ từ Khối đó phát xuất, là nhiều cộng đoàn tôn giáo đang đấu tranh đòi lại quyền lợi của mình…. Nhưng cũng chính vì công lý đó mà biết bao nhà đối kháng đang phải gánh chịu đủ thứ gian lao, nếm đủ đòn thù của độc tài đảng trị: giam cầm trong ngục, quản chế tại gia, đe dọa sinh mạng, bao vây kinh tế, cấm cản hoạt động, ngăn chận tiếp xúc…. Thành thử thật là ý nghĩa việc chúng ta thắp nến cầu nguyện cho công lý tại Việt Nam hôm nay. Lời cầu nguyện này sẽ giúp chúng ta lặp lại ý thức, củng cố ý chí, thể hiện ý định đóng góp vào công cuộc đấu tranh ở quê nhà.

Ấy là bấy nhiêu tâm tình mà chúng tôi mạn phép đại diện các nhà đấu tranh quốc nội xin được gởi đến toàn thể Quý vị, như một sự hiệp thông chân tình. Xin cảm ơn Quý vị đã lắng nghe. Và như người Do thái lưu vong thường từ giã nhau với câu nói: “Hẹn gặp nhau sang năm tại Giêrusalem”, chúng tôi cũng xin thưa với Quý vị: “Hẹn gặp nhau sang năm tại Sài Gòn”! Dĩ nhiên trong một Sài Gòn và một Việt Nam đầy tự do dân chủ. Nguyện xin Thiên Chúa ban phúc lành cho tất cả Quý vị.

Phát biểu tại Huế ngày 22-04-2008
Chúng tôi, linh mục Phêrô Phan Văn Lợi

April 21, 2008

Tổ quốc trước cơn liệt-khùng nhân cách !

Gửi các bạn thanh niên và Công an cũng muốn giữ gìn bờ cõi

 

1. Nguồn gốc bnh lit kháng nhân cách.

Sống trên đời, con người vừa phải nương tựa nhau vừa cạnh tranh với nhau, đấu tranh với nhau không ngừng. NHÂN CÁCH, tức tư cách làm người, cần cả hai mặt ấy. Mọi xã hội lành mạnh, bình thường, cân bằng đều cần cả hai mặt song song đối lập ấy.

Nhưng sau những năm dài đấu tranh với nhau quá ác liệt, xã hội ta lại chuyển sang một thái cực khác, liệt đấu tranh, thờ ơ với đấu tranh, thù địch với đấu tranh, chỉ còn đấu tranh thoi thóp.

Có thể giải thích bằng tâm lý mệt mỏi sau chiến tranh, điều này đúng một phần thôi, chiến tranh đã qua mấy chục năm rồi, sao còn quy kết cho chiến tranh mãi được, và phần đông dân số hiện nay có bị ảnh hưởng chiến tranh đâu? Cũng chừng ấy năm chiến tranh nhưng nếu dẫn đến kết cục khác thì chắc tâm trạng dân chúng không thể mệt mỏi thờ ơ như thế.

Xin nói dài dòng một chút để hiểu tại sao sức mạnh tinh thần của con người Việt nam, nhân cách con người Việt nam lại biến dạng như vậy.

Máu chảy trong cơ thể con người vốn có máu tham sân si, sự tranh giành để được phần hơn vốn là một tiếng gọi ma quái mơ hồ từ nơi hoang dã, bên cạnh tiếng gọi tha thiết vươn tới cõi Người hoàn thiện. (Đạo đức và lý tưởng không diệt được nó, chỉ làm nó thích nghi. Chỉ có luật pháp, mà phải là luật pháp dân chủ và văn minh, mới thuần hoá được).

Để chiếm được phần hơn về mặt này mặt nọ, con người thường tìm cách lấn át người khác, ở mức độ thô thiển thì dùng “biện pháp quân sự” trực tiếp, ở mức độ cao hơn thì sử dụng những ưu thế về quan hệ của QUYỀN và TIỀN. Nhưng đằng sau những sức mạnh vật chất ấy, và làm điểm tựa cho những sức mạnh vật chất ấy, bao giờ cũng còn nguồn sức mạnh tinh thần gắn chặt với chính con người, đó là sức mạnh của TƯ DUY và NHÂN CÁCH. Chiếm đoạt được vũ lực, chiếm đoạt được Quyền và Tiền cũng không bằng chiếm đoạt chính con người, muốn chiếm đoạt con người phải làm sao chiếm lĩnh được Tư duy (theo nghĩa rộng, bao gồm tất cả nhận thức và lòng tin) và Nhân cách của họ. Đảng Cộng sản đã làm được tất cả những việc khó khăn ghê gớm này và đã thành công trong bấy nhiêu năm.

Lý thuyết Cộng sản muốn nhào nặn lại thế giới, nhưng rồi chẳng làm gì nổi thế giới, cuối cùng về cố thủ thành một “cẩm nang vàng” để trị dân trong nước, trong đó dân chúng, là kẻ bị trị, bị mất dần sức mạnh tinh thần và phụ thuộc hoàn toàn vào Đảng cầm quyền : những Ngụy biện thì phá huỷ dần sức mạnh của TƯ DUY, còn sự quản lý chặt chẽ và bạo lực Chuyên chính thì phá huỷ dần sức mạnh của NHÂN CÁCH (ngay những đảng viên cũng chẳng còn nhân cách riêng). Con người đã mất hai sức mạnh tinh thần ấy thì như kẻ mất hồn, chỉ còn cách ngoan ngoãn nghe Đảng vỗ về và phục tùng vô điều kiện. Dân chỉ được “quyền” yêu Đảng, yêu bao nhiêu cũng được, nhưng không được quyền phản kháng.

Con tàu Cộng sản được khởi hành bằng năng lượng khổng lồ của “chủ nghĩa yêu nước” nhưng được lái dần sang quỹ đạo của “chủ nghĩa yêu Đảng” một cách ngọt ngào như ru (tuy cũng có vài trận chiếm đoạt long trời lở đất). Đây mới thực là “vạn thế sư biểu” của nghề diễn biến hoà bình (chứ Hoa Kỳ thì chỉ là anh diễn biến hoà bình vụng dại). Tình hình Bắc Triều Tiên đang còn là một ví dụ rất điển hình, ở đó chẳng còn là chủ nghĩa yêu Đảng nữa mà đã rút gọn thành chủ nghĩa yêu cha con Kim Nhật Thành!.

2. Vừa lit li vừa khùng.

Cũng theo dòng mô tả sự liệt kháng này, nhà văn Nguyên Ngọc, đạo diễn Song Chi, nhà thơ Bùi Minh quốc, nhà văn Dương Thu Hương, nhà văn Trà Đóa và rất nhiều nhà văn nhà báo khác đã viết về tình trạng một xã hội mỏi mệt, thờ ơ, vô cảm, liệt kháng. Những bài ấy rất chí lý, nhưng xin bổ sung thêm:

Bức tranh vô cảm ấy chỉ đúng trước những số phận nghèo đói, bất công, oan ức, trước những tệ nạn ngày càng phát triển, trước những nguy cơ lớn của xã hội chưa tìm được lối ra, trước tình trạng người Việt bị hành hạ và khinh rẻ ở khắp nơi trên thế giới, trước việc lãnh thổ tổ quốc bị hao mòn…Nhưng chuyện ấy coi như “chuyện nhỏ”, hãy mở Tivi (và đừng vội tắt đi) để xem các chương trình vui chơi có thưởng đủ kiểu (mà thưởng tới năm chục triệu đồng chứ không ít đâu) ồn ã suốt ngày đêm, những cuộc thi khiêu vũ bốc lửa kiểu Nam Mỹ, những thị trường chứng khoán, những buổi quảng cáo cho người đẹp này, chàng trai hấp dẫn nọ, những buổi dạy cách làm đẹp rất tân kỳ, những cuộc thi nhau làm tỷ phú, những cụ già hưu trí cũng vui chơi có thưởng như trẻ con (có cả nhà tu hành nữa)… rồi đến những tiệm Karaoke sex trá hình, những vũ trường thuốc lắc…thì thấy dân mình không hề “mệt mỏi, thờ ơ, vô cảm”, mà đang háo hức, sôi động đến mức điên loạn, dơ dáng đến buồn nôn.

Vậy đây chỉ là xã hội bị liệt từng phần, liệt có chọn lọc, liệt có “định hướng” (xã hội chủ nghĩa?) hẳn hoi. Con người bị ru ngủ, nhưng chỉ ngủ từng phần, nhiều phần khác lại được đánh thức dậy, lồng lên.

Sự liệt thường được hiểu là dịu đi, xỉu đi… nhưng sự liệt này lại kèm theo một hội chứng hung hăng đầy rẫy bạo lực : chưa bao giờ người Việt lại xài vũ lực với nhau hăng như bây giờ. Hành hạ, tra tấn, chém giết nhau như cơm bữa. Những cuộc “đấu tranh không khoan nhượng, một mất một còn” này , những cuộc “phê bình bằng vũ khí” này lại không phải đấu tranh giai cấp như Mác-Lê mô tả, mà toàn là trận chiến trong gia đình, trong nhà mẫu giáo, giữa bạn bè, thày trò, giữa công an với dân…, trong hàng ngũ cách mạng với nhau cả. Cô giữ trẻ cấm trẻ khóc bằng cách bịt miệng cho đến…chết, công an bịt miệng bị cáo giữa toà án nghiêm trang, trò nện thày ngay trên bục giảng, cô giáo bắt học trò liếm ghế của mình, bà là mẹ liệt sĩ mà bị cháu đánh gãy xương nên cũng thành “liệt”…sĩ luôn, nhà trường giao học sinh cho công an dùng vũ lực dạy giúp, công an tống súng lục vào miệng học sinh để hỏi cung, công an tạt tai khách đi đường hoặc đánh cho lên bờ xuống ruộng chỉ vì quên không đội mũ hoặc đi ngược chiều…

Xã hội như con bệnh vừa liệt lại vừa khùng. Liệt chỗ này nhưng khùng chỗ khác. Báo chí lại cho nguyên nhân là vì ta coi nhẹ việc giáo dục đạo đức và lối sống? Nhầm !Cả một chiến dịch học và làm theo gương đạo đức Hồ chí Minh kéo dài nhiều năm, rộng khắp các trường học, công sở, thường xuyên tổ chức thi để tuyên truyền và sơ kết-tổng kết…mà bảo là coi nhẹ sao được?

Khốn nỗi một trăm bài học trong trường, trên giấy không bằng một bài học, một kết luận mà con người tự rút ra từ thực tiễn xã hội. Thực tiễn xã hội đang dạy người ta cả bài học chán chường và bài học bạo lực. Chán chường và khùng là hai mặt tương sinh của cùng một tình trạng bế tắc, bế tắc trong xã hội và trong tâm lý.

Nhiều năm trước đây, Đảng ta giỏi tuyên truyền nên ít phải dùng bạo lực. Nhưng Nguỵ biện chỉ làm nhiễu Tư duy được một thời gian. Thuật Nguỵ biện vẫn còn cần đến sự mê hoặc, khiến đối phương tưởng là đúng mà phải nghe theo, hoặc cũng biết là sai nhưng còn có thể núp dưới cái cớ “tưởng là đúng” chứ chưa phải đối diện trực tiếp với Nhân cách. Nhưng rồi thông tin phát triển, dân khôn ra, hiểu ra, Nguỵ biện mất tác dụng, trận địa Tư duy phải chuyển sang trận địa Nhân cách : ” Ừ thì điều này ai cũng biết là xấu, là sai rồi, nhưng không tranh luận nữa, nhân danh quyền lực tôi bắt anh phải theo, anh có theo không thì bảo“. Nếu anh ngoan ngoãn làm theo tức là đã chấp nhận từ bỏ sức mạnh Nhân cách. Anh mất Nhân cách rồi tôi sẽ có biện pháp tiếp theo. Cách leo thang của sự độc quyền ở mọi nơi đều như thế. Chiến dịch “diệt chim sẻ” của Mao Trạch Đông là một ví dụ điển hình.

3. Liệt-khùng thì dễ làm mồi cho xâm lưc.

Vừa rồi, việc Đảng Cộng sản Trung quốc ngang nhiên cho Quốc hội tuyên bố thành lập thành phố Tam Sa bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt nam cũng là một ví dụ ngang ngược tương tự như quyết định “diệt chim sẻ” nhưng ở tầm quốc tế. Nếu phía Việt nam không có phản kháng tương xứng thì cú Test này sẽ cho thấy nước Việt nam đã bị khuất phục, đã mất sức mạnh NHÂN CÁCH trước nước Trung quốc, và đấy là tiền đề cho những giải pháp áp đặt tiếp theo. Vì thế

nếu còn muốn là “Người” Việt nam thì phải có sự phản kháng tương xứng để khẳng định NHÂN CÁCH , tức khẳng định tư cách làm Người của mình, mà phải phải khẳng định điều đó trước mặt Trung quốc và trước bàn dân thiên hạ thì mới có nghĩa!
Những cuộc biểu tình ôn hoà của thanh niên-sinh viên-trí thức-nghệ sĩ ngày 9 và 16-12-2007 tại Hà nội và Sài gòn phản đối hành vi xâm phạm lãnh thổ Việt nam của Trung quốc là những phản kháng cần thiết tối thiểu để khẳng định Nhân cách Việt nam. Cũng với ý nghĩa phản kháng tích cực như thế, hiện nay tại nhiều nơi trên thế giới người ta bộc lộ thái độ tẩy chay Thế vận Bắc kinh 2008 để phản đối sự đàn áp dã man của Trung quốc tại Tây Tạng. Tiếc rằng sự đấu tranh để bảo vệ lãnh hải-lãnh thổ của Việt nam không được sự ủng hộ của thế giới như thế, bởi chính người Việt nam nhu nhược nên chưa gây được tiếng vang cần thiết.
Để bác bỏ sự phản kháng rất cần cần thiết ấy những người nhu nhược lại dùng đến những nguỵ biện, ví dụ: tình hình không cần đến những phản kháng như thế, ta có cách lẳng lặng xử lý có hiệu quả hơn, đằng nào cũng không chống lại được thì biểu tình làm gì, phản kháng như thế e ảnh hưởng đến quan hệ tốt đẹp giữa hai nước, thế vận hội là hoạt động văn hoá-thể thao tốt đẹp cần phải ủng hộ …vân …vân…Vạch rõ tính nguỵ biện của những “luận điểm” này chẳng khó khăn gì, nhưng đã có những bài báo trên mạng viết rồi, nên chẳng cần viết ra đây. Đối với kẻ xâm phạm lãnh thổ của Tố quốc mà dân chúng chỉ được quyền “bảo vệ tình hữu nghị” chứ không được quyền phản kháng để bảo vệ lãnh thổ thì thế giới người ta khinh cho là phải!

Trong những người Việt được phân công rước đuốc Thế vận Bắc Kinh chỉ có luật sư Lê Minh Phiếu và ca sĩ Mỹ Tâm là dám bộc lộ thái độ phản ứng trước tình hình Tổ quốc bị xâm phạm bờ cõi. Tuy phản ứng ấy còn phải rụt rè, phải tự vệ , và còn bị phía hướng Tàu, phía Lê Chiêu Thống, khống chế đến cùng, nhưng trong một biển người chỉ biết phục tùng và chỉ rình tìm cơ hội để tiến thân thì một biểu hiện phản kháng nào đó cũng đáng quý rồi. Nếu giữ vững nghĩa cử yêu nước ấy, ca sĩ Mỹ Tâm có thể bị ảnh hưởng ít nhiều về sự sủng ái của các bề trên, nhưng đổi lại tiếng hát của chị sẽ được công chúng yêu mến hơn vì trong đó đã có hồn của thế hệ trẻ dám sống thẳng thắn vì đất nước. Hình ảnh ca sĩ của Mỹ Tâm trong lòng công chúng sẽ đẹp hơn nhiều, mong sao.

“Người bạn lớn” ngạo mạn đã từng “dạy Việt nam một bài học“, nhưng khắp thế giới cũng đang dạy lại họ (Nước lớn cũng phải được dạy, vì sự bình yên của thế giới! Quyền lực nào nếu không được chế ngự cũng sinh hư, cũng thành tai vạ). Ta không dám tuyên bố dạy ai, nhưng ta quyết tự học, học lịch sử chống Bắc thuộc của cha ông mình! Học, và phải cố gắng làm theo, và làm tốt hơn nữa !

Trong cuộc biểu tình chống Trung quốc bành trướng, một thanh niên biểu tình bị một Công an dùng vũ lực ngăn cản, anh thanh niên bèn hỏi : Anh không biết xấu hổ à? Câu hỏi thật chính xác, có lẽ viên Công an nghĩ rằng ngăn cản người yêu nước cũng không phải điều đáng xấu hổ vì anh ta chỉ làm theo lệnh trên , nhưng câu hỏi này bắt viên công an phải trực tiếp đối diện với Nhân cách cá nhân, là thứ mà mỗi người phải tự chu toàn, không cấp trên nào lo giúp Nhân cách cho anh ta được (cấp trên bảo anh bán nước anh cũng thản nhiên nghe theo à?). Đã không dám phản kháng kẻ xâm lấn là tội “liệt“, đến lúc có người khác đứng lên phản kháng thì anh lại dùng bạo lực đánh đập, thế là tội “khùng“, vừa liệt vừa khùng thì chỉ làm mồi cho xâm lược, nhân cách thế mà không xấu hổ sao?

NHÂN CÁCH là tư cách làm Người nên nó rất linh hoạt để chống lại tất cả những gì phi Nhân tính. Tuỳ tình huống mà Nhân cách có ứng xử khác nhau. Với kẻ yếu, kẻ dưới, kẻ bị trị thì dám phản kháng điều sai của của kẻ lộng quyền là NHÂN CÁCH. Vợ biết kháng lại việc sai của chồng để khẳng định nhân cách thì chồng không dám khinh (nếu hắn còn là người), con biết kháng lại ý sai của cha để tỏ rõ nhân cách thì cha không dám coi thường, nước nhỏ dám phản kháng trước đe doạ để khẳng định nhân cách của dân tộc thì nước lớn không dám khinh nhờn…

Con người sợ nhau ở cái Nhân cách. Trong quan hệ gia đình, bạn bè cho đến quan hệ quốc tế nhiều trường hợp hoà khí được giữ gìn chính bởi NHÂN CÁCH dám phản kháng chứ không phải sự chiều lòng, ưng thuận, khiếp nhược. Chính sự khiếp nhược là thủ phạm làm cho quan hệ xấu đi!

NHÂN CÁCH là bức tường lửa mà đối thủ không dễ gì đã dám vượt qua!

Người anh hùng lại càng biết dừng trước Nhân cách của người khác, bởi chỉ kẻ khùng, kẻ võ biền mất nhân tính mới dám xéo liều qua Nhân cách người khác. NHÂN CÁCH là tư cách làm người, xéo qua nó anh còn là người nữa không?

Đà Lạt ngày 20-4-2008

HSP

 

 

Đạo đức và giáo dục ở Việt Nam


 
Ảnh của VietnamNet 17.04.2008
Một vụ cảnh sát bị dân ở Phú Yên giữ xe vì ‘đánh người’

Dân phòng tra tấn học sinh kiểu như xã hội đen, thầy giáo hiếp dâm nữ sinh, đổi tiền-tình lấy điểm, học trò đánh thầy giáo, bác sĩ ăn tiền bệnh nhân, cán bộ lạm dụng chức vụ quyền hạn tham ô, nhũng nhiễu v.v…và v.v…

Đạo đức ngày nay chẳng lẽ đã suy đến mức không còn mấy hiện hữu trong xã hội ta?

Đó là điều hằng ngày tôi thường tự hỏi mình khi đọc tin trên các báo, rất nhiều những vụ án xảy ra giữa những người lẽ ra hết sức yêu thương nhau như cha mẹ, con cái, vợ chồng, anh em…

Tệ hơn thời Bá Kiến?

Mâu thuẫn phát sinh từ những chuyện hết sức bình thường, một câu nói, một số tiền, một lợi ích vật chất nào đó dù nhỏ nhoi người ta sẵn sàng đánh đổi những gì yêu quý nhất. Đó là nói về trong gia đình, trong quan hệ xã hội còn tệ hơn, có khi chỉ vì một cái nhìn phải đổi bằng mạng sống, chuyện va quệt xe nhẹ cũng phải giải quyết bằng dao búa, chủ hành hạ người giúp việc một cách nhẫn tâm, công an đánh người, tống tiền tống tình, bảo kê tội phạm, cảnh sát ăn tiền mãi lộ!?

Những kẻ như thế, tiếc thay lại có thể là những người chưa một lần có tiền án tiền sự, những người đức cao vọng trọng trong xã hội, họ làm những việc như thế với một thái độ hết sức dửng dưng, những việc làm mà giả như Nghị Quế hay Bá Kiến có đội mồ sống dậy cũng phải chắp tay vái dài, và nếu như cụ Nguyễn Trường Tộ có phải làm sớ xin trảm gian thần thì lá sớ có lẽ phải từ Nam Quan đến mũi Cà Mau.

 

 Những người làm việc vặt hoa anh đào vô văn hóa đó lại là những nam thanh nữ tú của đất Hà Thành
 
Nguyên Hùng

 

Có lẽ nào qua bao nhiêu đấu tranh gian khổ giành lại non sông gấm vóc từ tay ngoại bang đã rèn luyện dân ta từ trong tiềm thức thành một loại võ sĩ chỉ biết thượng đài đấm đá và cấu xé nhau.

Chúng ta nghĩ gì khi lễ hội hoa Anh Đào tại Hà Nội với 300 cành hoa Anh Đào Nhật Bản bị vặt trụi chỉ còn trơ lại gốc khi lễ hội chưa kết thúc, bạn bè từ xa không ngại khó khăn mang từ Nhật Bản tới cho mình thưởng lãm, vậy mà mình đang tâm bẻ cành. Những người làm việc vô văn hóa đó lại là những nam thanh nữ tú của đất Hà Thành, những người “trí thức thanh lịch”!

Ôi còn đâu câu ca dao: “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài, Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng an”. Cái cốt cách đó của ta ở đâu, có còn không?

Không phải lấy tiểu tiết để áp vào toàn cục, nhưng nhiều rất nhiều những sự kiện na ná như thế, lẽ nào chúng ta không nhìn lại nền giáo dục của chúng ta.

Một dân tộc đã có hàng ngàn năm văn hiến, thuần phong mỹ tục đã thấm vào mỗi con người từ khi mới tượng hình trong lòng mẹ. Một dân tộc đã luôn biết hy sinh quyền lợi cá nhân vì những điều cao cả, thiêng liêng dù đang sống trong hoàn cảnh khó khăn hoạn nạn.

Một cộng đồng rất biết giữ tôn ti trật tự, kính trên nhường dưới, tôn sư trọng đạo, cung kính hiếu để với mẹ cha, hài hòa với làng xóm láng giềng, tôn trọng các bậc trưởng thượng, xem trọng luật pháp, cách đối nhân xử thế, các giá trị đạo đức đó lẽ nào chỉ còn vang bóng một thời?!

Giáo dục từ ai đây?

Có lẽ chúng ta cũng không thể mong đợi gì hơn ở một xã hội mà khách sạn nhà hàng, vũ trường, động lắc trá hình, cà phê đèn mờ, quán nhậu, mại dâm biến tướng nhiều như nấm sau mưa, các giá trị đạo đức được lớp trẻ và cha anh chúng – lớp người lớn – sổ toẹt, không có giá trị nào bằng giá trị của bốn số chín, không tờ giấy nào có ý nghĩa hơn tờ giấy xanh 100USD. Những giá trị nhân văn được vun đắp trau dồi từ hàng ngàn năm đến nay sẽ không còn khi chúng ta cứ loay hoay cải cách giáo dục theo chủ quan duy ý chí của một số người, nếu chúng ta không kịp thời chấn chỉnh lại sự nghiệp giáo dục, tương lai chúng ta sẽ không còn gì.

Đã có lúc chúng ta là những “Người Việt cao quý”. Vậy tại sao và điều gì đã tạo nên sự thoái trào đạo đức? Tạo nên những việc làm đáng sợ hôm nay? Tại sao lớp người trẻ của chúng ta hiện nay thiếu mất sự cảm thông và lòng trắc ẩn để biết vị tha và yêu thương đồng loại? Đó là những câu hỏi không thể trả lời được chỉ bằng một thế hệ!

Với những việc sai và xấu như thế người lớn đã dạy lớp trẻ điều gì?

Mọi sinh vật khi ra đời đều phải được dạy dỗ. Không ai trong lòng mẹ sinh ra mà có ngay được tất cả các khả năng, lúc nhỏ được ông bà cha mẹ chăm bẵm từ những bước chập chững đầu đời, khi bắt đầu đi học lại được các thầy cô giáo bảo ban từ nét bút, cách ngồi, kỷ luật và những qui tắc thiết yếu ban sơ, đến hết cấp ba thì đã được một số tri thức nhất định để tiếp bước vào đại học, trong quá trình đó hầu hết những gì người trẻ có được là do học hỏi ở người lớn, những người dạy dỗ mình, những hình mẫu gần gũi và rõ nét nhất.

Thế nhưng, cách mà người lớn chúng ta vẫn đang hành xử trong các cơ quan công quyền, công an, tòa án, giáo dục, trường học, y tế, bệnh viện, kiểm lâm, giao thông, địa chính, bảo hiểm, thương binh xã hội…, những tham ô, dối trá, lừa bịp, tranh giành, giẫm đạp lên nhau, công an và tội phạm sánh vai, tòa án, kiểm sát ăn bên này ép bên kia, ăn bên kia ép bên nọ, đổi trắng thay đen, thầy giáo gạ tình lấy điểm, bán điểm, bác sĩ mặc cả kiếm tiền trên sự đau đớn vật vã của bệnh nhân, kiểm lâm đồng nghĩa với lâm tặc, giao thông xây dựng dối trá, cẩu thả làm vừa xong vừa hư, ăn chặn không từ tiền thương binh liệt sĩ, xà xẻo các khoản cứu trợ…. Những điều như thế xảy ra hàng ngày hàng giờ quanh ta và thật ra những việc mà chúng ta biết được chỉ là phần nổi của tảng băng trôi. Với những việc làm như thế người lớn đã dạy lớp trẻ điều gì?

Và với những hành động càn quấy của lớp trẻ, sự côn đồ hung hãn, sự yếu kém về giáo dục văn hóa nhân sinh, những hành động bộc phát không có tính nhân văn. Đó chỉ là hậu quả khởi đầu. Khi tình yêu thương, sự thông cảm vị tha và lòng trắc ẩn đã nhường chỗ cho các giá trị thực dụng hiện sinh thì các chuẩn mực đạo đức chỉ là đồ cổ.

Chúng ta phấn khởi mở hướng, giong thuyền ra biển lớn đánh bắt được nhiều cá tôm, nhưng bên cạnh đó chúng ta cũng không lường hết được những hiểm nguy rình rập, như một cách nói hệ thống đê kè chắn sóng đạo đức của ta quá mong manh trước những cơn sóng vật chất thực dụng. Vì vậy, bên cạnh những lợi ích trước mắt, chúng ta có những lớp người mà ở họ nhân cách và đạo đức đã băng hoại đến mức trầm trọng, là những hình mẫu nguyên xi của ngoại quốc ở mặt xấu xa nhất. Sức đề kháng là sự giáo dục đạo đức, nhân cách, lòng tự trọng và bản sắc dân tộc rất yếu kém thì việc nhiễm hàng loạt virus xa lạ là điều rất dễ.

Những giá trị đạo đức thâm trầm từ ngàn xưa, nay chỉ còn lại lối sống hời hợt từ trong gia đình đến ngoài xã hội.

Chúng ta phấn đấu để làm giàu, có nhiều tiền cho cuộc sống tốt hơn, điều đó đúng, nhưng có tiền rồi ta phải học cách sử dụng tiền đừng để tiền ám ta, phải biết nhớ chúng ta còn có những giá trị khác nữa, vì:

Tiền có thể mua được nhà, nhưng không thể mua được mái ấm.

Tiền có thể mua quần áo đẹp, nhưng không mua được nhân cách.

BBC

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2008/04/080421_giaoducvadaoduc.shtml

April 12, 2008

VĂN CHƯƠNG HÀ NỘI: văn hóa thời cs

“Lần đầu tiên, mới tới Hà Nội, tôi không khỏi bỡ ngỡ, khi tìm nhà của một người quen làm trưởng một khu phố
văn hóa. Thấy có mấy đứa trẻ con đang nô đùa ngoài ngõ, tôi hỏi:”Này các cháu có biết nhà ông Xã trưởng khu phố văn hóa ở đâu không?”Một đứa trẻ trai, trạc trên dưới 10 tuổi, ngước nhìn tôi bằng ánh mắt xấc láo, ranh mãnh, đáp gọn lỏn:”Biết, nhưng đéo chỉ!”

Tôi lắc đầu đi sâu vào ngõ văn hóa, gặp một thanh niên hỏi:”Anh ơi, anh có biết nhà ông trưởng khu phố văn hóa này ở chỗ nào không anh ?”.

Gã trẻ tuổi này chẳng thèm dòm ngó gì đến tôi, trả lời cộc lốc:”Ðéo biết!”

Khi gặp ông trưởng khu phố văn hóa, tôi đem chuyện này kể cho ông ta nghe với lời than thở:” Anh ạ, các bậc phụ huynh ở đây đã không dạy dỗ con em hay sao mà để chúng nó ăn nói với người khách lạ, thô bỉ đến thế hả anh?!”

Chẳng cần suy nghĩ gì, ông trưởng khu phố văn hóa đã thuận miệng trả lời tôi ngay:”Có dạy đấy chứ, nhưng
chúng nó đéo nghe!”

Lúc ấy cô con gái của ông bạn tôi là cô giáo, dạy môn văn, vừa đi dạy về và tôi đem chuyện ấy ra kể lại. Thay vì trả
lời trực tiếp cho tôi, cô giáo xin phép thuật lại một chuyện như sau:

“Hôm ấy cháu giảng bài văn, có đoạn kể thành tích anh hùng và dũng cảm của nhân dân ta đã đánh gục Tây, đánh nhào Mỹ v..v..
Cuối cùng, cháu kêu một em học trò trai lớn nhất lớp, bảo nó cắt nghĩa hai chữ:”dũng cảm là gì?”.

Nó đứng lên suy nghĩ một lúc rồi đáp gọn lỏn:

– Nghĩa là .. là .. đéo sợ !”

Sau đó cháu lại có cuộc tiếp xúc với ông bộ trưởng giáo dục và đào tạo, liền đem chuyện thằng bé học trò đã
cắt nghĩa 2 chữ “dũng cảm” là: “đéo sợ!” cho ông nghe.

Nghe xong, ông bộ trưởng tỏ vẻ đăm chiêu, ra điều suy nghĩ lung lắm.
Cuối cùng, ông nghiêm nghị nhìn tôi, rồi gật gù như một triết gia uyên bác vừa khám phá ra một chân lý, chậm rãi đáp:

– Ừ, mà nó cắt nghĩa như thế cũng đéo sai ! ..

– !!!

” Ðấy, bây giờ luân lý, đạo đức của con người dưới chế độ
này như thế đấy. Rồi đây, các thế hệ trẻ miền Nam cũng vậy thôi!
Làm sao tránh được?”

.. Đất nước kiểu này thì đéo khá …

http://www.take2tango.com/?display=196

( trích nguồn Take2tango )

_______________________________________________

April 10, 2008

Hàng chục cô gái thoát y để được lấy chồng ngoại

Thứ hai, 23/4/2007, 15:50 GMT+7

 

Thi Vĩnh Khương. Ảnh: A.X.
Gần 70 cô gái lần lượt cởi bỏ y phục dưới con mắt săm soi của hai người đàn ông Hàn Quốc với hy vọng được chọn làm vợ. Đường dây môi giới lấy chồng nước ngoài trái phép này vừa bị Công an TP HCM triệt phá trưa nay.

Tại căn nhà số 209B đường Vĩnh Viễn, quận 10, hàng chục cô gái chen chúc đứng chờ đến lượt “trình diễn”. Theo yêu cầu của 2 người đàn ông và một phụ nữ Hàn Quốc, các cô gái phải cởi bỏ quần áo, để họ xem xét dị tật, sẹo cũng như khả năng sinh nở trước khi đưa ra quyết định tuyển chọn cuối cùng.

Theo cơ quan điều tra, đường dây môi giới trái phép này do Thi Vĩnh Khương, 42 tuổi, Tân Phú, TP HCM, cầm đầu. 3 ngày trước, Khương thuê căn nhà này với giá 500 nghìn đồng/ngày để tổ chức cho nhiều lượt khách “xem hàng”.


Chủ nhà (bìa trái) và các cô gái muốn lấy chồng ngoại. Ảnh: A.X.


(hình này đã được chụp trong một khách sạn khác ở Vn cách đây hơn 1 năm)

Kết quả điều tra ban đầu cho thấy, phần lớn các cô gái được chủ “tập kết” từ các tỉnh miền Tây về nuôi ăn ở và được hướng dẫn cấp tốc cách đi đứng, ứng xử sao cho vượt qua các đợt “sát hạch”. Khi đàn ông Hàn Quốc xuất hiện, người môi giới lần lượt đưa từng tốp vài cô vào phòng để “chú rể” duyệt.

Tại đây, các cô phải đi lại như trình diễn thời trang để chú rể xem ngoại hình. Cô nào được “duyệt” mới chuyển sang phần thi “ứng xử”, trả lời vài câu hỏi để chú rể tìm hiểu kỹ hơn.

Công tác khám xét và lấy lời khai vẫn đang được tiến hành.

Trước đó, ngày 13/4 tại nhà hàng Bảo Châu (đường Bình Phú, quận 6, TP HCM), cũng diễn ra một cuộc xem mặt để lấy chồng Hàn Quốc rầm rộ với 109 thí sinh nữ.

N. Hải

nguon

Ghi chu:
Theo lời kể của người trong nước am tường tình hình ỡ xã hội VN hôm nay (2008), tình trạng này vẫn âm thầm tái diễn ở VN, nhất là ở biên giới phía bắc VN-TQ.

Lien quan:
Buôn người ở nước cs : cô dâu …

 

March 30, 2008

Dối trá: nguyên nhân của trì trệ và lạc hậu

NamPhan

30/3/08

Dối trá: nguyên nhân của trì trệ và lạc hậu NamPhan Khoa học di truyền ngày nay đã khám phá giữa con người và loài dã nhân có nhiều thành phần cấu tạo DNA giống nhau nhất, loại khỉ “chimpanzee” chỉ kém thua con người chúng ta khoảng 3% mà thôi. Và cũng đã có khá nhiều nhà nhân chủng học tin tưởng: loài người tiến hóa từ loài vượn lên. Điều này đúng hay sai, có lẽ những người thiếu kiến thức chuyên môn như chúng ta còn phân vân. Bỡi lẽ sự tin tưởng này thật sự chỉ là giả thuyết mà thôi. Khoa học DNA cho đến nay vẫn chưa khám phá điều gì có mối liên hệ tiến hóa giữa người với loài vượn. Spencer Wells là một trong những nhà khoa học di truyền học hàng đầu của thế giới; trong tác phẩm “The Journey of Man” xuất bản năm 2002, ông đã đúc kết nhiều công trình nghiên cứu DNA mới nhất của các nhà khoa học hiện đại và đã khẳng định với một đại ý như sau: Chúng ta không thể nói điều gì đã xảy ra trong mối liên hệ huyết tộc giữa người và vượn khỉ tại điểm khởi thủy gia phả của lý lịch nhân loại hiện đại. Bỡi lẽ nghiên cứu DNA, khi đạt đến điểm gốc lý lịch này, đã không còn tìm thấy yếu tố “biến đổi di truyền về người” nữa, để thấy có mối liên hệ huyết tộc đã xảy ra giữa người với vượn khỉ. Ngoài ra, cũng theo Spencer Wells, nghiên cứu DNA còn cho thấy: KHÔNG HỀ có mối liên hệ huyết tộc trực tiếp giữa loài người hiện đại chúng ta với những giống người tiền cổ khác, mà khoa học gọi là Homo erectus. Điều này có nghĩa là: Những giống người tiền cổ Bắc Kinh, hay những giống người tiền cổ Neanderthal ở Châu Âu, đều không thể là tổ tiên trực tiếp của nhân loại hiện đại chúng ta, như đã có một số nhà nhân chủng học tin tưởng vào thuyết tiến hóa tại địa phương của họ. Tuy nhiên, có một điều mà chúng ta biết được một cách chắc chắn: Đó là các loại vượn khỉ KHÔNG có ngôn ngữ diễn đạt tư tưởng trừu tượng như loài người chúng ta. Chúng chỉ có những tiếng kêu gọi nhất định của bản năng, hay của kinh nghiệm bản năng, để diễn đạt những sự việc cụ thể mang ý nghĩa thiết thực của cuộc sống bảo tồn nòi giống, theo phạm trù dã thú của chúng mà thôi. Thành thử, phải chăng đây chính là nguyên nhân đã khiến cho các loài vượn khỉ không thể thoát ra khỏi tình trạng vượn khỉ của chúng, để có thể tiếp nối tiến hóa thành một thứ loài người nào đó, khác hơn loài người chúng ta? Vì, cũng theo thuyết tiến hóa, chúng cũng là hậu duệ của cùng tổ tiên vượn khỉ mà thủy tổ loài người đã tách ra? Nói khác đi, loài vượn khỉ đã KHÔNG TIẾN BỘ vì ngôn ngữ của chúng bị giới hạn. Chúng đã KHÔNG thể nói được những kinh nghiệm hiểu biết mang ý nghĩa trừu tượng, để có thể truyền đạt, quảng bá và nhân lên những hệ quả của kinh nghiệm hiểu biết ấy cho các thế hệ kế tiếp, đồng thời để thúc đẩy tiến hóa hơn về mặt tư duy trí tuệ và trí thức. Cũng một cách tương tự, nếu con người tuy đã có đầy đủ ngôn ngữ để bày tỏ những suy nghĩ bức xúc của mình, nhưng lại bị cấm đoán hoặc bị hạn chế thì có cũng như không—vì chẳng khác gì loài vượn khỉ. Trong khi đó, những người có quyền nói thì lại nói những điều DỐI TRÁ, những điều KHÔNG THẬT. Và hệ quả là dân chúng sống trong ảo tưởng của những câu chuyện dối trá. Chuyện tốt lại tưởng xấu, chuyện xấu lại tưởng tốt. Và cứ thế đưa đến những sai lầm trong thói quen suy nghĩ, trong thói quen hành động… Lâu dần, những hiểu biết ấy trở thành hoang tưởng trong tâm tư tình cảm của dân chúng. Trước đây, ông Hồ Chí Minh đã từng hô hào đánh đuổi ngoại xâm để giành độc lập, tự do, dân chủ, hạnh phúc. Nhưng đến nay, kể cả những người đã hiểu muộn màng, đều có thể nhận ra: tất cả chỉ là ảo tưởng và lừa dối. Bỡi lẽ trong triết lý CNCS không hề có chỗ đứng cho chủ nghĩa quốc gia dân tộc. Ông Hồ Chí Minh đã là một ủy viên Đệ Tam Quốc Tế Cọng Sản, nên ông KHÔNG thể là người ái quốc được—cho dù trong huyết tộc của ông thật sự có lòng ái quốc. Thành thử, dối trá và mị dân là điều tất yếu khi ông đem cái Chủ Nghĩa Cộng Sản ngoại lai về nước áp dụng. Cụ thể là trong thời kỳ chưa chiếm trọn đất nước, ông đã phải “mai phục” tên Đảng Lao Động thay vì Đảng Cọng Sản, và “mai phục” tên nước Việt Nam Dân Chủ Cọng Hòa thay vì nước CHXHCNVN. Thậm chí cả cái tên, tuổi, và lý lịch của ông cũng KHÔNG THẬT. Ngày nay, sau những thất bại áp dụng CNCS trên toàn cõi đất nước, các nhà cầm quyền kế thừa đã phải thay đổi sách lược kinh tế và bộ mặt chính trị, để cho phù hợp với xu thế phát triển toàn cầu của nhân loại. Bỡi vì CNCS đã xuất phát từ những định nghĩa SAI LẦM về bản chất thực sự của con người, cũng như về tiến bộ của xã hội và lịch sử nhân loại, nên nó đã phải cáo chung. Những từ ngữ biến thái như “kinh tế thị trường theo định hướng XHCN”, v.v… chỉ là những từ ngữ quanh co, dối trá mà thôi. Mà đã quanh co, dối trá thì những điều thay đổi mang tính “mai phục” như thế, cũng KHÔNG sao đáp ứng được thực chất của tình trạng đất nước lạc hậu do chính cái bản chất DỐI TRÁ của CNCS tạo ra. Tuy đã có cải thiện trong thời gian gần đây, nhưng những sự cải thiện đó KHÔNG phải từ bản chất “đúng đắn” XHCN hay từ “đỉnh cao trí tuệ” XHCN, mà là từ công sức và sáng tạo riêng tư của dân chúng đã biết trở lại làm ăn dựa trên cơ sở vật chất lẫn tinh thần TƯ HỮU của mình—mặc dù còn bị hạn chế. Proudhon (1809–1865), một nhà xã hội học Pháp, đã từng định nghĩa: “Tư hữu là ăn cắp”, và CNCS cũng đã thoát thai từ những quan niệm tương tự. Tuy nhiên, khi đã đi vào thực tế, chúng ta lại phát hiện: chính CNCS đã tạo ra một cơ cấu độc quyền, khiến những kẻ có quyền hành dễ dàng lợi dụng quyền hành để tham nhũng… Cho nên vấn đề “chính danh” cũng là điều rất thiết yếu trong công cuộc phát triển đất nước và bảo vệ đất nước. Thật vậy, chúng ta không thể bảo vệ đất nước với một tên gọi nước “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” được. Bỡi lẽ không những bản chất CNXH không thể phù hợp với thực tế xã hội và kinh tế của Việt Nam nữa, mà chính ngay cái tên gọi nước “CHXHCNVN” nghe ra cũng không chính danh chút nào. Nó sai cách diễn đạt tư tưởng của người Việt Nam. Tiếng Việt chúng ta nói con trâu trắng, chứ không nói trắng con trâu. Tức, nói danh từ chủ định VIỆT NAM trước, kế đó mới nói những từ ngữ bổ túc về thể chế chính trị CHXHCN—vì đây chỉ là một thể chế chính trị không hơn không kém. Lãnh đạo một đất nước cũng giống như kẻ làm cha mẹ trong một gia đình. Họ KHÔNG thể dối trá với con cái mãi mãi, đồng thời cũng KHÔNG thể cấm đoán hay hạn chế con cái nói ra những điều chúng khám phá và hiểu từ những ngoại cảnh tiếp xúc bên ngoài, để học hỏi TIÊN BỘ. Vì nếu như thế, gia đình đó sẽ BẤT HẠNH vô cùng! Và cũng theo thiển ý chúng tôi, đó cũng chính là nguyên nhân cội nguồn trì trệ và lạc hậu của đất nước ta hiện nay.

Nam Phan

March 13, 2008

Khối 8406 Tuyên Ngôn Tự Do Dân Chủ Cho Việt Nam 2006

Khối 8406 Tuyên Ngôn Tự Do Dân Chủ Cho Việt Nam 2006

Bloc 8406-Supporters of Manifesto on Freedom & Democracy for Viet Nam 2006

vanphong8406@gmail.com

Kháng thư số 19

Tố cáo những thành tích phản nhân quyền của nhà cầm quyền CS Việt Nam 3 tháng đầu năm 2008

Việt Nam, ngày 12 tháng 03 năm 2008

Kính thưa toàn thể Đồng bào VN trong và ngoài nước cùng các Thân hữu quốc tế,

Trong chuyến công du đầu tháng 3 tại các nước Anh, Ai-len và Đức, ông Nguyễn Tấn Dũng đã mạnh miệng tuyên bố với chính giới và báo giới Âu châu rằng tại Việt Nam, nhân quyền ngày càng được cải thiện, không có tù nhân chính trị mà chỉ chỉ có tù nhân hình sự, và nhà nước đang xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh… Thế nhưng, nhiều sự kiện trong quý I năm 2008 đã cho thấy đó là những lời lường gạt, dối trá. Nhà cầm quyền CSVN tiếp tục đàn áp toàn xã hội, không ngừng lập những “thành tích phản nhân quyền”. Sau đây là những vụ việc tiêu biểu:

1- Đối với dân tộc.

– Dịp kỷ niệm 40 năm cuộc thảm sát Mậu Thân (1968-2008) lẽ ra là cơ hội cho đảng CSVN sám hối trước nhân dân, đặc biệt nhân dân miền Nam, vì đã tàn sát dã man cả vạn thường dân vô tội trong những ngày tết thiêng liêng của dân tộc. Thế nhưng, CSVN vẫn cứ lòng chai dạ đá, xuyên tạc lịch sử, đầu độc dư luận, ngang nhiên trình bày biến cố Tết Mậu Thân như “cuộc tổng tấn công và nổi dậy của nhân dân miền Nam”, như một “chiến thắng lẫy lừng và đầy sáng tạo của Cách mạng” qua những chương trình phát thanh truyền hình, những cuộc “hội thảo khoa học”, những buổi gặp mặt ăn mừng, và nhất là qua cuộc diễu hành tại Dinh Thống Nhất sáng ngày 1-2-2008.

– Dịp Trung Cộng hợp thức hóa việc xâm chiếm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ngày 2-12-2007 lẽ ra là cơ hội cho đảng CSVN tạ tội với dân tộc (vì đã bán đất dâng biển cho ngoại bang kể từ năm 1958) bằng cách vận động đoàn kết đồng bào mọi nơi và mọi giới giành lại gia sản của tiên tổ. Thế nhưng, với tâm hồn nô lệ Bắc triều, CSVN lại đàn áp các cuộc biểu tình chống Trung Cộng của học sinh, sinh viên, nhà báo, dân oan, chiến sĩ dân chủ… vốn đã liên tục xảy ra cho đến hôm 19-1 (kỷ niệm 34 năm hải chiến Hoàng Sa). Mới đây, bất chấp niềm đau mất đảo vào tay Trung Cộng, CSVN lại điềm nhiên tham gia vào thế vận hội Bắc Kinh bằng cách tổ chức cuộc rước đuốc ô nhục qua Sài Gòn ngày 29/30-4 trước khi ngọn đuốc này rước qua Hoàng Sa. Đây là hành vi mặc nhiên công nhận chủ quyền của Trung Cộng trên 2 quần đảo của đất nước.

– Với đường lối quản lý xã hội, điều hành kinh tế ngu dốt, đầy cưỡng bức, kiểu bóc lột, CSVN đang đẩy toàn bộ đất nước vào cơn khủng hoảng lạm phát trầm trọng (tháng 1 tăng 14% và tháng 2 tăng 16%), khiến điện, nước, xăng dầu tăng 17 % và giá thực phẩm nhảy vọt tới 24 % (theo Roger Mitton). Ngoài ra, việc đề ra những chính sách thất nhân tâm như cấm bán hàng rong, dẹp xe ba gác, gia tăng học phí đã đẩy hàng chục triệu người nghèo vào bước đường cùng, khiến cho hơn 114.000 học sinh bỏ học tính đến tháng 12-2007 (theo số liệu của Bộ GD-ĐT, Tuoitre online ngày 10-03) và nay đã lên tới 150.000. Việc ấy còn khiến cho nông dân và sinh viên trở thành những con nợ của nhà nước, từ đó bị khống chế về mặt tư tưởng và quan điểm chính trị.

– Việc khống chế tư tưởng và quan điểm này còn được CS áp đặt lên toàn xã hội qua cái gọi là “cuộc vận động học tập tư tưởng và đạo đức của Hồ chủ tịch” vốn phổ biến sâu rộng từ 3-2-2007, sơ kết mỗi 19-5 hàng năm, tổng kết ngày 3-2-2011, trên các phương tiện truyền thông, trong các học đường từ nhỏ tới lớn, trong các cơ quan nhà nước từ địa phương tới trung ương, trong các đoàn thể nhân dân thuộc Mặt trận Tổ quốc VN, trong công an, quân đội, báo giới và tôn giáo quốc doanh… Đây là một sự đầu độc tinh thần đối với nhân dân, vì Hồ Chí Minh chẳng có tư tưởng nào ngoài việc mù quáng chạy theo học thuyết sai lầm tai hại và áp dụng chế độ gian dối bạo tàn của Lênin, Stalin và Mao Trạch Đông, chẳng hề có đạo đức trong cuộc sống riêng tư (giết vợ, bỏ con, phản bội bạn bè) lẫn trong cuộc sống xã hội (gây ra bao lụn bại suy tàn, oan khiên khốn khổ, thảm sát tru diệt cho dân tộc kể từ Cải cách ruộng đất đến hôm nay).

2- Đối với dân oan.

– Sau cuộc đàn áp tàn khốc đêm 18-07-2007 đối với dân oan 19 tỉnh thành miền Nam vốn đã biểu tình khiếu kiện kể từ ngày 22-06-2007 trước Văn phòng 2 Quốc hội tại Sài Gòn, CSVN đã tuyên bố sẽ giải quyết rốt ráo mọi oan khuất tại địa phương. Thế nhưng, đó vẫn chỉ là hứa hẹn hão, lường gạt thật. Dân oan, đặc biệt tại Tiền Giang, vẫn tiếp tục cơm đùm gạo bới lên Sài Gòn, ra Hà Nội để rồi trở về tay không sau khi đã chịu cảnh màn trời chiếu đất, dầm mưa dãi nắng, cửa quan im lìm và bị công an đầu gấu hành hạ. Riêng cụ Ngô Lướt, 72t, dân oan Bình Thuận, bị kết án 9 tháng tù giam vào ngày 27-12-2007.

– Gần đây, nhà cầm quyền CSVN tiếp tục đàn áp người dân để cướp đất của họ hòng xây dựng các khu công nghiệp hay bán cho các công ty ngoại quốc. Trường hợp cụ thể xảy ra tại Khu Công nghệ cao quận 9, thành phố Sài Gòn. Vào khuya ngày 02-03-2008, hàng trăm công an đã đột nhập gia cư, bắt giam mười người dân đã dám lên tiếng phản đối chính quyền địa phương tham nhũng hôm 22-11-2007. Đó là các dân oan Nguyễn Thị Dung, Nguyễn Nam Điền, Kiều Văn Hòa, Lưu Minh Luân, Đỗ Thị Mai, Nguyễn Văn Năng, Nguyễn Thị Thơ, Dương Thị Trúc Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thị Mỹ Vân. Họ đã bị vây bắt như những tội phạm nguy hiểm và đang bị giam giữ, chờ ngày ra tòa vì tội “gây rối trật tự”. (Theo Blog Tiếng Dân Rên).

3- Đối với công nhân.

– Để đương đầu với những cuộc đình công ngày càng sâu rộng và đông đảo của công nhân nhằm phản đối chủ nhân bóc lột, công đoàn cấu kết và nhà cầm quyền đồng lõa, ngày 30-1-08, Thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng đã ký hai Nghị định số 11 và 12/2008 bắt công nhân phải “bồi thường thiệt hại” cho chủ nhân trong các cuộc đình công mà NTD gọi là “bất hợp pháp” và phải bị đem ra tòa án xét xử như những tội phạm. Với hai nghị định bất công và vô luật này, mặt nạ “đại biểu trung thành của giai cấp công nhân” của tập đoàn lãnh đạo Cộng sản lại rơi xuống và nhóm cầm đầu chế độ toàn trị một lần nữa tỏ ra là những kẻ đang ra sức bảo vệ chủ nhân, đặc biệt các chủ nhân tư bản ngước ngoài, tiếp tay cho họ bóc lột và đày ải hàng triệu công nhân đồng bào ruột thịt.

– Đang khi đó, theo báo chí trong nước (tờ Pháp Luật ngày 27-2), từ năm 2002 đến nay, có tất cả 315 lao động Việt Nam xuất khẩu sang Malaysia bị chết, riêng năm qua có 107 người đột tử. Bản tin ngày 18-02 của Ủy ban Cứu người Vượt biển lại cho biết: “Năm 2007, công ty Esquel đã tuyển 1.300 người Việt đưa sang Malaysia làm việc với lời hứa mỗi tháng sẽ nhận được khoảng 245 Mỹ kim. Tuy nhiên, sau đó họ chỉ nhận được khoảng 60 Mỹ kim một tháng, do đấy không thể nào sống nổi”. UBCNVB cũng cho biết: cách đây nửa năm, trên 200 công nhân đã được đưa qua Jordan để làm việc cho công ty may mặc W&D Apparel Jordan Corp. Chủ nhân cam kết trả 220 Mỹ kim một tháng, nhưng trên thực tế họ chỉ nhận được từ 80 đến 120 Mỹ kim. Hôm 20-02-08, vì đồng loạt đình công, họ đã bị nhân viên và cảnh sát đánh đập, khiến 5 công nhân phải nhập viện. Tất cả các thảm trạng trên xảy ra là do thái độ vô trách nhiệm của nhà cầm quyền CSVN và đại diện sở tại, vốn quen thói đem con bỏ chợ, sống chết mặc bây, phủi tay sau khi thu tiền!

4- Đối với các nhà dân chủ.

– CSVN tiếp tục giam cầm không xét xử nhiều nhà dân chủ quốc nội lẫn hải ngoại, chẳng hạn 4 thành viên của đảng Việt Tân là Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân, ông Somsak Khunmi, các anh Nguyễn Thế Vũ, Nguyễn Viết Trung (bị bắt ngày 17-11-2007, thậm chí không cho gia đình thăm gặp), 3 thành viên Khối 8406 là chị Hồ Thị Bích Khương (bị bắt ngày 25-4-2007), Ký giả Trương Minh Đức (cũng là thành viên Đảng Vì Dân, bị bắt ngày 05-05-2007), anh Lương Văn Sinh (bị bắt ngày 10-01-2008) và nhiều người khác nữa. Tất cả họ chỉ có mỗi tội là tranh đấu bất bạo động để đòi hỏi nhân quyền cho đồng bào hay đòi lại tài sản cho dân oan. Riêng anh Lê Trí Tuệ, một thành viên Khối 8406 khác, đã trốn sang lánh nạn tại Cambodia giữa tháng 4-2007, nhưng đến tháng 5 thì bị mất tích cách bí hiểm, có thể do công an CSVN bắt cóc.

– Nhiều nhà dân chủ khác tiếp tục bị đem ra xét xử trong những phiên tòa vô luật để lãnh những bản án bất công, như hai thành viên Khối 8406 là anh Trương Quốc Huy và anh Hàng Tấn Phát bị tuyên án mỗi người 6 năm tù giam về tội “chống phá nhà nước” ngày 29-1-2008; như 5 thành viên Hiệp Hội Đoàn Kết Công Nông Việt Nam cũng là đảng viên Đảng Dân chủ Nhân dân đã bị xử y án trong phiên tòa phúc thẩm ngày 25-02-2008: ông Đoàn Văn Diên (4 năm 6 tháng), chị Trần Thị Lệ Hồng (3 năm), anh Đoàn Huy Chương (1 năm 6 tháng), chị Nguyễn Thị Tuyết (1 năm 6 tháng), ông Phùng Quang Quyền (1 năm 6 tháng). Phiên tòa này đã diễn ra một cách lén lút, chẳng thông báo cho thân nhân. Ký giả Trương Minh Đức cũng sẽ bị đưa ra toà án tỉnh Kiên Giang ngày 18-3-2008 sắp tới với cáo buộc vi phạm Điều 258 Bộ luật Hình sự.

– Dịp nhà dân chủ lão thành, sáng lập viên Khối 8406, cựu đảng viên CS Hoàng Minh Chính ra đi, CSVN đã tìm mọi cách để phá đám tang lễ của nhà đấu tranh chân chính và đáng ngưỡng mộ này, với những hành động lỗ mãng và tàn bạo. Trước hết họ tìm cách thao túng lèo lái việc tổ chức tang lễ nhưng không thành, sau đó ngăn cản những ai có tinh thần dân chủ đến phúng điếu, kể từ Hòa thượng Thích Không Tánh là chủ lễ cầu siêu (song thất bại), đến các nhà đối kháng khác như kỹ sư Đỗ Nam Hải, ông Nguyễn Bá Đăng, cựu đảng viên Vi Đức Hối, giáo viên Vũ Hùng, giáo sư Nguyễn Thượng Long, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, ký giả Nguyễn Khắc Toàn, kỹ sư Phạm Văn Trội… Tất cả đều bị phong tỏa tại gia. Công an còn ngang nhiên giật các vòng hoa phúng điếu của các tập thể hay cá nhân dân chủ từ trong lẫn ngoài nước.

– Nhiều nhà dân chủ khác tiếp tục bị sách nhiễu quản chế như Thượng tọa Thích Thiện Minh, Kỹ sư Đỗ Nam Hải (3 lần bị cấm ra Hà Nội), cựu chiến binh Trần Anh Kim, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa (bị hăm dọa giết chết), nhà văn Hoàng Tiến, ký giả Nguyễn Khắc Toàn, các nữ chiến sĩ dân chủ như Dương Thị Xuân, Vũ Thanh Phương, Lê Thị Kim Thu, Lư Thị Thu Duyên, Phạm Thanh Nghiên… Thành viên Câu lạc bộ Nhà báo tự do như anh Hoàng Hải (Điếu Cày) và Luật gia Phan Thanh Hải thì bị gây rối đủ cách trong công ăn việc làm. Đặc biệt có Luật sư Bùi Kim Thành, nhà tranh đấu nhiệt tình cho dân oan, đã bị công an dùng vũ lực đưa vào bệnh viện tâm thần Biên Hòa sáng ngày 6-3-2008 vừa qua, dù bà chẳng hề điên loạn. Sau đó bà bị tiêm thuốc cho mê man và bị phong tỏa không cho gặp thân nhân bằng hữu. Đây là lần thứ hai vị luật sư riêng của Tập thể dân oan này bị CSVN đối xử một cách man rợ như thời bạo chúa Staline bên Liên xô. Lần thứ nhất là từ ngày 2-11-2006 đến ngày 16-7-2007, cũng tại nhà thương điên Biên Hòa.

5- Đối với các tôn giáo.

– Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tiếp tục là nạn nhân của nhà cầm quyền CS. Hàng lãnh đạo của Giáo hội như các Hòa thượng Huyền Quang, Quảng Độ, Thiện Hạnh, Không Tánh… vẫn mãi bị quản chế hay sách nhiễu. Nhiều tịnh thất bị phân biệt đối xử như tịnh thất Hồng Liên ở An Giang. Nhưng nổi bật nhất là sự kiện nhà cầm quyền Cộng sản vừa trao khu đất Việt Nam Quốc tự của Viện Hoá Đạo ở quận 10 Sài Gòn cho Công ty Berjaya Land Bhd (B-Land) thuộc Tập đoàn Berjaya (Malaysia) hôm 23-2-2008, để công ty này xây dựng Trung tâm Tài chính Việt Nam, từ đó kéo theo việc phá sập ngọn tháp Việt Nam Quốc tự cao bảy tầng tại đó (Phòng Thông tin PGQT, Thông cáo báo chí ngày 5-3-2008). Sự kiện thứ hai là nhà cầm quyền CS, qua tay chân của mình là Giáo Hội Phật giáo VN, sẽ tổ chức Đại lễ Phật Đản Tam hợp quốc tế (hay Đại lễ Vesak Liên Hiệp Quốc 2008) vào trung tuần tháng 5 năm tới tại Hà Nội, với âm mưu biến Đại lễ này thành một màn kịch nhằm đạt tới những mục tiêu chính trị của họ, những mục tiêu hoàn toàn xa lạ với ý nghĩa văn hoá và tôn giáo của Đại lễ. Nhưng làm sao tôn vinh Đức Phật và Phật giáo khi Nhà nước Cộng sản không ngừng đàn áp Giáo hội lịch sử và dân lập là GHPGVNTN và tiếp tục quản chế khắt khe hàng lãnh đạo cao cấp của GH này?

– Giáo hội Công giáo cũng tiếp tục được nhà cầm quyền “chiếu cố” qua việc cướp thêm hay không hoàn trả đất đai của Giáo hội, như tại Sài gòn (đại chủng viện thánh Giuse, giáo xứ Thánh Cẩm), tại Huế (đan viện Thiên An, trung tâm Thánh mẫu La Vang Quảng Trị), tại Hà Nội (các giáo xứ Thái Hà, Hà Đông). Nhưng nổi bật nhất là vụ Tòa Khâm Sứ vốn đã nổi lên từ cuối năm rồi qua việc giáo dân Hà Nội tụ tập cầu nguyện tại nơi tranh chấp và suýt bị đàn áp. Sau khi Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt ra văn thư ngày 01-02-2008, kêu gọi giáo dân ngưng cầu nguyện tại nơi này để tỏ thiện chí, người ta tưởng sau tết Nguyên đán nhà cầm quyền sẽ đáp lễ mà giải quyết vụ việc đúng luật. Thế nhưng, CSVN vẫn ngoan cố bày mưu chước khác để đối phó. Đó là nhờ tay chân trong Giáo hội Phật giáo VN và trong nhóm Giao điểm ở hải ngoại ra văn thư, viết bài vở tuyên bố khu đất Tòa Khâm sứ nguyên là tài sản của Phật giáo vì trên đó từng có một ngôi chùa và một bảo tháp mang tên Báo Thiên nhưng rồi đã bị Công giáo, được chính quyền Thực dân Pháp hỗ trợ, đã cướp lấy, đập phá để xây cơ sở của mình. Dẫu lập trường này sai lầm về lịch sử lẫn pháp lý, CS vẫn dùng nó để mong chia rẽ các tôn giáo, xúi đôi bên đánh nhau để mình ở giữa trục lợi, trước mắt là khỏi trả Tòa Khâm sứ rồi hàng ngàn cơ sở đất đai tôn giáo khác nữa.

– Giáo hội Tin Lành tiếp tục chịu nhiều thống khổ. Như Hội thánh Tin Lành Việt Nam, chi hội Trà Vinh, ở xã Ngũ Lạc, huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh, vừa bị hành hung vừa bị cấm nhóm họp thờ phượng (đài RFA, ngày 07-03-2008). Như một tín đồ người Thượng ở Tây Nguyên tên Kpa Kloh, 41 tuổi, đã qua đời trong một trại tù ở Phú Yên ngày 20-02 vì bị công an CSVN tra tấn đến chết (Hãng thông tấn Tin Lành Bos News Life). Như một tín đồ người Thượng khác cũng ở Tây Nguyên, buôn De Ar là bà Haner đã bị bắt và bị thẩm vấn trong nhiều giờ. Sau đó, ngôi nhà của bà đã bị công an đốt cháy trụi, khiến bà và 3 con nhỏ không còn chỗ nương náu (Tổ chức Montagnard Foundation tại Hoa Kỳ). Mới đây, chuyến viếng thăm các tù nhân lương tâm tại Hà Nam và Thanh Hóa của đoàn mục sư và tu sĩ Tin lành Mennonite gồm 23 người từ ngày 26-01 đến ngày 04-02 đã gặp không ít trở ngại từ phía nhà cầm quyền CSVN (xem Bản tường trình ngày 25-02-2008 của mục sư Nguyễn Hồng Quang).

Từ những vụ việc đàn áp kể trên, vốn là phản chứng của bao lời tuyên bố láo lường của nhà cầm quyền CSVN, toàn thể Khối 8406 chúng tôi, gồm hàng chục ngàn thành viên trong lẫn ngoài nước, nay đồng thanh lên tiếng:

1- Đòi hỏi đảng và nhà cầm quyền CSVN phải biết sám hối lỗi lầm, thành tâm phục thiện, công nhận sự thật về tội giết người đã gây ra cho nhân dân, đặc biệt trong biến cố Tết Mậu Thân 1968, về tội bán nước đã gây ra cho dân tộc, đặc biệt trong vụ dâng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc kể từ năm 1958. Đòi hỏi đảng và nhà cầm quyền CSVN phải từ bỏ chế độ độc tài độc đảng, thần tượng giả trá Hồ Chí Minh, trả lại quyền làm chủ đất nước cho toàn dân, quyền làm người cho mỗi cá thể, quyền sinh hoạt độc lập cho mỗi tôn giáo, quyền tự do cho tất cả các tù nhân lương tâm và các nhà dân chủ đối lập (trong đó có linh mục Nguyễn Văn Lý cùng các thành viên lãnh đạo đảng Thăng Tiến VN), để cùng tất cả đồng bào trong lẫn ngoài nước giải quyết những cơn khủng hoảng đủ loại của quốc gia, đương đầu với hiểm họa Bắc phương xâm lược.

2- Kêu gọi sự đoàn kết giữa các tôn giáo, giữa mọi thành phần xã hội tại VN để đối phó với âm mưu chia rẽ của CS, để gỡ bỏ ách thống trị lâu dài của thiểu số cầm quyền hung hiểm và tàn bạo, để áp lực lên tập đoàn lãnh đạo CS hầu buộc họ trả lại mọi tài sản vật chất (đất đai, cơ sở) và mọi tài sản tinh thần (các nhân quyền và dân quyền), để thúc đẩy nhà cầm quyền CS phải cấp tốc giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ quốc gia đang tranh chấp với Trung Cộng theo Công pháp quốc tế. Trước mắt, chúng tôi kêu gọi toàn thể đồng bào quốc nội liên tục biểu tình chống Trung Cộng cướp nước và Việt Cộng bán nước, tẩy chay cuộc rước đuốc thế vận hội qua Sài Gòn ngày 29/30-4 sắp tới, kêu gọi các lực sĩ và các du khách Việt Nam không tham dự thế vận hội Bắc Kinh là một thế vận hội ô nhục vì được tổ chức bởi một nhà cầm quyền đàn áp mà nay vừa bị tái bêu danh trong Báo cáo thường niên về Nhân quyền của bộ Ngoại giao Hoa Kỳ.

3- Kêu gọi đồng bào hải ngoại và thân hữu quốc tế tiếp tục ủng hộ phong trào dân chủ tại quốc nội, bằng cách thông báo đầy đủ tin tức về nhân quyền tại VN ra khắp năm châu, bằng cách thực hiện liên tục những hoạt động đấu tranh dưới mọi hình thái để nhắc nhở ý thức của đồng hương và đánh động lương tâm của thế giới về bao thảm trạng tại quốc nội, bằng cách vận động các chính phủ, các tổ chức, các cơ quan quốc tế ủng hộ đại cuộc đòi tự do cho dân tộc, bằng cách chuẩn bị nhân lực, tài lực và vật lực cho ngày trở về xây dựng lại quê hương một khi chế độ độc tài CS bị xóa sổ.

4- Ủng hộ Lời Kêu gọi 8 điểm cho dân chủ Việt Nam của Hòa thượng Thích Quảng Độ, Lộ trình 9 điểm dân chủ hóa Việt Nam của Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, vì hai sáng kiến này phù hợp với Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam và Tiến trình dân chủ hóa Việt Nam gồm 4 giai đoạn 8 bước của Khối chúng tôi (xin xem phụ lục đính kèm). Chúng tôi cũng ủng hộ những Dự tính đưa ra ngày 15-03-2008 của Ủy ban Vận động Liên kết Đấu tranh Tự do cho Việt Nam, ủng hộ chiến dịch “Hủy bỏ điều 4 Hiến Pháp” và “Khiếu kiện điều 4 Hiến pháp trước LHQ” do Phong trào Hiến chương 2000 (tiến sĩ Nguyễn Bá Long điều hợp) và Đảng Thăng Tiến Việt Nam (tiến sĩ Nguyễn Ngọc Hùng làm văn phòng trưởng) phát động. Chúng tôi chào mừng sự trở về giữa phong trào dân chủ của nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, một thành viên nổi bật của Khối 8406.

Cuối cùng, Khối 8406 tại quốc nội lẫn hải ngoại chân thành cảm ơn mọi hỗ trợ của Đồng bào khắp nơi và của Thân hữu quốc tế, đồng thời tha thiết và long trọng kính mời toàn thể Quý vị hướng về kỷ niệm 2 năm ngày thành lập Khối chúng tôi (08-04-2006) bằng những hoạt động tùy sáng kiến với áo trắng tự do dân chủ.

Chúng tôi chân thành cảm ơn toàn thể Quý vị.

Làm tại Việt Nam ngày 12-03-2008

Ban Đại diện lâm thời Khối 8406 :

1- Kỹ sư Đỗ Nam Hải, Sài Gòn

2- Giáo sư Nguyễn Chính Kết, Sài Gòn (đang vận động tại hải ngoại) 3- Cựu Sĩ quan Trần Anh Kim, Thái Bình

4- Linh mục Phan Văn Lợi, Huế

5- Văn sĩ Nguyễn Xuân Nghĩa, Hải Phòng.

(*) Hôm nay cũng là ngày bộ Ngoại giao Hoa kỳ công bố Phúc trình thường niên về Nhân quyền trên thế giới năm 2008

TÀI LIỆU ĐÍNH KÈM

Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam 2006

của 118 Nhà Đấu tranh Dân chủ quốc nội Việt Nam

Việt Nam, 8-4-2006

Kính gửi Đồng bào Việt Nam ở trong và ngoài Nước,

Chúng tôi, ký tên dưới đây, đại diện cho hàng trăm nhà đấu tranh Dân chủ ở quốc nội và tất cả mọi người Dân nào đang khao khát một nền Dân chủ chân chính cho Quê hương Việt Nam hôm nay, đồng thanh lên tiếng :

I. Thực trạng của Việt Nam

1- Trong cuộc Cách mạng tháng 8-1945, sự lựa chọn của toàn Dân tộc ta là Độc lập Dân tộc, chứ không phải là chủ nghĩa xã hội. Bản Tuyên Ngôn Độc Lập ngày 2-9-1945 chẳng nhắc đến một từ nào về chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa cộng sản cả. Hai nguyên nhân chính làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng ấy là Khát vọng Độc lập Dân tộc và Khoảng trống quyền lực lúc bấy giờ ở Việt Nam (thực dân Pháp đã bị quân Nhật đảo chính cướp quyền từ ngày 9-3-1945 và quân Nhật đã đầu hàng phe Đồng minh ngày 15-8-1945).

Rõ ràng mục tiêu của cuộc cách mạng ấy đã bị đảng Cộng sản Việt Nam đánh tráo. Và dĩ nhiên, Quyền Dân tộc tự quyết cũng hoàn toàn bị thủ tiêu. Đã có ít nhất 2 cơ hội lịch sử rất thuận lợi là năm 1954 ở miền Bắc và năm 1975 trên cả nước, để Dân tộc khẳng định Quyền tự quyết của mình. Nhưng tất cả đều đã bị đảng Cộng sản Việt Nam tráo trở không thực hiện. Vì một khi nền chuyên chính vô sản đã được thiết lập, thì theo Lênin, chức năng đầu tiên của nó chính là : bạo lực và khủng bố trấn áp !

2- Tiếp đến, ngày 2-9-1945 tại Hà Nội, ông Hồ Chí Minh, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã trịnh trọng tuyên bố với Dân tộc và với Thế giới rằng : “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo Hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được ; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Lời nói bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập nǎm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là : mọi Dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp nǎm 1791 cũng nói : “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi ; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được…”. (trích Tuyên Ngôn Độc Lập 2-9-1945).

Thế nhưng, tất cả những quyền thiêng liêng ấy của dân tộc đều bị chà đạp thô bạo ngay sau đó, khi mà chính quyền cộng sản được dựng lên.

3- Đến tháng 2-1951 Tuyên ngôn của đảng Lao động Việt Nam (nay là đảng Cộng sản Việt Nam) kỳ đại hội lần thứ 2, đã viết: “Chủ nghĩa của Đảng là chủ nghĩa Mác–Lênin”. Và trong Điều Lệ, phần Mục Đích và Tôn Chỉ còn khẳng định rõ ràng hơn : “Đảng Lao động Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác – Ǎngghen – Lênin – Xtalin và tư tưởng Mao Trạch Đông, kết hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng…”.

Kể từ đó, nhất là ở miền Bắc sau năm 1954, rồi cả nước sau ngày 30-4-1975 thì bóng ma của chủ nghĩa cộng sản đã luôn đè ám lên đầu, lên cổ toàn Dân Việt Nam. Chính cái bóng ma ấy chứ không phải là cái gì khác đã triệt tiêu hầu hết những quyền con người của Nhân dân Việt Nam. Và hôm nay, nó vẫn đang tạm đô hộ, chiếm đóng lên cả 2 mặt tinh thần và thể chất của toàn Dân tộc Việt Nam.

II. Qui luật phổ biến toàn cầu

1- Lịch sử đã minh định rằng mọi quyền tự do, dân chủ ở bất cứ một chế độ độc đảng toàn trị nào, dù cộng sản hay không cộng sản, cũng đều bị chà đạp không thương tiếc, chỉ khác nhau ở mức độ mà thôi. Bất hạnh thay là cho đến nay, Dân tộc Việt Nam vẫn thuộc về một trong số ít các Quốc gia trên thế giới còn bị cai trị bởi chế độ độc đảng toàn trị cộng sản. Điều này thể hiện cụ thể tại Điều 4 của Hiến pháp Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam hiện hành, rằng : “Đảng cộng sản Việt Nam… theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội.” Chính vì điều này mà các quyền tự do, dân chủ của Nhân dân đã hoàn toàn bị triệt tiêu, may ra chỉ còn vài mẩu vụn mà thôi !

2- Chính hệ thống quyền lực không hề chấp nhận cạnh tranh và không hề chấp nhận bị thay thế này đã thúc đẩy mạnh mẽ đà thoái hoá, biến chất của toàn bộ hệ thống ấy. Vì chẳng có qui luật và nguyên tắc cạnh tranh công bằng nào trên chính trường, nên sau những kỳ bầu cử thì toàn Dân không thể chọn được những con người và những lực lượng chính trị xứng đáng nhất. Bộ máy lãnh đạo, quản lý và điều hành do vậy ngày càng hư hỏng, rệu rã từ trung ương xuống cơ sở địa phương. Hậu quả là Việt Nam hôm nay trở thành Quốc gia bị tụt hậu quá xa so với các Nước trong khu vực và thế giới. Quốc nhục này và các quốc nạn khác khó bề tẩy xóa. Vấn đề của mọi vấn đề, nguyên nhân của mọi nguyên nhân chính vì đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo Đất nước ! Thực tiễn đã xác minh rằng bất kỳ Nước nào đã bị rơi vào quỹ đạo của chủ nghĩa cộng sản thì đều điêu tàn thê thảm cả. Liên Xô, cái nôi cộng sản, cùng với các Nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu khác, đã dũng cảm vượt qua chính mình để quay lại tìm đường đi đúng cho Dân tộc họ.

3- Chúng ta đều hiểu rằng : không ai có thể sửa được lịch sử, nhưng có thể bẻ chiều lịch sử. Và điều quan trọng hơn là qua những bài học của lịch sử, định hướng tốt cho tương lai. Con đường hôm qua của Dân tộc ta đã bị những người Cộng sản Việt Nam chọn một cách vội vàng, thiếu chín chắn và áp đặt cho cả Dân tộc một cách khiên cưỡng. Con đường ấy thực tế đã chứng minh là hoàn toàn sai lạc. Vì vậy Dân tộc ta hôm nay phải chọn lại con đường cho mình. Và chắc chắn cả Dân tộc cùng chọn sẽ tốt hơn một người hay một nhóm người nào đó. Đảng cộng sản Việt Nam cũng chỉ là một bộ phận của Dân tộc, nên không thể mạo danh Dân tộc để chọn thay ! Trước Dân tộc và lịch sử suốt hơn nửa thế kỷ qua (1954–2006), Đảng cầm quyền ấy đã tiếm danh chứ không chính danh chút nào! Bởi lẽ các cuộc bầu cử thực sự tự do hoàn toàn vắng bóng ở Việt Nam.

Từ thực trạng và qui luật trên đây, với ý thức trách nhiệm của Công dân trước vận mệnh Đất nước, chúng tôi xin được phép giãi bày cùng toàn thể Đồng bào Việt Nam trong và ngoài Nước :

III. Mục tiêu, phương pháp và ý nghĩa cuộc đấu tranh

1- Mục tiêu cao nhất trong cuộc đấu tranh giành tự do, dân chủ cho Dân tộc hôm nay là làm cho thể chế chính trị ở Việt Nam hiện nay phải bị thay thế triệt để, chứ không phải được “đổi mới” từng phần hay điều chỉnh vặt vãnh như đang xảy ra. Cụ thể là phải chuyển từ thể chế chính trị nhất nguyên, độc đảng, không có cạnh tranh trên chính trường hiện nay, sang thể chế chính trị đa nguyên, đa đảng, có cạnh tranh lành mạnh, phù hợp với những đòi hỏi chính đáng của Đất nước, trong đó hệ thống tam quyền Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp phải được phân lập rõ ràng, phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế và trải nghiệm của Nhân loại qua những nền dân chủ đắt giá và đầy thành tựu.

Mục tiêu cụ thể là thiết lập lại các quyền cơ bản của toàn Dân sau đây :

– Quyền Tự do Thông tin Ngôn luận theo Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị của Liên Hiệp Quốc được biểu quyết ngày 16.12.1966, Việt Nam xin tham gia ngày 24-9-1982, điều 19,2 : “Mọi người có quyền tự do ngôn luận, quyền nầy bao gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức truyền miệng, bằng bản viết, bản in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật hoặc thông qua bất cứ phương tiện truyền thông đại chúng khác tuỳ theo sự lựa chọn của mình”. Nghĩa là các đảng phái, tổ chức, cá nhân có quyền thông tin ngôn luận qua báo chí, phát thanh, truyền hình và các phương tiện truyền thông đại chúng khác mà không cần đợi phép của nhà cầm quyền.

– Quyền Tự do hội họp, lập hội, lập đảng, bầu cử và ứng cử theo Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị, điều 21 : “Mọi Công dân… đều có quyền và cơ hội để (a) tham gia vào việc điều hành các công việc xã hội một cách trực tiếp hoặc thông qua những đại diện được họ tự do lựa chọn”; (b) bầu cử và ứng cử trong các cuộc bầu cử định kỳ chân thực, bằng phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và bỏ phiếu kín nhằm đảm bảo cho cử tri tự do bày tỏ ý nguyện của mình”. Nghĩa là các đảng phái thuộc mọi khuynh hướng cùng nhau cạnh tranh lành mạnh trong một nền dân chủ đa nguyên, đa đảng chân chính.

– Quyền Tự do hoạt động Công đoàn độc lập và Quyền Đình công chính đáng theo Công ước Quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, được Liên Hiệp Quốc biểu quyết ngày 16-12-1966, điều 7 và 8 : “Các Quốc gia thành viên của Công ước công nhận quyền của mọi người được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi…, quyền của mọi người được thành lập và gia nhập Công đoàn mà mình lựa chọn, chỉ phải tuân theo quy chế của Tổ chức đó để thúc đẩy và bảo vệ các lợi ích kinh tế và xã hội của mình… (với) quyền đình công…”. Các công đoàn này phải là những tổ chức duy nhất hoạt động độc lập, không có những loại Công đoàn tay sai của nhà cầm quyền.

– Quyền Tự do Tôn giáo theo Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị, điều 18 : “Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo. Quyền tự do này bao gồm tự do có hoặc theo một Tôn giáo hoặc Tín ngưỡng do mình lựa chọn, tự do bày tỏ Tín ngưỡng hoặc Tôn giáo một mình hoặc trong tập thể với nhiều người khác, một cách công khai hoặc thầm kín dưới hình thức thờ cúng, cầu nguyện, thực hành và truyền đạo”. Các Tôn giáo này phải hoạt động độc lập, chứ không thể bị biến thành công cụ cho nhà cầm quyền.

2- Phương pháp của cuộc đấu tranh này là hòa bình, bất bạo động. Và chính Dân tộc Việt Nam chủ động thực hiện cuộc đấu tranh này. Tuy nhiên, chúng ta rất cảm ơn sự ủng hộ nhiệt tình và ngày càng hiệu quả của tất cả những bạn bè trên thế giới. Thông qua những phương tiện thông tin hiện đại và qua sự giao lưu quốc tế ngày càng rộng mở, chúng ta sẽ tìm mọi cách giúp Đồng bào kiện toàn nhận thức. Và một khi Nhân dân đã có nhận thức đúng và rõ thì nhất định sẽ biết hành động thích hợp và hiệu quả.

3- Ý nghĩa của cuộc đấu tranh này là làm cho chính nghĩa thắng phi nghĩa, tiến bộ thắng lạc hậu, các lực lượng dân tộc đang vận dụng đúng quy luật của cuộc sống và xu thế của thời đại thắng những tà lực đang tìm cách đi ngược lại những xu thế và quy luật ấy. Đảng cộng sản Việt Nam vẫn còn đồng hành cùng Dân tộc hay không là tùy ở mức độ đảng ấy có khách quan, công bằng, sáng suốt và khiêm tốn chấp nhận các nguyên tắc bình đẳng của cuộc cạnh tranh lành mạnh hay không, chỉ có thể chế chính trị độc đảng ấy là dứt khoát phải bị chốn táng vĩnh viễn vào quá khứ. Từ đó, Dân tộc sẽ tìm được những con người tốt nhất, những lực lượng chính trị giỏi nhất sau mỗi kỳ bầu cử để lãnh đạo Đất nước. Nguyên tắc “lẽ phải toàn thắng” sẽ được thiết lập và cuộc sống cá nhân sẽ trở nên tốt hơn, xã hội sẽ trở nên nhân bản hơn và Đồng bào sẽ sống với nhau thân thiện hơn.

Chúng tôi mong ước Tuyên ngôn này thúc đẩy được sự đóng góp tích cực của Đồng bào trong ngoài Nước và sự ủng hộ của Bạn bè Quốc tế. Chúng tôi chân thành cảm ơn và kêu gọi các Cơ quan Liên Hiệp Quốc, các Quốc hội, Chính phủ, Tổ chức Quốc tế và Bạn bè trên toàn thế giới tiếp tục ủng hộ cách nhiệt tình và hiệu quả cho cuộc đấu tranh đầy chính nghĩa này, góp phần đưa Tổ quốc Việt Nam sớm sánh vai cùng các Nước văn minh, đạo đức, thịnh vượng, tự do trong cộng đồng Nhân loại hôm nay.

Đồng tuyên bố tại Việt Nam ngày 08 tháng 4 năm 2006

1. Bs Nguyễn Xuân An, Huế  2. Gv Đặng Hoài Anh, Huế

3. Gv Đặng Văn Anh, Huế 4. Bs. Lê Hoài Anh, Nha Trang

5. Gs Nguyễn Kim Anh, Huế 6. Gs Nguyễn Ngọc Anh, Đà Nẵng

7. Nv Trịnh Cảnh, Vũng Tàu 8. Lm F.X. Lê Văn Cao, Huế

9. Gv Lê Cẩn, Huế 10. Lm Giuse Hoàng Cẩn, Huế

11. Gv Trần Thị Minh Cầm, Huế 12. Lm Giuse Nguyễn Văn Chánh, Huế

13.Gv Nguyễn Thị Linh Chi, Cần Thơ 14. Gs Hoàng Minh Chính, Hà Nội

15.Gv Nguyễn Viết Cử, Quảng Ngãi 16. Ths Đặng Quốc Cường, Huế

17. Nv Nguyễn Đắc Cường, Phan Thiết 18. Dn Hồ Ngọc Diệp, Đà Nẵng

19. Gv Trần Doãn, Quảng Ngãi 20. Lê Thị Phú Dung, Sài Gòn

21. Gv Hồ Anh Dũng, Huế 22. Gs Trương Quang Dũng, Huế

23. Bs Hà Xuân Dương, Huế 24. Cựu Đại tá Phạm Quế Dương, Hà Nội

25. Ls Nguyễn Văn Đài, Hà Nội 26. Ktv Trần Văn Đón, Phan Thiết

27. Bs Hồ Đông, Vĩnh Long 28. Lm Phêrô Nguyễn Hữu Giải, Huế

29. Dn Trần Văn Ha, Đà Nẵng 30. Gv Lê Thị Bích Hà, Cần Thơ

31. Bs Lê Thị Ngân Hà, Huế 32. Gv Lê Nguyễn Xuân Hà, Huế

33. Vũ Thuý Hà, Hà Nội 34. Ks Đỗ Nam Hải, Sài Gòn

35. Gv Trần Thạch Hải, Hải Phòng 36. Ktv Trần Việt Hải, Vũng Tàu

37. Ks Đoàn Thị Diệu Hạnh, Vũng Tàu 38. Dn Nguyễn Thị Hạnh, Đà Nẵng

39. Gv Phan Thị Minh Hạnh, Huế 40. Gs Đặng Minh Hảo, Huế

41. Nv Trần Hảo, Vũng Tàu 42. Nv Trần Mạnh Hảo, Sài Gòn

43. Gv Lê Lệ Hằng, Huế 44. Lm Giuse Nguyễn Đức Hiểu, Bắc Ninh

45. Yt Chế Minh Hoàng, Nha Trang 46. Gv Văn Đình Hoàng, Huế

47. Gv Lê Thu Minh Hùng, Sài Gòn 48. Gs Nguyễn Minh Hùng, Huế

49. Lm Gk Nguyễn Văn Hùng, Huế 50. Gv Phan Ngọc Huy, Huế

51. Gv Lê Thị Thanh Huyền, Huế 52. Gv Đỗ Thị Minh Hương, Huế

53. Ths Mai Thu Hương, Hải Phòng 54. Yt Trần Thu Hương, Đà Nẵng

55. PTs Nguyễn Ngọc Kế, Huế 56. Gs Nguyễn Chính Kết, Sài Gòn

57. Ths Nguyễn Quốc Khánh, Huế 58. Gv Nguyễn Đăng Khoa, Huế

59. Gs Trần Khuê, Sài Gòn 60. Cựu Thiếu tá Vũ Kính, Hà Nội

61. Nv Bùi Lăng, Phan Thiết 62. Gv Tôn Thất Hoàng Lân, Sài Gòn

63. Hội trưởng PGHHTT Lê Quang Liêm, S.Gòn 64. Bs Vũ Thị Hoa Linh, Sài Gòn

65. Lm G.B. Nguyễn Cao Lộc, Huế 66. Lm Phêrô Phan Văn Lợi, Huế

67. Gv Ma Văn Lựu, Hải Phòng 68. Gv Nguyễn Văn Lý, Hải Phòng

69. Lm Tađêô Nguyễn Văn Lý, Huế 70. Gv Cái Thị Mai, Hải Phòng

71. Gv Cao Thị Xuân Mai, Huế 72. Gv Nguyễn Văn Mai, Sài Gòn

73. Nv Hà Văn Mầu, Cần Thơ 74. Gv Phan Văn Mậu, Huế

75. Nv Lê Thị Thu Minh, Cần Thơ 76. Gv Ma Văn Minh, Huế

77. Gv Nguyễn Anh Minh, Sài Gòn 78. Bs Huyền Tôn Nữ Phương Nhiên, Đà Nẵng

79. Bùi Kim Ngân, Hà Nội 80. Ths Đặng Hoài Ngân, Huế

81. Lm G.B. Lê Văn Nghiêm, Huế 82. Gv Lê Hồng Phúc, Hải Phòng

83. Lm Đa Minh Phan Phước, Huế 84. Ks Võ Lâm Phước, Sài Gòn

85. Lm Giuse Cái Hồng Phượng, Huế 86. Ms Nguyễn Hồng Quang, Sài Gòn

87. Ks Tạ Minh Quân, Cần Thơ 88. Lm Augustinô Hồ Văn Quý, Huế

89. Lm Giuse Trần Văn Quý, Huế 90. Bs Võ Văn Quyền, Vĩnh Long

91. Bs. Trần Thị Sen, Nha Trang 92. Cư sĩ PGHHTT Lê Văn Sóc, Vĩnh Long

93. Ks Hoàng Sơn, Hải Phòng 94. Lm Phaolô Ngô Thanh Sơn, Huế

95. Gs Nguyễn Anh Tài, Đà Nẵng 96. Ks Đỗ Hồng Tâm, Hải Phòng

97. Bs. Tạ Minh Tâm, Cần Thơ 98. Gs Nguyễn Thành Tâm, Huế

99. Ms Phạm Ngọc Thạch, Sài Gòn 100. Gv Nguyễn Bình Thành, Huế

101. Gv Văn Bá Thành, Huế 102. Cư sĩ PGHH Nguyễn Văn Thơ, Đồng Tháp

103. Ths Trần Mạnh Thu, Hải Phòng 104. Gs Ts Trần Hồng Thư, Sài Gòn

105. Nhà văn Hoàng Tiến, Hà Nội 106. Cựu Sĩ quan Trần Dũng Tiến, Hà Nội

107. Lm Têphanô Chân Tín, Sài Gòn 108. Gv Nguyễn Khắc Toàn, Hà Nội

109. Nv Tôn Nữ Minh Trang, Phan Thiết 110. Gv Chế Thị Hồng Trinh, Huế

111. Bs Nguyễn Anh Tú, Đà Nẵng 112. Bs Đoàn Minh Tuấn, Sài Gòn

113. Gv Lê Trí Tuệ, Hải Phòng 114. Yt Trần Thị Hoài Vân, Nha Trang

115. Gv Ngô Thị Tường Vi, Quảng Ngãi 116. Gv Nguyễn Lê Xuân Vinh, Cần Thơ

117. Ths Hồ Ngọc Vĩnh, Đà Nẵng 118. Ks Lâm Đình Vĩnh, Sài Gòn

TIẾN TRÌNH DÂN CHỦ HÓA VIỆT NAM  GỒM 4 GIAI ĐOẠN, 8 BƯỚC CỦA KHỐI 8406Việt Nam, ngày 22 tháng 8 năm 2006

GIAI ĐOẠN I

THỰC HIỆN QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN, TỰ DO BÁO CHÍ.

1- Bước 1 : Vài chục năm nay, từ nội bộ đảng Cộng sản đến những nhà hoạt động dân chủ, nhiều Công dân Việt Nam đã lên tiếng – bằng nhiều cách – mạnh mẽ đòi nhân quyền, dân chủ, tự do, tự do thông tin ngôn luận, tự do thành lập công đoàn, tự do thành lập đảng phái, tự do tôn giáo,…cho Đất nước. Ngày 20-2-2006, 4 Linh mục công bố Lời Kêu Gọi Cho Quyền Tự Do Thông Tin Ngôn Luận “Chúng Ta Không Sợ Hãi Nữa. Chúng Tôi Phải Biết Sự Thật”, thì đến ngày 23-2-2006 lần đầu tiên hàng trăm Công dân quốc nội Việt Nam đã đồng loạt ký tên vào bản Tuyên Bố về Quyền Tự do Thông tin Ngôn luận của người Dân Việt Nam. 2- Bước 2 : Ngày 8-4-2006, Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam 2006 được long trọng công bố trước Quốc dân Việt Nam và Cộng đồng Quốc tế. Trên cơ sở Tuyên ngôn ấy, Khối 8406 được hình thành, ngày càng phát triển nhanh chóng và được Đồng bào quốc nội, hải ngoại cũng như Cộng đồng Quốc tế ủng hộ mạnh mẽ.

– Ngày 15-4-2006, Bán nguyệt san Tự Do Ngôn Luận ra số đầu tiên đồng loạt tại nhiều thành phố ở Việt Nam.

– Ngày 15-8-2006, Đặc san Tự Do Dân Chủ quyết tâm ra số đầu tiên tại Hà Nội.

– Tăng cường đấu tranh để toàn Dân Việt Nam tự giành lại quyền Tự do Thông tin Ngôn luận đã bị mất hẳn dưới chế độ Cộng sản Việt Nam từ hơn 50 năm qua ; khuyến khích các Cá nhân, Tổ chức mạnh dạn công khai sử dụng báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng phổ cập khác ; nỗ lực để các tài liệu thông tin được bày bán công khai trong các sạp báo – tiệm sách.

GIAI ĐOẠN II

PHỤC HOẠT, THÀNH LẬP & PHÁT TRIỂN CÁC CHÍNH ĐẢNG DÂN CHỦ KHÔNG CỘNG SẢN. 3- Bước 3 : Không kể các Chính đảng Dân chủ không Cộng sản từ lâu đã âm thầm hoạt động ngay tại Việt Nam, sự lớn mạnh của phong trào đấu tranh cho nhân quyền, dân quyền, dân chủ trong Nước và sự ra đời của Khối 8406 đã thúc đẩy Đảng Dân chủ Việt Nam XXI công bố phục hoạt ngày 1-6-2006 và các Đảng Dân chủ không Cộng sản khác lần lượt công khai xuất hiện với trụ sở, văn phòng, cơ quan ngôn luận và các phương tiện truyền thông đại chúng bình thường khác.

4- Bước 4 : Các Chính đảng phục hoạt và các Chính đảng mới được thành lập đưa ra cương lĩnh, đường lối, mục tiêu của mình với Quốc dân, thu phục Quần chúng ủng hộ, kết nạp đảng viên, gây dựng cơ sở, phát triển và kiện toàn tổ chức. Khối 8406 sẽ chấm dứt vai trò của mình nhường bước cho các Chính đảng hoạt động.

GIAI ĐOẠN III

SOẠN THẢO HIẾN PHÁP MỚI & TRƯNG CẦU Ý DÂN.

5- Bước 5 : Các Chính Đảng tập hợp thành một hoặc nhiều Liên minh đồng loạt cùng gây sức ép lên Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam để thành lập Hội đồng soạn thảo Hiến pháp Tạm Thời gồm Đại diện của tất cả các Chính đảng, các Tổ chức xã hội và các Tôn giáo nào muốn cử Đại diện tham gia. 6- Bước 6 : Đưa Dự thảo Hiến Pháp Mới ra trưng cầu ý Dân và công bố Hiến Pháp Mới Tạm Thời.

GIAI ĐOẠN IV

HOÀN TẤT TIẾN TRÌNH DÂN CHỦ HÓA VIỆT NAM.

7- Bước 7 : Thành lập Hội đồng thi hành Hiến Pháp Mới Tạm Thời đã được toàn Dân đồng thuận. Thành lập Hội đồng Tổ chức Bầu Cử Quốc Hội Dân Chủ Khoá I, gồm các Uỷ ban : Uỷ ban biên soạn Luật Bầu cử, Ủy ban Tổ chức các Chính đảng đăng ký ứng cử viên, Uỷ ban Tổ chức bầu cử, kiểm phiếu, Uỷ ban Quốc tế giám sát,…Tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội công bằng, tự do, văn minh khoá I. 8- Bước 8 : Quốc Hội đầu tiên họp để thông qua Hiến Pháp Chính Thức, chọn Quốc hiệu, Quốc huy, Quốc kỳ, Quốc ca,… ; đưa Hiến Pháp đi vào cuộc sống của toàn Dân.

Đại diện lâm thời Khối 8406
gồm 1.872 Chiến sĩ Dân chủ Hòa bình
& hàng vạn Công dân quốc nội :
Đỗ Nam Hải, Kỹ sư, Sài Gòn.
Trần Anh Kim, Cựu Sĩ quan, Thái Bình.
Nguyễn Văn Lý, Linh mục Công giáo, Huế.

Older Posts »

Blog at WordPress.com.