Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

July 26, 2008

BÀI HỌC LỊCH SỬ VỀ VIỆC ĐI DÂY CỦA VC VỚI NGA-TÀU QUA CUỘC CHIẾN BIÊN GIỚI 1979-1989

Filed under: Hoàng Sa Trường Sa, Tài liệu, Việt Nam — tudo @ 9:43 pm

Vài giờ sau khi chiếc trực thăng cuối cùng chở toán quân của Thiếu Tá Thủy Quân Lục Chiến Mỹ Jim Kean rời nóc nhà của Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Miền Nam VN để bay ra biển Đông, lên chiến hạm về nước trong danh dự, cũng là lúc bộ đội Bắc Việt vào Sài Gòn bỏ ngỏ qua lệnh đầu hàng của Tổng Thống Dương Văn Minh. Cái bi hài của vở kịch, nước mắt trước cơn mưa, là lúc mà chính phủ hai ngày của VNCH đang hồ hởi hòa hợp hòa giải, để chờ chim bồ câu trắng hòa bình hiện ra, thì cũng là giờ G ngày N của Hà Nội đã điểm.

Đây cũng là thời khắc mà Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, quyền Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH, nhân danh TT Minh, ra lệnh cho các đơn vị miền Nam đang phòng thủ quanh Sài Gòn phải cố giữ vững vị trí chiến đấu, chờ sáng để nhận được phép lạ từ trên trời rớt xuống. Lúc đó, đồng hồ chỉ đúng 12 giờ khuya đêm 29 rạng sáng ngày 30-4-1975. Đây là giờ quy định của Bộ Tư Lệnh Miền do Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Văn Tiến Dũng, Trần Văn Trà chỉ huy.. ban lệnh cho B3 hợp với tất cả các lộ quân từ năm hướng, đồng loạt tấn công vào nội thành thủ đô. Đó cũng là thời gian lộ mặt của các đội biệt động, đặc công.. từ các nơi nằm vùng, nổi dậy bắt liên lạc với các cánh quân bên ngoài. Đó là giờ quy định cho tất cả cán bộ đảng, cán bộ chính trị nằm trong hàng ngũ VNCH, lột mặt nạ cầm đầu Sư Đoàn 304 quàng khăn đỏ đang có mặt khắp thôn làng hẻm phố, sẵn sàng tiếp thu chiến lợi phẩm và còng bắt tù binh, nếu cần hạ sát tại chổ..

Cũng từ đó lịch sử dân tộc được lật sang trang, chấm dứt một cuộc chiến dơ bẩn nhất tại VN do Cộng Sản dàn dựng từ đầu đến cuối, với mục đích tạo chiến tranh để đổi đời, nắm quyền, do một thiểu số cùng đinh cực ác trong xã hội xướng xuất. Cho nên thành phố Sài Gòn, một địa danh được các vị chúa Nguyễn và người dân Đại Việt tạo dựng bằng mồ hôi máu mắt, từ ba trăm năm trước, cũng bị mất tên và được gán vào danh xưng Hồ Chí Minh (đại phản tặc của dân tộc, mà đời đời kiếp kiếp, miên viễn bị bia miệng nguyễn rũa), như những thành phố tại Nga Sô Viết trong thời kỳ Cách Mạng Tháng Mười năm 1917. Cũng nhờ “cách mạng”, “giải phóng” nên từ đó tới nay, đồng bào cả nước trước sau rủ nhau xuống hố xã hội chủ nghĩa để tìm thiên đàng Mác-Lê-Mao-Hồ trong vũng bùn duy vật biện chứng pháp, mà gần hết nhân loại đã ném vào cát bụi từ những năm đầu thập niên, cuối thế kỷ XX khi Liên Xô, Đông Đức, Đông Âu tan hàng trước chủ nghĩa tự d, dân chủ, mà không cần phải đốt rụi Trường Sơn, giết hại hằng triệu triệu người Việt của hai miền.

Một trăm hai mươi lăm nhà báo da trắng, da màu đủ loại nhưng tuyệt đối đều sùng bái VC như thần thánh trong suốt cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai (1960-1975), sau ngày bị chính quyền mới trục xuất, đều viết : ‘Quang cảnh Sài Gòn ngày hôm đó cũng vẫn như mọi ngày. Nếu có khác biệt, đó là sự hiện diện của những bộ đội miền Bắc, với quân phục may bằng vải kaki nội hóa màu xanh lá cây, đầu đội cối có gắn sao, chân mang dép râu làm bằng vỏ xe phế thải. Tất cả ngơ ngơ ngáo ngáo như người cõi trên, trước cái cảnh trang đài sang giàu lầu cao phố đẹp của Sài Gòn, hòn ngọc Viễn Đông, không giống với luận điệu tuyên truyền của đảng .. là dân nguỵ bị Mỹ-Thiệu kềm kẹp nên nghèo mạt rệp, rách đói đến nỗi ngay cả trí thức nhà báo khoa bảng cũng phải đi ăn mày..’. Tóm lại Sài Gòn ngày đó như mọi ngày, chẳng thấy ai tiếp đón ai, cũng không có cảnh biểu tình đồng khởi hoan hô mà đảng hằng mong đợi. Người Sài Gòn đã dửng dưng trước thời cuộc, như chưa hề biết là đã đổi đời.

Cũng hôm đó, trên đại lộ Thống Nhất dẫn vào trung tâm quyền lực nhất của Nam VN, là Dinh Độc Lập, mà mới vài giờ trước đây chính khứa quan quyền đủ loại ra vào tấp nập để xin quan mua chức; nay quang cảnh vắng hoe, kể cả người lính gác cổng cũng cao bay xa chạy, đang được bộ đội Bắc Việt tùng thiết trên mấy chiếc T54 của Liên Xô viện trợ tới tiếp thu một căn cứ quân sự bỏ ngỏ, không phòng thủ.

Một vài chục tên Việt gian thời cơ, trở cờ, cánh tay mang băng đỏ, tay khác cầm cờ máu, lá cờ mà mấy chục năm nay cứ khoe là của nước Việt, mặt thật là sao chép y chang cờ máu của đảng Tàu Cộng, ngược xuôi xuôi ngược hò hét lập công. Nhưng mùa Xuân có trăm hoa đua nở, có vạn vật hài hoà.. cho nên với một lá cờ máu tạo dựng bằng núi xuơng sông máu đồng bào, bán nước bán đất, tiêu diệt tín ngưỡng cùng văn hiến dân tộc, đang do một đám sâu bọ đội lớp người trí thức dân chủ, cổ võ bung xung, thì làm sao dựng nổi một mùa Xuân? Văn Tiến Dũng, Bùi Tín quen tuyên truyền nên đã loạn ngôn cuồng bợ, viết sai các dữ kiện lịch sử trong ngày ‘Sài Gòn bỏ ngỏ tháng 4-1975, từ lúc Dương Văn Minh phát tiếng trong đài, ra lệnh QLVNCH, phải buông súng đầu hàng quân Bắc Việt ‘, qua các tác phẩm mang tên ‘Mùa Xuân Đại Thắng, Ánh Sáng Của Lịch Sử .. ’ ’

Hôm đó phường phố Sài Gòn thật sự vắng hoe, cũng không có cảnh xuống đường với biển người rừng cờ như Hà Nội và đám Việt Gian miền Nam mong đợi, để nhờ bọn ký giả phương Tây thân Cộng lúc đó quay phim chụp ảnh, tuyên truyền với thế giới bên ngoài rằng là cách mạng giải phóng đã thành công.. Chỉ có một vài kẻ đa sự, tình cờ hay bị bắt buộc, bặm môi dừng lại bên đường để trố mắt nhìn bộ đội miền bắc và tăng pháo do Nga-Tàu viện trợ, mà mới hôm qua đọc trên các báo chí đối lập Sài Gòn nói là quân Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, do anh Thọ, chị Bình, chị Định.. chỉ huy để chống lại chính phủ VNCH tham nhũng, gian ác, đàn áp tôn giáo, ngăn cấm tự do..

Chỉ có đám dân chiến nạn từ miền Trung di tản theo lính vào Sài Gòn, giờ bơ vơ đói rách, bồng bế nhau hồi cư theo lệnh của chủ mới. Chỉ có những quân, công, cán, cảnh miền Nam tan hàng rã ngủ, biết thân phận mình, rủ nhau tới các địa điểm trình diện. Sau rốt là đại đa số dân nghèo cực, không có phương tiện hay chẳng bao giờ mơ ước xuất ngoại nên đành ở lại với cảnh tranh tối tranh sáng, kéo tới các kho đụn, nhà giàu, sở Mỹ cùng dinh thự đồ sộ của các quan tướng.. đã bỏ chạy để hôi của kiếm ăn. Sài Gòn mặt thật của những phút giờ đổi đời là thế đấy. Hiện có nhiều nhân chứng hôm đó, chắc là còn sống, tuy tuổi đã cao nhưng không mất trí nhớ đang ở khắp các nẻo đường hải ngoại, thì ai dám bẻ cong ngòi bút, lếu láo vẽ rắn thêm chân, đem thúng úp voi, dấu đầu lòi đuôi cho được ?

Người dân Sài Gòn cố gắng mở to đôi mắt hôm đó để tìm trong hàng ngũ bộ đội tân lập 304 băng đỏ, cũng dép râu, nón tai bèo và khăn rằn xanh quàng cổ, hình dáng thân thương của các thầy, quý cha, anh chị em văn nghệ sĩ.. từng hò hét khản cổ, kêu gọi phản chiến, hòa hợp hòa giải năm xưa. Nhưng hỡi ơi, trong đó tìm hoài đâu thấy một ai. Các vị chỉ muốn đấu võ mồm, đâm sau lưng người lính, phá thối chính quyền đương thời. Đến lúc nhà tan nước mất, giặc Bắc không hòa hợp mà chỉ xâm lăng, cướp của giết đồng bào.. thì các vị cũng đã nhanh chân ôm Mỹ, để kịp chạy ra hải ngoại, tiếp tục đối lập trọn đời, để lần nữa phá thối cuộc sống tạm dung chốn quê người, của những thân phận VN, cũng vì họ mà ngày nay phải sống đầu đường xó chợ, khác nào những tên nô lệ Pháp, Mỹ, trên vãn nẻo đường lưu vong, lấy nước mắt làm canh, đêm ngày hoài mơ viễ n xứ, thương khóc tưởng nhớ quê mình.

Tệ nhất là hết đợt này tới lần khác, cứ tự do lập đảng, để lường gạt niềm tin và tiền bạc đóng góp của đồng bào. Tiền bạc là thứ có thể kiếm được nhưng NIỀM TIN PHỤC QUỐC, QUANG PHỤC QUÊ HƯƠNG, để tiêu diệt Cộng Sản, đã bị lừa bịp tiêu hủy từ mười mấy năm trước. Do đó bây giờ đến lược những người yêu nước thật sự dấn thân, cũng chẳng còn ai, nhất là giới trẻ và tuyệt đại đồng bào Tị Nạn VC thầm lặng, tin tưởng. Đó chính là một sự thật não nùng của Dân Tộc.

Bảy mươi sáu năm trôi qua (1930-2007), dù bây giờ chuyện gì người dân cũng đã biết đủ. Thế nhưng Cộng Sản và Việt gian thì chứng nào tật đó, vẫn tỉnh bơ hãnh diện, tiếp tục gian dối bịp lừa đồng bào. Tóm lại, đối với Cộng Sản, tất cả chỉ là giai đoạn, nên không bao giờ có chuyện tình nghĩa đồng chí, đồng đảng, đồng đội.. thì nói làm chi tới tình đồng bào, đồng nước. Cũng nhờ gần hết bí mật lịch sử cận đại được khai quật phổ biến, nên ngày nay chúng ta mới nhận diện được bộ mặt thật của những người từng ôm nhau hôn hít, từng nhận là anh em môi hở răng lạnh hay sông liền sông, núi kế núi.. thế nhưng cũng chẳng có gì ngoài nhu cầu hợp tác và giai đoạn.

Sau năm 1990, Liên Bang Sô Viết và Nam Tư tan rã thành từng mảnh vụn. Những người mới đó cùng đứng chung dưới một màu cờ, một đảng bộ.. đã vội bôi mặt chém giết nhau một cách tận tuyệt. Tuy nhiên bi thảm hơn hết, vẫn là sự tương tàn đẫm máu, giữa ba đảng Tàu, Việt và Miên Cộng.. xảy ra từ các năm cuối thập niên 70 của thế kỷ XX, sau khi Đệ Tam Quốc Tế đã tạm hợp tác, thỏa hiệp chống Mỹ thành công. Từ kinh nghiệm năm đó, giờ nhìn lại thái độ lưng chừng của Việt Cộng trong vai trò chọn lựa để được làm đầy tớ Hoa Kỳ hay Trung Cộng, khiến cho đồng bào trong và ngoài nước phải ngao ngán vì biết chắc dù VC có theo ai chăng nữa thì đất nước lần nữa, rồi sẽ tan nát nếu có chiến tranh xảy ra.

Lần trước Polpot và Đặng Tiểu Bình mới chỉ có tàn sát đồng bào vô tội cũng như tàn phá tận tuyệt các tỉnh biên giới của VN. Lần này Trung Cộng binh hùng vũ khí tối tân, lại có nhiều bom nguyên tử, chắn chắn là Tàu sẽ thẳng tay tiêu diệt con Hồng cháu Lạc cả nước. Biến cố ngư dân Thanh Hoá bị Trung Cộng thảm sát trong vịnh Bắc Việt vào ngày 8-1-2005, như một khúc dạo đầu của điệu ru nước mắt, mà VN đang dần bước vào nẻo tuyệt lộ vì giặc Tàu qua đồng thuận của Việt Cộng, từng bước xâu xé gấm vóc giang sơn của dân tộc Đại Việt, một cách công khai và man rợ, như chúng từng làm trong quá khứ

‘ .. ôi trọn kiếp, lòng ta hoài mơ ước
cảnh thanh bình trên vạn nẻo quê hương
nên thường hay chợt khóc giữa đêm trường
khi tưởng tới ngày mai về cố quốc.. ’ ’
tấn công tàu buôn Hoa Kỳ :.

Nam Vang thất thủ trước Sài Gòn mười ba ngày (17-4-1975). Để chiếm thủ đô, Polpot đã ra lệnh cho Khmer đỏ pháo kích bừa bãi dã man vào thành phố, gây thương vong nhiều người vô tội tại các khu vực đông dân cư, làm tê liệt phi trường Pochentung. Vì vậy đại sứ Mỹ là John Gunther và Tổng Thống Lonnol (kẻ đã ra lệnh cáp duồng hằng vạn Việt Kiều tại Kampuchia năm 1970) nếu không nhanh chân chạy lên trực thăng vù ra biển, chắc cũng đã bị Polpot phanh thây như triêu người dân Miên khác bị kẹt lại.

Ngay khi chiếm được nước, các lãnh tụ Miên đỏ đã bất chấp luân thường đạo lý, ra lệnh tàn sát gần hết đồng bào mình một cách rùng rợn. Làm cho thế giới văn minh của nhân loại, dù ở tận phương trời góc biển, đã phải xanh mặt, tím ruột, khi được đối diện với mặt thật của những hung thần cọng sản quốc tế, qua hình ảnh của thảm kịch ‘The Killing Fields (Những Cánh Đồng Xác Người). Ngoài ra theo lệnh chủ mới là Tàu Cộng, Polpot trả ơn Việt Cộng, chủ cũ cũng là kẻ đã cưu mang chúng từ khi còn trong trứng nước tới hồi lớn mạnh, bằng cách tấn công biên giới, biển đảo, để mong chiếm lại miền Thủy Chân Lạp của 300 về trước đã bị VN tới khai thác khi bị bỏ hoang.

Polpot cũng đã mở màn cho cuộc chiến Đông Dương lần thứ III (1975-1990) bằng lệnh khai hỏa vào chiếc tàu buôn của Mỹ tên Mayaguez trong lúc đang bỏ neo ngoài khơi hai đảo Kohtang và Poulo Wai (Đảo Trọc), nguyên là lãnh thổ của VN, nằm trong vịnh Phú Quốc, bị Khmer đó chiếm sau tháng 4-1975.

Ngay khi bị lực lượng người Nhái của Polpot tấn công, thuyền trưởng chiếc tàu buôn trên đã đánh khẩn điện về nước để cầu cứu và đã được chính Tổng Thống Mỹ lúc đó là Ford ra lệnh cho TQLC cùng Không Quân đang ở căn cứ Utapao (Thái Lan) đến giải thoát họ. Nhưng Polpot khôn ranh, đã ra lệnh cho kéo chiếc tàu trên cùng thủy thủ đoàn 37 người về giam tại hải cảng Kompong Som, trước khi TQLC Mỹ dùng trực thăng, đổ bộ lên đảo Poulo Wai, sáng ngày 15-5-1975.

Một trận ác chiến sau đó đã xảy ra trên đảo Kohtang giữa TQLC và quân Khmer đỏ. Kết quả có hai trực thăng Mỹ chở quân bị bắn hạ và ngay cả TQLC cũng bị vây khổn trong trận địa. Để giải vây quân tiếp viện cũng như chiếc tàu buôn đang bị bắt, lần nữa TT Ford ra lệnh cho KQ tại Thái Lan oanh tạc Nam Vang và hải cảng Kompong Som, phá hủy nhiều máy bay Mig của Trung Cộng vừa viện trợ, đồng thời đốt rụi nhà máy lọc dầu duy nhất của Kampuchia tại hải cảng Sihanouk. Thấy Hoa Kỳ làm dữ quá, Polpot giả vờ đổ thừa cho địa phương vì phương tiện truyền tin eo hẹp nên không nhận được lệnh Trung Ương, rồi ra lệnh thả chiếc tàu buôn cùng thủy thủ. Ngoài ra TQLC cũng được lệnh rút khỏi đảo Kohtang, bỏ lại xác hai chiếc trực thăng. Trong trận chiến này, có 15 binh sĩ Mỹ tử thương trong khi đụng độ.

Vụ tàu buôn Mỹ Mayaguez bị tấn công và 15 TQLC bỏ mạng trên đường hồi hương được Ford cùng báo chí giữ kín. Người Mỹ muốn gì khi im lặng hay thật sự đã nhìn thấy trước, cảnh huynh đệ tương tàn trong các đảng cọng sản đệ tam quốc tế. Sau này qua các tài liệu đã giải mật, được Ford giải thích: ‘Đó là sự châm ngòi cho ý nghĩa mới. Một cơ hội để cho các đảng Cộng Sản anh em tự thanh toán lẫn nhau, dọn đường cho tư bản trở lại Đông Dương và Đông Nam Á‘. Cuối cùng Hoa Kỳ đã tiên đoán đúng. Từ thập niên 90 về sau, chẳng những các nước Đông Dương, mà ngay cả Trung Cộng, Liên Bang Nga lẫn Bắc Hàn đều trải thảm đỏ, mở cửa rộng để quỳ đón Âu Mỹ, Nhật, Triều Tiên.. đem đô la vào cứu đảng.

2- Cuộc chiến đẫm máu giữa Miên và Việt Cộng:

+ POLPOT THEO TRUNG CỘNG, PHẢN VIỆT CỘNG:
Theo các tài liệu hiện hành, ta biết đảng Cộng Sản Cam Bốt được thành lập vào tháng 9-1951, qua danh xưng ‘Đảng Nhân Dân Cách Mạng Khmer – Khmer People ‘s Revolutionary Party‘ thường viết tắt là KPRP. Polpot tên thật là Saloth Sar, người Việt gốc Miên. Trong thời gian du học tại Pháp, qua sự móc nối của một đảng viên VC tên Phạm Văn Bá từng hoạt đông tại Nam Vang, nên Polpot gia nhập đảng KPRP năm 1953. Hiệp định về Đông Dương ký tại Geneve 1954 ra lệnh cho đảng này giải tán. Do đó hơn 2000 đảng viên KPRP phải tập kết tới Hà Nội. Chính sự tan rã của đảng Cộng Sản Miên là nguyên cớ sau này để Polpot vin vào lên án VC đã bán đứng đồng chí khi cuộc chống Pháp của hai đảng đã đạt được thành công.

Tuy nhiên dù bị cấm đoán, Cộng Sản Miên vẫn âm thầm hoạt động lén lút dưới sự lãnh đạo của Shieu Hang và Ton Samouth. Từ tháng 7-1962, Polpot mới được cử làm bí thư đảng, hoạt động chung với Ieng Sary và Son Sen. Bắt đầu từ năm 1965 trở về sau, Mỹ ào ạt đổ quân vào Nam VN, làm cường độ chiến tranh càng lúc càng gia tăng. Tai Miên, ngoài mặt Sihanouk mang chiêu bài trung lập, nhưng đã gần như công khai để Cộng Sản Bắc Việt sử dụng lãnh thổ xứ chùa Tháp làm căn cứ điạ dưỡng quân, đồn trú, lánh nạn và trực tiếp nhận viện trợ của khối Cộng Sản tại hải cảng Sihanoukville. Mục đích cũng chỉ để trục lợi mà thôi. Trong giai đoạn này, Bắc Việt đã lập một đơn vị đặc nhiệm gọi là P36 chuyên huấn luyện bộ đội Khmer đỏ của Polpot, cũng như ngăn cản không cho đụng chạm tới Quân Đội Hoàng Gia Cam Bốt của ông Hoàng Sihanouk.

Năm 1970, lợi dụng Sihanouk xuất ngọai, Tướng Lonnol và Hoàng Thân Sirik Matak làm cuộc đảo chánh và đón quân Mỹ vào. Nhờ vậy gần như tất cả các căn cứ địa của bộ đội Bắc Việt và Khmer đỏ trú đóng trên đất Miên bị tiêu diệt bởi Mỹ giội bom và các cuộc hành quân Toàn Thắng của liên quân Hoa Kỳ-VNCH.

Trước nguy cơ bị tiêu diệt, lần nữa hai đảng Cộng Sản anh em lại hợp tác để sống còn. Rồi lợi dụng tiếng tăm của Sihanouk, Bắc Việt dụ dỗ tuyên truyền dân chúng Miên gia nhập bộ đội, giúp cho lực lượng Khmer đỏ lên tới 30.000 quân. Tất cả đều do Hà Nội cưu mang, từ huấn luyện cho tới trang bị và tiếp tế. Trong những lần đụng độ với quân của Lonnol, bộ đội Bắc Việt luôn đi đầu hứng đạn, còn lính của Polpot thi đi sau, nếu thắng thì đòi chia chiến lợi phẩm. Ngược lại khi bộ đội Bắc Việt thua trận, quân Polpot lập tức bỏ chạy hay ác hơn là bắn lén sau lưng. Tình đồng chí của Cộng Sản là vậy đó.

Năm 1972, Polpot nghe lời dụ của cáo già Kissinger hợp mật. Nhưng đây chỉ là kế ly gián của Mỹ nhằm gây rạn nứt giữa hai đảng Cộng Sản. Vì sau đó Mỹ đã oanh tạc từ 257-465 tấn bom xuống tàn phá gần hết các căn cứ của quân Khmer đỏ, rồi phao tin là Hà Nội đã chỉ điểm. Đòn chí tử này đã khiến Polpot trở mặt chống Bắc Việt từ đó nhưng ngoài mặt thì giả vờ liên minh hợp tác.

Tháng 8-1974 Polpot hạ sát 71 đảng viên Cộng Sản Miên thân Hà Nội. Tiếp theo vào tháng 9 cùng năm có 100 người khác cùng chung số phận. Nhưng trong số này có 2 người còn sống sót tên Hemsamin và Yospor trốn thoát tới Bắc Việt. Chưa hết, có 2 phóng viên Bắc Việt bị giết tại Kampong Chàm và trọn một phái đoàn của MTGPMN, từ Mỹ Tho vào tham quan vùng xôi đậu trong Đồng Tháp Mười nhưng lại lạc qua Miên, bị Khmer đỏ phục kích hạ sát. Thêm vào đó, đã có hàng vạn Việt kiều bị Khmer đỏ cáp duồng. Tất cả Hà Nội đều biết, nhưng vẫn im lặng, đã vậy Bắc Bộ Phủ còn nỗ lực giúp cho Polpot chiếm được Kampuchia và Nam Vang vào ngày 17-4-1975. Ngoài ra để che dấu sự thật, mục đích phỉnh gạt đồng bào, lừa bịp dư luận thế giới, hằng ngày hai đảng vẫn ra rả lập đi lập lại những từ ngữ hào nhoáng tuyên truyền như ‘Đoàn kết vĩ đại, tình hữu nghị anh em cách mạng Cam Bốt-Việt Nam bất diệt.. ’. Cuối cùng ngày 12-4-1975, Ieng Sary chính thức yêu cầu Trung Cộng trực tiếp viện trợ cho Kampuchia mà không cần VN trung gian như từ trước.

Để mở màn cho bi kịch máu đã tới lúc chín mùi, ngày 4-5-1975, Polpot ra lệnh tấn công hai đảo Thổ Châu và Phú Quốc. Quân Khmer đỏ chém giết dã man hằng ngàn đồng bào vô tội, cướp của đốt nhà và trước khi rút, đã bắt 500 người VN, đa số là đàn bà con gái. Để trả đủa, ngày 18-5-1975, VC huy động Hải Lục Không Quân, tái chiếm hai đảo trên và đảo Pulau Wai mà Miên đã chiếm từ trước, bắt giữ 300 tù binh. Thấy VN làm dữ, Polpot lại xuống giọng. Rồi thì màn kịch đồng chí đồng đảng được hai nước tô son trét phấn trở lại hằng ngày trên đài, trên báo, khi Mười Cúc-Nguyễn Văn Linh dẫn phái đoàn sang Cam Bốt thăm viếng xã giao ngày 2-6-1975. Ngược lại, Polpot cùng Ieng Sary và Noun Chen trên đường sang chầu Trung Cộng, đã ghé Hà Nội để đáp lễ vào ngày 12-6-1975.

Tại Trung Cộng, tình hình nội bộ đảng Cộng Sản biến chuyển mạnh sau khi Mao Trạch Đông chết. Đêm 6-10-1976, Hoa Quốc Phong, Diệp Kiếm Anh và Uông Đông Hưng.. ra lệnh cho đơn vị đặc nhiệm tại Bắc Kinh 2341 bất thần tấn công bắt trọn ổ Tứ Nhân Bang gồm Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Vương Hồng Văn và Diệu Văn Nguyên.. rồi tôn Đặng Tiểu Bình lên ngôi hoàng đế đỏ, dù Hoa Quốc Phong vẫn là tổng bí thư đảng bù nhìn. Đặng công khai ủng hộ Polpot, bất chấp dư luận thế giới đang nguyền rủa tên sát nhân và Khmer đỏ. Từ đó qua chỗ dựa chắc chắn, Polpot theo hẳn Trung Cộng, cắt đứt liên hệ với VC. Về nước, Polpot ra lệnh hạ sát hơn 10.000 đảng viên tại Trung Tâm Thẩm Vấn Tuol Sleng ở Nam Vang, vì họ bị nghi là thân với Hà Nội. Máu của đồng bào hai nước tiếp tục chảy hằng ngày, trong lúc hai cái loa của hai đảng, vẫn không ngớt ca tụng, tuyên truyền tình hữu nghi thắm thiết, một cách trơ trẽn và lố bịch, khiến cho ai nghe cũng muốn lợm giọng.

Cuối tháng 3-1977, sau khi đã thanh trừng hết tay chân của Hà Nội, Polpot ban hành Nghị Quyết 870, công khai chống VN, ra lệnh tàn sát Việt kiều tại đất Miên, đồng thời tấn công các tỉnh biên giới.

Ngày 30-4-1977, trong lúc Bắc Bộ Phủ từ trên xuống dưới đang mở đại tiệc ăn mừng chiến thắng cướp được VNCH, thì từ Hà Tiên, Châu Đốc, An Giang, Đồng Tháp lên tới Tây Ninh.. hằng chục sư đoàn Khmer đỏ vượt biên giới tấn công vào các làng xã của VN. Giống như quan thầy Trung Cộng, lính Miên đỏ hung dữ dã man chưa từng thấy qua hành động giết người rồi chặt đầu, mổ bụng, phanh thây và cắt bỏ các cơ quan sinh dục của nạn nhân. Sau đó đốt sạch nhà cửa và bắt hết trâu bò, heo ngựa của người Việt đem về Căm Bốt. Do sợ Trung Cộng, nên Hà Nội vẫn im lặng nhưng khắp nước đồng bào đều lên tiếng phản đối, cả tờ báo Quân Đội Nhân Dân cũng lên tiếng đòi chính phủ trả đũa. Do trên, Bắc Bộ Phủ đã ra lệnh cho A37 oanh tạc, rượt đuổi quân Miên chạy về bên kia biên giới.

Tháng 8-1977, tờ Cờ Đỏ của Polpot (Democratic Kampuchia Advance) cho phát hành một bản đồ nước Căm Bốt mới, không theo đường ranh Bravie củ. Bản đồ này ngoài lãnh thổ nước Kampuchia hiện hữu, còn bao gồm tất cả các hải đảo của VN và Nam Phần mà Polpot gọi là Thuỷ Chân Lạp. Việc này vào tháng 2-1992, Quốc Hội Trung Cộng cũng đã ban hành phổ biến một bản đồ của nước Tàu mới, trong đó hải phận Trung Hoa chạy dọc suốt bờ biển VN, Thái Lan, Mã Lai Á, Nam Dương, Brunei và Philippine. Như muốn đổ dầu vào lò lửa đang ngùn ngụt cháy, Đặng Tiểu Bình, Hoa Quốc Phòng.. và đảng Cộng Sản Tàu công khai cổ võ hành động Polpot chống lại VN.

Trước nổi cô đơn thê thiết vì bị Mỹ ngoảnh mặt, Tàu bỏ rơi, thế giới lợm giọng, đàn em Polpot phản bội và dân chúng miền Nam ù lỳ thụ động bất hợp tác. Vì vậy với bản chất lật lọng, quen chịu làm đầy tớ bất cứ ai nếu có lợi cho đảng và cá nhân. Nên VC lại chạy sang quỳ lạy Nga Sô, chịu gia nhập khối kinh tế Comecon và trên hết cho Hải Quân Nga vào các hải cảng Đà Nẳng, Nha Trang, Cam Ranh, Vũng Tàu. Ngày 6-6-1977, một phái đoàn quân sự Nga tới thăm Hà Nội. Tháng 10-1977, VC cho chở một số lớn chiến lợi phẩm tịch thu của VNCH từ tháng 4-1975 gồm phi cơ, chiến xa, đại pháo.. sang bán cho Ethiopie, một quốc gia Bắc Phi, nói là để lấy tiền trả nợ cho Trung Cộng. Cũng từ đó, VC công khai làm chư hầu Liên Xô, nên được đàn anh viện trợ cho một số quân dụng cũ, gồm 2 tàu ngầm, một khu trục hạm, 4 phi đội MIG 21 cùng với đoàn cố vấn Nga đông đảo. Như vậy thế chân vạc của Cộng đảng trong cuộc chiến Đông Dương lần thứ III đã thành hình. Một bên gồm Liên Xô-VC-Lào Cộng. Phe kia có Trung Cộng và Khmer đỏ. Người Mỹ đứng giữa đâm thọc cả hai phía, để giật dây cũng như đổ thêm dầu vào đám cháy đang rực lửa. Đó cũng là lối trả thù quý phái của bọn tư bản nhà giàu trong canh bạc bịp được coi như lớn nhất thế kỷ XX.

Ngày 24-9-1977, Khmer đỏ lại vượt biên tấn công Tây Ninh, phanh thây xé xác hằng trăm đồng bào vô tội. Lần này Bắc Bộ Phủ lột chức Trần Văn Trà, cho Lê Đức Anh thay thế. Một ký giả Hung Gia Lợi tên Sandor Giory đã tới tận hiện trường quay phim, chụp hình nhưng bị công an tịch thu phim máy. Đã vậy, 4 ngày sau cuộc tấn công đẫm máu tại Tây Ninh, Hà Nội vẫn gủi điện văn tới chúc mừng Polpot trong dịp lễ ăn mừng 20 năm thành lập đảng Miên Cộng.

Rồi thời cơ chín mùi qua sự hứa hẹn của Nga Sô sẽ ra mặt can thiệp nếu Trung Cộng tấn công VN. Để lấy lòng tin thằng đầy tớ mới, Nga Sô cho hằng chục sư đoàn trải dài khắp biên giới Nga-Hoa và phái một mẫu hạm thường trực tuần thám trong hải phận vịnh Bắc Việt. Cũng từ đó, Hà Nội mới bắt đầu trả đũa, tung quân chiếm lại các làng mạc bị Khmer đỏ cưởng chiếm. Quân VN còn thọc sâu vào lãnh thổ tỉnh Svay Riêng để giải thoát cho các tướng lãnh Miên đang bị Polpot thanh trừng đuổi giết, như Hunsen, Heng Samrin, Bonthang.. đem về VN. Sau đó VC cho diễn lại vở tuồng cũ năm 1960 ở miền Nam VN, dùng các quân bài trên để thành lập cái gọi là ‘Mặt Trận Giải Phóng Căm Bốt‘.

Ngày 5-10-1977, Trung Cộng và Polpot chính thức ký một ‘Nghị Định Thư‘ (Protocol), để bổ túc cho Hiệp Định Quân Sự mà hai bên đã ký ngày 1-2-1976. Theo đó, Trung Cộng sẽ viện trợ quân sự cho Khmer đỏ vô điều kiện không hoàn trả. Ngày 1-11-1977, Trung Cộng cắt đứt đường bay Bắc Kinh-Hà Nội. Ngày 21-11-1977, Tổng Bí Thư Lê Duân sang chầu thiên triều xin tạ tội nhưng bị Đặng Tiểu Bình xua đuổi. Thế là đảng VC quyết định theo hẳn Nga Sô chống Tàu Cộng từ đó, tuy nhiên trước khi sang Mạc Tư Khoa ký kết, Võ Nguyên Giáp được lệnh bí mật bay tới Tân Đề Ly nhờ giúp đỡ. Nhưng thời thế đã đổi thay, vì lúc đó Ấn Độ theo Tây phương, không trung lập thân cộng, nên đã từ chối lập tức. Thế là lò lửa chiến tranh giữa ba đảng anh em Tàu-Việt-Miên, đã chính thức bùng cháy, không ai có thể dập tắt được.

+ TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG QUÂN SỰ GIỮA KHMER VÀ VIỆT NAM CS:
Trên bán đảo Đông Dương, đối với Lào, CamBốt kể cả Thái Lan, thời nào VN cũng đều đạt ưu thế quân sự. VN có dân số đông nhất trong vùng, hơn nửa lúc nào cũng luôn sẵn sàng chống trả sự xâm lăng của Tàu, nên quân số đông đảo, thường trực. Đối với Khmer đỏ lúc đó, quân VN nhiều gấp mấy lần, lại thiện chiến, có vũ khí quân dụng dồi dào, tối tân. Bởi vậy cả Trung Cộng còn phải nể nang, thì làm sao Kampuchia dám gây chiến, trừ phi VC vì lý do chính trị đã nhượng bộ.

Thật vậy, sau tháng 5-1975, VN là nước có dân số đông thứ 13 trên thế giới. Về quân sự, quân đội VN xếp hàng thứ bốn, sau Trung Cộng, Hoa Kỳ và Liên Sô, đông hơn nhiều lần, quân số của sáu nước ASEAN (Thái, Nam Dương, Phi, Mã, Tân Gia Ba và Bruein) cộng lại. Do sự đối nghịch của Kampuchia và Trung Cộng, nên dù mang tiếng có hòa bình sau ngày 30-4-1975, Bắc Bộ Phủ vẫn duy trì và tăng cường quân số nhiều hơn trước, nên chỉ riêng chính quy, đã có từ 700000-1.000. 000 người. Về chiến lược, cả nước chia thành 7 quân khu: I, II, III, IV, V, VII và IX. Ngoài ra còn có quân khu Thủ Đô Hà Nội), Đặc khu Quảng-Ninh và HCM (Sài Gòn). Quân đội vẫn gồm ba binh chủng Hải, Lục và Không Quân. Từ sau tháng 4-1975, Lục quân được tổ chức thành bốn quân đoàn lưu động, như các bỉnh chủng Dù, TQLC và BDQ tổng trừ bị của QLVNCH. Các quân đoàn mang số 1 (Quyết Thắng), II (Hương Giang), III (Tây Nguyên) và IV (Cửu Long). Từ năm 1979 về sau, do tình hình chiến sự, quân số đã tăng lên tới tám quân đoàn. Mỗi quân đoàn có quân số chính quy gần 50.000 người, cộng thêm các đơn vị yểm trợ như thiết giáp, công binh, pháo binh, truyền tin, quân y.. Không kể chiến lợi phẩm thu được của miền Nam (phần lớn đã bán cho Châu Phi), lúc đó bộ đội CS có trên 1000 thiết giáp T34, 54, 55, 59, 62 cộng với 500 xe PT76, nhiều súng đại bác đủ loại, mấy ngàn súng phòng không, sử dụng hỏa tiễn Sam. Ngoài lực lượng chính quy Miền tức là quân khu, còn có chủ lực tỉnh như trung đoàn Bắc Thái, Gia Định, Sông Bé, Vàm Cỏ.. Về lực lượng Dân Quân, có tỉnh đội, huyện đội, xã đội.. Lục Quân còn có các đơn vị đặc biệt như Đặc Công, Lữ Đoàn 305 Dù, Quân Đoàn 559 Công Binh, Sư Đoàn 673 cao xạ..

Sau 1975, Hải Quân CS.VN có hơn 1000 tàu chiến đủ loại, lớn nhỏ, trong số này có nhiều tàu của VNCH để lại. Hải phận chia thành năm vùng trách nhiệm và các Bộ Tư Lệnh Vùng đóng tại Hải Phòng, Vinh, Đà Nẳng, Vũng Tàu và Rạch Giá. HQ gồm hai hạm đội : Hàm Tử phụ trách biển Bắc (Vịnh Bắc Việt) và Bạch Đằng có trách nhiệm ở phía Nam, tới vịnh Phú Quốc.

Riêng Không Quân có quân số chừng 20.000 người. Ngoài số phi cơ A37,F5, vân tải, trực thăng.. của VNCH bỏ lại, còn có các máy bay chiến đấu MIG 21, 23 – trực thăng võ trang do Nga Sô viện trợ. Tất cả chừng 1000 chiếc, lập thành các không đoàn oanh tạc, chiến đấu, vận tải, huấn luyện. BTL Không Quân đóng tại phi trường Bạch Mai ( Hà Nội). Năm 1980, quân đội VN có quân số hơn 2 triệu người, đứng hàng thứ 3 thế giới (Tàu, Nga, VN, Mỹ).

Trái lại quân đội Kampuchia lúc đó chỉ có 68.000 quân, rồi tăng lên 150.000 khi đánh nhau với VN và chia thành 23 sư đoàn. Riêng Hải và Không Quân thì không đáng kể, với một số lượng tàu chiến nhỏ cũng như một số máy bay cũ kỹ lỗi thời và vài máy bay Mig 15, 17 chưa xử dụng. Binh sĩ thì đa số là du kích không quen lối đánh vận động chiến, có thiết giáp pháo binh phối hợp. Tuy nhiên vì cùng xuất thân một lò Cộng Sản, được nhồi sọ, nên rất cuồng tín đa sát, dù đã bại trận nhưng cũng đã gây cho VN nhiều tổn thất nặng nề trong thời gian Kampuchia bị VC chiếm đóng (1979-1990).

+ ĐẴM MÁU GIỮA VIỆT CỘNG VÀ KHMER ĐỎ:
Sau khi đi Tàu cầu hòa lần chót bị thất bại nên phải chạy theo Nga, vì vậy Lê Duẩn quyết định tấn công trả đũa Polpot. Ngày 2-12-1977, Quân Đoàn 4 hay Binh Đoàn Cửu Long, gồm các SD chính quy 7, 9, 341 có Không Quân, Thiết Giáp, Pháo Binh yểm trợ, do Hoàng Cầm chỉ huy với quân số trên 60.000 người, cộng thêm nhiều Thanh Niên Xung Phong lo phần tiếp vận, công binh.. đồng loạt tấn công tái chiếm phần đất Tây Ninh bị chiếm, rồi tràn vào đất Miên tiêu diệt Quân Khu Đông của Khmer đỏ. Vì lúc đó Bộ Trưởng Nguyễn Duy Trinh đang thăm khối ASEAN, nên quân VN được lệnh rút về nước ngày 6-1-1978. Lập tức Đại Sứ Kiều Minh và toàn bộ ngoại giao đoàn bị trục xuất khỏi Nam Vang. Ngoài ra Polpot cho triệu hồi Đại Sứ Sokheng từ Hà Nội về rồi giết chết. Cũng từ đó đã có sự rạn nứt trong nội bộ, đưa tới sự thanh trừng làm suy yếu quân đội.

Trong trận tấn công vừa qua, VN đã giải thoát và đem về nước hơn 60.000 nạn nhân bị Polpot cáp duồng gồm Việt-Hoa kiều và một số dân Miên. Tất cả được tạm trú tại các Trại Tị Nan mới lập ở Bến Sành (Tây Ninh) và Bến Tranh (Định Tường), do Liên Hiệp Quốc bảo trợ. VC nhân cơ hội vào trại tuyên truyền và tuyển mộ lính. Ngày 15-2-1978, Lê Duẩn và Lê Đức Thọ từ Hà Nội vào Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia của VNCH ở Sài Gòn để chủ tọa buổi ra mắt cái gọi là ‘Mặt Trận Kháng Chiến Khmer‘. Những cán bộ Miên Cộng thân Hà Nội như Pensovan, Chensi, Heng Sarin, Tang Soroun và Chesoth đều được chỉ định làm cấp lãnh đạo. Tân binh Miên được VN huấn luyện cấp tốc tại các quân trường cũ của miền Nam như Chí Lăng, Vị Thanh và Long Giao. Ngày 22-4-1978, thành lập Lữ Đoàn 1 Kháng Chiến Miên, rồi đưa về nước đánh Polpot. Trong lúc đó, quân Khmer đỏ lại tự tàn sát lẫn nhau tại các tỉnh miền đông như Kampong Chàm,Svayr Rieng và Prey Veng. Lợi dụng sự chia rẽ trên, VC kêu gọi dân Miên nổi lên lật đổ Polpot.

Tháng 6-1978, Hà Nội lại oanh tạc Kampuchia. Tháng 9-1978, Phạm Văn Đồng sang du thuyết giải độc tại 6 nước ASEAN nhưng bị thất bại. Ngày 1-11-1978, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Cơ Thạch .. lại sang Nga Sô để ký hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa hai nước trong vòng 25 năm. Theo đó Nga đã viện trợ quân sự cũng như nhân đạo 1,5 triệu tấn mễ cốc cứu đói. Ngoài ra Nga còn cam kết sẽ can thiệp nếu Trung Cộng xâm lăng VN. Cũng vì quá tin tưởng vào lời hứa cuối này mà VC đã sử dụng gần 3/4 quân số khi tấn công Khmer đỏ, nên không đủ lực lượng phòng thủ biên giới phía Bắc khi Trung Cộng xâm lăng VN.

Ngày 2-12-1978, Lê Đức Thọ, Đồng Văn Cống .. đã đến chủ tọa ngày thành lập ‘Mặt Trận Cứu Nguy Cam Bốt‘, gọi tắt là KNUFNS, tại một khu rừng già trong tỉnh Kratie vừa chiếm được. Tại đây đã tập họp được một lực lượng đông đảo chống Polpot gồm tân binh, lính Khmer đào ngũ và Ham Samsin được phong chức chủ tịch mặt trận. Rồi hằng ngày tiếng nói của những người Miên chống đối được phát thanh, đồng thời VC dùng máy bay rải truyền đơn chống Polpot được rải khắp lãnh thổ Cambốt. Song song, lá cờ cũ của Khmer Issarak năm 1950, với hình năm ngôi tháp vàng trên nền đỏ, được xài lại. Bộ chỉ huy tiền phương của VN đóng bên cạnh quân Miên, chuẩn bị tấn công quân Khmer đỏ của Polpot.

Để tiêu diệt Khmer đỏ qua thời gian kỷ lục, đặt dư luận thế giới trước sự đã rồi, Hà Nội đã mở cuộc hành quân thần tốc, sử dụng trên 200.000 quân sĩ của ba trong bốn quân đoàn chính quy và một lực lượng yểm trợ hải-không quân, hỏa tiễn và thiết giáp. Lê Đức Thọ vào thay Lê Trọng Tấn, giám sát chiến dịch, còn Lê Đức Anh làm tổng tư lệnh chiến trường. Sư đoàn 2 và Trung đoàn chủ lực Tây Ninh khai pháo trước một ngày, khi Chu Huy Mậu tổng cục trưởng TCCT bắn phát súng lệnh mở màn chính thức cuộc tấn công Cam Bốt vào lúc 12 giờ khuya đêm Giáng Sinh 1978 tại Ban Mê Thuộc.

Theo kế hoạch, quân VN vượt biên giới tấn công Kampuchia bằng nhiều hướng, Ở phía bắc, Quân Khu V + Quân Đoàn 3 Tây Nguyên (gồm SD10, 320, 31), do Kim Tuấn chỉ huy, đánh chiếm tỉnh Stung Treng và toàn vùng đông bắc giáp với Lào. Cánh quân thứ hai của Quân Khu VII (gồm SD 303, 302, 5) + Quân Đoàn 3 với Lữ Đoàn 12 Thiết Giáp, các trung đoàn tỉnh Tây Ninh, Sông Bé, Long An.. từ hướng bắc Tây Ninh, Ql 7 và 13 tấn công chiếm Kompong Chàm và Kratié. Hướng tấn công chính cũng phát xuất tại Tây Ninh, do Quân Đoàn 4 phu trách (SD 2,7,9,341) + Lữ Đoàn 22 Thiết Giáp, Lữ Đoàn 24 Pháo Binh và Lữ Đoàn 25 Công Binh. Quân Khu IX có Quân Đoàn 2 hay Binh Đoàn Hương Giang tăng cường, tấn công từ An Giang, Hà Tiên. Tóm lại, ngoại trừ SD 306 được giữ lại để phòng thủ Lào, các SD 304, 325 cũng được điều động về nước tăng cường.

Cuộc chiến xảy ra thật đẫm máu và ác liệt, cộng thêm không quân và pháo binh ào ạt giội bom nã đạn, đánh bật 30.000 quân Khmer đỏ và nhiều cố vấn Trung Cộng phải bỏ các tỉnh dọc biên giới Miên-Việt, tháo chạy về Nam Vang. Tại đây, bộ đội VC chiếm được nhiều quân dụng mới chưa sử dụng do Tàu viện trợ cho Cam Bốt như phi cơ, trọng pháo.. Tuy nhiên VN cũng bị thiệt hại nặng trên đường tiến quân về thủ đô vì phục kích, mìn bay tại Fishhock, Kompong Cham và bến phà NeakLuong. Đặc công VC cũng lén đột nhập vào Hoàng Cung để giải thoát cho cựu Hoàng Sihanouk nhưng Polpot đã cho di chuyển đương sự tới Sisophon, nằm sát biên giới Miên-Thái.

Tính đến ngày 4-1-1979, VN làm chủ hoàn toàn các tỉnh miền đông của Cam Bốt. Ngày 6-1-1979, 7 SD của VN + 3 lữ đoàn Miên của Heng Samrin qua phà trên sông Cửu Long, đồng loạt tấn công Phnom Penh. Thủ đô thất thủ sau một ngày kịch chiến. Polpot cùng toàn bộ Khmer đỏ bỏ chạy tới tận TaSanh, sát biên giới Miên-Thái, để tiếp tục chống VC.

Tóm lại ngày 8-1-1979, đồng bào Cam Bốt coi như được giải thoát khỏi bàn tay sát nhân của Polpot và Khmer đỏ. Một Hội Đồng Cách Mạng Kampuchia gồm 8 ủy viên được thành lập, do Heng Samrin làm chủ tịch. Ngày 14-1-1979, Đặng Tiểu Bình, Hàn Niệm Long và nhiều uỷ viên cao cấp trong Bộ Chính Trị Trung Cộng tới Thái Lan tiếp xúc mật với Thủ Tướng Kriang Sok tại căn cứ Utapao. Sau đó, Thái cho Polpot và Khmer đỏ dung thân trên biên giới của hai nước. Qua sự yểm trợ và cưu mang hết mình của Tàu Cộng, Polpot lại tiếp tục đánh du kích với VC khắp nước Miên, cho tới đầu thập niên 90, qua áp lực của thế giới, cũng như sự sụp đổ của Nga Sô-Đông Âu, VC mới chịu rút quân về nước, chấm dứt chiến tranh nhưng thù hận giữa hai đảng Cộng Sản anh em tới nay vẫn ngấm ngầm âm ỹ, dù ngoài mặt Hun Sen luôn bợ Hà Nội.

3- Trung Cộng xâm lăng Việt Nam lần thứ nhất (1979):
Ngày 1-5-1975, VC ban hành một bản đồ mới của nước VN thống nhất, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (hiện do hải quân Bắc Việt chiếm giữ 6 đảo, khi VNCH bỏ) mà chính Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng đã giấy trắng mực đen, xác nhận thuộc chủ quyền của Trung Cộng vào năm 1958. Đây cũng là một nguyên cớ để Tàu xâm lăng VN vào mùa xuân năm 1979. Thật ra tình hữu nghị giữa hai nước đã lung lay từ năm 1967, khi Trung Cộng xuí giục Nam Lào tấn công Pathet Lào, vốn là chư hầu của Bắc Việt. Rồi từ khi Hồ Chí Minh qua đời năm 1969, quyền hành lọt vào tay Lê Duẩn, Lê Đức Thọ vốn thân Nga, lúc đó là kẻ thù không đội trời chung của Trung Cộng, nên sự rạn nứt của tình đồng chí lại càng thêm nứt rạn. Nhưng vì kẻ thù trước mặt là Nga-Mỹ vẫn còn, vì vậy hai đảng cố quên bất đồng để hợp tác giai đoạn.

Nhưng tới khi Mao Trạch Đông thăng hà vào năm 1976, Đặng Tiểu Bình lên nối ngôi, đã chấm dứt sự leo dây của VC, vì Đặng đã biết rõ VC lúc ấy đang ngả hẳn theo Nga. Nhiều cuộc đụng độ đã xảy ra tại biên giới Hoa-Việt mà chủ động luôn luôn do Hồng Quân gây hấn theo lệnh của Đặng Tiểu Bình. Đây là một đòn hù dọa cũng như áp lực VC lúc đó đang tiến hành chính sách cải tạo công thương nghiệp, cướp của và đánh đuổi Hoa Kiều Miền Nam, nhất là tại Sài Gòn-Chợ Lớn, ra biển, về Tàu.

Giữa lúc tình hữu nghị của hai nước căng thẳng tột độ, thì Trung Cộng ngang nhiên xua 30.000 Hồng Quân vào các tỉnh Luang Namtha, Udom Say, Phong Salay, Luang Prabang và Sầm Nứa, nói là để bảo vệ công nhân Trung Hoa đang làm thiết lộ Bắc Lào-Vân Nam. Nhưng thực chất Trung Cộng muốn uy hiếp Pathet Lào và bao vây biên giới phía tây bắc của VN. Đây cũng là ý đồ của Tàu, muốn mở một con đường thông thương từ Vân Nam xuống đất Miên để tiện tiếp tế cho quân Khmer đỏ của Polpot lúc đó đang du kích chiến với bộ đội VN.

Nhưng Hà Nội đã biết rõ ý đồ của Bắc Kinh, nên đã ra tay trước. Đầu tiên là cùng Pathet Lào ký một hiệp ước quân sự và biên giới ngày 18-7-1977. Sau đó đem 50.000 quân trấn đóng tại Trung và Nam Lào, vừa bảo vệ Pathet Lào, cũng như ngăn cản không cho Trung Cộng vào đất Miên. Sự gây hấn đã trở thành công khai vào năm 1978, khi Bắc Kinh gọi Hà Nội là ‘tiểu bá quyền khu vực‘, còn VC thì bảo Trung Cộng là ‘chủ nghĩa bành trướng bá quyền Đại Hán‘.

Ai cũng biết quan hệ giữa hai đảng Cộng Sản Việt-Trung, vô cùng gắn bó từ sau năm 1949 khi Mao Trạch Đông chiếm được toàn cõi Hoa Lục. Từ đó, Trung Cộng hết lòng giúp đỡ VC mọi mặt, từ quân sự cho tới kinh tế, chính trị, ngoại giao. Nhờ vậy Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản mới chiếm được miền Bắc vào năm 1954.

Trong cuộc chiến Đông Dương lần thứ 2 (1960-1975), hầu như nguồn viện trợ quân sự, kinh tế cho Bắc Việt xâm lăng VNCH đều của Trung Cộng. Trên đất Bắc, Tàu giúp Hà Nội xây dựng nhiều công trình nhà máy, đường xá.. Theo tài liệu công bố, tính tới năm 1978, Tàu đã viện trợ cho VC hơn 20 tỷ Mỹ Kim. Từ năm 1965-1970, theo yêu cầu của Hồ Chí Minh, đã có hơn 100.000 quân Trung Cộng sang giúp Bắc Việt để xây dựng và phòng thủ. Đã có cả ngàn lính Tàu chết ở VN trong cuộc chiến

Sau 1970, nhiều biến chuyển lịch sử đã xảy ra, nhất là khi HCM chết, làm cho Hà Nội càng ngày càng ngả theo Nga Sô. Do nhu cầu cuộc chiến, VC cần có nhiều quân dụng tối tân như Mig21, tăng 54,55, hoả tiễn Sam.. để đối đầu với vũ khí Mỹ. Nhưng những thứ này chỉ có Nga mới có. Trung Cộng biết hết, nhưng vẫn tiếp tục giúp đỡ VC cho tới khi Hà Nội chiếm được miền Nam.

Rồi vì đầu óc thiển cận, các chóp bu trong Bắc Bộ Phủ tự coi như các đỉnh cao của loài người, coi thường mạng sống đồng bào cả nước, lại mù quáng chạy theo chủ thuyết cọng sản đã lỗi thời và nhất là tôn sùng Nga Sô hơn thần thánh. Từ đó, không cần cảnh giác về những kẻ thù xung quanh, lại mù quáng trở mặt và thách đó Trung Cộng. Đó là nguyên nhân chính khiến kẻ thù có cớ xâm lăng VN vào năm 1979.

Hồng Quân Trung Hoa hay quân đội Trung Cộng tuy được thành lập vào năm 1927 nhưng thật sự chỉ thống nhất sau năm 1949 khi chiếm được Hoa Lục. Nói chung VC đã theo đúng khuôn mẫu của Mao để tổ chức binh đội. Còn chủ thuyết Mao được coi như nền tảng tư tưởng, dùng làm chiến thuật và chiến lược, gọi là chiến tranh nhân dân, lấy nông thôn bao vây thành thị.

Thời nào, quân đội Tàu cũng đông nhất thế giới. Năm đó, Hồng Quân có hơn 4 triệu người, bao gôm hai binh chủng Hải và Không Quân trên nửa triệu. Cả nước được chia thành bảy quân khu: Lan Châu (Tân Cương và Thanh Hải), Bắc Kinh (Nội Mông, Bắc Kinh, Hà Bắc, Sơn Tây), Trấn Giang (Hắc Long Giang, Liêu Ninh), Kiến An (Hà Nam, Sơn Đông), Nam Kinh (Phúc Kiên, Giang Tây, Thượng Hải, An Huy), Thành Đô (Vân Nam, Tứ Xuyên, Quý Châu, Tây Tạng) và Quảng Châu (Quảng Đông, Quảng Tây, Hồ Bắc, Hồ Nam). Mỗi quân khu có nhiều quân đoàn. Ngoài chính quy và chủ lực, Trung Cộng còn có hơn bảy triệu dân quân. Tất cả do chủ tịch quân ủy trung ương, tức là chủ tịch đảng lãnh đạo, khi Đặng nắm quyền kiêm nhiệm luôn chức này.

Năm 1979, Hà Nội sau khi bị Trung Cộng tố cáo là vong ơn bạc nghĩa, kể cả sự phanh phui Võ Nguyên Giáp không phải là người chỉ huy mặt trận Điện Biên Phủ năm 1954. Để trả đũa, VC cho phổ biến bạch thư nói về quan hệ Việt-Trung trong 30 năm qua, đồng thời tố cáo Hoa Kiều trong nước là gián điệp, tay sai của Trung Cộng chống lại VN. Tiếp theo VC xua quân tấn công tiêu diệt Polpot và Khmer đỏ, vốn là đàn em chư hầu của Tàu, khiến cho dầu được đổ thêm vào lửa chiến tranh giữa hai nước, chỉ chờ bùng nổ.

Tại miền Nam, ngày 24-3-1978 bắt đầu đánh tư bản. Hằng ngàn công an, bộ đội và nam nữ thanh niên xung phong đeo băng đỏ trên tay, rải khắp các đường phố Sài Gòn-Chợ Lớn, Gia Đình, xông vào các hãng xưởng, nhà buôn, tư gia.. những người có máu mặt Hoa lẫn Việt, để lục lọi, vơ vét, xoi khám tịch thu tiền bạc, đô la, vàng ngọc, hàng hóa và tất cả tài sản riêng tư của dân chúng, những ai bị đảng kết tội là mại sản. Theo tài liệu được “bật mí”, chỉ riêng mẻ lưới trên Hà Nội đã vơ vét của người giàu Sài Gòn hơn

Ngày 3-5-1978, cả nước lại được đổi tiền lần thứ ba khiến đồng bào trước sau trở thành vô sản chuyên chính. Ở miền Bắc, hằng ngàn Hoa Kiều bị trục xuất về nước. Trong Nam, hằng vạn người Hoa trắng tay, tiêu tan sản nghiệp, bị đầy ải lên vùng kinh tế mới tận Bình-Phước Long, Bình Tuy, Long Khánh, Bà Rịa.

Để trả đũa, Trung Cộng ngưng hẳn 72 công trình xây dựng viện trợ cho VN. Đã có 70.000 người Hoa tại VN hồi hương về Hoa Lục. Ngày 16-5-1978, Trung Cộng tuyên bố gửi hai chiến hạm tới Hải Phòng và Sài Gòn để đón hết Hoa kiều. Nhưng đây chỉ là đòn tuyên truyền chính trị, vì tàu chiến chỉ đậu ngoài khơi một ngày rồi kéo neo về nước. Nắm được yếu điểm của đàn anh, VC lần chót hốt hết những gì còn sót lại của Hoa Kiều qua chiến dịch ‘xuất cảng người‘, sau đó tống khứ họ ra khơi khiến cho hơn triệu người bị chết vì sóng gió và hải tặc Thái Lan trên biển Đông, mà những trang Việt sử cận đại gọi là cơn hồng thủy của thế kỷ.

Sau khi VN bỏ lỡ cơ hội nối lại bang gioa với Hoa Kỳ. Ngày 24-5-1978, phụ tá an ninh của tổng thống Mỹ Carter là Brezinski tới Bắc Kinh ký một hiệp ước liên minh quân sự với Tàu. Từ đó Đặng Tiểu Bình đã có chỗ dựa chống Nga, nên mới ra mặt quyết tâm xâm lăng VN để rửa thù phục hận.

Từ 28 tới 30-1-1979, Carter và Đặng Tiểu Bình đã họp mật tại Tòa Bạch Ốc. Sau đó tổng thống Mỹ đồng ý để Trung Cộng trừng phạt VN và còn giúp cầm chân Nga, bằng cách chịu ký với LX hiệp ứơc SALT II. Để thêm kế nghi binh, Hoa Kỳ cử bộ trưởng tài chánh là Blumenthal tới công tác tại Bắc Kinh. Ngoài ra còn cho Hàng không mẫu hạm Constellation lảng vảng ngoài khơi vịnh Bắc Việt. Tất cả mơ mơ màng màng, khiến cho LX cũng không biết đâu mà mò.

Ngày thứ bảy 17-2-1979, lúc 3 giờ 30 sáng, khi vạn vật, chim chóc và con người đang chuẩn bị cho một ngày sống mới, thì 600.000 quân Tàu, tiền pháo hậu xung, ào ạt mở cuộc xâm lăng đại quy mô vào VN, trên vùng biên giới từ Lai Châu tới Móng Cáy. Thế là tình nghĩa vô sản quốc tế trong sáng giữa hai nước, đã trở thành hận thù thiên cổ. Những địa danh Cao Bằng, Lạng Sơn, Đồng Khê, Thất Khê.. lại đi vào những trang Việt sử đẫm máu, của VN chống xâm lăng Tàu.

Để tấn công VN, Trung Cộng đã huy động nhiều quân đoàn từ nhiều quân khu khác nhau, gồm QD 13,14 tấn công Lai Châu-Lào Kay. Hai QĐ 41,42 tân công Cao Bằng. Riêng mạn Lạng Sơn, Quảng Yên, Hải Ninh thi giao cho quân đoàn 43,54,55. Tất cả do Hứa Thế Hữu và Dương Đắc Chí chỉ huy trong mấy ngày đầu.

Về phía VN, một phần vì sự tự cao bách thắng của các đỉnh cao tại bắc bộ phủ. Phần khác do quá tin tưởng sự liên minh quân sự với LX. Nên gần như sử dụng gần hết các đơn vị chính quy tại mặt trận Kampuchia. Bởi vậy ngay khi cuộc chiến bắt đầu, trong lúc quân Trung Cộng đông đảo lên tới 150.000 chính quy, thì việc phòng thủ miền bắc, nhất là thủ đô Hà Nội, được giao cho các Sư Đoàn 308,312,390 của quân khu I. Nói chung, trong cuộc chiến đấu với Trung Cộng tại biến giới, chỉ có các sư đoàn chủ lực của quân khu tham dự như Sư đoàn 3,327, 337, Tây Sơn ( mặt trận Lạng Sơn). SD 567, B46, SD.Pháo binh 66 (mặt trận Cao Bằng). Các tuyến từ Hà Giang tới Lai Châu, do các SD316,345, Đoàn B68, M63, các trung đoàn chủ lực tỉnh, huyện đội, công an biên phòng. Sau đó khi thấy tình hình quá nguy ngập, Hà Nội mới gấp rút điều động các trung đoàn từ các tỉnh trung châu, cùng với các sư đoàn chủ lực của quân khu II và IV từ Kampuchia về tiếp viện.

Cuộc chiến thật đẫm máu ngay từ giờ phút đầu. Quân Tàu dùng chiến thuật cổ điển thí quân với tiền pháo hậu xung, bằng các loại hỏa tiễn 122 ly và đại bác nòng dài 130 ly, với nhịp độ tác xạ 1 giây, 1 trái đạn. Sau đó Hồng quân tràn qua biên giới như nước lũ từ trên cao đổ xuống. Tuy nhiên khắp nơi, Trung Cộng đã gặp phải sức kháng cự mãnh liệt của VN, một phần nhờ địa thế phòng thủ hiểm trở, phần khác là sự yểm trợ hùng hậu của pháo binh các loại, gây cho giặc Tàu nhiều tổn thất về nhân mạng tại Lạng Sơn và Cao Bằng.

Sự thất bại trong những ngày đầu, khiến Đặng giao chỉ huy mặt trận cho Dương Đắc Chí, đồng thời cũng thay đổi chiến thuật, dùng tăng pháo mở đường và bộ binh tùng thiết. Do quân Tàu quá đông, nên sau 10 ngày cầm cự, bốn thị xã Lai Châu, Lào Kay, Hà Giang, Cao Bằng lần lượt bị thất thủ. Riêng tại thị xã Lạng Sơn, Trung Cộng tung vào chiến trường tới sáu sư đoàn chính quy 127,129, 160,161, 163,164 cùng hằng trăm thiết giáp và đại pháo từ khắp nới bắn vào yểm trợ. Phía VN có quân đoàn 14 gồm các SD 3,327,338,347, 337 và 308. Trong lúc đó hai SD chính quy 304 và 325 từ Kampuchia, cũng đựợc không vận và di chuyển bằng xe lửa, tới Lạng Sơn tiếp viện. Nhưng cuối cùng Lạng Sơn cũng bị thất thủ đêm 4-3-1979. Sau đó giặc Tàu dùng mìn, bom phá nát hết các thành phố, thị xã tạm chiếm, kể cả hang Pắc Pó, suối Lê Nin và núi Các-Mác mà Hồ Chí Minh từng tạm trú, trước khi về Hà Nội cướp chính quyền vào tháng 9-1945. Ngày 16-3-1979, Đặng Tiểu Bình ra lệnh rút quân về nước.

Tóm lại sau 16 ngày giao tranh đẫm máu, Trung Cộng cũng như Khmer đỏ, tàn phá tất cả tài sản của dân chúng, bắn giết tận tuyệt người VN, san bằng các tỉnh biên giới, mà suốt cuộc chến Đông Dương lần II (1960-1975), gọi là vùng an toàn. Đã có hằng trăm ngàn vừa dân vừa lính của cả hai phía thương vong. Tại miền bắc, hằng triệu dân chúng phải phân ly. Nhà cửa, vườn ruộng, của cải vật chất, đền đài, miếu võ, nhà thờ, di tích tổ tiên bao đời để lại.. đều vì VC gây chiến tranh, mà tan tành theo cát bụi.

+ Trung Cộng Xâm Lăng VN lần thứ hai (1984-1989):

Cuộc chiến tưởng đâu đã chấm dứt, vì VC dấu nhẹm tin tức, từ ấy cho đến năm 2006, nhờ mạng lưới Internet của Bộ Quốc Phòng Trung Cộng (Defense-China. com) và tác phẩm Dữ kiện bí mật của cuộc chiến tranh Trung-Việt (Secret Records of Sino-Vietnamese War) của Jin Hui, Zhang Hui Sheng và Zhang WEi Ming, cả thế giới biết được ‘Bí Mật Lịch Sử Về Việc Tàu Chiếm Núi Đất Của VN, Trong Cuộc Chiến Biên Giới Lần Hai (1984-1989) ‘.Theo tài liệu dẫn chứng, năm 1984 Trung Cộng lại vin cớ CSVN thường pháo kích và tấn công biên giới, nên bất thần tấn công cưởng chiếm Núi Đất của VN tại tỉnh Hà Giang (Thượng Du Bắc Phần), mở màn cho cuộc chiến Biên Giới Việt Hoa lần thứ hai, kéo dài từ năm 1984-1989 mới chấm dứt, do Việt Cộng tự bỏ đất rút quân, nhượng bán (?) lãnh thổ cho giặc Tàu.

Núi Đất (VN) hay Lão Sơn (Tàu), dù có gọi bằng cái tên gì chăng nữa, cũng vẫn là một ngọn núi của VN, tại xã Thanh Thủy, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang. Trong trận chiến đẳm máu này, hai bên đã dành giựt quyền kiểm soát cứ điểm 1509m, được coi như là một vị trí chiến lược rất quan trọng về phía VN, được cũng cố xây dựng từ sau cuộc chiến biên gới 1979.

Thế là ngày 28-4-1984, vào lúc 5 giờ 50 sáng, Trung Đoàn 118, Sư Đoàn 40 BB, thuộc Quân Đoàn 14, Quân Khu Côn Minh, tiền pháo hậu xung, đồng loạt tấn công đỉnh 1509 và các cứ điểm quan trọng khác của VN. Cuộc chiến thật gay go vì gặp sự kháng cự mãnh liệt của quân phòng ngự VN, cấp đại đội. Tất cả đã tử chiến trước quân thù, đặc biệt trong số này có 4 nữ cán binh CSVN, thà chịu chết trước súng phun lửa của giặc Tàu, chứ không đầu hàng. Vì vậy nên trận chién kéo dài tới 15 giờ 30 chiều mới kết thúc, giặc bỏ xác tại chỗ 198 tên, cùng một số khác bị thương nặng..

Này 11-6-1984 , một tiểu đoàn CSVN tấn công tái chiếm núi nhưng bị đẩy lui. Ngày 12-7-1984, hai bên đụng độ lớn cấp sư đoàn. Phía CSVN đã huy động tới 6 trung đoàn Bộ Binh của các SĐ312,313, 316 và 356 để tái chiếm đỉnh núi. Cuối cùng Trung Đoàn 982 thuộc Sư Đoàn 313 CSVN, đã tái chiếm được cứ điểm 1509, sau khi đã chịu tổn thất hơn 3700 người. Nhưng sau đó không biết vì lý do gì, chóp bu Hà Nội đã ra lệnh bỏ ngõ cứ điểm trên cho quân Trung Cộng tới tái chiếm. Rồi lại giành giật từ 1984-1987 ở cấp đại đội, cho tới ngày 13-2-1991 thì chấm dứt với kết quả: Trung Cộng hoàn toàn chiếm lĩnh Núi Đất nằm trong lãnh thổ VN tại Tỉnh Hà Giang, và đổi lại tên Tàu là Lão Sơn.

Tính ra, từ ngày Hồ Chí Minh và Đảng CSQT chiếm được nữa nước VN, qua Hội Nghị Genève 1954, sau đó cưởng chiếm Miền Nam ngày 30-4-1975 và cai trị cả nước tới 2007, chỉ hơn nữa thế kỷ (1955-2007), đã bán cho nhượng Tàu hai quần Đảo Hoàng Sa-Trường Sa, nhiều đất đai tai biên giới Hoa Việt, trong đó có Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, Hang Pắc Pó, Núi Đất và nhiều vùng đánh cá thuộc lãnh hải của VN. Tất cả hành động bán nước trên đều mờ ám, bịp lừa, mục đích cũng chỉ để che dấu mọi tội lỗi, hầu tiếp tục kéo dài sự thống trị của tập đoàn thực dân đỏ tham nhũng, bất tài nhưng trong tay nắm đủ quyền lực, tiền bạc và trên hết đã sai khiến được một thiểu số trí thức khoa bảng mù quáng hám danh, đang cố sức quậy bùn công cuộc chiến đấu quang phục đất nước của Người Việt Tị Nạn Hải Ngoại và Đồng bào quốc nội.

Sau khi cưởng chiếm đuợc cả nước VN, CSQT bỏ Tàu theo Nga, gây nên một cuộc chiến long trời lở đất với Miên và Trung Cộng, cuối cùng cắt đất dâng biển đảo của VN cho Tàu để xin được làm tôi tớ của thiên triều như cũ. Bài học của lịch sử chưa khô máu trên thân thể mẹ VN nhược tiểu, thì một cuộc chiến đẳm máu khác đã thấy ló dạng, qua cuộc cờ ‘ đội Tàu, bợ Mỹ ‘, mà bất cứ ai cũng thấy rõ hành động của Đảng CSVN, từ những tháng cuối năm ngoái, khi TT Bush tới Hà Nội nhưng trắng trợn nhất là hai lần du Mỹ của Nguyễn Minh Triết (tháng 6-2007) và Nguyễn Tấn Dũng (tháng 9-2007).

Lần trước Trung Cộng chỉ mới tàn phá được miền thượng du Bắc Việt bằng súng đạn cổ điển. Lần này nếu lại có chiến tranh, Trung Cộng với bản chất dã man và khát máu, chắc chắn giặc sẽ tận dụng hết khả năng quân sự trong đó có bom nguyên tử để xoa sổ VN trên bản đồ Châu Á. Sự tổn thất về nhân mạng và tồn vong của dân tộc chỉ có người dân cùng đất nước hứng chịu, còn đảng với gia đình chắc chắn đã cao bay xa chạy tới những khung trời hạnh phúc ở hải ngoại mà thiên đường đâu có nơi nào sánh bằng Hoa Kỳ với tiền núi vàng tấn đã được chuyển tới đây từ khuya.

Nên cuối cùng chỉ còn một con đường duy nhất mà bất cứ ai nắm vận mệnh của dân tộc VN đều phải tuân thủ: Đó là phải làm theo ý nguyện của đồng bào cả nước đang khao khát có tự do, dân chủ và chén cơm manh áo trong cuộc sống hằng ngày. Được như vậy, nhà cầm quyền mơi mong ĐOÀN KẾT SỨC MẠNH DÂN TỘC để chống lại cuộc xâm lăng của Trung Cộng đang diễn ra trên quê hương VN từng giờ từng ngày, chứ không phải cứ chạy theo Nga, Tàu, Mỹ, Nhật.. lẩn quẩn loay hoay trong vòng nô lệ rốt cục cũng vẫn làm nô lệ cho ngoại bang mà thôi.

Xóm Cồn
Tháng Mười 2007
MƯỜNG GIANG

TÀI LIỆU THAM KHẢO:
– Brother Ennemy của Nayan Chanda do Phạm Quốc Bảo dịch.
– Giọt Nước Trong Biển Cả, Hoàng Văn Hoan
– Mặt Thật của Thành Tín
– Chinese aggression against VietNam
– Death in The Rice Field của Peter Scholl Latour
– Các tạp chi TP,PNDD..
– Tài liệu ‘Trận Biên Giới Hoa Việt Lần 2’ trên Diễn Đàn Việt Nam Exodus..

June 12, 2008

Bối Cảnh Lịch Sử Chính Trị VN Cận & Hiện Đại

Filed under: Tài liệu, Việt Nam, điểm sách — tudo @ 10:49 am

Bối Cảnh Lịch Sử Chính Trị VN Cận & Hiện Đại và Chuyện Nước Non Buồn Đến Ngàn Năm
Tác giả: Bùi Anh Trinh.

Đây là bộ sách đồ sộ nhất trong năm 2008 của nhà xuất bản Làng Văn.

Sách gồm hai tập khổ lớn, bìa cứng có jacket, tổng cộng 1366 trang, in tuyệt đẹp. Tác giả duyệt lại toàn bộ các dữ kiện lịch sử chính trị VN từ cận đại đến hiện đại (tập thượng), và đưa ra những nhận định thực tế gai góc trước các vấn đề thời sự trong cộng đồng (tập hạ).

Trong tập Thượng (khảo luận), bằng phương-pháp tra cứu khoa-học và công phu, tác giả nhắc lại diễn biến lịch sử Việt-nam cận đại, từ 1842, khi quân Anh đánh Trung Hoa lần thứ nhất, vụ Chiến Tranh Nha Phiến, rồi Anh liên minh với Pháp đánh Trung-hoa lần thứ hai. Lần nầy, trên đường về nước, hải quân Pháp đã đánh Đà nẵng, nhưng thất bại. Năm 1859, liên quân Anh Pháp đánh Trung Hoa lần thứ ba. Trên đường về, hải quân Pháp đánh chiếm 3 tỉnh Nam Kỳ Việt-nam, rồi sau đó leo thang chiến tranh các năm sau đó, đánh Hà-nội, chiếm trọn Nam-kỳ rồi đánh vào kinh-đô Huế, cuối cùng chiếm toàn thể VN năm 1885.

Nhắc lại giai-đoạn tiếp theo, tác giả đã nhìn toàn cảnh thế giới đương đại, bàn về cơ hội canh tân của Nhật-bản, Trung-hoa và Việt-nam. Ông cũng trình bày về các cuộc cách mạng ở Trung-hoa (Tôn Văn, chủ nghĩa Tam dân), Nga (Lenin, chủ nghĩa Cộng sản) và hai chủ trương của quốc dân Việt-nam (Phan Bội Châu, cứu nước bằng đấu tranh vũ trang và Phan Chu Trinh, cứu nước bằng đấu tranh chính trị).

Về các quốc sách an-ninh lãnh thổ, tác giả đi sâu vào chế độ Hương Ước của làng xã Việt Nam, kế hoạch Bình Định Phát Triển Nông Thôn của Nguyễn Ngọc Huy, chương trình Xây Dựng Nông Thôn của Nguyễn Bá Cẩn, Lục Đại Chiến của Đài Loan, Ấp Chiến Lược của Robert Thompson, Ấp Chiến Đấu của Westmoreland, Phòng tuyến Westmoreland, chế độ Công An Trị của Nguyễn Văn Tâm và Chiến dịch Phượng Hoàng của CIA.

Tác giả cũng đã dành khá nhiều thời gian để theo dõi hành tung của Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc, Lý Thuỵ và Hồ Chí Minh.

Về Việt Nam Quang Phục Hội, đảng của Phan Bội Châu được ghi nhận qua cuộc tấn công vào 3 tỉnh biên giới và cuộc đảo chánh bất thành ở Huế, rồi bị Hồ Chí Minh bán cho mật thám Pháp.

Về các đảng phái khác, tác giả trình bày tài liệu Tân Việt Cách Mạng Đảng, cái nôi của Cách mạng VN, cuộc khởi nghĩa của Đội Cấn và Lương Ngọc Quyến ở Thái Nguyên, Phục Việt Hội, Việt Nam Cách Mạng Đảng, Việt Nam Cách Mạng Đồng Chí Hội, Vụ án đường Babier , Việt Nam Quốc Dân Đảng của Nguyễn Thái Học với Nam Đồng thư xã, vụ ám sát tên mộ phu Bazin, cuộc khởi nghĩa Yên Bái. Tiếp theo là Việt Nam Quốc Dân Đảng tiếp nối của Nguyễn Thế Nghiệp và Vũ Hồng Khanh, Vân Nam Đạo Bộ và Việt Nam Quốc Dân Đảng Hải Ngoại Biện Sự Sứ, Tân Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt Dân Chính Đảng, Đại Việt Phục Hưng, Đại Việt Quốc Gia Xã Hội Đảng, Đại Việt Duy Dân, Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội (Việt Cách) của Nguyễn Hải Thần, Đại Việt Quốc Gia Liên Minh,..

Về các đảng phái Cộng sản, tác giả đưa ra tài liệu về đảng Cộng sản Đông Dương của Trần Phú, An Nam Cộng sản Đảng của Hồ Tùng Mậu, Đông Dương Cộng sản Đảng của Ngô Gia Tự, cuộc họp thống nhất hai đảng Cộng sản Việt Nam và hoàn cảnh thành lập đảng Cộng sản Đông Dương của Trần Phú, rồi Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập. Nguyễn Tất Thành về VN với Việt Minh Hội. Đảng Cộng Sản Đông Dương đời thứ ba với Đặng Xuân Khu, rồi Mặt Trận Việt Minh, liên kết giữa Hồ Chí Minh và Đặng Xuân Khu.

Tới đây, tác giả lại tiếp tục theo dõi Nguyễn Tất Thành, lúc đó đã trở thành Hồ Chí Minh với các thủ thuật đánh bóng cá nhân, thu tóm quyền lực, trộm cắp thơ văn (vụ Ngục Trung Nhật Ký,..)

Năm 1945, Bảo Đại tuyên bố Việt Nam độc lập. Đặng Xuân Khu phong Hồ Chí Minh làm “chủ tịch nước” và thanh toán nhóm Cộng sản đệ tứ, lập chính phủ Liên hiệp kháng chiến (Việt Minh).

Tác giả đưa ra nhận định công bằng về Bảo Đại, Hồ Chí Minh, Trần Trọng Kim và Ngô Đình Diệm.

Năm 1946, Việt Minh bắt tay với Pháp. Pháp tái chiếm Việt-nam và trở mặt đánh đuổi Hồ Chí Minh. Pháp muốn giao chính quyền cho Bảo Đại, nhưng nhà vua đòi độc lập, từ chối đứng trong Liên Hiệp Pháp. Năm 1949, Pháp trả lại Nam kỳ cho Việt-nam và vua Bảo Đại về nước. Cũng năm đó, Mao Trạch Đông chiếm được toàn bộ Trung hoa, cho thành lập Quân đội Nhân dân Việt-nam và phát động cuộc chiến tranh Đông dương. Tác giả trình bày các hồi ức của Nikita Khrushchev, Lê Trọng Tấn, Vũ Thư Hiên và Hoàng Xuân Hãn để soi rọi tìm sự thật lịch sử VN trong giai-đoạn này.

Các trận đánh lớn giữa Việt Minh và Pháp: Cao-bằng (1950, Trần Canh thắng), Vĩnh yên (1951, Võ Nguyên Giáp thua), Mạo-khê (1951, Võ Nguyên Giáp thua), Ninh-bình (1951, con trai tướng Delattre tử trận), Nghĩa-lộ (1951, Lê Trọng Tấn thua), Na-sản (1952, Võ Nguyên Giáp thua).

1952, Việt-nam thành-lập quân đội Quốc-gia. Tác giả phân tích tinh-thần chiến đấu của quân dân Việt-nam, quan niệm điều quân của Bảo Đại, khuyết tật lãng mạn của quân đội Quốc-gia, xuất-thân của các tướng. Vai trò, hình ảnh và công-lao của vua Bảo Đại được tô đậm nét.

1954: Trận Điện Biên Phủ, giai đoạn cuối của cuộc chiến Đông Dương, quan điểm chiến lược của Navarre, Mao Trạch Đông và của CSVN. Trận này được trình bày mạch lạc với cái nhìn của bốn bên: CSVN, Pháp, quân đội quốc gia (Tiểu đoàn 5 Dù) và Trung Cộng.

Cùng năm 1954, Hội nghị và Hiệp định Genève, chia đôi Việt-nam và cuộc di cư vĩ đại vào miền Nam. Ngô Đình Diệm, thủ tướng đầu tiên của nước Việt Nam độc lập.

Tác giả thu thập tài liệu từ nhiều nguồn và trình bày toàn cảnh cuộc Cải cách đẫm máu dưới chế độ cộng sản: đợt 1 (1953), đợt 2 (1954), đợt 3, đột 4, đợt 5. Hồ Chí Minh hạ Đặng Xuân Khu để chạy tội. Nghệ An nổi dậy. Năm 1960, Đặng Xuân Khu lấy lại quyền hành, quyết định đánh vào miền Nam.

Tác giả đưa ra lời chứng của nhiều nhân vật, từ Mai Chí Thọ, Võ Văn Kiệt tới Westmoreland và cả George W. Bush.

Trong phần cuối của tập Thượng, tác giả nhấn mạnh về sai lầm chính trị của cách mạng Vô sản Việt Nam, đằng sau các hoạt động chế biến lịch sử và những mưu toan bóp méo lịch sử. Đây là phần quan trọng của tập sách.

Qua tập Hạ (nhận định – Chuyện nước non đau lòng tới ngàn năm), tác giả đưa ra hai đề tài chính: Hệ quả cuộc chiến 1948-1975, và Nói chuyện với thanh-niên Việt nam trong nước.

Trong phần hệ quả cuộc chiến, các bài viết xoay quanh những đề tài lớn: Nói chuyện với Bùi Tín, Luận điệu chối tội về cuộc chiến Việt Nam, Mây mù trong mắt ai, Lịch sử không cần minh bạch (?), Hình ảnh ngày xưa theo như lời Đảng dạy, Cách mạng mùa thu, Chiến tranh chống Pháp, Những người “Quốc Gia, Lá cờ Quốc Gia, Quân đội Quốc Gia, Những hồn oan từ trận địa, Chính nghĩa và phi nghĩa, “Đế quốc Mỹ xâm lược”, Luận điệu tuyên truyền Hòa Hợp Hòa Giải, Chiến binh CSVN, chiến binh VNCH và chiến binh Hoa Kỳ, Mây mù vạn nẻo, Đối thoại với Nguyễn Cao Kỳ, Lửa yêu thương, lửa hận thù, Nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Lửa yêu thương, lửa hận thù, Bút ký của Phan Trần Hiếu, Lửa yêu thương, lửa hận thù, Hồi ức của Kiều Chinh, Lửa tuyên huấn, lửa hận thù, Nhật ký của Nguyễn Văn Thạc. Hiệp ước thương mại Việt Mỹ diễn nghĩa, Tổ quốc lăng nhăng,..

Phần Nói chuyện với thanh niên Việt Nam, tường-thuật cuộc trao-đổi ý nghĩ, đôi khi tranh-luận nóng bỏng, giữa tác giả và giới trẻ tại quốc-nội: Tâm tình của một thanh niên đang sống tại Việt Nam, Nỗi niềm của một số người trong cuộc, Giai cấp mới, Cách mạng và hành động, Từ chủ nghĩa Thực dân đến chủ nghĩa Cộng sản, Phương pháp điều hành quốc gia với chính sách thuế, Giáo sư Nguyễn Văn Canh và Nghị sĩ John Kerry, Luận anh hùng, Có nên chờ một minh chủ không? Oan khiên giữa đảng Cộng hòa và đảng Cộng sản, Sự oán thù không có thật giữa những người Việt Nam, và Vì sao mà tập tài liệu này được phổ biến?

Nhìn chung, đây là một tài liệu sưu tập và nhận định đáng được lưu trữ để tham khảo về vấn đề Việt-nam. Tác-giả đã đọc từ nhiều nguồn, thử nhìn từ nhiều góc cạnh, cân nhắc và trình bày lại một cách trung thực, cô đọng. Một tài liệu quí cho những ai quan-tâm tới vấn đề của đất nước, cần nhìn lại lịch sử để ôn cố tri tân, và vạch ra một lộ-trình hợp-lý cho cuộc hành-trình diệu-vợi.

Toàn bộ 2 tập sách (1336 trang) giá $55.00

Hỏi tại nhà sách gần nhất
Hoặc mua trê Internet: www.langvan.net (Mục: Sách mới 2008 )

Hay gửi chi phiếu cho:
LÀNG VĂN
P.O. Box 218 Station “U”
Toronto, Ontario M8Z 5P1 – Canada–
LANG VAN
P.O. Box 218 Station “U”
Toronto, Ontario M8Z-5P1
Canada
Tel/fax: 905-309-8566
Cell: 647-271-8010

June 7, 2008

Nguyên Nhân Mỹ Tham Chiến Ở Việt Nam

Quốc Huy

* Những nguyên nhân chính mà Mỹ nhảy vào Việt Nam là:

            Chấm dứt và thay thế chế độ thực dân cũ là Anh và Pháp. Vì 2 nước này có nhiều thuộc địa nhất trên thế giới. Xin đi xa hơn một chút để mọi người thấy rõ tình hình trên Thế Giới. Sau Đại Chiến thứ nhất, Đức thua trận nên phải bồi thường chiến phí cho những nước thắng trận, dân Đức rất phẫn nộ vì tinh thần dân tộc. Thế giới rơi vào thời kỳ Khủng Hoảng Kinh Tế (recession). Đức phát triển mạnh về kỹ thuật, dân Đức vẫn hậm hực vì phải bồi thường tiền chiến phí. Một đế quốc non trẻ nổi lên trên thế giới đó là Mỹ. Nhưng làm thế nào để có thể dành được những vùng trên thế giới đã thuộc về Anh và Pháp?. Chiến tranh. Người Mỹ không muốn ra mặt gây chiến và chịu đựng cuộc chiến vì sẽ tiêu hao nhân, vật lực, nguyên khí quốc gia. Họ cần những động lực để thúc đẩy sự bùng nổ của chiến tranh trên thế giới để làm thay đổi vị trí các nước cường quốc.

            Sau cuộc nổi loạn của đám thủy thủ Nga thành công, Mỹ và Đức đã giúp cho Lênin từ Đức trốn về Nga để thành lập phong trào Bolsevich lật đổ Nga Hoàng (lúc đó, nước Đức và Nga đang có chiến tranh, thù ghét nhau). Khi Bôn Sê Vit (tiền thân của Cộng sản) thành công ở Nga thì Europe cũng khá lo vì cộng sản chủ trương (chiêu bài) giải phóng các thuộc địa, nhưng lúc đó thực dân cũ (Anh, Pháp) coi thường tiềm lực của Cộng sản. Lúc này Mỹ đã âm thầm tài trợ cho chủ nghĩa Phát Xít ở Đức phát triển. Chính các tỷ phú Mỹ (Rockerfeller …) đã giúp tiền cho Hitler từ 1 anh thợ sơn leo lên lãnh đạo đảng Phát Xít và nắm chính quyền ở Đức. 

            Khi Phát Xít Đức thành hình thì Anh và Pháp muốn để Phát Xít chọi với Cộng sản vì vậy họ thản nhiên khi Đức xua quân chiếm Ba Lan, sau đó là Tiệp. Stalin tuyên bố ủng hộ Phát Xít Hitler. Anh và Pháp chờ để Hitler đánh Nga. Nhưng Hitler đã tấn công chiến lũy Magino và chiếm Pháp. 

            Ở Á Châu, Nga ủng hộ Tưởng Giới Thạch, Mỹ ủng hộ Mao và đã nhiều lần cứu Mao thoát chết, khi thì báo tin cho Mao biết quân của Tưởng sẽ tấn công, khi thì Mỹ ngăn cản Tưởng xua quân truy sát đoàn quân Vạn Lý Trường Chinh của Mao. Nhiều người đồng chí (đ/c) Cộng sản của Mao không tin là họ có thể sống sót trong cuộc chạy trốn, và họ càng không tin rằng Cộng sản có thể chiến thắng và chiếm trọn Trung Hoa. Như vậy Trung Cộng (TC) thành công chiếm được nước Tàu là nhờ Mỹ trợ giúp (thực tâm giúp thì khác hẳn với chuyện giúp Việt Nam Cộng Hòa). 

            Tại hội nghị Yalta , tổng thống Mỹ Eisenhower đã cùng Stalin, Churchill phân chia lại vị trí trên thế giới. Pháp, De Gaulle bị hất ra rìa, không được mời tham dự hội nghị này. Liên Xô trong đệ nhị thế chiến nhờ Mỹ lập cầu Không, Hải vận tiếp tế ngày đêm … hàng đoàn tàu đạn, thực phẩm, vũ khí được chuyên chở tới Nga và phát tới tay Hồng quân, nhờ vậy mới có thể giữ chân nhiều quân đoàn của Phát Xít Đức ở mặt trận miền Đông, để Đồng Minh đổ bộ lên Normandie thành công mở đầu cho chiến dịch giải phóng Europe. Tuy nhiên sau chiến tranh, Liên Xô thiệt hại nặng nhất và cũng chết nhiều người nhất. Liên Xô lúc đó hoàn toàn kiệt quệ, nên nhớ Mỹ chỉ tham chiến vào cuối cuộc chiến nên nguyên khí của Mỹ vẫn còn nguyên. Nước Mỹ không hề bị bom đạn tàn phá, các tiềm năng kỹ nghệ vẫn còn nguyên, trái lại kinh tế Mỹ lại vô cùng phát triển vì sản xuất vũ khí cho chiến tranh và dân Mỹ đã nhờ cuộc chiến mà không có ai thất nghiệp.

            Sau thế chiến thứ 2, Europe hoang tàn, kinh tế sụp đổ, thực dân Anh và Pháp trở thành đàn em của Mỹ. Mỹ trở nên một cường quốc số 1 trên thế giới về kinh tế cũng như quân sự. Mỹ cũng là nơi thu hút nhân tài, chất xám trên thế giới đổ về. Những nhà Bác học lớn của Đức như Von Braun, Einstein, ..v.v.. đều vào tay Mỹ. Sau đệ nhị thế chiến, Mỹ không nhân dịp này tấn công Liên Xô mà trái lại họ còn để cho Liên Xô bắt rất nhiều bác học Đức để “Liên Xô phát triển kỹ thuật” để Mỹ có kẻ đối đầu. Mỹ phát triển kinh tế với kế hoạch Marshall, nông dân, trại chủ Mỹ sản xuất chăn nuôi dư thừa, không thể nào tiêu thụ hết các nông phẩm, chính phủ (c/p) Mỹ phải trả tiền bù lỗ cho nông dân, vì không muốn bị phá giá nên c/p Mỹ đã đem bột mì, lúa mạch, ngũ cốc đổ ra biển, bò, cừu, dê bị bắn đem chôn. Lúc này tướng Marshall đề ra kế hoạch viện trợ cho Europe thực phẩm, những thứ phải đem đổ ra biển hay chôn, nay đem viện trợ cho dân Europe có nơi tiêu thụ, nông dân Mỹ tăng gia sản xuất, dĩ nhiên là khi Mỹ viện trợ cho Europe thì họ phải thu cái lợi khác, đó là nắm kinh tế và chính trị của  Europe trong tay. 

            Tuy nhiên, chế độ thực dân cũ vẫn còn, các thuộc địa vẫn nằm trong tay Anh và Pháp.  Lúc này con bài Cộng sản được xử dụng với phong trào giải phóng thuộc địa. Cộng sản Việt Nam (CSVN) nổi lên và nhờ vào TC cung cấp vũ khí, người CSVN đã có thể công khai đối đầu với thục dân Pháp. Tới đây, thì chúng ta thấy Mỹ tính thế cờ rất xa cả chục năm. Lúc đầu Quốc Huy, tôi cứ thắc mắc không hiểu tại sao Mỹ nó lại giúp Mao, Lênin, Stalin trong khi tụi nó chủ trương diệt Cộng sản?. Cộng sản Việt Nam chắc chắn không thể nào đánh thắng Pháp nếu không có TC giúp người, vũ khí, và ngay cả chỉ huy các trận đánh cũng là các tướng của Tàu, Võ Nguyên Giáp chỉ đứng tên (việc này được bật mí khi TC đánh VN, Mỹ và Pháp không hề tiết lộ điều này).

            Tướng Navarre của Pháp mở trận Điện Biên Phủ (ĐB) để ép Cộng sản lộ mặt đánh địa chiến với Pháp. Tướng Navarre đặt kế hoạch sẽ dụ Cộng sản vào khu lòng chảo Điện Biên Phủ và dùng máy bay thả bom tiêu diệt Việt Minh (tiền thân của vc). Mỹ hứa giúp Pháp về Không quân nhưng sau đó Mỹ lờ đi. Quân Pháp ở Điện Biên Phủ không có tiếp tế, không có máy bay oanh tạc, quân Việt Minh vây chặt quân Pháp đông như kiến, trong khi đó pháo của Trung Cộng ở trên các mỏm núi bắn xuống khu lòng chảo dữ dội. Navarre không muốn lính Pháp hy sinh vô ích nên ra lịnh đầu hàng Việt Minh. (tới đây, Quốc Huy tôi thấy lính Pháp đánh dở như hạch thế mà cả thế giới cứ ca tụng trận Điện Biên. Trận chiến An Lộc (Bình Long) còn tàn bạo hơn Điện Biên gấp chục lần, mỗi mét vuông của An Lộc phải chịu hơn 2000 quả đạn pháo đủ loại, nên nhớ là vũ khí thời An Lộc có sức tàn phá hơn thời Điện Biên gấp chục lần, quân Việt Nam Cộng Hòa trú phòng ở An Lộc hết lương thực, đạn, thuốc men, lại bị Cộng sản đánh bất ngờ (chứ không phải như Điện Biên, là Pháp đã có kế hoạch để dụ Việt Minh ra mặt), bên ngoài Việt Cộng vây chặt đông đen như kiến với 5 sư đoàn, mỗi ngày Việt Cộng mở hàng chục đợt tấn công cường tập. Nhiều nơi trên tuyến phòng thủ bị Cộng sản phá vỡ, xe tank T54 của Cộng sản và bộ binh tùng thiết đã nhiều lần tràn vào trong thị xã An Lộc, và nhiều lần ngụy quân Cộng sản chạy trên nóc hầm bộ chỉ huy quân trú phòng An Lộc. Tướng Lê Văn Hưng người hùng tử thủ An Lộc luôn giữ trong tay 1 trái lựu đạn M26 để nếu khi Cộng sản tràn vào thì ông sẽ rút chốt lựu đạn để cùng chết với chúng. Đại tá Hồ Ngọc Cẩn cương quyết đánh tới chết không chịu đầu hàng mặc dù lương thực, đạn dược đã hết. Sau này, viên cố vấn Mỹ của đại tá Cẩn còn nhắc lại chuyện này và ông nói trong khi mắt rơm rớm lệ: “rất tiếc là không được ở lại cùng chiến đấu với đại tá Cẩn phút cuối cùng và để đại tá Cẩn bị Cộng sản giết …”, tướng Lê Nguyên Vỹ thủ sẵn khẩu súng để nếu bị thua sẽ tự sát chứ không chịu đầu hàng Cộng sản. Các nhà quan sát, tướng lãnh quốc tế đều nói rằng: “An Lộc chỉ chịu đựng tối đa là 1 tháng là phải thua …”, thế mà quân đội Việt Nam Cộng Hòa ở An Lộc đã chịu hơn 3 tháng và Cộng sản đã thua. 

            Thế nhưng hầu như thế giới chẳng ai biết đến trận đánh này, Quảng Trị, Sa Huỳnh, Tống Lê Chân, Đức Huệ, Đỗ Xá, … và nhiều trận đánh khác rất lớn vì mức độ tham dự lên cấp trung, sư đoàn. Mỹ chỉ nói về cuộc chiến đồi Hamburger (nhưng trận đánh này chính binh lính Việt Nam Cộng Hòa là đoàn quân đầu tiên lên ngọn đồi Hamburger chứ không phải lính Mỹ), hoặc Platoon (1 trận đánh tưởng tượng nhưng được phù thủy truyền thông Do Thái ở Mỹ thổi phồng) và mới đây là: “We are Soldier” do Mel gibson thủ vai chính, đây là một trận có thật. Nhưng so với lực lượng Dù, Thủy quân Lục chiến, Biệt Động quân của Việt Nam Cộng Hòa, lính Mỹ vẫn còn thua xa, bởi vì lính Mỹ nhiều anh GI lớ ngớ và nghe súng nổ thì co rúm lại sợ hãi, chưa kể là lính Mỹ đánh ở đâu thì được Pháo binh, Không quân Mỹ yểm trợ tối đa, hoả lực của Mỹ cũng mạnh hơn quân Việt Nam Cộng Hòa gấp 3 lần. Phim “Metal Jacket” thì hư cấu nhiều đoạn cốt bôi nhọ quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Trong trận Mậu Thân đâu phải chỉ có Thủy quân Lục chiến Mỹ đánh với Cộng sản (VC), điều này ở Việt Nam ai cũng biết, chỉ có thế giới là không biết và đã bị lừa). 

            Trở lại thời Pháp, sau khi Pháp thua và rời Việt Nam, thì chế độ thực dân cũ cũng tiêu tan, các thuộc địa của Pháp đều tan rã (Algérie, Tunisie, Maroc, Martinique, Bắc Phi, Congo, Haiti ..v.v.. đều độc lập), Anh cũng trao trả độc lập cho các thuộc địa và lập ra Liên Hiệp Anh và Common Wealth. Mỹ hất cẳng Pháp ra khỏi Việt Nam và nhờ Việt Nam Mỹ đã chấm dứt hệ thống thực dân cũ.

            Sau đó cả thế giới đều sợ nạn Cộng sản xâm lăng nên đều bám vào Mỹ nhờ che chở. Mỹ nhận lời bảo vệ thì phải có lợi cho Mỹ chứ? Đúng vậy, Mỹ đã thao túng các nước trên thế giới về chính trị, kinh tế và cả văn hoá Mỹ cũng tràn lan khắp nơi. Nên biết, trước năm 1950, và ngay cả đến bây giờ nhiều người Mỹ vẫn cho rằng Paris là nơi văn vật, cái gì của Paris đều được cho là sang trọng, Chic, Elegant nhất là văn hoá, nghệ thuật, thời trang, mỹ phẩm ai sành xài đồ có mark thì biết điều này. Thời đó người ta đã gọi Paris là kinh đô của ánh sáng, các văn nhân, nghệ sĩ, họa sĩ, điêu khắc gia trên thế giới muốn nổi tiếng thì phải quy tụ ở Paris. Chúng ta thấy điều đó đúng vì các nhà danh hoạ như Van gogh, Monet, Manet, Pissaro, Degas, Picasso, Delaunay, Kadinsky, Chagal, Suzuki, rồi Hemingway, Fritzerald, Georghiu, Pastenak đều tới Paris . Mỹ lúc đó bị coi khinh là anh nhà quê. Nhưng kể từ sau đệ nhị thế chiến, nếu muốn nổi tiếng, thành công thì phải tới New York city, New York city cũng là nơi trung tâm, đầu não của nền kinh tế, tài chánh của nước Mỹ. Người Do Thái là ông vua không ngai ở New York city. Các sắc dân khác đều phải quy phục người Do Thái ở đây. 

            Nhờ chiến tranh Việt Nam, Liên Xô chạy đua vũ trang với Mỹ, nên Mỹ đã sản xuất và bán được nhiều vũ khí cho các nước sợ Cộng sản xâm chiếm. Các tài nguyên, mỏ quặng của các nước trên thế giới Mỹ cai thầu luôn, mấy anh European bị dẹp ra rìa. Nhờ chiến tranh Việt Nam kinh tế khu vực các nước ở Á Châu phát triển, mà vốn của Mỹ nắm phần lớn ở đó, vì vậy Mỹ đâu có muốn dẹp tụi Cộng sản nên chiến tranh mới kéo dài 30 năm, Mỹ chơi cái trò mèo vờn chuột. Nếu so sánh chiến tranh Việt Nam với Đệ nhị thế chiến khi Mỹ đánh với Đức thì thấy khác nhiều lắm. Mỹ đâu có chơi cái trò vừa đánh vừa “giỡn” như đã làm với Cộng sản Hà Nội, nói giỡn cũng đúng lắm. Bởi vì máy bay Mỹ được lịnh không ném bom những xe chuyên chở của Cộng sản Bắc Việt trên đưòng mòn hồ chí minh, nếu những xe này đậu ở lề đưòng máy bay Mỹ không được phép tấn công, những dàn tên lửa của Nga chế tạo viện trợ cho Bắc Việt nếu không thấy có dấu hiệu nguy hiểm, có nghĩa là không chỉa lên trời nhắm vào máy bay Mỹ. Cứ coi Mỹ đánh Iraq chỉ trong vòng có 1 tháng là xong?. Cộng sản kéo dài 30 năm, phi lý. Vì vậy khi Mỹ bỏ miền Nam Việt Nam cho Cộng sản thì cả thế giới chưng hửng, vì từ trước tới nay Mỹ đâu có bao giờ thua. Không đúng. Mỹ đã thua Cuba trước đó. Và cho tới nay Cuba cứ nghèo và bị cấm vận và cũng chính Mỹ “chuyên” mua đường dùm Cuba, để Cuba có phương tiện để thở, ngáp ngáp nhưng chưa chết và lâu lâu đem hỏa tiễn của Liên Xô ra dọa bắn qua Mỹ làm dân Mỹ teo dái và khi chính quyền Mỹ tăng ngân sách quốc phòng, thì dân Mỹ im ru không dám biểu tình, thế là các tài phiệt Mỹ hốt bạc.

            Mỹ cũng không cho phép đánh ra ngoài Bắc để giải quyết gọn Cộng sản Bắc Việt. Có người nêu ra nguyên do: “vì Mỹ sợ Trung Cộng tham chiến nếu Mỹ cùng Việt Nam Cộng Hòa tấn công chiếm miền Bắc. Điều này không đúng. Vì sao mà không đúng?. Chúng ta lấy cái ví dụ Iraq thì thấy, Mỹ nó có coi Trung Cộng, Liên Xô, Đức, Pháp ra cái quái gì. Saddam Hussein tính đánh Do thái bị Mỹ cấm vận nên chỉ chơi với Trung Cộng, Liên Xô, Đức, Pháp. Saddam bán dầu hoả cho 4 nước này đổi lại vũ khí, lương thực. Đáng lẽ ra thì Saddam cũng chưa đến nỗi chết nhưng chỉ vì Saddam tính đánh Do Thái nên Do Thái ra lịnh cho Mỹ chiếm Iraq, chính thủ tướng Sharon công khai nói điều này trên truyền hình và được truyền đi khắp các đài ở Âu Mỹ, mà tại sao Mỹ lại phải nghe lịnh Do Thái?. Bởi vì Do Thái là chủ các nhà bank, thị trường chứng khoán, chủ nhân các công ty, các nhà sản suất phim, chủ các tòa báo ở Mỹ, tài chánh kinh tế của Mỹ … Do Thái nắm trong tay, vì vậy Mỹ phải “tuân lời” Do Thái.

            Theo tin của báo Pháp (Le Monde) thì lúc đó Đức đã viện trợ cho Iraq loại súng đại bác có thể bắn từ Iraq tới Israel . Đức còn viện trợ cả vũ khí hóa học cho Iraq nữa. Do Thái biết được điều này thì sợ lắm, bởi vì vũ khí hóa học có thể giết cả chục ngàn người như chơi với 1 đầu đạn có chất độc. Ngoài ra, Đức còn xây cho Iraq những hầm trú ẩn, lô cốt rất kiên cố có thể chống cả bom khinh khí, nguyên tử nữa. Liên Xô thì bán cho Iraq loại Mig tối tân nhất, và cả hỏa tiễn đầu đạn nguyên tử, cùng tank mới nhất. Pháp thì bán cho Iraq những chiếc máy bay Mirage loại mới nhất, và một số các thiết bị quân sự, liên lạc, radar tối tân nhất của Pháp. Trung Cộng thì cung cấp các loại vũ khí cộng đồng, xây dựng đường xá ..v.v.. 

            Khi Mỹ đánh Iraq, thì Trung Cộng, Liên Xô, Pháp, Đức đều phản đối vô cùng dữ dội, bởi vì các nước này đã bán chịu hàng hoá, vũ khí cho Saddam Hussein mỗi nước mấy chục tỷ dollars mỹ. Bốn (4) cường quốc này biết nếu Saddam Hussein có mệnh hệ gì thì mấy chục tỷ dollars cho nợ sẽ tiêu tan thành mây khói, vì vậy Chirac, Putin, thủ tướng Đức, và cả Hồ Cẩm Đào đều to tiếng phản đối Mỹ đánh Iraq, thế mà thằng Mỹ nó coi 4 ông ra cái gì? Mỹ ngụy tạo ra bằng chứng “mass destruction weapon” (võ khí giết người hàng loạt) cho Iraq và mới đây Mỹ đã phải xin lỗi. Rồi Mỹ còn gán cho Saddam dính líu tới Al Quada, bây giờ lòi ra cũng không phải vậy, thì Mỹ lấy lý do gì đánh chiếm Iraq ? Vì chủ Do Thái chứ còn cái gì nữa. (hãy suy nghĩ, suy tư một chút đừng để tụi truyền thông nó cứ xỏ mũi mãi như vậy, nó dắt mình đi đâu thì chẳng lẽ mình cứ đi theo mãi sao?)  Mỹ cứ đánh, nó cứ bỏ bom, rồi nó chiếm Iraq, nó bắt được Saddam Hussein, nó chiếm các mỏ dầu rồi nó lôi Saddam ra xử tử, bốn (4) ông cường quốc chỉ dám đánh võ miệng được vài tháng cho đỡ ức sau đó các ông Pháp, Đức, đành làm hòa với mỹ, rồi cả Europe đưa quân mò tới Iraq đóng quân giúp Mỹ. Thế giới đã quên chuyện cũ, dòng đời vẫn tiếp tục.  

            Thế thì chúng ta thấy cái luận điệu trên “Mỹ nó sợ Trung Cộng” láo quá phải không nào?. Nhất là thời gian đó, Trung Cộng còn nghèo, khoa học, kỹ thuật, quân sự lạc hậu lắm chứ đâu được tân tiến như bây giờ, nói là tân tiến chứ so sánh với vũ khí của Mỹ hiện nay thì theo các nhà chuyên viên quân sự ước tính “Trung Cộng muốn được bằng Mỹ hiện nay thì ít nhất phải mất 25 năm ‘hiện đại hoá quân đội’ … (sic)”. Cứ thử làm bài toán, Trung Cộng tiến thì Mỹ cũng phải tiến chứ, trong 25 năm đó thằng Mỹ nó đâu có ngồi chờ Trung Cộng “hiện đại hóa quân sự” để bằng nó như một số người Việt Nam ta tin vào mấy thằng tay sai Việt Gian Cộng sản Hà Nội dụ “chúng ta đừng làm gì cả, tranh đấu chi cho mệt, cứ ngồi chờ Cộng sản tự nó xụp đổ, bất chiến tự nhiên thành mà”.

            Mỹ nó đâu có sợ Trung Cộng, chính nó giúp Mao, giúp Cộng sản chiếm Trung Hoa kia mà, nhờ vậy Cộng sản Hà Nội mới có chỗ dựa để đánh nhau với Pháp chứ, và cũng chính thằng Mỹ đã đưa các tài liệu chế bom nguyên tử cho Trung Cộng sau khi biết Liên Xô không chịu giúp Trung Cộng chế bom nguyên tử. Mao vì cớ này mà giận Liên Xô đó.  Mỹ đã cho mời một giáo sư đại học về nguyên tử của Trung Hoa tới Trung Tâm Nguyên Tử Lực lớn nhất của Mỹ làm việc, và Mỹ đã “vô tình” để cho ông giáo sư Tàu này “chôm” tài liệu chế bom nguyên tử trốn về Tàu trót lọt, qua cổng phi trường mà không hề bị khám xét, FBI, an ninh, mật vụ ở đâu sao không theo dõi sát ông Gs Tàu này, mà để cho ông ta phom phom chạy về Tàu dễ dàng như vậy?. Sau đó một thời gian Mỹ mới “chợt nhớ tới” ông Gs Tàu này, thì lúc đó mới biết ông ta đã trốn về Tàu cùng với công thức chế bom nguyên tử (đóng kịch dỡ quá há, scenario thuộc loại hạng F), lúc đó Mỹ mới hô hoán lên là ông Gs tàu làm gián điệp đã ăn cắp tài liệu “tối mật để làm bom nguyên tử” (sic), thì đã quá trễ, bởi vì Trung Cộng đã biết cách chế bom nguyên tử rồi và có lẽ cũng đã thử tới quả bom thứ hai.

            Khi Nixon cùng đoàn bóng bàn qua Bắc Kinh giao đấu hữu nghị, Nixon và Mao bắt tay nhau, thì nhiều người Việt Nam đã biết thằng Mỹ sẽ chơi đểu Việt Nam Cộng Hòa, Mỹ nhắm vào cái thị trường tiêu thụ hơn 1 tỷ người của Trung Cộng và đã thành công. Qua cầu thì rút ván, công tác đã hoàn thành, ông chủ Do Thái đã ra lịnh Mỹ bỏ Việt Nam để tập trung vào Trung Đông giúp Israel (Do Thái) đối phó với khối Ả Rập, Ai Cập. Kissinger thi hành ý của Do Thái đi đêm với Bắc Kinh, Cộng sản Hà Nội bức tử Việt Nam Cộng Hòa trong hội nghị Paris 1972. Mỹ tuân lịnh Do Thái rút khỏi Việt Nam . Mỹ ngưng viện trợ để bức tử Việt Nam Cộng Hòa. Cộng sản Hà Nội chiếm miền Nam Việt Nam chấm dứt chiến tranh, nhưng lại mở đầu cho thời đại nô lệ dân tộc Việt. Mỹ bỏ miền Nam Việt Nam đâu có lỗ gì?. Sau khi Mỹ bỏ Nam Việt Nam , thì các nước trên thế giới bám vào Mỹ để xin Mỹ bảo vệ khỏi bị họa Cộng sản xâm lăng. Các đơn đặt hàng vũ khí của Mỹ tăng vô kể. Ngân sách quốc phòng tăng không ai dám phê bình. Uy tín Mỹ trên thế giới lại tăng. Để cho người dân Mỹ bớt uất ức vì mang tiếng thua trận (chỉ là cái tiếng thôi chứ sự thực nó không phải như vậy). Mỹ cho ra phim Rambo cho dân Mỹ coi đỡ tức. Đồng thời, Do Thái, Mỹ sợ thế giới khám phá ra cái trò chơi bẩn, phản bội Việt Nam Cộng Hòa nên đã bỏ tiền ra thuê mướn các nhà báo, văn sĩ, cựu chính trị gia, viên chức, một số trí thức viết sách, báo, làm phim bôi nhọ, đổ tội bất tài, vô khả năng lên đầu quân lực Việt Nam Cộng Hòa chỉ để che dấu sự thực, cả thế giới đã bị phù thủy Do Thái, Mỹ dùng truyền thông lừa bịp. Chẳng khác gì trước đây Mỹ đã từng làm phim về người Da Đỏ là tàn ác, hiếu chiến chuyên tấn công cướp bóc người da trắng để che dấu cái tội ác diệt chủng, cướp đất người Da Đỏ, nhưng đã có những người Mỹ, European chính trực, can đảm đã dám đứng ra làm phim, viết sách nói lên sự thực về người Da Đỏ ở Mỹ.

            Mỹ nuôi dưỡng Cộng sản để Cộng sản Liên Xô, Tàu chạy đua vũ trang cho kinh tế Mỹ phát triển. Không có mấy thằng gian ác, bad guys, côn đồ cộng sản cầm dao, súng đứng ở các ngõ hẻm rình rập hay xông vào nhà ăn cướp thì đâu có ai nhịn ăn, học, thuốc men mà đi mua vũ khí, phải không?. Cuối cùng, khi Gorbachev một tay trí thức, Gs đại học, lên làm tổng bí thư cộng sản Liên Xô, khám phá ra ngân khố và kinh tế Liên Xô đang trên bờ vực thẳm vì đã cạn kiệt, nếu cứ tiếp tục chạy đua vũ trang với Mỹ chẳng chóng thì chày sẽ xụp đổ, vì vậy ông ta mới quyết định “đổi mới” để củng cố lại hệ thống, không ngờ bị đám Yeltsin nhảy ra làm “Cách Mạng”, thế là cộng sản Liên Xô đi bán muối kéo theo khối Varsovie. Cộng sản Hà Nội mất chỗ dựa Liên Xô đành phải về xin bái Trung Cộng làm thầy để tiếp tục vơ vét, ăn cướp, bóc lột dân nô lệ Việt Nam. 

            Thấy mỹ đầu tư làm ăn nhiều ở Tàu, Việt Gian Cộng sản cũng mon men muối mặt quỳ lạy để năn nỉ xin Mỹ bang giao, xin Mỹ bãi bỏ cấm vận. Từ đó Việt Gian Cộng sản trở thành một tên tay sai của nước ngoài chuyên đàn áp, bóc lột, bắt dân Việt Nam làm nô lệ, các mỏ dầu ở ngoài biển Đông tốt nhất, có trữ lượng dầu lớn nhất Mỹ khai thác, Việt Gian Cộng sản dễ bảo vì chúng là quân ăn cướp, buôn dân, bán nước, chúng chỉ biết tổ quốc của chúng là Liên Xô, Trung Cộng, đảng Cộng sản Việt Gian. Ngoại bang cho chúng một ít tiền bảo gì chúng cũng làm, công nhân thời Việt Nam Cộng Hòa còn đình công đòi quyền này quyền kia, Nghiệp Đoàn thời Việt Nam Cộng Hòa còn đòi chủ Mỹ phải xin lỗi nếu nhục mạ công nhân, bắt chủ phải thu hồi công nhân nếu bị đuổi vô cớ, bị tai nạn lao động thì bắt chủ phải bồi thường, chu cấp cho gia đình nạn nhân.

            Thời Việt Gian Cộng sản bọn chủ nhân nó là ông Trời, chúng nọc công nhân ra đánh, lột trần truồng nữ công nhân ra khám xét trước khi tan sở, bắt làm việc nhiều hơn 8 tiếng/ngày, không được hưởng lương phụ cấp con cái, không tiền bồi thường tai nạn lao động, chủ muốn đuổi lúc nào thì đuổi, con gái Việt Nam đứng xếp hàng không quần áo để tụi ngoại quốc nó mua về làm “vợ” như mua con vật, nô lệ Việt Nam “xuất khẩu ra ngoài” bị hành hạ, bóc lột, bị chết cũng chẳng sao. Nông dân thời Việt Nam Cộng Hòa thì được chia ruộng đất trong chương trình “Người Cày Có Ruộng”, thời gian đó về miền Tây gia đình nào cũng sống sung túc, con cái học hành đàng hoàng, lễ phép. Chỉ bị cái nạn Việt Cộng đánh phá, nếu không thì là cảnh miền quê trù phú, hạnh phúc. Ngày nay đa số nạn nhân cho những ổ điếm con nít, vợ Đài Loan, Đại Hàn là người miền Tây nam bộ. Miếng đất nào ông chủ nước ngoài muốn thì bảo thằng cai thầu nô lệ Việt Gian Cộng sản một tiếng thì nó sẽ cho công an, bộ đội hốt hết tụi dân nô lệ Việt Nam đi chỗ khác, để đất cho ông chủ mở sân đánh golf, sòng bài, du hí, đú đỡn. Có ai để ý thấy rằng những người con gái bị làm nô lệ tình dục cho ngoại bang là người miền Nam, con nít bị đi làm điếm ở Cao Miên, Thái, Mã Lai cũng là người miền Nam, những nô lệ xuất khẩu bị rơi vào những chỗ khổ, tồi tệ nhất, cũng là người miền Nam. Thời Việt Nam thì đâu có thể làm như vậy được. Tội ác của Cộng sản Hà Nội trong thời chiến đối với dân tộc Việt Nam và trong thời gian chúng cai trị ở miền Bắc. Bằng chứng dâng đất biển cho Trung Cộng, giấy bán còn rành rành ra đó không thể nào chối cãi, thế mà vẫn có những tên bưng bô, xách dép cho Việt Gian Cộng sản vẫn có thể nguỵ biện cho việc này. Vô liêm sỉ, chỉ có thời Việt Gian Cộng sản mới có những kẻ vô liêm sỉ như vậy. Nước Việt hiện nay có độc lập không?. Câu hỏi để mọi người tự trả lời.  

            Đối với Mỹ, với người nước ngoài thì bọn Việt Gian Cộng sản quàng vai, quàng cổ chụp hình thân thiết, trong khi đó đối với người dân, cán bộ, binh lính, sỹ quan Việt Nam Cộng Hòa (kể cả bộ đội thương binh của chúng) thì chúng hành hạ, sỉ nhục, phân biệt, kỳ thị. Ngay cả những nấm mộ của những người lính Việt Nam Cộng Hòa đã nằm xuống, Việt Gian Cộng sản cũng đâu bỏ qua, chúng rào lại cấm người thăm viếng, có phải là hình thức cầm tù người chết như trước đây mộ của Tả Quân Lê Văn Duyệt bị xiềng xích?. Sau đó chúng lại làm tiền bằng cách đòi dời những nấm mộ này đi. Cộng sản Hà Nội cứ nói người Việt nam Cộng Hòa thù dai. Nhưng hãy coi hành động của chúng mỗi năm ăn mừng ngày 30/4, kỳ thị người miền Nam, chế độ cũ, như vậy hòa hợp hòa giải ở đâu?. Ai là người nuôi dưỡng hận thù?. Người Việt ở hải ngoại chỉ nói lên sự thực, còn Việt Gian Cộng sản thì hành động đày ải con người. Tư bản đỏ cộng sản Hà Nội càng lúc càng nhiều tiền là do ăn cướp, bóc lột người nô lệ Việt Nam chúng mới thành giàu có. Thực sự thù hận là ai chắc mọi người đã rõ.

            Tuy nói Cộng sản chống Mỹ nhưng ngày nay văn hóa, lối sống Mỹ nó tràn ngập ở Việt Nam, với quyết tâm đào tạo con người xã hội chủ nghĩa, bọn Việt Gian Cộng sản đã đào tận gốc trốc tận rễ những truyền thống văn hoá Việt Nam, để ngày nay ở Việt Nam có những việc như thanh niên chuyên hiếp dâm bà già, ông già chuyên hiếp dâm con nít, thày giáo ngoài giờ đi dạy thì đi làm ăn cướp, hoặc quấy nhiễu tình dục nữ sinh nếu không được sẽ đánh rớt nạn nhân, thi cử thì toàn là bịp bợm, bằng giả, bằng mua, thuê. Công an đi trấn lột, hiếp dâm dân, cán bộ cộng sản tham nhũng, thụt két, bộ đội, công an công khai tổ chức những đường dây ăn cắp, buôn lậu. Ăn cắp, ăn cướp, hối lộ, tham nhũng, thụt két, nói láo, lừa bịp là điều phải có trong xã hội chủ nghĩa của Cộng sản. Đó có phải là đạo đức của Cộng sản?. Dĩ nhiên ở những nước khác trên thế giới cũng có những tệ trạng này, nhưng thủ phạm đã bị trừng phạt hay phải nghỉ việc, và lại càng không phải chính sách (quốc sách) của chính quyền. Không như ở Việt Nam hiện nay, cán bộ đảng viên cộng sản phạm tội vẫn nhởn nhơ tiếp tục nắm quyền, vẫn tiếp tục phạm tội. Họ đứng trên luật pháp bởi vì họ đẻ ra luật pháp?. Thằng ăn cướp nắm quyền không thể xử chính chúng được, vì vậy các thủ phạm tham nhũng, ăn cướp cứ ngồi vững trên ngai vàng và tiếp tục ăn cướp.

            Nói tóm lại thời Việt Gian Cộng sản thì chỉ có dân tộc Việt Nam khổ vì làm thân nô lệ, còn tụi ngoại quốc thì chúng nó tới Việt Nam oai vệ hơn thời Thực Dân, nó thí cho Cộng sản chút tiền, thì Việt Gian Cộng sản ngoan ngoãn làm tay sai cho chúng đàn áp, bóc lột người dân. Cộng sản Hà Nội đã làm rất tốt công việc của thằng tay sai cho ngoại bang, cai nô lệ bản xứ. Đâu phải các ông chủ Nhật, Đài Loan, Hongkong, Đại Hàn, Mỹ, Pháp tới Việt Nam làm ăn vì thương người Việt Nam. Họ tới đó vì lợi nhuận đấy, mà có lợi cho họ thì người dân Việt Nam phải chịu thiệt, điều đó ai cũng biết. Một nước được đánh giá có tiềm năng kinh tế hay giàu có thì phải coi tiềm năng kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hoá, cấu trúc hạ tầng, chỉ số GDP hàng năm, chứ không phải là những hotel, sân golf hay những khu du lịch, xòng bạc casino. Tới đây chắc mọi người cũng đã hiểu phần nào tại sao Mỹ nó bỏ miền Nam rồi chứ?.

            Cho đến ngày nay, Do Thái, Mỹ, Cộng sản Hà Nội vẫn bỏ tiền ra cho truyền thông báo chí ngoại quốc (nhất là báo chí Mỹ) thuê người viết sách làm phim đánh bóng Việt Gian Cộng sản, cũng như thoá mạ, bôi nhọ, nguỵ tạo sự thật về quân lực Việt Nam Cộng Hòa, chúng ta thấy rõ trong những film Mỹ nói về chiến tranh Việt Nam có bao giờ có người lính Việt Nam Cộng Hòa trong đó. Trong khi đó thì hơn 200,000 người lính Việt Nam Cộng Hòa tử trận và hơn 1 triệu người bị thương tật. Nếu chiến tranh Việt Nam chỉ có Mỹ đánh với Cộng sản Hà Nội, thì Mỹ phải tới Việt Nam bao nhiêu người mới đủ để phụ trách các nơi?. Đấy! chỉ là sự lừa bịp trên truyền thông. Chúng ta đừng để bị Mỹ, Do thái, Việt Gian Cộng sản lừa bịp suốt đời nhé. Người Việt Nam bây giờ và các thế hệ sau này cũng sẽ phỉ nhổ lên hành động dơ bẩn này, nếu các Ác Thế Lực không biết dừng lại mà vẫn tiếp tục gieo thêm tội ác lên trên con người Việt Nam cũng như chà đạp nỗi thống khổ của con người Việt Nam và gây thêm tội ác trên đất nước Việt Nam. Chúng ta phải bằng mọi cách phải lưu truyền lại sự thực này cho đời sau biết rõ, dù chỉ là truyền miệng.

 Quốc Huy

———
http://www.trangdenonline.com/ArticleDetail.asp?item_id=1377&category_id=1&name=¬esmin=¬esmax=&author=&

Nhân đọc bài: “Nguyên Nhân Mỹ Tham Chiến

Ở Việt Nam” của tác giả Quốc Huy

 

Triệu Lan

 

 

Đọc bài viết của tác giả Quốc Huy dưới đây chúng ta những người Quốc Gia Chân Chính Yêu Nước nghĩ gì ?!. Tin tưởng ở người “đồng minh” trong mấy mươi năm qua để đất nước Việt Nam hiện nay như thế nào chắc hơn 80 triệu người Việt Nam trong nước và cả ở hải ngoại cũng đã rõ. (Ngoại trừ một số Việt Gian Cộng sản hiện nay đang cầm quyền sinh sát đất nước Việt Nam để trục lợi thì chúng quá giàu có, vì chúng chỉ là một lũ cướp chuyên đi làm tay sai cho ngoại bang bất kể thế lực nào nuôi cho chúng tiếp tục cầm quyền để cướp bóc và hưởng thụ). “Bạn, Thù” trong mấy chục năm qua đều tiếp tay giúp cho Việt Gian Cộng sản tàn phá đất nước Việt Nam thê thảm như thế nào ?! Có lẽ không người Việt Nam nào không rõ. Những người Trí Thức, giới Sĩ Phu Việt Nam hiện nay đang ở đâu?, trong nước và cả hải ngoại chúng ta sẽ làm gì và phải làm gì?. Chúng ta đã thức tỉnh hay chưa?!. hay vẫn tiếp tục tin tưởng vào những lời đường mật ở người “đồng minh”. Nay chúng ta phải mạnh dạn nói cho người “đồng minh” chúng ta biết rằng: Người dân Việt Nam chúng ta không ngu và không hèn, dù cho có muôn ngàn đau khổ và cay đắng chúng tôi vẫn tiếp tục chiến đấu để đem lại hạnh phúc cho dân Việt Nam, đem lại độc lập và hòa bình thật sự cho đất nước Việt Nam.

 

            Đã ba mươi ba (33) năm trôi qua “đồng minh” vẫn thản nhiên giúp Việt Gian Cộng sản đè đầu cỡi cổ và cướp bóc dân Việt. Vì vậy chúng ta phải thật sự tỉnh ngộ và hiểu rằng: Không ai thương chúng ta hay đất nước chúng ta, chỉ có chúng ta người Việt Nam thương yêu đất nước, thương yêu con người Việt Nam chúng ta. Ngậm ngùi nhìn đất nước Việt Nam chìm đắm và nghèo đói như ngày hôm nay, chỉ có gỗ đá vô tri mới không thương khóc cho đất nước, cho dân tộc Việt Nam .

 

            Đất nước Việt Nam , con người Việt Nam chúng tôi đã làm gì nên tội ?!. Những chính quyền và chính phủ nào đã giúp cho bọn Việt Gian Cộng sản Hà Nội trong quá khứ và cho đến ngày hôm nay, họ có lợi gì và lợi bao nhiêu trên xương máu của hàng triệu triệu người Việt Nam đau khổ. Hàng chục triệu người Việt Nam đã chết tức tưởi từ năm 1945 đến nay. Vì đâu mà nên thảm họa này? Những oan hồn uổng tử có đầu thai trở lại để đòi nợ hay không?. Tôi tin là có. “gieo nhân nào thì tất phải hái quả đó, vây phải trả”. Đó cũng là quy luật của tạo hóa. Người tính nhưng vẫn còn yếu tố của trời đất nửa. Thiên tai, hạn hán, động đất, bão tố, sóng biển, bịnh tật và còn nhiều thứ thảm họa khác nửa sẽ đổ ập vào các đế quốc tàn bạo chỉ biết có lợi nhuận vật chất. Nhà cầm quyền Trung Cộng và Miến Điện hiện nay có cảm nhận được cái quả họ đã gieo chưa?. Nhưng tin cho các ông biết đây chỉ mới là sự khởi đầu, những ngày tháng tới giới cầm quyền Trung Cộng sẽ làm gì khi đập Tam Khẩu bị vỡ?. Các ông đã chuẩn bị chưa khi thảm họa này xảy ra cho chính người dân Trung Hoa?. (một trận động đất tương tự khoảng 8.0 nếu xảy ra ở Âu Châu và Mỹ Châu thì các quốc gia này sẽ ra sao ?!?!?!). Gieo gió ắt phải gặp bão mà thôi. Vì vậy con người hãy mau mau tỉnh ngộ để tránh nghiệp báo.

 

            Văn hóa của những nước không có đời trước và đời sau, nên họ không thấy. Vậy hãy nhìn những đế quốc như: Nhà Tần, La Mã, Mông Cổ và gần đây là đế quốc Nga Xô đã bị xụp đổ và gần như bị tiêu diệt bởi vì họ tàn ác cũng như tàn phá chính con người (nói chung). Và tự cổ chí kim bất cứ một thế lực nào, đế quốc nào dù cho mạnh bạo đến đâu cũng đều bị xụp đổ và bị tiêu diệt vì chúng tàn phá ngay chính con người. Như nhiều lần Triệu Lan tôi có nói: “Tôn thờ vật chất để tàn phá tinh thần con người thì đấy là các chế độ Cộng sản, chứ không cứ gì phải đeo thẻ đảng theo Cộng sản mới là Cộng sản”. Họ bỏ đi tinh thần con người để đi lo cho những thứ “luật pháp” cứng ngắt thì đấy là Cộng sản, và chỉ có những thứ luật pháp phi lý mới bỏ tù con người vì một con vật (cách đây khoảng 2- 3 năm thành phố San Jose tiểu bang California, Hoa Kỳ, tòa án đã tuyên phạt một thanh niên (kỹ sư hảng điện toán IBM) 3 năm tù ở vì tôi quăng một con chó nhỏ (poppy) ra đường lộ và tòa án San Jose cũng đã ghép anh Kỹ sư này vào thành phần thuộc loại “Nguy Hiểm Cho Xã Hội” – Triệu Lan tôi tự nghĩ “Nguy Hiểm Cho xã Hội” là xã hội loại vật hay xã hội loài người ?!. (Bạn đọc nào còn giữ bản tin nói trên xin post Link lên các diễn đàn để mọi người xem cho biết, cảm ơn).

 

            Trở về lo cho con người, giúp đỡ cho con người để họ cùng với mình sống hạnh phúc dưới vòm trời này thì đó là cách tốt nhất, nếu không thì càng “văn minh” vật chất bao nhiêu thì lại càng thảm hại bấy nhiêu. Thống kê mới nhất của bộ y tế Hoa kỳ cho biết là: có khoảng 75% dân Mỹ bị mang các loại bệnh gan, bệnh thận, bệnh máu, bệnh tiểu đường, bệnh mập phì ..v.v.. và nhất là bệnh thấp khớp (đau nhức khớp xương) thì có tỷ lệ rất cao và hình như ai cũng bị, như vậy là mỗi người mang trong mình ít nhất là 2 đến 3 chứng bệnh nói trên. Bốn (4) loại giặc có thể tiêu diệt một quốc gia là: Đói, Dốt, Bệnh tật và Thiên tai mà nước Tầu và Miến Điện hiện nay đang lãnh, chờ xem còn nhiều chuyện do trời đất làm ra nữa. Hơn 60 năm trước hay là vào năm 1943 đã có người tiên đoán rằng giòng sông Dương Tử sẽ tạo ra cơn đại Hồng Thủy nhận chìm nước Trung Hoa trong biển nước, rồi nước Tàu to lớn cũng sẽ bị xóa tên trên bản đồ thế giới và sự tiên đoán đó ngày nay đã hiện rõ (đập Tam Khẩu sẽ vỡ).

Triệu Lan

 

May 27, 2008

2-8-2008 Lich Su Viet Nam — Tuong Thang

1-

2-

3-

From: HoangVinhCalifornia

May 15, 2008

SÁCH LƯỢC XÂM LĂNG TOÀN CẦU CỦA BẮC KINH

TRƯƠNG MINH HÒA.

    Trong vấn đề tiêu xài, người làm ra đồng tiền bằng chính mồ hôi, nước mắt của mình thường hay đắn đo trước khi chi ra cho món đồ, dịch vụ cho cuộc sống cá nhân, gia đình….trong khi đó những người làm tiền bằng những việc bất lương như lừa đảo, cướp giựt, buôn bán ma túy, tham nhũng… thì thường hay tiêu xài phung phí, vun vít tiền chẳng tiếc tay. Ngày xưa vào thời Pháp thuộc, đồng bạc Đông Dương có giá trị cao, tuy nhiên nhân vật Công tử Bạc Liêu, sinh ra trong gia đình giàu có, cuộc sống nhung lụa, không biết cái giá trị làm ra đồng bạc phải đổ mồi hôi, xót con mắt như thế nào, coi tiền như rác, có tánh phô trương, dám dùng tờ giấy bạc” Bộ Lư” trị giá 20 đồng làm lửa đốt để giúp cho một ông bạn lỡ làm rớt tờ giấy bạc chỉ trị giá 5 đồng.

   Sự chênh lệch giàu nghèo là điều đương nhiên trong bất cứ xã hội nào từ cổ chí kim; tuy nhiên mức độ nầy tại các quốc gia Cộng Sản càng ngày càng xa, do thiểu số cầm quyền bằng bạo lực, là bản chất của kẻ cướp luôn tìm mọi cách” róc xương, xẻ thịt, lột da, vắt tủy” người dân, đem bán cả tài nguyên, kể cả con người để thu tiền, cho nên tuyệt đại đa số dân chúng kiếm không đủ miếng cơm, phải bán máu, cầm cố bất cứ thứ gì để đổi điều chỉnh cuộc sống; còn cán bộ trong trung ương đảng thì không đủ thời giờ để đếm tiền, họ chi tiêu không tiếc tay, dám mua một thướt vuông đất tại Saigon với giá 5 ngàn Mỹ Kim, xây dựng” cơ ngơi” đầy đủ tiện nghi như ở các nước Tây phương với” bể bơi” hiện đại có cả máy sưởi bằng năng lượng mặt trời” không người lái”, cho con cháu du học, xuất ngoại ở các khách sạn hạng sang, đánh bạc vui chơi thoải mái tại các sòng Casino quốc tế mà không ngại bị hết tiền….

    Trong xã hội, có những người làm tiền nhờ tài năng kinh doanh, thời cơ bằng tâm trí, lương thiện, hợp với luật pháp; bọn bất lương làm giàu bằng nhiều cách: buôn bán ma túy, lừa đảo, trốn thuế, cướp giật….nhất là những nhân vật quyền lực trong các chế độ độc tài, nhờ vơ vét mồ hôi, nước mắt của hàng triệu người dân mà trở nên triệu, tỷ phú. Bọn nầy tiêu pha tiền như giấy, đánh bạc, vui chơi, ăn nhậu….hay rửa tiền tại các quốc gia khác, từng bị một số chính phủ phát giác, đưa ra tòa xét xử.Trong lãnh vực kinh doanh, tại các quốc gia dân chủ, tự do cạnh tranh, tài năng, thời cơ…tạo ra những nhà tỷ phú lừng danh như Bill Gate với công ty Microsoft, việc làm ăn có nầy khi khác, tùy theo thị trường, tình hình, nên các phần hùn qua các cổ phần cũng không có gì bảo đảm bền vững mãi mãi, nên nhớ là đầu tư cũng giống như chơi một canh bạc vậy. Mỗi khi có khủng hoảng hay biến động kinh tế, chiến tranh, các công ty không tránh khỏi bị ảnh hưởng, giá cổ phiếu giảm, nên thường đưa đến sự khánh tận của một số công ty, bất kẻ là lớn hay nhỏ. Trong khi đó, các nước Cộng Sản theo chính sách kinh tế tập trung, tất cả tài sản, tiền bạc, con người… đều nằm trong tay của một thiểu số đảng viên Cộng Sản; đó là những nhà tư bản đỏ, nên họ đầu tư trong nước qua hình thức các công ty quốc doanh, mang tiền kinh doanh, cạnh tranh với các nước khác bằng số tiền chùa vô tận, không sợ bị lổ lã, cứ tung tiền ra làm ăn như đánh bạc, có thắng thì tốt, giàu thêm, còn thua thì chẳng thiệt hại gì, nhân dân sẽ nay lưng ra cung cấp vốn, cứ thế mà phát huy. Do đó những” nhà tư bản đỏ” làm kinh doanh không cần phải học hành để có được một số kiến thức” cơ bản” về kinh tế, cũng không cần sự cố vấn, quản trị của các kinh tế gia có bằng tiến sĩ, giáo sư đại học như các công ty ngoại quốc; những người ít học cũng trở thành” kinh tế gia vĩ đại” nắm hàng chục tỷ Mỹ Kim trong tay, như thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng với trình độ văn hóa thực sự chỉ tới lớp” đệ lục” bậc trung học đệ nhất cấp, là người đang nắm trong tay hệ thống” xí nghiệp quốc doanh” cả nước và các công ty xuất nhập cảng, có quan hệ với nhiều cường quốc Tây phương mà không bao giờ sợ bị hết tiền, dù các công ty quốc doanh trong nước thường bị lổ.

” Ai bị lổ mà không hề khánh tận?

Ai kinh doanh mà tiền chẳng hết bao giờ?

Dậy mà đi, dậy mà đi,

Bởi tiền chùa nhân dân..”

   Có thể nói từ nhiều thập niên qua, là các siêu cường Âu-Mỹ đã phạm phải sai lầm nghiêm trọng do tánh thành thật, suy bụng ta ra bụng mình, nên lúc đầu không dè dặt; đặt mục tiêu chính trị ưu tiên trong chiến tranh lạnh để triệt hạ đế quốc Cộng Sản số một là Liên Sô, nên Hoa Kỳ dễ giải với Trung Cộng: vừa giúp đỡ phát triển khoa học kỷ thuật, kinh tế và dần dần tạo thế đứng của nước Cộng Sản nguy hiểm nầy trên trường quốc tế; tức là Hoa Kỳ tháo gở lá bùa trừ tà” cấm vận” được dán từ 1949 đến 1972 do công lao của ông tiến sĩ Henry Kissinger và nhất là thời tổng thống Bill Clinton, vì bị quỷ ám sau khi lọt bẩy của gián điệp Bắc kinh nên đã góp công nuôi cho con ác quỷ Trung Cộng được mập, phục hồi sức lực, gắng thêm nanh vuốt để nó làm hại cả thế giới sau nầy, trong đó có cả người từng giúp nó: vận động vào Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc mà sau nầy nhận lãnh hậu quả khi bị Trung Cộng dùng quyền hạn thành viên thường trực để phủ quyết chống lại Hoa Kỳ trong những cuộc xung đột quốc tế như vụ chiến tranh Iraq, khủng hoảng nguyên tử Bắc Hàn, Iran…Hoa Kỳ đã ban cấp qui chế tối huệ quốc vĩnh viễn, vận động cho vào WTO…

    Trong lãnh vực giao thương, Thế Giới Tự Do đã và đang bị Trung Cộng và sau nầy có Cộng Sản Việt Nam dùng vốn chùa để cạnh tranh, trong khi các nước tự do, vốn tư nhân cạnh tranh có giới hạn, nên các công ty hay có chữ LTD ( limited: công ty hữu hạn) kèm theo bản hiệu, thì làm sao có thể dám liều lỉnh xả láng như những người dùng vốn chùa làm ăn. Sự kiện Trung Cộng, Việt Nam dùng nhân công rẻ mạt trong ngành hải sản, bán cá, tôm sang với giá rẻ, bóp chết những nông trại nuôi cá, cơ sở chế biến, khiến cho các công ty ở Hoa Kỳ chới với; rồi chính phủ thức tỉnh, mới có biện pháp thuế khóa đánh vào các sản phẩm nhập cảng để cân bằng giá, cứu các công ty và nhân công tại nước mình, đúng là” gậy ông đập lưng ông”; vụ cá tôm một thời giao động dư luận, khi các” đại gia đỏ” biết khai thác hệ thống luật pháp tại các nước Tây Phương, dùng tiền chùa mướn luật sư, kiện ra tòa án, nhưng các nhà tư bản đỏ đã hoàn toàn bị thất bại trước công lý. Hàng may mặc, giày dép cũng bị các công ty quốc doanh Trung Cộng, Việt Cộng lợi dụng tình hình tự do cạnh tranh để thao túng trên các thị trường, các công ty xuất nhập cảng vì ham rẻ mà nhập sản phẩm, khiến nhiều công nhân ở các nước Tây Phương bị mất việc, cho nên các nước có những biện pháp nhằm đối phó với những nhà” tài phiệt quốc doanh Đỏ” với nguồn vốn vô tận theo kiểu” thua keo nầy, ta bầy keo khác”, đó là cái nguy cơ trước mắt, có khả năng làm lũng đoạn dần dần nền kinh tế các nước tự do cạnh tranh và sau đó khống chế kinh tế toàn cầu. Tức là các nước Cộng Sản lợi dụng tính cạnh tranh tự do trên thị trường, khai thác mặt yếu của các công ty do tư nhân làm chủ là ham lời nhiều, rồi dùng vốn lớn để áp đảo, luồn lách qua khe hở của luật đầu tư mà xâm nhập, lũng đoạn dần dần theo kế hoạch tầm ăn dâu, là hình thức xâm lăng tinh vi, nhẹ nhàng nhưng vô cùng nguy hiểm. Các công ty tư nhân dù có nhiều vốn, cũng không dám liều, làm giảm trị giá cổ phần, dám giảm giá tối đa để cạnh tranh. Trong khi đó các công ty quốc doanh do nhà nước Trung Cộng, Việt Cộng, không ngại. Đó là hình thức cạnh tranh theo công thức” lấy kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, gây nhiều thiệt hại cho các nước tự do, sau thời gian giao thương với các nước Cộng Sản.

    Sau sự tan rả của khối Cộng Sản Quốc Tế từ năm 1991 với Liên Sô và toàn bộ khối Cộng Đảng Đông Âu, các nước tàn dư Cộng Sản lâm vào trạng huống” thoái trào cách mạng” lúc đầu, sau đó họ” điều nghiên rất kỷ” kẻ thù” tư bản phản động” để tìm cách tiêu diệt, là bản chất trường kỳ mai phục chờ thời cơ ra tay trong sách lược:” lùi một bước để chuẩn bị ba bước tiến”; sau Liên Sô, thì Trung Cộng sớm trở thành nước Cộng Sản lãnh đạo trong” khối tàn dư” tiếp tục cuộc Hậu Chiến Tranh Lạnh. Họ thừa biết thi đua vĩ trang, không gian…với Hoa Kỳ và các nước Âu Châu là coi như” đem trứng chọi với đá”, cái gương Liên Sô là bài học” cụ thể” để các đảng Cộng Sản tàn dư rút lấy kinh nghiệm, họ” tự phê, phê bình” để tìm ra mặt mạnh, mặt yếu để chuẩn bị tiến công bằng mũi tiến quân khác; đó là kế:” chỉ tang ma hòe” hay” thiết trụ khai hoa”, nhằm đánh lạc hướng đối phương: bề ngoài thì có vẻ là Trung Cộng đang ráo riết thi đua võ trang theo kế của Lưu Bang thời Hán-Sở tranh hùng:” Minh tu sạn đạo ám độ Trân Thương” để che dấu mặt trận chánh với đại quân kinh tài đang luồn lách khắp nơi. Do đó, mặt trận” đặc công KINH TẾ” đi xung kích để dọn đường cho” đại đơn vị kinh tài” ở rộng mặt trận trên toàn cầu đã hoạt động từ lâu, nhất là tại các nước tư bản giàu mạnh, như kế:” cầm tặc cầm vương”, được coi là mũi nhọn chiến lược, một mặt trận không có bất cứ tiếng súng, nhưng nguy hiểm khôn lường, như tầm ăn dâu, có khả năng đưa đến” bất chiến tự nhiên thành” nếu Trung Cộng thò bàn tay lông lá nắm hết các nguồn tài nguyên huyết mạch như quặng mỏ, các đại công ty của các nước Tây Phương bằng chính sự” ham lời” của các tay tài phiệt tư nhân và luật đầu tư, kinh doanh của kẻ thù mà khai triển một cách khéo léo, đó là mặt yếu của nền kinh tế tự do cạnh tranh. Từ đó, Trung Cộng phát huy thanh thế qua các” nhà tư bản gốc đỏ” hay các đại công ty bị nhuộm đỏ do họ khống chế quyền quản trị với số cổ đông ( share) áp đảo; nên có khả năng tạo ảnh hưởng, tác động vào chính quyền, ban hành những chính sách có lợi cho Trung Cộng….hiện tượng nhiều nước Tây Phương ngậm bồ hòn làm ngọt khi nhìn thấy bạo quyền Bắc Kinh vi phạm nhân quyền trầm trọng mà không dám lên tiếng, hoặc có lên tiếng cũng nhẹ nhàng như” phủi bụi” để không làm phật lòng bạn hàng Bắc kinh và những công ty trong nước có phần hùn của người Hoa. Mặc dù được gia nhập vào tổ chức WTO, Trung Cộng cũng như Việt Cộng đều phải tuân thủ cam kết, hứa giải tư các công ty quốc doanh để có thể tham gia và thị trường quốc tế; nhưng câu:” đừng nghe những gì Cộng Sản nói” để đề cao cảnh giác. Các nước Cộng Sản xào trá khôn lường, nếu giải tư hết thì quyền lãnh đạo, cai trị bị đe dọa ngay, cho nên sang tên cho người của họ, hình thức là các công ty do tư nhân đứng tên, nhưng bên trong là đám tư bản đỏ làm chủ, cũng không thay đổi chút nào, mặt khác còn lừa được thế giới.

   Sau thời kỳ khá dài với bình phong” đổi mới” mở cửa, hai nước Cộng Sản tàn dư nầy nhờ tư bản hà hơi tiếp sức trong lúc sắp chết, nay họ khôi phục sức lực nhờ thần dược” đô la” cứu chửa, qua hình thức cạnh tranh trên thương trường quốc tế, làm thiệt hại rất nhiều quyền lợi của các nước từng giúp họ đứng lên, nhân công bị mất việc làm, tạo tình trạng rối loạn xã hội, là những mục tiêu mà các nước Cộng Sản, dù hết thời cũng luôn đặt lên hàng chiến lược là” tiêu diệt các nước tư bản phản động” theo đúng giáo điều của Karl Marx. Đối với người Cộng Sản, dù đối xử với họ tử tế, cho ăn ngập mặt như các gia đình địa chủ, nhà giàu thời đánh Tây; các bà mẹ chiến sĩ thời đánh Mỹ…Cộng Sản luôn coi là kẻ thù, có cơ hội là ra tay triệt hạ ngay, hay nói đúng hơn là” NGƯỜI CỘNG SẢN KHÔNG CÓ TÌNH CẢM, ÂN NGHĨA… MÀ CHỈ CÓ QUYỀN LỢI CỦA ĐẢNG MÀ THÔI”. Trung Cộng ngày nay bắt đầu trổi dậy chủ nghĩa Đại Hán sau thời gian dài nằm im mai phục, để điều nghiên theo kế:” man thiên quá ải”, nhờ tư bản mà họ có tất cả những vũ khí quân sự từ bom nguyên tử, hỏa tiển liên lục địa, vệ tinh; nhưng đây là kế” thanh đông kích tây” nhằm che đậy, đánh lạc hướng các nước Tây Phương, để cho những đại quân” đặc công kinh tế” đã và đang từng bước” tiến vào túi tiền, trận cuối là trận nầy” phát triển ” trăm hoa đua nở” ngay trong lòng địch. Các nhà tư bản Tây Phương vì ham lợi nhuận qua việc mướn nhân công rẻ mạt nên mang tiền sang Hoa Lục làm ăn; đương nhiên là cũng phải có điều kiện với đảng và nhà nước mới dễ dàng làm ăn, đồng thời cũng giúp cho dân chúng tại nước Cộng Sản có việc làm, đời sống khá hơn, là cái nút xì hơi, giảm thiểu tình trạng bất ổn kinh tế đưa đến bạo loạn, lật đổ chính quyền; hai bên đều có lợi cả, nên việc làm ăn kéo dài từ nhiều thập niên. Các mặt hàng của nhiều công ty nổi tiếng được mang nhản hiệu” Made in China” tràn ngập thị trường khắp nơi trên thế giới, che lẫn với các mặt hàng nhái, giả…. Tại hải ngoại thì các đại gia người Hoa, di dân bằng nhiều cách, trở thành công dân các nước tư bản, nhưng đàng sau là bàn tay lông lá của giới tư bản đỏ Trung Cộng; họ luồn lách, mang tiền ra mua các cổ phần nhiều công ty tư nhân và dần dần khống chế nhiều mặt kinh tế; tức là” công ty của các nước tư bản phản động được định hướng theo xã hội chủ nghĩa”. Ngày xưa Trung Hoa muốn xâm lăng một nước khác, phải cử đại binh, có tướng chỉ huy…nhưng ngày nay Trung Cộng đưa những” đại gia” người Hoa, là cư dân bản xứ, bề ngoài là không có gì nguy hiểm, được cho là” giới doanh gia”, họ đi bằng cửa chánh, được các chủ công ty niềm nở tiếp đón như thượng khách và sau đó dâng cả công ty sau khi mặc cả với giá cao; các tướng Tàu thời xưa mặc áp giáp, mang gươm…thì ngày nay các” đại gia” mặc veston, thắt cà vạt, xách cặp samsonite.. dần dần thôn tín hầu bao của các nước một cách nhẹ nhàng.

    Trung Cộng bán vũ khí, đầu tư nhiều nơi, cạnh tranh với các nước Tây Phương, có dư tiền để trở thành chủ nợ nhiều nước, vói tay ủng hộ các tổ chức khuynh tả Maoist, cấu kết ngầm với các thế lực chống Mỹ ( không loại trừ các tổ chức khủng bố), không loại trừ cả việc sử dụng vũ khí ma túy để làm lũng đoạn xã hội, trong sách lược trường kỳ mai phục. Nhờ các công ty ngoại quốc đầu tư vào Hoa Lục và những đơn đặt hàng béo bở của các đại công ty tư bản, nên hàng năm Trung Cộng thu vào món lợi không nhỏ, đủ sức để phát huy chủ nghĩa bành trướng và tăng uy tín thế giới nhờ là bạn hàng của các nước giàu mạnh nhất hành tinh nầy. Trung Cộng có sẵn trong tay số tiền lớn, có mối bang giao kinh tế nhiều nước, nên đưa đến ràng buộc chính trị là điều dễ hiểu. Điển hình là Đức Đai Lai Đa Ma, vị lãnh đạo tinh thần của người Tây Tạng, mỗi khi đi thăm viếng các nước như Hoa Kỳ, Úc, Âu Châu…thường bị Trung Cộng dùng chiêu bài:” phương hại đến bang giao” mà gây áp lực các nguyên thủ quốc gia không tiếp kiến vị lãnh đạo tinh thần khả kính của người Tây Tạng.

   Với số tiền lớn, nguồn tài nguyên” nhân dân” vô tận với hàng tỷ người, sẵn sàng nay lưng ra để bù lổ cho các công ty nhà nước, nên càng ngày Trung Cộng càng bành trướng thế lực kinh tế đối với các quốc gia giàu mạnh, là hình thức xâm lăng bằng luật đầu tư ngay chính các nước ấy ban hành, cũng là” gậy ông đập lưng ông” lần nữa. Các công ty tại các nước dân chủ thường là do tư nhân hay công ty chính phủ giải tư, theo tinh thần cạnh tranh trong luật định, thể hiện sinh hoạt dân chủ từ chính trị đến kinh tế. Trung Quốc lợi dụng thời cơ nầy để dùng tiền mua các cổ đông tại các công ty tư nhân bán ra, có khi với giá cao qua tay các doanh gia bản xứ gốc Hoa ( bên trong có quan hệ mật thiết, hay là người của Trung Cộng). Các công ty tư nhân, vì ham lời, nên có thể bán các cổ phiếu với giá cao cho các công ty quốc doanh Trung Quốc, từ từ các cơ sở kinh doanh trọng yếu, các nguồn tài nguyên thiên nhiên như khoán sản bị lọt về tay Trung Cộng; đây là hình thức khống chế toàn cầu của chủ nghĩa Đại Hán bằng kinh tài, thực hiện một cách êm ả, hợp pháp; đây cũng là phương thức khống chế kinh tế của người Hoa, nhờ tiền nhiều mà trở thành thế lực trong bóng tối tại các nước Á Châu như Thái Lan, Việt Nam, Miên….tài phiệt người Hoa tại các nước nầy tác động, ảnh hưởng rất nhiều vào chính quyền; cho nên người ta không ngạc nhiên khi thấy cuộc rước đuốc thế vận Hội Bắc Kinh 2008 tại Thái Lan được chính quyền bảo vệ tối đa.

   Trước” mưu đồ” nầy, các nước tự do cũng không thể ngồi yên để nhìn tài phiệt đỏ Trung Cộng lợi dụng luật đầu tư của các nước dân chủ, dùng tiền gom góp từ hàng tỷ người để mua hết các cổ phần trong nước. Tình trạng nầy đã xảy ra như ở nước Úc, Trung Cộng lợi dụng khe hở của luật đầu tư, mua khoản 19% cổ phần hãng thép lớn nhất thế giới là BHP ( Billiton), nên họ có đủ số thép để cung cấp cho các công trình xây dựng vận động trường, các cơ chế phục vụ Olympic, kỷ nghệ; tại tiểu bang Tây Úc do thủ hiến Alan Carpenter thuộc đảng Lao Động điều hành, công ty thép do tư nhân làm chủ là Midwest vì ham lời, nên đã bán cổ phần đa số cho Trung Cộng, nên một dân biểu, nguyên là cựu thủ lãnh đối lập đảng Tư Do là ông Colin Barnett đã cảnh báo trên đài truyền hình quốc gia, đài chiếu hình ảnh công ty thép văn phòng đầu não của công ty Midwest tại nước Úc, nhưng bản hiệu được viết bằng tiếng Tàu, nếu có thêm lá cờ đỏ với 5 sao vàng thì không khác gì cơ sở của một công ty quốc doanh ở Hoa Lục; thủ hiến Morris Iemma ở tiểu bang đông dân nhất nước Úc là N.S.W đang có kế hoạch giải tư công ty điện năng tiểu bang, gặp nhiều sự chống đối từ giới nghiệp đoàn vì ngại nhiều vấn đề bất lợi trong tương lai; tiểu bang Queensland đã giải tư công ty điện và nay nằm trong tay các đại gia Trung Cộng…Nước Úc là thí dụ điển hình, đang bị chủ nghĩa bành trướng Bắc Kinh nhắm đến, người dân cũng đã thức tỉnh, cảnh giác: nhà triệu phú Dick Smith nói chuyện trên đài ABC, hệ thống truyền hình quốc gia, đã cảnh báo về họa Bắc Kinh, ông báo động là: bán các quặng mỏ cho Trung Cộng là bán cả tương lai của nước Úc.

   Ông thủ tướng Kevin Rudd, người từng làm việc ở sứ quán Úc trên đất Tàu, có cái tên tiếng Trung Hoa là LU KEWEN hay là LƯ KẾ VĂN, được coi là người có khuynh hướng gần Trung Quốc so với các thủ tướng khác, nhưng vì quyền lợi quốc gia, nên gần đây chính phủ Lao Động ban hành luật lệ nhằm ngăn chận các công ty quốc doanh Trung Cộng thò tay sâu vào các công ty chiến lược, nhất là quặng mỏ; không biết bên trong có những mật ước nào để tương nhượng với Trung Cộng? Tuy nhiên việc bán chất Uranium cho Trung Cộng là một đại họa, có ai kiểm soát được Trung Cộng sử dụng vào việc chế vũ khí nguyên tử, lòn cho Bắc Hàn, Iran, các tổ chức khủng bố; chính phủ nầy nại lý do Ấn Độ không ký vào hiệp ước hạn chế vũ khí hạch tâm nên không bán Uranium ( trong khi đảng đối lập Tự Do ủng hộ bán Uranium cho nước dân chủ lớn nhất thế giới nầy). Được biết vào tháng 3 năm 2008 thủ tướng mở cuộc công du trong vòng 18 ngày khi mới lên cầm quyền từ tháng 12 năm 2007; ông đi đến Hoa Kỳ, Âu châu, rồi chặng cuối là Trung Cộng, được các nhà lãnh đạo Trung Nam Hải từ chủ tịch Hồ Cẩm Đào đến thủ tướng Ôn Gia Bảo tiếp đón nồng hậu với thảm đỏ, dù ông có vài lời chiếu lệ về tình trạng vi phạm nhân quyền, cuộc đàn áp Tây Tạng để cho có vẻ là lãnh tụ của một nước dân chủ có quan tâm đến vần đề nhạy cảm nầy, nhưng bên trong hình như có những toan tính chính trị; có lẽ ông Kevin Rudd ngại làm mất lòng người anh em Bắc Kinh nên không thèm ghé thăm Nhật, dù nước nầy nằm sát bên Trung Cộng nên bị đảng đối lập chỉ trích, thế là ông hẹn tháng 6 sẽ qua thăm.

    Hiện tượng hàng chục ngàn sinh viên Trung Cộng tại nước Úc mang cờ đỏ với 5 sao vàng, biểu ngữ, có người còn mặc cả bộ” đại cán” màu xanh lục, đội nón lưỡi trai với ngôi sao đỏ giống như Mao Trạch Đông, lợi dụng sinh hoạt dân chủ để tấn công, chửi bới những người Tây Tạng lưu vong, cả những người Úc…trước ống kính của các đài truyền hình quốc tế, sinh viên Trung Cộng không coi dân Úc ra gì, chúng hung hăng dùng cán cờ làm vũ khí tấn công những người Úc ủng hộ người dân Tây Tạng bị đàn áp tại Hoa Lục; may là nhờ có cảnh sát Úc can thiệp. Hình ảnh của những người Úc trong cuộc rước đuốc thế vận ngày 24 tháng 4 năm 2008 tại thủ đô Canberra bị sinh viên Trung Cộng hành hung, lăng nhục, chắc chắn có sự chỉ đạo của trung ương đảng ở Bắc Kinh nên được tổ chức chu đáo, khiến người ta có cảm tưởng thủ đô Canberra như là một lãnh địa của Trung Quốc với lực lượng Hồng Vệ Binh thời Mao, đang hoành hành, đấu tố trong cuộc đại cách mạng văn hóa cách đây hơn 40 năm về trước. Người dân nước Úc chưa bao giờ bị bất cứ người ngoại quốc nào dùng số đông để đàn áp như lần nầy, có lẽ đây là sản phẩm tuyệt hảo của mối tình hữu nghị Úc-Trung như răng với môi, mà ông thủ tướng Kevin Rudd là người thường tự hào nói giỏi tiếng Quan Thoại, có chàng rể là dân Trung Hoa, và bà thượng nghị sĩ Penny Wong cũng được trọng dụng lên làm bộ trưởng bộ nguồn nước…. Thập niên 1970, thời ông thủ tướng Lao Động khuynh” cực tả” Gough Whitlam, tình báo Liên Sô hoạt động rất mạnh, tác động, ảnh hưởng vào chính quyền, chắc có lẽ đây cũng là một trong những nguyên nhân mà tổng toàn quyền John kerr, thay mặt Nữ Hoàng Anh, vì quyền lợi sống còn của dân Úc mà truất phế ông thủ tướng vào năm 1975. Sau kỳ rước đuốc thế vận 2008, trên thế giới cảm thấy bất an trước đạo quân hải ngoại của Trung Cộng, đang có khả năng đứng dậy để hổ trợ cho các chính sách bá quyền, kinh tế của Bắc Kinh; trong tương lai, lực lượng Hồng Vệ Binh Trung Cộng có thể lạm dụng sinh hoạt dân chủ các các nước Tây Phương để tổ chức biểu tình ủng hộ chính sách xâm lược của Bắc Kinh, giống như các cuộc biểu tình của phong trào phản chiến, dùng chiêu bài hòa bình để phản đối chính phủ Hoa Kỳ, Úc….trong cuộc chiến chống Cộng trong cuộc chiến Việt Nam, chống khủng bố ở A Phú Hãn, lật đổ tên đồ tể thành Bá Đa Saddam Huessein…. Trung Cộng ngày nay lộ mặt là hiểm họa mới cho nhân loại, là nước lãnh đạo của khối tàn dư Cộng Sản, tiếp nối Hậu Chiến Tranh Lạnh.

    Thế giới ngày nay đã nhận chân bộ mặt gian manh của Trung Cộng, nên các nước có những luật lệ trong phản ứng tự vệ, nhằm bảo vệ quyền lợi quốc gia. Trong thời gian qua, sự bành trướng thế lực, phát triển kinh tế theo công thức” mượn đầu heo nấu cháo” của nhà cầm quyền Trung Nam Hải với vốn chùa, có khả năng mua hết tài nguyên của các nước qua hình thức thị trường chứng khoán. Trung Cộng lầm tưởng tất cả thế giới đều không khôn bằng giống Đại Hãn, nên tung ra nhiều chiêu vụn về, làm lộ mặt một tên gian thương trong khu chợ quốc tế. Rồi đây, tay gian thương nầy sẽ phải nhận lấy hậu quả khi thế giới có những biện pháp ngăn chận và trừng trị đích đáng cũng bằng những biện pháp kinh tế, pháp luật. Trung Cộng trở thành hiểm họa cho nhân loại, nguy hiểm hơn tất cả các tổ chức khủng bố, vì kẻ thù nầy luôn trang bị bộ gió” tếu lý tàng đao”, thủ đoạn khôn lường:

-Với các cường quốc mạnh, giàu hơn, thì Trung Cộng dùng giao thương, kinh tế để gây áp lực, tạo thế đứng; học hỏi những kỷ năng, lợi dụng khe hở để chen vào nội tình, khuynh đảo kinh tế trước tiên, bằng cách làm chủ các công ty, tài nguyên quốc gia, rồi dần dần tiến đến chính trị. Trung Cộng tươi cười bắt tay trong cái gọi là” quan hệ ngoại giao”, nhưng đàng sau luôn thủ sẵng con dao, nếu sơ ý là bị thiến hầu bao, cắt cổ ngay.

-Đối với các nước nhỏ, Trung Cộng dùng thanh thế, áp lực quân sự ( nếu ở trong khu vực lân bang), chèn ép, đút lót các chính quyền….sau cùng chiếm dần đất đai bằng các hiệp ước; tức là Trung Cộng hiện đại hóa chủ nghĩa bành trướng, chiếm nước khác bằng giấy ( thay vì súng đạn, gươm giáo).

   Chiến lược chung là cho người di dân vào tất cả các nước trên thế giới, tạo thành một thế lực nằm vùng, đạo quân dự phòng, dùng thương mại làm giàu và tác động vào các chính quyền sở tại; học hỏi hay đánh cắp kỷ thuật, nghiên cứu sơ hở để lòn lách, lợi dụng sinh hoạt dân chủ để tiến công….tức là Trung Cộng đã và đang tung ra nhiều lực lượng tinh nhuệ xâm nhập toàn thế giới.  Sự xuất hiện cờ đỏ và hàng ngàn sinh viên Trung Cộng tại nhiều quốc gia trong kỳ rước đuốc thế vận là báo động cho các nước trên thế giới về chủ nghĩa bành trướng Bắc kinh, đang trong giai đoạn chuẩn bị tiến công bằng nhiều mũi xung kích. Trung Cộng áp dụng lối đánh đồn của Việt Cộng trong cuộc chiến Việt Nam: lúc bình thường, du kích hoạt động lẻ tẻ, khi cần tập trung thành lực lượng lớn. Ngày nay tại các quốc gia dân chủ, bình thường sinh viên Trung Cộng phân tán mỏng tại các trường học, khi cần, sứ quán bỏ tiền mướn xe bus, có khả năng tập trung hàng ngàn sinh viên với cờ đỏ, có tổ chức để biều tình, ủng hộ các chính sách, quyền lợi của Trung Cộng trên thế giới. Ngày nay Trung Cộng là kẻ thù tối nguy hiểm của thế giới, nếu không muốn bị khống chế, các nước dân chủ phải có những hàng rào luật pháp, nhất là luật đầu tư, di trú… bằng không thì trong thời gian không lâu, tư bản đỏ Trung Cộng sẽ kiểm soát nhiều hầu bao lớn ngay tại các nước Tây phương, từ đó họ tha hồ đàn áp dân trong nước, áp đảo các siêu cường qua cái lá bùa quan hệ kinh tế chằng chịt /.

May 12, 2008

Lá thư mật Nixon và quan hệ Việt – Mỹ


 
Chiến tranh Việt Nam
Nixon hy vọng Hiệp định Paris 1973 tạo ra “nền hòa bình trong danh dự”

11 Tháng 5 2008 –
Sau khi hai bên ký kết Hiệp định ngừng bắn ở Paris năm 1973, Tổng thống Mỹ Richard Nixon đã viết một lá thư mật gửi Thủ tướng Bắc Việt Phạm Văn Đồng, hứa với Hà Nội 3.25 tỉ đôla viện trợ tái thiết sau khi chiến tranh kết thúc.

Lá thư này sau đó đã trở thành một trong các trở ngại chính, bên cạnh vấn đề người Mỹ mất tích, khi hai nước có một số động thái tìm cách phục hồi quan hệ sau 1975.

Sự ra đời của lá thư

Tổng thống Johnson là người đầu tiên đề cập khả năng viện trợ sau chiến tranh cho Việt Nam vào tháng Tư 1965, nhưng Hà Nội không trả lời. Năm 1969, trong một diễn văn tại Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc, Nixon cũng nhắc tới vấn đề này. Nhưng vấn đề chỉ trở thành chính thức vào ngày ký Hiệp định Paris tháng Giêng 1973, khi Lê Đức Thọ đòi có cam kết từ phía Mỹ.

Sau ba tiếng tranh cãi, Henry Kissinger đề nghị dùng viện trợ để đổi lấy giải trình của Hà Nội về tù binh Mỹ tại Lào. Kissinger cũng đề xuất dùng cuộc họp sắp diễn ra tại Hà Nội trong tháng Hai để bàn về chi tiết cam kết.

Ngày 1 tháng Hai, Nixon viết lá thư gửi cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Phía Việt Nam đã đòi là không dùng sự thông qua của Quốc hội làm điều kiện cho cam kết viện trợ. Mẹo của Kissinger là không đưa chi tiết này vào phần chính lá thư, nhưng lại đặt nó vào phần phụ lục, theo đó, cam kết “sẽ được thực hiện bởi mỗi bên theo các điều khoản hiến pháp của mỗi nước.” Trong hồi ký của mình, Kissinger kể lại: “Chúng tôi ‘thỏa hiệp’ bằng cách nêu sự cần thiết có sự thông qua của Quốc hội ở một trang riêng, được gửi đồng thời và có cùng sức nặng.”

Richard Nixon và Henry Kissinger – hai người có nhiều duyên nợ với Việt Nam

Khi đến Hà Nội từ 10 đến 13 tháng Hai, Kissinger đã trao cho Phạm Văn Đồng lá thư của Nixon. Mặc dù Kissinger nhấn mạnh đến yếu tố Quốc hội, nhưng như những sự kiện về sau cho thấy, Hà Nội tin rằng Quốc hội chỉ là cái cớ để Mỹ từ chối chi tiền. Những người Cộng sản, hoạt động trong một văn hóa chính trị khác, không thể hiểu nổi làm sao Quốc hội Mỹ lại có thể từ chối cấp vài tỉ đôla trong khi Washington dễ dàng đổ hàng trăm tỉ đôla vào miền Nam Việt Nam trong thời chiến.

Nỗ lực ngoại giao thời hậu chiến

Tháng 12 năm 1975, lần đầu tiên từ khi chiến tranh kết thúc, một phái đoàn dân biểu Mỹ đến Hà Nội, do Dân biểu Gillespie “Sonny” Montgomery dẫn đầu. Khi phía Mỹ đặt câu hỏi về sự tồn tại của những cam kết viện trợ mật từ phía Mỹ, họ đã ngạc nhiên khi Việt Nam tiết lộ lá thư của Nixon gửi Phạm Văn Đồng ngày 1-2-1973, chưa đầy hai tuần sau lễ ký Hiệp định Paris. Trong thư, Nixon hứa sẽ có 4.75 tỉ đôla viện trợ tái thiết, gồm 3.25 tỉ viện trợ kinh tế và 1.5 tỉ viện trợ thực phẩm và hàng hóa.

Hoàn toàn bất ngờ, Montgomery, sau khi quay về Mỹ, có cuộc điện đàm với Nixon ngày 2-2-1976. Sau đó ông báo cáo là “chương trình tái thiết, vốn đã được xem xét từ nhiều năm, phụ thuộc vào phía Việt Nam tuân thủ Hiệp định Hòa bình Paris và vào sự thông qua của quốc hội.” Vì lý do nào đó, chính phủ của Tổng thống Ford không công bố nội dung lá thư cho quốc hội.

Một chuyến thăm Hà Nội của Thượng Nghị sĩ George McGovern, nhằm đánh giá khả năng phục hồi quan hệ, diễn ra từ 15 đến 17 tháng Giêng 1976. Phái đoàn Mỹ một lần nữa được cho biết về lá thư của Nixon. Thủ tướng Đồng nhấn mạnh “khoản tiền cụ thể không được nhắc trong Hiệp định Paris, nhưng đây là vấn đề danh dự, trách nhiệm và lương tâm.”

Trong báo cáo gửi quốc hội sau khi trở về từ Hà Nội, McGovern khuyến nghị dỡ bỏ cấm vận, cho Việt Nam vào Liên Hiệp Quốc và bình thường hóa quan hệ. Mặc dù McGovern không đòi làm rõ câu hỏi về khoản tiền 4.75 tỉ đôla, nhưng ông nói “ban đầu chúng ta nên thể hiện là chúng ta sẵn sàng gia nhập cùng các nước ít nhất là bằng một chương trình viện trợ khiêm tốn.”

Tổng thống Ford vẫn không chịu công bố nội dung lá thư của Nixon cho quốc hội. Ngày 17-4 năm 1976, báo Nhân Dân ở Hà Nội đăng trích đoạn lá thư Nixon trong một phần chiến dịch công kích sự lạnh nhạt của chính quyền Ford. Có điều, truyền thông nước ngoài khi ấy không tường thuật gì về chi tiết này, khiến nó không có chút tiếng vang tại Washington. Tháng Bảy năm đó, trong phiên điều trần trước Ủy ban Montgomery (tên tắt của Ủy ban Quốc hội về người Mất tích ở Đông Nam Á), trợ lý ngoại trưởng về Đông Á – Thái Bình Dương Philip Habib giải thích việc giữ kín lá thư Nixon không phải là để nhánh hành pháp thọc gậy sau lưng Quốc hội mà là điều cần thiết để đạt được nỗ lực hòa bình tại Đông Dương. Sự giải thích này có vẻ làm hài lòng Ủy ban, và phải gần một năm sau, lá thư Nixon mới trở thành tài liệu lớn tác động tiêu cực đến quan hệ tương lai giữa hai nước.

Cuộc tranh cử tổng thống Mỹ cuối năm 1976 mang lại chiến thắng cho Jimmy Carter của đảng Dân chủ, trước Gerald Ford. Trong những tháng đầu sau khi nhậm chức tổng thống, Carter có vẻ sẵn sàng làm hòa với Việt Nam. Tháng Ba năm 1977, một phái bộ Mỹ sang Việt Nam, với trưởng đoàn là Leonard Woodcock, chủ tịch nghiệp đoàn công nhân các hãng xe hơi.

Báo cáo của Woodcock sau khi về từ Hà Nội tạo cho Tổng thống Carter cảm giác (sai lệch) rằng Hà Nội đã bỏ lập trường xem viện trợ kinh tế là điều kiện tiên quyết trước khi nối lại quan hệ. Cuộc đàm phán về bình thường hóa quan hệ được tổ chức tại Paris trong hai ngày 3 và 4 tháng Năm 1977. Dẫn đầu phái đoàn Mỹ là Richard Holbrooke, người bắt đầu sự nghiệp ngoại giao bằng bốn năm ở Việt Nam (1962-66). Đoàn Việt Nam do Thứ trưởng Ngoại giao Phan Hiền dẫn đầu.

Washington tỏ ra lạc quan về triển vọng cuộc họp tại Paris. Bình luận về cuộc họp sắp diễn ra, Tổng thống Carter, nói vào tháng Tư, rằng ông sẽ “hăng hái” vận động cho Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc và bình thường hóa quan hệ nếu Việt Nam “hành động có thiện chí.”

Trong ngày đầu cuộc họp tại Paris, Holbrooke hồ hởi nói với Phan Hiền: “Ngài bộ trưởng, ta hãy bỏ qua những vấn đề gây chia rẽ. Ta hãy ra ngoài và cùng tuyên bố với báo giới là chúng ta đã quyết định bình thường hóa quan hệ.” Nhưng ông Hiền từ chối, khẳng định Mỹ trước hết phải cam kết giúp tái thiết Việt Nam như nội dung lá thư của Nixon và hiệp định Paris. Như cựu Thứ trưởng Ngoại giao Trần Quang Cơ, có mặt trong cuộc họp với tư cách vụ trưởng Vụ Bắc Mỹ, tiết lộ trong hồi ký, Bộ Chính trị ở Hà Nội đã chỉ thị phải đòi giải quyết cả ba vấn đề: “ta và Mỹ bình thường hoá quan hệ (bao gồm cả việc bỏ cấm vận và lập quan hệ ngoại giao đầy đủ), ta giúp Mỹ giải quyết vấn đề MIA và Mỹ viện trợ 3.2 tỷ đô-la cho Việt Nam như đã hứa hẹn trước đây.” Nhưng Holbrooke, trước đó đã nhận chỉ thị tìm kiếm sự khôi phục ngoại giao vô điều kiện, bác bỏ yêu cầu của Việt Nam, nói rằng cả Quốc hội và chính phủ Mỹ sẽ không đồng ý vấn đề viện trợ.

Công bố lá thư

Hai bên đồng ý tạm hoãn cuộc họp để Holbrooke quay về xin chỉ thị từ Washington. Nhưng khi phát biểu với báo chí, Phan Hiền lần đầu tiên khẳng định công khai là Hà Nội vẫn kiên quyết đòi hỏi có viện trợ, ngược hẳn tuyên bố của Carter sau chuyến đi của Woodcock rằng Hà Nội đã bỏ vấn đề này.

Phạm Văn Đồng là Thủ tướng Việt Nam tại vị lâu nhất (1955–1987)

Tiết lộ của Phan Hiền đưa ra đúng lúc đang có cuộc tranh luận ở Quốc hội Mỹ về dự luật cấp 1.7 tỉ đôla cho viện trợ hải ngoại. Trong cuộc họp của Hạ viện ngày 4 tháng Năm, dân biểu Cộng hòa John Ashbrook đòi có biện pháp cấm Bộ Ngoại giao có thêm nhượng bộ với Việt Nam. Chỉ sau 10 phút tranh luận, Hạ viện Mỹ bỏ phiếu cấm có bất kỳ viện trợ nào cho Việt Nam. Dự luật do Ashbrook bảo trợ (HR 6689) cấm cả việc thương lượng về “bồi thường, viện trợ hay mọi hình thức chi trả khác”.

Hai hôm sau, ngày 6 tháng Năm, báo Nhân Dân cho đăng trích đoạn thư của Nixon và lá thư trả lời của Phạm Văn Đồng. Cũng trong số báo này là bài viết lên án rằng sự từ chối thực hiện lời hứa của Nixon đã “chà đạp” luật pháp quốc tế.

Lần này, việc Hà Nội công bố trích đoạn lá thư gây ra sóng gió ở Đồi Capitol. Lester L. Wolff, tân chủ tịch Phân ban Hạ viện về châu Á – Thái Bình Dương, dọa đưa Nixon ra tòa nếu cựu tổng thống không xuất trình lá thư. Nixon gửi cho Wolff một lá thư đề ngày 14 tháng Năm, nhấn mạnh: “Không có bất kỳ cam kết nào, dù là đạo đức hay pháp lý, để cung cấp bất kỳ viện trợ nào cho chính phủ Hà Nội.”

Ngày 19 tháng Năm, trước sức ép của Wolff, Bộ Ngoại giao Mỹ công bố toàn văn lá thư mật năm 1973 của Nixon. Đây cũng là ngày phát đi cuộc trò chuyện thứ ba trong loạt phỏng vấn truyền hình giữa nhà báo David Frost và Richard Nixon. Cựu tổng thống đã dùng cơ hội này để biện bạch ông đã cảnh báo Hà Nội vào ngày 12 tháng Hai 1973 là việc cấp viện trợ kinh tế phụ thuộc vào việc Bắc Việt nghiêm túc thực thi hiệp định hòa bình và vào sự thông qua của Quốc hội Mỹ.

Hai ngày sau, Bộ Ngoại giao Việt Nam chính thức công bố trọn vẹn nội dung thư của Nixon, cùng trả lời của Phạm Văn Đồng. Trong cái nhìn của Hà Nội, việc công bố toàn văn, cũng như những lần hé lộ văn bản lá thư trước đó, là cách buộc Hoa Kỳ thực thi trách nhiệm. Tuy nhiên, nó cũng chứng tỏ Hà Nội không hiểu được những đổi thay trong dư luận cũng như chính trường Mỹ sau 1975. Trong những năm chiến tranh, Hà Nội có thể tận dụng cảm tình của phong trào phản chiến quốc tế – trong khi giờ đây, Việt Nam chỉ là một trong vô vàn các nước Thế giới thứ Ba có tiếng nói yếu ớt. Trong những năm chiến tranh, Quốc hội Mỹ là một định chế phóng khoáng đối lập với nhánh hành pháp bảo thủ; nhưng sau cuộc chiến Việt Nam, cán cân giữa hai nhánh lập pháp và hành pháp quay ngược hẳn. Cam kết của một tổng thống đã mất hết uy tín lại càng bị xem như một sai lầm, một cam kết không giá trị.

Ảnh hưởng của Brzezinski

Vòng hai hội đàm Mỹ – Việt diễn ra trong hai ngày 2 và 3 tháng Sáu tại sứ quán Mỹ ở Paris. Không khí giờ đây hoàn toàn đổi khác: Việt Nam bị Mỹ nhìn với con mắt nghi kỵ. Sau vòng hai, Phan Hiền bay về Hà Nội xin cấp trên mềm dẻo hơn, nhưng không được chấp thuận.

Zbigniew Brzezinski, ngày càng gây ảnh hưởng lên Carter ở cương vị cố vấn an ninh quốc gia, lấy ưu tiên là việc làm thân với Bắc Kinh, và xem Việt Nam là lá bài để khuấy động mâu thuẫn Trung – Xô.

Cùng lúc đó, căng thẳng biên giới với Campuchia và sự bất mãn gia tăng của Hà Nội đối với Bắc Kinh đẩy Hà Nội ngả về phía Moscow. Trong tháng Năm và tháng Sáu 1977, Phạm Văn Đồng thăm Liên Xô. Đàm phán thất bại với Mỹ và dấu hiệu làm thân giữa Washington và Bắc Kinh, tiêu biểu là chuyến thăm của Ngoại trưởng Vance đến Bắc Kinh trong tháng Tám, đưa Liên Xô trở thành giải pháp để đối chọi với đe dọa từ Trung Quốc.

Dù bị quốc hội phê phán vì cuộc hội đàm với Việt Nam ở Paris, Tổng thống Carter giữ lời hứa không ngăn chặn tấm vé gia nhập Liên Hiệp Quốc của Hà Nội vào tháng Chín năm 1977. Và chỉ vài ngày sau khi vào LHQ, Việt Nam giao cho phía Mỹ 22 bộ hài cốt quân nhân Mỹ. Tình hình vẫn nhùng nhằng giữa sự thù nghịch và động thái ve vuốt.

Vòng ba hội đàm Mỹ – Việt tại Paris tháng 12-1977 cũng không khá hơn. Holbrooke đề xuất khả năng lập Phòng quyền lợi tại thủ đô hai nước. Điều này tương tự việc Trung Quốc đồng ý cho mở Phòng quyền lợi của Mỹ tại Bắc Kinh năm 1973. Và vào tháng Sáu 1978, Cuba cũng đồng ý với ý tưởng này của Mỹ. Nhưng đoàn Việt Nam bác bỏ, khẳng định Hà Nội “sẽ không bao giờ làm cái việc mà Trung Quốc đã làm.”

Ở đây để lộ ra tâm trạng say men chiến thắng của ban lãnh đạo Hà Nội thời hậu chiến. Đề nghị của Mỹ chứng tỏ Washington đặt Việt Nam cùng hàng ngũ với Cuba, tức những quốc gia vệ tinh cộng sản khá quan trọng với Mỹ về chiến lược. Nhưng Việt Nam lại so sánh mình với Trung Quốc, tin rằng cả hai cùng đáng kể như nhau trong mắt người Mỹ.

Chuyến thăm Trung Quốc tháng Năm 1978 của Brzezinski đánh dấu việc Mỹ chọn con đường bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc. Nó cũng chứng tỏ cán cân quyền lực về đối ngoại đã chuyển từ Bộ Ngoại giao sang Hội đồng An ninh Quốc gia – dẫn tới sự từ chức của Ngoại trưởng Cyrus Vance tháng Tư năm 1980. Brzezinski đặt xung đột Việt Nam – Campuchia trong xung đột lớn hơn giữa Liên Xô và Trung Quốc. Vì thế, quanh câu hỏi làm thân với Hà Nội, Brzezinski thừa nhận “tôi…liên tục nói với tổng thống là một hành động như thế sẽ bị Trung Quốc diễn giải là động thái ‘thân Xô, chống Trung.”

Quân cờ giữa Mỹ – Xô – Trung

Việt Nam đề nghị có thêm vòng đàm phán khác trong tháng Tám 1978 tại Paris, nhưng giữa lúc đang căng thẳng giữa Hà Nội và Bắc Kinh, Mỹ từ chối đề nghị này và muốn có hình thức họp kín đáo hơn. Đến tháng Chín 1978, các cuộc gặp bí mật giữa Mỹ và Việt Nam diễn ra tại New York bên lề phiên họp của Liên Hiệp Quốc.

Phải đến năm 2000, Bill Clinton là tổng thống Mỹ đầu tiên thăm Việt Nam từ sau 1975

Trưởng đoàn Việt Nam, Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, lần này chính thức rút bỏ đòi hỏi Mỹ bồi thường – viện trợ 3.25 tỷ đôla. Đoàn Việt Nam hy vọng có thể ký kết thỏa thuận trong tuần đầu của tháng Mười khi Ngoại trưởng Nguyễn Duy Trinh đang ở New York.

Nhưng Holbrooke từ chối đưa ra ngày cụ thể, nói rằng có thể sẽ họp thêm sau bầu cử quốc hội ngày 7-11. Nguyễn Cơ Thạch ở lại Mỹ cho đến ngày 20-10, nhưng cũng ra về mà không nhận được tin từ phía Mỹ. Trần Quang Cơ, người tiếp tục ở lại New York, cho biết vào ngày 30-11, Robert Oakley, trợ lý ngoại trưởng Mỹ, trả lời ông: “Mỹ không thay đổi lập trường bình thường hoá quan hệ với Việt Nam, nhưng phải chậm lại vì cần làm rõ 3 vấn đề Campuchia, Hiệp ước Việt-Xô và vấn đề người di tản Việt Nam.”

Mỹ và Trung Quốc chính thức phục hồi quan hệ ngoại giao vào ngày đầu tiên của năm 1979. Ngày 7-1, quân đội Việt Nam tiến vào thủ đô Phnom Penh. Một tháng sau đó, nổ ra cuộc chiến biên giới Việt – Trung. Cũng từ đây, khả năng bình thường hóa quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam phụ thuộc vào vấn đề Campuchia, một vấn đề còn tồn đọng cho tới đầu thập niên 1990.

………………………………………………………………………..

Tài liệu tham khảo:

Zbigniew Brzezinski, Power and Principle: Memoirs of the National Security Advisor 1977-1981 (1983)

Nayan Chanda, Brother Enemy: The War After the War (1988 )

Trần Quang Cơ, Hồi ức và Suy nghĩ (2003)

Henry Kissinger, Years of Upheaval (1982)

BBC


Vn_nixon1 Vn_nixon2 Vn_nixon3 Vn_nixon4

Vn_nixon1 Vn_nixon6 Vn_nixon7 Vn_nixon8 Vn_nixon9

May 8, 2008

Tình hình chính trị, quân sự miền Bắc 1960-1962

Filed under: Chiến tranh, tranh chấp, Tài liệu, Việt Nam — tudo @ 9:34 am
Ngay từ đầu sau khi quyết định chinh phục miền Nam, chính quyền Hà Nội đã tích cực can thiệp vào tình hình bên Lào, ủng hộ cho lực lượng Pathet Lào chống lại chính quyền Hoàng gia Lào.

 Cuộc đảo chính hụt của đại úy Khong Le và sau đó sự phản công của các lực lượng cánh hữu thân Mỹ do hoàng thân Boun Oum và tướng Phoumi Nosavan lãnh đạo đã tạo ra cơ hội cho Hà Nội can thiệp nhiều hơn vào nội tình của Lào. Cố vấn quân sự của Bắc Việt được thả dù xuống cùng với vũ khí và đạn dược của Liên Sô để giúp cho lực lượng của Khong Le chống lại quân đội cánh hữu. Trong khi đó các toán quân của Hà Nội được gởi sang Lào để bảo vệ cho con đường xâm nhập vào nam dọc theo triền phía tây của dẫy Trường Sơn trên đất Lào.

Các tài liệu được chính miền bắc tiết lộ sau 1975 cho thấy vào đầu năm 1961 Hà Nội đã gởi một số đơn vị bộ binh, pháo binh và công binh sang Lào. Các đơn vị này thuộc vào các lữ đoàn 316 và 335 (Quân Khu Tây Bắc), sư đoàn 325 và trung đoàn 271 (Quân khu 4). Nói chung vào đầu năm 1961 có tất cả 12,000 quân Bắc Việt hiện diện tại Lào cả với tư cách là cố vấn quân sự cho các lực lượng Pathet Lào và Khong Le cũng như hoạt động độc lập.

Ngày 31 tháng giêng 1961, bộ chính trị đảng Lao Động họp tại Hà Nội và đưa ra một chỉ thị mới về chiến lược chinh phục miền nam. Trong phần nhận định tình hình, bộ chính trị đảng Lao Động khẳng định miền Bắc đang từ từ có khả năng để tự bảo vệ cũng như là đóng vai trò căn cứ địa cho cuộc cách mạng giải phóng miền nam. Đồng thời cách mạng tại miền Nam đang biến chuyển theo chiều hướng dẫn tới một cuộc tổng nổi dậy khiến cho khả năng tiến hành cuộc cách mạng một cách hòa bình không bạo động không còn nữa.

Chiến lược hành động như vậy là gia tăng đấu tranh cả quân sự lẫn chính trị cho đến khi hai bên đạt tầm quan trọng ngang nhau. Căn cứ vào những khác biệt trong tương quan lực lượng tại các vùng khác nhau, chỉ thị này của bộ chính trị đảng Lao Động ra lệnh rằng tại những vùng rừng núi đấu tranh bằng quân sự được đặt nặng; tại những vùng đồng bằng đấu tranh chính trị và quân sự phải đi song song với nhau; trong khi tại các thành thị, trọng tâm phải đặt vào đấu tranh chính trị.

Chiến lược đấu tranh đối với miền Nam này được Lê Duẩn nhấn mạnh thêm trong một lá thư gởi các lãnh đạo Cộng Sản tại miền Nam ngày 7 tháng 2, 1961. Theo Lê Duẩn, cuộc đấu tranh tại miền Nam trong thời điểm đó không thể đi theo đường lối đấu tranh của Trung Quốc, lấy nông thôn bao vây thành thị để kết thúc bằng một chiến dịch quân sự giải phóng toàn quốc mà là những cuộc nổi dậy riêng rẽ nhưng có phối hợp với mục tiêu thiết lập những căn cứ địa, nhấn mạnh đến du kích chiến và xây dựng cơ sở chuẩn bị cho một cuộc tổng nổi dậy trong giai đoạn chót. Yếu tố quan trọng nhất, theo Lê Duẩn là sử dụng đấu tranh chính trị được trợ giúp bởi đấu tranh quân sự tạo ra uy thế đối với quần chúng.

Về kế hoạch quân sự, trong bức thư, Lê Duẩn nhấn mạnh đến tầm quan trọng chiến lược của vùng Tây Nguyên. Chính từ vùng này mà phát xuất mọi cuộc tấn công vào kẻ địch. Đây cũng là một vùng quan trọng với tư cách là một căn cứ địa để xây dựng và bảo vệ các lực lượng cách mạng. Các vùng quê và châu thổ ở gần vùng Tây Nguyên này là mục tiêu chiến lược chính, trong khi các thành thị có thể để đến sau chót. Sau cùng Lê Duẩn tiết lộ rằng trong năm 1961, trung ương đảng Lao Động sẽ giúp đỡ Liên Khu 5 và Nam Bộ thành  lập 12 tiểu đoàn chủ lực và cung cấp đủ cán bộ cho Nam Bộ để thành lập thêm 7 tiểu đoàn nữa. Một tuần sau lá thư của Lê Duẩn, các lực lượng du kích Việt Cộng tại miền Nam được thống nhất dưới một bộ chỉ huy chung lấy tên là “Lực Lượng Vũ Trang Giải phóng miền Nam” hay “Giải phóng quân.”

Ngày 25 tháng 2, 1961, bộ chính trị đảng Lao Động Hà Nội thông qua kế hoạch cải tổ quân sự do Quân Ủy Trung Ương và Bộ Quốc phòng đưa ra. Kế hoạch này đưa ra bốn công tác chính. Thứ nhất, tăng cường sức mạnh quân sự bảo vệ miền Bắc, thành lập binh chủng phòng không, xây dựng cơ sở để thành lập hai quân chủng không quân và hải quân và hoàn tất việc chính quy hóa và hiện đại hóa quân đội nhân dân Việt Nam. Thứ hai xây dựng lực lượng vũ trang tại miền Nam. Du kích tại các huyện được tổ chức thành từng trung đội, tại các tỉnh đưọc tổ chức thành đại đội và tiểu đoàn. Khoảng từ 10 đến 15 trung đoàn chủ lực cũng được thành lập có cả pháo binh và phòng không để chống lại thiết giáp và máy bay của địch. Công tác thứ ba là giúp Pathet Lào huấn luyện và tổ chức lực lượng quân sự cũng như thành lập những vùng giải phóng. Các lực lượng Bắc Việt được lệnh sẵn sàng sang Lào mỗi khi có nhu cầu. Công tác thứ tư là tổ chức một hệ thống thông tin liên lạc và chỉ huy quân sự tại miền Nam Việt Nam giúp cải thiện liên lạc từ Ban Chấp hành Trung Ương đến các tỉnh, huyện và đến tận các tổ đảng trong các làng xa xôi nhất.

Tháng 3, 1961 Bộ Tổng Tham mưu quân đội miền Bắc ra quyết định cải tổ cơ cấu hoạt động của các đơn vị để bảo đảm có sẵn các đơn vị có thể tiến ngay vào chiến trường “B” (miền Nam) và “C” (Lào) ngay sau khi nhận được lệnh hành quân. Một sư đoàn mới, sư đoàn 338 cũng được thành lập như là một sư đoàn đặc biệt để huấn luyện cho tất cả các cán bộ và binh sỹ được gởi vào xâm nhập miền Nam. Hầu hết những người này là những cán bộ binh sỹ gốc miền nam hoặc Liên Khu 5 ra tập kết tại miền Bắc sau hiệp định Genève.

Tháng 4, 1961 Quân ủy hội trung ương, với sự đồng ý của trung ương đảng Lao Động và đảng Nhân Dân Cách Mạng Lào ra lệnh mở một chiến dịch quân sự vào khu vực chung quanh đường số 9 và vùng Nam Lào để yểm trợ cho hoạt động của đoàn 559 cũng như các lực lượng Pathet Lào tại vùng Nam Lào. Tham gia vào chiến dịch này có sư đoàn 325, tiểu đoàn biên phòng 19 của quân khu 4, tiểu đoàn 927 thuộc tỉnh Hà Tĩnh và các lực lượng Pathet Lào.

Tuy nhiên, dưới áp lực của Liên Sô, Hà Nội không dám mở một cuộc chiến toàn diện tại miền Nam và Lào. Ngày 20 tháng 4, 1961, Lê Duẩn lại viết một lá thư khác gởi các đồng chí tại miền Nam trong đó Lê Duẩn một lần nữa nhấn mạnh đến vai trò ưu tiên của việc đấu tranh chính trị và vai trò yểm trợ của đấu tranh quân sự trong tình hình tại miền Nam. Tuy nhiên Duẩn cũng nhắc nhở đến nhu cầu phải xây dựng lực lượng vũ trang. Người ta có thể thấy rõ qua lá thư của Lê Duẩn rằng giới lãnh đạo miền bắc không hy vọng vào một chiến thắng mau chóng và dễ dàng. Lê Duẩn nhấn mạnh rằng các cán bộ cần phải hiểu đây là một cuộc chiến đấu khó khăn và lâu dài, và tất cả mọi người đều phải chuẩn bị tâm lý cho những hy sinh và đói khổ cần thiết trong tiến trình “giải phóng miền Nam”.

Lê mạnh Hùng

May 7, 2008

Về Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm

Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm
Vị Tổng Thống của nền Đệ I Cộng Hòa đã bị các tướng lãnh VNCH giết chết trong một cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963, do Tướng Dương Văn Minh cầm đầu …..

http://www.youtube.com/watch?v=-FlHLVdBdYo&feature=related

Vietnam War – Ngo Dinh Diem on Geneva Agreement of 1954

After a year in power, 1955, Ngo Dinh Diem let the international media have an interview with him on the Geneva agreement, the general election… Watch the video and see what he said

Ngo Dinh Diem 1 
Ngo Dinh Diem 2
Ngo Dinh Diem 3
Ngo Dinh Diem 4

Vietnam War – The Real Story
History of the Yellow Flag (Read Description)
 

May 6, 2008

Bài học gì từ biến cố 30/4/1975? (Lê Quế Lâm)

“… Thảm hoạ của dân tộc Việt Nam trong hơn 60 năm qua, là do những người lãnh đạo đất nước tạo ra. Họ làm theo ý riêng, dựa vào ngoại bang mà còn độc tài độc tôn, độc đảng. Lãnh đạo miền Nam trước 1975 thì “thả mồi”, lãnh đạo đất nước sau 1975 thì “bắt bóng”…”

Đây là câu hỏi mà có lẽ nhiều người Việt Nam mong đợi câu trả lời trong suốt 33 năm qua. Nhưng thiết tưởng muốn có thì cần đi tìm, tại sao không tìm hiểu để tự trả lời mà phải mong đợi? Vì đây là vấn đề quốc gia đại sự có liên hệ đến nhiều cường quốc, chỉ có giới lãnh đạo -những người có trách nhiệm tột đỉnh, giữ địa vị lâu dài, mới có đủ tư thế trả lời. Và bài học họ rút tỉa được (may ra) mới có giá trị. Đó là ba ông tướng lãnh cao cấp: Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Thủ tướng Trần Thiện Khiêm và Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Cao Văn Viên. Câu trả lời của họ sẽ giúp đồng bào cảm thông, thấy được hoàn cảnh vô cùng khó khăn của đất nước mà những người lãnh đạo đã cố hết sức mình để hoàn thành trách nhiệm do nhân dân giao phó. Hoặc ít ra, nó cũng giúp mọi người có cơ sở để phán xét việc làm của giới lãnh đạo, từ đó có thể tìm thấy được bài học gì hữu ích cho mai sau. Thật ra, không có bài học lịch sử nào giống bài học lịch sử nào, song đồng bào vẫn luôn kỳ vọng…chỉ vì tương lai đen tối của tổ quốc: kinh tế ngày càng tụt hậu, đồng bào không có dân chủ tự do, một phần đất nước lọt vào tay ngoại bang.

Có một số người, dù không nắm hết mọi khía cạnh lớn của đất nước, nhưng đã cố công theo dỏi các diễn biến lịch sử để đưa ra bài học nầy, kinh nghiệm nọ, rồi đi đến khen chê, đề cao hoặc mạt sát những người lãnh đạo. Điều này vừa thiếu công bằng vừa đào sâu thêm sự hiềm khích sẳn có, mà vẫn chưa đưa ra lời giải đáp nào thỏa đáng. Rất tiếc, ba lãnh tụ VNCH nêu trên không ai viết lại hồi ký, ghi lại đoạn đường đau thương của đất nước, và tự phán xét việc làm của mình để rút ra bài học. Lúc cầm quyền, họ có rất đông tùy viên, nào là bí thư, nào là chánh văn phòng, chánh võ phòng…Những thuộc cấp đó có bổn phận ghi chép công việc thường nhật của xếp mình, cũng chính là công việc của quốc gia. Khi về hưu, họ chỉ nhìn lại từng sự kiện, nhớ lại cách hành xử của mình mà viết hồi ký. Một việc thường tình, mà không làm được. Chả lẽ họ đã quên quê hương đất nước rồi sao?

Tuy nhiên cũng có hai nhân vật cao cấp có tầm cỡ, ghi lại hồi ký, đó là cựu Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn và cựu Tổng trưởng Kế hoạch -Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng. Ông Cẩn luôn tự hào về con đường tiến thân và sự nghiệp chính trị của mình. Theo ông “ở Pháp có những người tốt nghiệp từ trường Quốc gia Hành chánh, nhưng tích cực tham gia sinh hoạt chính đảng hoặc hữu khuynh hoặc tả khuynh. Đa số các vị này tranh cử vào Hạ Nghị viện và từ cương vị của đại diện dân cử được mời qua Hành pháp giữ các chức vụ hoặc Thủ tướng hoặc Tổng Bộ trưởng. Họ có thế lực vì họ là đại diện cử tri tại một địa phương, là dân biểu Quốc hội và việc tham gia Nội các của họ không phải là do lời mời cá nhân mà nằm trong một thủ tục chuyển quyền hiến định của toàn thể hoặc từng phần Nội các. Điển hình là trường hợp của hai cựu và đương kiêm tổng thống Pháp Giscard d’Estaing và Jacques Chirac (ghi chú: thời điểm 2003) cả hai đều tốt nghiệp trường Hành chánh và cả hai đều từ dân biểu qua lập Nội các, giữ chức Thủ tướng nhiều năm, trước khi tranh cử tổng thống. Cựu thủ tướng Pháp Lionel Jospin cũng tốt nghiệp trường Hành chánh và từ Dân biểu Quốc hội được mời thành lập Nội các và ra tranh cử chống Tổng thống Jacques Chirac”. Ông Cẩn tự hào cũng tiến thân như vậy. Ông tốt nghiệp trường QGHC, đắc cử Dân biểu, tham gia đảng chính trị, ông là Tổng Bí thư Đảng Công Nông Việt Nam. Một bộ phận của đảng Công Nông là Tổng Liên đoàn Lao Công Việt Nam lúc bấy giờ, theo ông cho biết có độ nửa triệu đoàn viên. Và sau cùng ông là Thủ tướng. (1)

Còn Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, từ 1957 ông du học, tốt nghiệp, dạy Đại học và sống lâu năm ở Mỹ -là quốc gia đã yểm trợ VNCH. Sau 16 năm ở Hoa Kỳ, ông về nước tham chính, làm Phụ tá Tổng thống Thiệu về tái thiết, sau đó giữ chức vụ Tổng trưởng Kế hoạch qua hai đời thủ tướng: Trần Thiện Khiêm và Nguyễn Bá Cẩn. Ông tự nhận “hoàn toàn không ở địa vị đủ cao cấp để nói lên lời cuối, nhưng nhờ một cơ duyên của lịch sử đã may mắn được gặp lại cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu nhiều lần ở London và Boston để nghe và ghi lại những lời cuối cùng của ông về cuộc chiến”. (2)

Ông cựu thủ tướng viết hồi ký Đất Nước Tôi năm 2003 và ông Tiến sĩ phụ tá tổng thống viết quyển Khi Đồng Minh Tháo Chạy” năm 2005. Ở tuổi trên 70, sau gần 30 năm suy ngẫm… hai tác phẩm trên tất phải có giá trị, đáng tin cậy để đồng bào đọc và thấy được tại sao nước mất với biến cố 30/4/1975.

Muốn rút tỉa bài học, trước hết phải nhìn lại cẩn thận, xem xét nguyên nhân nào đã dẫn đến biến cố trên.

Trong sách Đất Nước Tôi có “Chương 18 Tại sao Miền Nam Thua” và “Chương 19 Việt Nam Bị Bán Đứng”, nghĩa là “Miền Nam thua vì Việt Nam bị bán đứng”. Ông Cẩn cho rằng: “Sau khi chiến tranh lạnh tiến dần đến giai đoạn Hoa Kỳ và Nga Xô phải bàn chuyện chung sống hòa bình trong những hoàn cảnh và điều kiện nào đó để quân bình lực lượng, quân bình ảnh hưởng trên thế giới. Chính trong khuôn khổ một trật tự mới cho thế giới này mà VNCH bị biến thành con cờ để trao đổi với Cộng sản Nga Hoa. Nói rõ hơn, thay vì phải giữ cho VNCH được tự do dân chủ với bất cứ giá nào để làm “tiền đồn cho Thế giới Tự do” hầu ngăn chặn chính sách bành trướng của Cộng sản thì nay, vì sẽ có cam kết sống chung hòa bình trong khuôn khổ một trật tự mới đã được thỏa thuận, thì nguy cơ bành trướng Cộng sản không còn nữa, tất nhiên “KHÔNG CẦN TIỀN ĐỒN NỮA”.

Cũng vì đó “VNCH và Đài Loan bị bán đứng từng phần cho Trung Cộng”. Nixon đã bán đứng “quy chế cường quốc và thành viên Hội đồng Bảo An LHQ” của Trung Hoa Quốc Gia cho Trung Cộng. Và sau đó, Hoa Kỳ làm ngơ để Trung Cộng chiếm Hoàng Sa của VNCH. Riêng VNCH còn bị HK hy sinh để đổi lấy Trung Đông, vì lẽ Kissinger -ngoại trưởng HK là người Do Thái. Sự tồn tại của Do Thái và quyền lợi dầu hỏa ở Trung Đông, nên HK phải cắt viện trợ cho VN để dồn cho Do Thái. (3)

Đồng bào tiến về

Trong chương 18, ông Nguyễn Bá Cẩn có đề cập đến chiến tranh Đông Dương 1946-1954 với nhận xét “Pháp và Đồng Minh (Anh, Hoa Kỳ…) đã thua chiến tranh Đông Dương vì không có chính nghĩa”. Còn chiến tranh Việt Nam 1967-1975, Miền Nam thua vì VNCH bị bán đứng. Không hiểu tác giả dựa vào cơ sở nào để nói rằng chiến tranh Việt Nam khởi sự từ 1967 ? Phải chăng ông muốn những diễn tiến của lịch sử phải phù hợp với sự nghiệp chính trị của ông. Trang 474-5, ông cho biết: “Kể từ năm 1967 cho đến 1975, trong 8 năm tại Hạ Nghị Viện VNCH, tôi có dịp tiếp xúc với hàng chục nghị sĩ vả dân biểu Hoa Kỳ đến thăm Sàigòn…”.

Cái nhìn của ông Cẩn về chiến tranh Đông Dương 1946-1954 không phản ánh đúng sự thật lịch sử. Chiến tranh Đông Dương khởi đầu từ cuộc kháng chiến chống Pháp giành độc lập do Mặt trận Việt Minh lãnh đạo. Tài liệu Ngũ Giác Đài (The Pentagon Papers) đã ghi rõ: trong cuộc xung đột Pháp/Việt Minh ở Nam Bộ và cuộc đàm phán Pháp với ông Hồ Chí Minh năm 1946, Hoa Kỳ giữ thái độ trung lập. Vì thế Tổng thống Truman từ chối lời yêu cầu của De Gaulle xin HK cung cấp phương tiện để chở quân Pháp sang Đông Dương. HK cũng bác bỏ yêu cầu của Paris xin cung cấp vũ khí để Pháp chống Việt Minh. HK cũng làm ngơ trước những lời kêu gọi của ông HCM yêu cầu HK can thiệp để VN trở thành một nước được Mỹ bảo hộ trong một thời gian, trước khi độc lập như Phi Luật Tân.

HK hoàn toàn đứng ngoài trong cuộc chiến Đông Dương cho đến giữa năm 1948. Lúc bấy giờ chiến tranh lạnh giữa Thế giới Tự do và Quốc tế Cộng sản đã diễn ra. Ông HCM từng xác nhận “kháng chiến VN là một bộ phận của nhân dân thế giới do Liên Xô lãnh đạo. Kháng chiến VN là một hình thức cao rộng của giai cấp đấu tranh, nghĩa là cuộc đấu tranh lớn trên toàn thế giới, giữa thế giới tư bản và thế giới cộng sản”. Vì vậy HK áp lực mạnh buộc Pháp trao trả độc lập cho các nước Đông Dương. Nhờ đó, thỏa ước Elysée ra đời năm 1949: Pháp nhìn nhận VN độc lập trong khối Liên Hiệp Pháp (LHP), song HK vẫn chưa ủng hộ thỏa ước. Đến giữa tháng Giêng 1950, tức ba tháng sau khi chiến thắng ở Hoa Lục, Mao Trạch Đông thừa nhận nước VNDCCH, đồng thời chi viện giúp ông HCM chống Pháp. Ngay sau đó, Liên Xô và các nước cộng sản Đông Âu cũng theo gưong Trung Cộng. Đầu tháng Hai, HK và các nước Tây phương mới chính thức đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ Quốc Gia Việt Nam do Bảo Đại lãnh đạo.

Theo kế hoạch giải thực (giải trừ chế độ thực dân) của LHQ, các nước thực dân phải huấn luyện người dân thuộc địa có đủ trình độ để quản trị đất nước sau khi thu hồi được độc lập. Riêng VN, đã có đầy đủ chuyên viên trí thức tốt nghiệp từ Pháp hoặc Đại học Hànội…Nhưng VN chưa đủ sức bảo vệ nền độc lập vì sự uy hiếp của Việt Minh Cộng sản. Do đó VN cần phải nằm trong khối Liên Hiệp Pháp, để được Pháp và đồng minh HK -đứng đầu Thế Giới Tự Do yểm trợ mới đủ sức đương đầu với VM được Cộng sản Nga Hoa ủng hộ. Cũng tương tự như Mã Lai, mãi đến năm 1957, sau khi dẹp yên Mã Cộng, Anh quốc mới trao trả độc lập cho Mã Lai.

Nhờ lực lượng cân bằng, đại diện hai khối Thế gìới tự do và Quốc tế Cộng sản là Anh Quốc và Trung Cộng đứng ra chủ toạ hội nghị Genève 1954, đi đến chia cắt ảnh hưởng ở Đông Dương, nhằm bảo vệ hòa bình thế giới. Miên Lào trung lập, miền Bắc VN thuộc ảnh hưởng khối Cộng, miền Nam VN thuộc ảnh hưỏng Thế Giới Tự Do. Trách nhiệm hoàn tất, Pháp rút khỏi Đông Dương. Lãnh đạo miền Nam là thủ tướng Ngô Đình Diệm, một chí sĩ yêu nước, thanh liêm, từng từ chức Thượng thư đầu triều để phản đối Pháp. Nếu Anh Pháp Mỹ không có chính nghĩa trong chiến tranh Đông Dương 1946-1954 khiến Pháp bại trận như nhận định của ông Cẩn, thì làm sao có được VNCH, nhân dân miền Nam được sống trong dân chủ tự do 21 năm!

Ngày 26/4/2005, sau khi phát hành quyển Khi Đồng Minh Tháo Chạy, đài VOA đã hỏi Ts Hưng: “Có nhiều người đã nói rằng MN sụp đổ vì hai lý do Mỹ bỏ rơi và MN thiếu ý chí tồn tại. Là người trong cuộc ông nghĩ sao? Ông Hưng trả lời “Lý do Mỹ bỏ rơi rất đúng vì MN đã được sử dụng như một quân cờ trong ván cờ thế giới. Nhưng một khi đã bắt tay được với Mao trạch Đông và hòa hoãn được với Liên Xô thì “cái tiền đồn của thế giới” không còn cần thiết nữa, và phải tìm cách tháo lui. Câu hỏi đặt ra không phải là “có nên hay không nên bỏ rơi MN” mà là “bỏ rơi như thế nào” thôi. Còn lý do “MN thiếu ý chí” thì chính đại sứ Martin đã nói ngược lại là MN không thiếu ý chí”.

Trong tác phẩm KĐMTC, Ts Nguyễn Tiến Hưng cho rằng nguyên nhân Mỹ dứt khoát bỏ rơi MN là vì quyền lợi của Mỹ ở VN đã không còn nữa. Ông lập luận rằng “Sau Thế chiến II, HK giúp thành lập hai quốc gia Do Thái và VNCH. Ngày 14 tháng 5 1947, Do Thái trở thành một quốc gia độc lập. Ngày 26 tháng 10 1955, nước VNCH được thành lập, Hà Nội nhất quyết đòi hỏi phải tổ chức tổng tuyển cử toàn quốc để đi tới thống nhất đất nước theo qui định của hiệp định Genève. Tổng thống Diệm, với sự ủng hộ mạnh mẽ của HK, tiếp tục bác bỏ. Ngày nay, VNCH đã mai một 30 năm rồi, nhưng Do Thái vẫn còn trường tồn, lại còn mạnh mẽ hơn. Lý do là vì Mỹ vẫn còn cần đến Do Thái làm tiền đồn để trấn giữ túi dầu ở Trung Đông. “Nếu tiền đồn dầu lửa ở Trung Đông còn cần thiết thì tiền đồn của Thế giới tự do bên Á châu lại không còn cần thiết nữa”. Kể từ ngày TT Nixon bắt tay được với Trung Quốc thì giá trị của miền Nam để “ngăn chặn làn sóng đỏ” đã không còn là bao nhiêu trong những tính toán của Mỹ về hơn thiệt (cost-benefits). Dần dần VN đã hết vai trò một tiền đồn của Thế giới tự do. Và như vậy, vấn đề còn lại đối với Mỹ thì chỉ là làm sao rút ra được cho êm thắm, ít bị tổn hại về uy tín là được rồi”. (4)

Lập luận của TS Nguyễn Tiến Hưng về việc HK giúp thành lập hai quốc gia Do Thái và VNCH không phản ánh đúng sự thật lịch sử, Theo tài liệu của Tự điển bách khoa Wikipedia thì năm 1947, Liên Hiệp Quốc chấp nhận phân chia phần đất Palestine thành hai quốc gia: một là Jewish, một là Arab. Ngày 14/05/1948, Israel tuyên bố độc lập. Quả thật, từ đó đến nay HK luôn là đồng minh của Do Thái, có phải vì dầu hỏa hay không? Nhưng có điều chắc chắn là đất nước nhỏ bé này luôn bị các nước Á Rập láng giếng hăm doạ xoá tên trên bản đồ. Do Thái lại là quốc gia đứng đầu các nước ở Trung Đông, không những vì nền kinh tế phát triển mà còn là một nước tôn trọng nhân quyền, dân chủ tự do. Tôi nghĩ rằng đó là lý do HK phải yểm trợ Do Thái, cái nôi dân chủ tự do trong vùng đất nhiều dầu hỏa nhưng thiếu dân chủ tự do vì quá cuồng tín. Cũng tương tự như MNVN sau 1954, HK luôn yểm trợ MNVN, coi đây là mô hình tự do, phồn thịnh ở Đông Nam Á.

Còn lập luận nói rằng HK đã ủng hộ Tổng thống Diệm bác bỏ đề nghị của Hà Nội tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất nước, để thành lập VNCH đã vô tình bôi xấu TT Diệm. Ông Diệm không bác bỏ việc tổng tuyển cử thống nhất đất nước mà chỉ đưa điều kiện để tiến hành. Đó là khi nào nhân dân miền Bắc được hưởng những quyền dân chủ tự do thực sự. Việc VNCH ra đời cũng tương tự như Do Thái là do LHQ chớ không phải HK. Tại hội nghị Genève 1954, toàn thể các Hội viên thường trực Hội đồng Bảo An LHQ đồng ý chia đôi VN. Thực trạng VN cũng tương tự nước Đức và Triều Tiên. Tháng 8 năm 1955, thủ tướng Diệm đã trả lời đề nghị của Hà Nội về việc tổ chức tổng tuyển cử: “Tổng tuyển cử là một định chế hòa bình và dân chủ nhưng với điều kiện tiên quyết là sự tự do sinh sống và tự do đầu phiếu phải được bảo đảm”. Ông giải thích thêm “người ta không thể làm được điều gì xây dựng về vấn đề này khi mà chế độ Cộng sản miền Bắc vẫn không cho phép người dân của họ hưởng những quyền tự do dân chủ”. Ông Diệm còn cho rằng việc tổng tuyển cử chưa thể thực hiện khi chánh quyền CS ở miền Bắc ngay bước đầu đã vi phạm quyền tự do công dân. Họ không cho người dân miền Bắc được tự do lựa cọn vùng muốn sinh sống theo tinh thần hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam tứ HĐ Genève 1954. Sau đó qua chiến dịch “cải cách ruộng đất” chính quyền miền Bắc đã tiến hành khủng bố tàn bạo trong phạm vi rộng lớn để trấn áp những người không thích chế độ cộng sản.

Còn HK trong tuyên bố riêng công bố sau khi Hội nghị Genève bế mạc, họ cho biết về vấn đề VN bị chia cắt: “nếu quyết định của các cường quốc phản lại ý muốn chung của người dân bản xứ, HK sẽ mưu tìm sự thống nhất bằng một cuộc tổng tuyển cử tự do có LHQ giám sát”. Trong tinh thần đó, chính quyền Eisenhower đã ủng hộ lập trường của TT Diệm là cuộc tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam chỉ được tiến hành khi nào miền Bắc chấm dứt khủng bố, thực thi dân chủ và để người dân tự do thực hiện quyền đầu phiếu. Việc này HK đã hoàn thành trong HĐ Paris 1973: nhân dân MN được hưởng mọi quyền tự do, sau đó tham gia cuộc tổng tuyển cử tự do để quyết định thể chế tương lai MN. Chính phủ MN sẽ hiệp thương với chính phủ MB để thống nhất đất nước theo tinh thần HĐ Genève 1954.

Ông cựu thủ tướng là một chuyên viên hành chánh, ông Phụ tá tổng thống là một chuyên viên kinh tế, các ông chỉ trình bày tổng quát về lịch sử chính trị nhằm mục đích làm sáng tỏ lập luận của mình: HK bỏ rơi VNCH để dồn lực cho Do Thái, vì lẽ Kissinger là người gốc Do Thái. Ông Cẩn còn đi xa hơn, cho rằng Anh Pháp Mỹ không có chính nghĩa trong cuộc chiến Đông Dương 1946-1954 để có lý do lên án HK bỏ rơi miền Nam hồi năm 1975. Điều quan trọng mà đồng bào muốn biết là giới lãnh đạo đất nước đã nhận định như thế nào về sự sụp đổ của MN? Nay thì đã có câu trả lời: ‘Mỹ không cần tiền đồn nữa” và “tháo chạy”. Ông đồn trưởng Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu vội vàng chạy trước, tiếp theo là các viên chức giúp việc chạy sau. “Đất nước tôi” là như vậy, “Đồng minh (của Mỹ) tháo chạy” là như vậy.

Sau này, gặp lại nhau ở hải ngoại, ông Thiệu nói với cựu phụ tá của mình: “Tôi có trách nhiệm, nhưng không có tội” (Je suis responsable mais pas coupable) (5) Dù sao, ông vẫn còn biết mình có trách nhiệm (trước 1975)…Nhưng lại cho rằng mình không có tội, vì tất cả là do Hoa Kỳ. Đổ lỗi cho Mỹ là xong chuyện. Ba mươi năm sau, trong tác phẩm KĐMTC, Ts Nguyễn Tiến Hưng viết rằng: “Nhìn lại lịch sử, tôi cũng không khỏi suy tư và đặt một câu hỏi khác: tại sao phía VNCH lại cứ âm thầm từ hè 1973 khi Mỹ bắt đầu cắt xén viện trợ? Tại sao lãnh đạo hành pháp và lập pháp không họp lại để bàn luận về hồ sơ mật xem phải nên đối xử làm sao với HK trong hoàn cảnh chính trị của Watergate, và dưới triều một tổng thống Mỹ mới? Việc này chỉ được làm sau khi rút khỏi Pleiku thì đã qua muộn”. (6) Ba mươi năm sau, vẫn còn ý nghĩ “ỷ lại vào Hoa Kỳ”, chả lẽ vào thời điểm đó, mang mấy chục lá thư của Tổng thống Nixon gởi Tổng thiệu Thiệu (Hồ sơ mật Dinh Độc lập) đến Quốc hội HK nằm vạ, hăm he: Tổng thống mấy ông hứa thì mấy ông phải giúp. Viện trợ nhiều thì chúng tôi giữ nhiều, viện trợ ít thì giữ ít. Không chịu giúp nữa, chúng tôi bỏ tiền đồn chạy cho mà coi.

Lịch sử là một chuỗi dài nhân quả, từ nhân sinh ra quả. Quả sẽ tạo nhân và cứ thế tuần tự diễn tiến theo qui luật bất di bất dịch: luật nhân quả. Phải tìm hiểu nguyên nhân mới thấy được hậu quả. Đằng này cứ ỷ lại vào Mỹ rồi lên án Mỹ, thì làm sao thấy được những nguyên nhân khác, do mình chớ không phải do Mỹ đã làm sụp đổ Miền Nam? Vì thế, đã không làm tròn trách nhiệm đối với đất nước trước 1975, còn nay thì hết trách nhiệm đối với đồng bào dân tộc.

Đồng bào tháo chạy

Làm kẻ thù của HK thì dễ, nhưng làm bạn với họ thì thật là khó. Ngày 29/4/1975, bà Anna Chennault tới Đài Loan mang theo lời nhắn nhủ của (tổng thống) Ford đến cho ông Thiệu. Nội dung cho biết vì tình hình phản chiến ở đây, ông Thiệu không nên đến Hoa Kỳ lúc này. Ông nên đi nơi khác, nhưng gia đình ông thì có thể vào Hoa Kỳ được. Bà Chennault nói có thể dàn xếp để Thiệu đi đâu tùy ý. Ông Thiệu lạnh lùng nói với bà: “Làm kẻ thù của HK thì dễ, nhưng làm bạn với họ thì thật là khó’. (7) Bà Anna Cennault là quả phụ tướng Claire Chennault người đã chỉ huy đoàn Phi Hổ, hồi Đệ II Thế chiến. Bà rất có uy tín của đảng Cộng Hòa, ra vào tự do trong chính giới ở Hoa Thạnh Đốn. Bà đã làm trung gian giữa Nixon và Thiệu, qua đó nhóm ủng hộ đảng Cộng Hòa khuyến cáo VNCH không nên gởi phái đoàn sang dự hòa đàm Paris hồi tháng 11/1968. Ông Thiệu chấp nhận, do đó, kế hoạch hòa bình của đảng Dân chủ Mỹ thất bại, ứng cứ viên Humphrey thất cử, Nixon đắc cử. Đây là món nợ chính trị giữa Nixon và Thiệu được Ts Hưng trình bày trong Chương 2 quyển Hồ sơ Mật Dinh Độc lập.

Ngoài câu nói “Đừng nghe những gì cộng sản nói, hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm”, đây là câu nói để đời thứ hai của ông Nguyễn Văn Thiệu. Một bài học cho ông và cho đất nước. Trong những ngày cuối tháng Tư/1975 Hoa Kỳ đã mở rộng vòng tay đón 130 ngàn người VN vào đất Mỹ, chả lẽ họ lại hẹp hòi, thiếu nhân đạo đối với vị lãnh đạo VNCH hay sao. Phải có điều gì bí ẩn, tìm hiểu mới thấy được bài học 30/4/1975. Đối với người Á Đông chúng ta, đã gọi là bạn, là tri kỷ thì phải hiểu nhau, ăn ý với nhau, không có cảnh “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Sở dĩ làm bạn với HK thật là khó, là vì không hiểu HK, chỉ biết ỷ lại, dựa dẫm vào bạn mà thôi; chớ không biết hợp lực với bạn thực hiện mục tiêu chung của Thế giới Tự do trong chiến tranh lạnh vừa qua. Anh Quốc ăn ý với HK trong việc giải trừ thuộc địa nên Anh Quốc giữ được nguyên khối Liên Hiệp Anh sau Thế chiến II. Bà thủ tướng Anh Thatcher và TT Reagan đã hợp tâm hợp ý giúp kết thúc chiến tranh lạnh không tốn một giọt máu.

Đối với VN, từ sau 1954 đã có hội “Người Mỹ bạn của Việt Nam”. Tháng Năm 1956, Thượng Nghị sĩ John F. Kennedy, bốn năm sau trở thành tổng thống Hoa Kỳ, đã tuyên bố với hội này rằng: “Hoa Kỳ coi Việt Nam như là một thí điểm của nền dân chủ ở Á châu”. Ông còn nhấn mạnh thêm “Việt Nam còn là sự trắc nghiệm về ý thức và quyết tâm của Hoa Kỳ”. Do đó, “nếu miền Nam Việt Nam sụp đổ vì cộng sản, vì rối loạn chính phủ, vì nghèo đói hoặc bất cứ lý do nào khác, thì Hoa Kỳ phải chịu trách nhiệm và uy tín của Hoa Kỳ ở Á Châu chắc chắn sẽ chìm sâu” (8 ) Hai năm trước, tổng thống Eisenhower đã gởi thư đến thủ tướng Ngô Đình Diệm, xác định mục tiêu của HK là “giúp miền Nam Việt Nam bằng viện trợ để duy trì và phát triển một nhà nước tự do có sức sống mạnh, có khả năng chống trả lại những mưu toan khởi loạn hoặc xâm lược bằng vũ lực”. Hoa Kỳ mong muốn chánh phủ Nam Việt Nam đáp ứng lại bằng cách thực hiện những cải cách cần thiết, mở rộng chánh phủ có sự tham tham gia của các đảng phái chính trị và thiết lật các cơ cấu dân chủ hơn. (9) Đối với Hoa Kỳ, Miền Nam VN là tiền đồn của Thế giới Tự do, để ngăn chận sự bành trướng của CS. Nơi đây còn là “chiếc tủ kính trưng bày sự phồn vinh và nền tự do kiểu Mỹ ở Đông Nam Á” như nhận xét của một cán bộ CS cao cấp Mặt trận giải phóng Miền Nam. (10)

Đầu năm 1965, trước sự uy hiếp nặng nề của Cộng sản Bắc Việt được Liên Xô, Trung Cộng và khối Cộng sản Đông Âu tiếp sức, VNCH sắp sụp đổ. Hoa Kỳ vội can thiệp, đưa quân vào Miền Nam, vừa dội bom miền Bắc, nhằm áp lực Bắc Việt ngồi vào bàn đàm phán giải quyết chiến tranh bằng con đường hòa bình. Sau ba năm với hai gọng kềm: tăng quân vào miền Nam, mở rộng diện oanh kích miền Bắc, Hànội chịu ngồi vào đàm phán ở Paris. Hoa Kỳ bắt đầu rút quân khỏi VN, mở đầu kế hoạch “Phi Mỹ hoá” hạn chế dần sự can dự của Mỹ ở khắp nơi trên thế giới, để làm giảm bớt sự căng thẳng giữa hai khối Tự do và Cộng sản. Nơi nào có mặt Mỹ, thì khối CS yểm trợ lực lượng địa phưong chống đế quốc Mỹ. Nơi nào bị CS đe doạ xâm lưọc để bành trướng như miền NamVN, Hoa Kỳ phải trực tiếp can thiệp. Vì thế tạo ra nhiều khu vực căng thẳng, nhiều lò lửa chiến tranh trên thế giói. Hoa Kỳ đã tự chế qua kế hoạch Phi Mỹ Hoá, rút quân khỏi VN, HK đã đi tiên phong mang lại hòa bình cho thế giới bằng cách làm sứ giả đi Trung Quốc và Liên Xô thuyết phục hai nước này cùng tự chế như Mỹ, để tạo ra một giai đoạn hòa bình, hòa hoãn mà các bên đều có lợi.

HK không dùng quyền phủ quyết, giúp Trung Cộng trở thành Hội viên Thường trực Hội đồng Bảo An LHQ, có địa vị ngang hàng với Anh, Pháp, Mỹ, Nga. Hoa Kỳ còn mặc nhiên thừa nhận Trung Cộng như là lãnh tụ Thế giới Thứ ba, tạo thế chân vạc ba thế giới để cùng nhau bảo vệ hòa bình thế giới. Hoa Kỳ đã thuyết phục được Liên Xô và Trung Cộng áp lực BV chấp nhận chấm dứt chiến tranh VN bằng cách tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam VN. Nhân dân miền Nam sẽ quyết định tương lai miền Nam chớ không phải do HK hay BV áp đặt. Hội đồng Quốc gia hòa hợp hòa giải dân tộc gồm ba thành phần sẽ được thành lập để tổ chức cuộc tổng tuyển cử dân chủ tự do, để người dân miền Nam thể hiện quyền tự quyết của mình. Ở Miền Nam có ba thành phần chính trị, phù họp với xu thế chung toàn cầu cũng có ba thế giới: HK lãnh đạo Thế giới Tự do, Liên Xô khối Xã hội chủ nghĩa còn Trung Cộng lãnh đạo Thế giới thứ ba.

Hiệp định Paris 1973 ra đời trong bối cảnh “tiền đồn chống Cộng” ở miền Nam Việt Nam vô cùng bền vững, VNCH kiểm soát 80% đất đai, hơn 90% dân số. Trung Cộng đã bị bao vây chặt chẽ: ở đông bắc là Đại Hàn do tướng Pak Chung Hee lãnh đạo, ở phía đông là Trung Hoa Quốc gia do Thống chế Tưởng Giới Thạch, Phi luật Tân do tướng Ferdinand Marcos, ở hướng Nam là Nam Dương do tướng Suharto, ở Cam Bốt do tướng Lon Nol, ở Thái Lan do thống chế Kittykachorn lãnh đạo. Đây là thời điểm, HK kỳ vọng nhân dân miền Nam tự do sẽ chiến thắng CS qua cuộc tổng tuyển cử dân chủ tự do theo tinh thần HĐ Paris 1973. Chiến thắng của MNVN cũng là chiến thắng của HK trong chiến tranh lạnh. HK đã dồn sức viện trợ biến MNVN thành một thí điểm của sự phồn vinh và dân chủ tự do ở Châu Á. Gần 60 ngàn binh sĩ Mỹ đã hy sinh, trên 300 tỷ mỹ kim chiến phí đã giúp MNVN vượt qua sự đe doạ của chiến tranh xâm lược, nay là lúc gặt hái thành quả hòa bình. Nhưng cuối cùng diễn ra cảnh “trống đánh xuôi kèn thổi ngược” giữa HK và VNCH.

Sau HĐ Paris, Nixon mời Thiệu sang HK, hội đàm với ông ở San Clemente. Nixon cam kết sẽ viện trợ đầy đủ cho VNCH với điều kiện VNCH phải cùng Mỹ nghiêm chỉnh thực hiện HĐ Paris 1973. Nếu BV vi phạm, HK có lý do để tái can thiệp…Nhưng Thiệu vẫn kiên trì với lập trường “bốn không”, tiếp tục chiến đấu chớ không hòa giải. Ông đẩy thành phần thứ ba về phía CS, khiến CS có thêm thế lực, MN càng sụp đổ mau. Trong khi đó, sau 1975, Thế giới thứ ba do Trung Cộng lãnh đạo đứng về phía HK đã góp phần làm sụp đổ Liên Xô và khối Xã hội chủ nghĩa thế giới.

Từ 21/5/1973, Kissinger và Lê Đức Thọ trở lại Paris để thảo thuận và ra một tuyên cáo chung xác định hai bên quyết tâm thi hành nghiêm HĐ Paris. Trong thời gian này, Nixon đã gởi gần chục lá thư thuyết phục Thiệu: “Như Ngài rõ, tôi đã công khai tuyên bố nhất quyết thi hành bản hiệp định Paris với tất cả uy tín và thiện chí của Hoa Kỳ. Ở Hoa Kỳ sẽ không ai hiểu nổi vấn đề này nếu bây giờ sự thương thuyết bị thất bại vì những trở ngại ta có thể tránh được. Tôi xin lập lại rằng ước vọng duy nhất của chúng tôi là muốn thấy bản Hiệp định được thi hành nghiêm chỉnh và thắt chặt tình liên đới với VNCH. Tôi không tin rằng Ngài muốn tôi phải ra trước dân chúng Hoa Kỳ dể giải thích sự bế tắc của cuộc thương thuyết hiện nay ở Paris. Điều này chắc chắn sẽ đưa tới sự cắt đứt ngân khoản cho Lào và Căm Bốt và cuối cùng là Miền Nam VN. Khi ở San Clemente, tôi đã nói rõ với Ngài về việc xin Quốc hội HK viện trợ đầy đủ khó khăn như thế nào. Tuy nhiên tôi cũng đã trình bày với Ngài rằng chúng tôi sẽ dồn mọi nổ lực không những xin đầy đủ viện trợ cho những nhu cầu hiện tại của VNCH, mà còn yểm trợ cho những kế hoạch kinh tế dài hạn Ngài vừa công bố! Nổ lực này đang tiến hành tốt đẹp và được đặt vào hàng ưu tiên đầu. Nhưng tôi thẳng thắn khuyến cáo Ngài rằng chỉ một mối bất đồng nhỏ nhoi của chúng ta trong tình thế này cũng đủ làm tiêu tan nổ lực trên. Tôi tin chắc rằng Ngài sẽ cân nhắc kỹ lưỡng điều trên khi đọc lá thư này” (11) TT Nixon đã khuyến cáo thảm trạng sụp đổ miền Nam VN từ hai năm trước, bằng giấy trắng mực đen rõ ràng, chớ không phải âm thầm tính chuyện bán đứng VNCH hay đang chuẩn bị tìm cách bỏ chạy.

Dù cố thuyết phục song Thiệu vẫn không nhượng bộ. Ngày 13/6/1973, Nixon gởi lá thư cuối cùng cho Thiệu với lời lẽ đắng cay: “Lá thư của Ngài đề ngày 12/6 là một đòn giáng mạnh vào tình bằng hữu, sự tương kính và quyền lợi chung của chúng ta. Căn cứ vào những hy sinh và rủi ro của HK phải gánh chịu vì Ngài, tôi không thể ngờ Ngài có thể trả lời một cách tiêu cực như vậy. Tôi chẳng cầu dấu diếm sự căng thẳng trong mối bang giao giữa chúng ta vì Ngài đã phủ nhận những cam kết của tôi trong việc ký kết bản tuyên cáo này. Nếu Ngài lựa chọn đường lối tiêu cực này thì chính Ngài đã vạch ra chính sách tương lai của HK đối với Việt Nam. Tôi sẽ bắt buộc phải chiều ý Quốc hội và công luận HK, chỉ yểm trợ vừa đủ những nhu cầu có tính cách nhân đạo cho nhân dân miền Nam và bỏ qua những quyết định và nhiệm vụ khó khăn để viện trợ kinh tế và quân sự cho VNCH như ta đã thảo luận ở San Clemente. Chẳng cần phải nói dài dòng, nổ lực của chúng tôi trên toàn cỏi Đông Dương sẽ chấm dứt. Tôi coi sự lựa chọn của Ngài như chống đối sự phán đoán và cam kết của chính bản thân tôi. Đây không còn là vấn đề của người đi thương thuyết hay của luật sư và chuyên viên. Đây là vấn đề giữa tôi và Ngài. Sự lựa chọn là do Ngài”. (12)

Từ đó, Quốc hội Hoa Kỳ từng bước giảm dần viện trợ cho VNCH, tước bớt những quyền hạn của tổng thống. Kế hoạch hòa bình của Nixon kể như thất bại, Quốc hội Mỹ mượn vụ Watergate để áp lực Nixon từ chức. Tám tháng đến lượt Thiệu. Đúng như lời Nixon trong lá thư cuối cùng, hành động của Thiệu “là một đòn giáng mạnh vào tình bằng hữu, sự tương kính và quyền lợi chung của chúng ta” và Hoa Kỳ “chỉ yểm trợ vừa đủ những nhu cầu có tính cách nhân đạo cho nhân dân miền Nam và bỏ qua …viện trợ kinh tế, quân sư”. Trong tình thế như vậy, TT Ford đành phải yêu cầu Thiệu không nên đến Hoa Kỳ. Tình bằng hữu giữa Nixon và Ford với Thiệu đã mất, miền Nam Việt Nam cũng không còn. Điều đau buồn nhất, là hành động của ông Thiệu và những người phụ tá đã làm mất đi cả tình đồng minh Việt Mỹ trong thời kỳ hậu 1975, vì luôn luôn coi HK là phản bội, ký HĐ Paris 1973 để bán đứng miền Nam VN cho CS. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh rất nhiều xương máu với người bạn đồng minh Hoa Kỳ trong cuộc chiến bảo vệ lý tưởng dân chủ tự do. Cuối cùng, Hoa Kỳ chiến thắng, trở thành siêu cường quốc số một thế giới. Còn người bạn đồng minh ngày trước, chỉ vì ông tổng tư lịnh tối cao đã trở mặt, nên ngày nay không còn là đồng minh của Mỹ nữa -Đồng minh trong hòa bình mà HK đã vạch ra sau khi ký HĐ Paris 1973 và rút lui khỏi VN. Đồng minh để tiếp tục trách nhiệm lịch sử chưa hoàn thành: giành dân chủ tự do trong phạm vi rộng lớn, cho đồng bào cả nước.

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vì quá ỷ lại vào HK, khước từ quyền tự quyết của nhân dân miền Nam được ghi rõ trong điều 9 HĐ Paris 1973 là “thiêng liêng bất khả xâm phạm phải được tất cả các nước công nhận” (The South Vietnames people’s right to self determination is sacred, inalienable, and shall be respected by all countries), tạo ra thảm cảnh 30/4/1975. Sau đó, đến lượt những người CS, cũng tin tưởng và ỷ lại vào sự “hùng mạnh tất thắng” của Liên Xô, nên khước từ bình thường hoá bang giao với HK, đứng về phía LX chống lại Trung Cộng, tạo thêm cuộc chiến Đông Dương lần thứ ba giữa Cộng Sản Việt Nam và CS Trung Quốc. Khi cuộc chiến này kết thúc cũng là lúc Liên Xô và hệ thống Xã hội chủ nghĩa thế giới sụp đổ. CSVN lại quay về thần phục Bắc Kinh. Biết được ý đồ của đàn em từng phản bội mình: “thà mất đất, mất biển, chớ không để mất đảng”, giới lãnh đạo Trung Cộng tự do chèn ép. Họ đưa ra 16 chữ vàng làm nền tảng cho mối bang giao mới với CSVN, trong đó có bốn chữ “họp tác toàn diện”. Đó là hình thức “lệ thuộc toàn diện”, họ cũng chưa vừa lòng, họ còn bành trướng thêm tí đất, tí biển của đàn em.

Thảm hoạ của dân tộc Việt Nam trong hơn 60 năm qua, là do những người lãnh đạo đất nước tạo ra. Họ làm theo ý riêng, dựa vào ngoại bang mà còn độc tài độc tôn, độc đảng. Lãnh đạo miền Nam trước 1975 thì “thả mồi”, lãnh đạo đất nước sau 1975 thì “bắt bóng”. Câu chuyện “thả mồi bắt bóng” trong sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư ngày trước, tưởng rằng chỉ là chuyện vui nhưng đó là bài học, giúp những người hằng ưu tư đến tiền đổ suy ngẫm và luận bàn thế sự trong những dịp trà dư tửu hậu. Còn bài học lớn của những người lãnh đạo, muốn đất nước trường tồn phải biết quý trọng văn hoá dân tộc, khắc sâu ý niệm: “quyền tự quyết của nhân dân là thiêng liêng bất khả xâm phạm, phải tôn trọng nó”. Chỉ có nhân dân mới hoá giải được thảm hoạ bị đồng hoá, mới chấm dứt tình trạng kinh tế tụt hậu, đưa đất vào kỷ nguyên Độc lập, Dân chủ, Tự do và Giàu mạnh.

Lê Quế Lâm

(1) Nguyễn Bá Cẩn, Đất Nước Tôi – Hồi ký chánh trị. Hoà Hảo Press, Derwood MD (USA), 2003, tr. 206-07 & 201.
(2) Nguyễn Tiến Hưng, Khi Đồng Minh Tháo Chạy. Cơ sở xuất bản Hức Chấn Minh, San Jose CA, USA, 2005, tr.26.
(3) Nguyễn Bá Cẩn, Sđd, từ trang 447 đến trang 552.
(4) Nguyễn Tiến Hưng, Khi Đồng Minh Tháo Chạy, Sđd, tr. 454-57.
(5) Nguyễn Tiến Hưng và Jerrold L. Schecter, Hồ Sơ Mật Dinh Độc Lập. C & K Promotions, INC, Los Angeles, 1987, tr. 601.
(6) Nguyễn Tiến Hưng, Khi Đồng Minh Tháo Chạy. Sđd, tr. 459.
(7) Nguyễn Tiến Hưng và Jerrold L. Schecter, Sđd, tr. 561. Tác giả phỏng vấn Anna Chennault, ngày 2-3-1986. Ông Thiệu và gia đình định cư ở Luân Đôn. Các con ở HK và người con gái cũng ở đấy. Ông ta thỉnh thoảng sang thăm con. Bà Chennault cũng có gặp riêng ông Trần Thiện Khiêm và ông Khiêm muốn được sang Mỹ ở. Ông ở Arlington, Virginia (chú thích 14, tr. 891-2)
(8 ) Phạm Kim Vinh, Nước Mắt Việt Nam. Cơ sở PKV xuất bản, HK, 1982, tr. 13/14.
(9) US Department of State, American Foreign Policy, 1950-1955 – Basic Documents. Government Printing Office, Washington, DC, 1957, tr. 2401-04.
(10) Trần Bạch Đằng, Chung Một Bóng Cờ. Nxb Chính trị Quốc gia, Hànội, 1993, tr.857.
(11) + (12) Nguyễn Tiến Hưng và Jerrold L. Schecter, Hồ sơ mật Dinh Độc Lập. Sđd,tr. 327 + 341-42

 

Ba mươi tháng tư 1955-1975-2008 (Trần Thị Hồng Sương)

“… Khi tầm văn hoá của xã hội –trong đó có cả những người cầm quyền- nâng cao hơn, biết kính trọng nỗi đau và hiểu ra điều cực kỳ quý giá của sinh mệnh, mới khắc hoạ được ý nghĩa đúng của ngày 30.4 !…”

Ba mươi tháng tư nào ở Nam VN cũng là những ngày hạ nắng chói chang trong bước giao mùa mưa nắng. Thời tiết oi ả khó chịu làm bần thần như nhuốm bệnh …

Ba mươi tháng tư 1955 ít ai còn nhớ, nhưng tôi nhớ vì quý trọng ông Bảo Đại là người luôn có tinh thần đoàn kết dân tộc và bàn tay không dính máu dân VN. Đó là ngày ông Ngô Đình Diệm cho tổ chức thành lập liên minh các đảng phái và mục đích đầu tiên là tuyên bố hạ bệ Bảo Đại, bằng hành động tượng trưng là gỡ hình Bảo Đại và ném xuống đường vỡ tan. Sau đó là cuộc bầu cử đưa ông Diệm lên làm Tổng Thống . Quan điểm của Mỹ là nếu không đủ chỗ cho cả hai, nếu cần phải chọn một trong hai thì chọn ông Ngô Đình Diệm !

Sau khi nhờ ông Dương Văn Minh vừa thu phục hay đánh tan các phe nhóm Cao Đài Hoà Hảo Bình Xuyên, uy tín ông Diệm lên cao, không thể nào không nắm lấy cơ hội tóm thâu quyền lực. Đây cũng có thể coi là ngày chấm dứt hoàng triều nhà Nguyễn chứ không phải 1945 khi thoái vị hay 1991 khi ông Bảo Đại chết!

Ba mươi tháng tư 1975 là một biến cố không thể nào quên, bởi vì chiến tranh kết thúc, nhưng lại mở ra một trang sử đầy nước mắt với hai triệu dân di tản và ít nhất 300 ngàn người chết chìm giữa biển khơi, bi thảm hơn cả khi còn chiến tranh. VN là đất nước sáng tạo không mong muốn ra từ “thuyền nhân”. Từ này sẽ là đặc thù của di dân VN trong lịch sử nhân loại tránh hoạ CS… Dù biết bất cứ một điều gì cũng có điểm bắt đầu và kết thúc, nhưng quả tình vết thương cuộc chiến VN chưa có được kết thúc, bởi sự tiếp tục sai lầm của CSVN !

Năm tháng có đi qua, nỗi buồn đọng lại! Sự tồn đọng nỗi buồn đau trong tâm tư thành khối u tình, chỉ bộc lộ trong giấc mơ, trong phút cô đơn lặng ngắm cảnh chiều tà, khi chợt thấy ai đó có dáng dấp quen thuộc của người đã mất… Không ai đọc được tư tưởng của ai và nỗi niềm trắc ẩn trong lòng đâu có thể phô bày xanh vàng tím đỏ cho ai thấy, nhưng sự gậm nhấm của nỗi buồn làm ngày tháng cuộc đời nham nhở loang lổ méo mó như có dị tật.

Chia lìa, xa cách nhau nửa vòng trái đất, hoài niệm dữ dội vì chứng kiến cái chết thảm khốc của người thân, hoà với nhận thức cần chấm dứt chiến tranh vì cùng là người VN làm nên 33 lần nghĩ về thắng thua đầy ray rứt và quá nhiều lo lắng cho tương lai con cái trong một đất nước còn chông chênh như con thuyền trong cơn bão tham vọng tiền – quyền ! Chừng nào luật pháp còn nằm trong tay một số nhỏ người thì tai hoạ còn bất kỳ .

Khi tầm văn hoá của xã hội –trong đó có cả những người cầm quyền- nâng cao hơn, biết kính trọng nỗi đau và hiểu ra điều cực kỳ quý giá của sinh mệnh, mới khắc hoạ được ý nghĩa đúng của ngày 30.4 ! Lịch sử sẽ dành ngày 30.4 1975 hàng năm làm ngày tưởng niệm vong linh 3,8 triệu người VN chết vì cuộc chiến lầm lạc không đáng có !

Cuộc chấm dứt chiến tranh 1975 là một kết thúc có chuẩn bị chu đáo cho một sự hoà hợp tốt đẹp, nhưng bản chất của những con người tin tuyệt đối vào bạo lực và không đủ trình độ văn minh tinh thần để biết tự chế, biết hậu quả và biết sợ lịch sử phán xét, sẵn sàng làm trái đạo lý để giành giật quyền lợi nhiều hơn lời đã hứa, bất cứ lúc nào khi có thể !

Những người CS bị tuyên truyền rằng do VNCH từng không tổ chức tổng tuyển cử theo hiệp định Genève, nên càng dễ tán thành chuyện chối bỏ hiệp định Paris 1975.

Cần phải biết đến lịch sử đúng để khỏi ngộ nhận: Ngày 21.7.1954, sau chín năm chiến tranh Pháp-Cộng sản Mao Hà Nội, với 400.000 người chết, các bên thoả thuận ngồi lại với nhau để thương thuyết trong ba tháng, cuối cùng đều chấp nhận giải pháp do “quốc tế” đưa ra tại bà nthương thuyết là: một quốc gia chia đôi.

Trưởng phái đoàn quốc gia Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ đã khóc chống đối việc chia xẻ đất nước, tiên lượng chính xác đó là khởi đầu một cuộc nội chiến. Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ ra một bản tuyên ngôn phản đối Pháp và Việt Minh đã ký kết với nhau. VN và Mỹ không ký. Ông Phạm Văn Đồng cười mỉa mai ông Trần Văn Đỗ là nên dành lo cho ngày tổng tuyển cử thống nhất hai miền !

Phía quốc gia đâu có chịu sự ràng buộc nào với hiệp ước Genève mình không từng ký và còn đã chống lại sự chia cắt từ đầu ! Việc chia cắt là do thoả thuận của TQ và Pháp, nhưng sau đó được đổ lỗi cho VNCH. Làm gì có chuyện theo CS Mao Trạch Đông ! Ông Phạm Văn Đồng và rất nhiều người không biết. Chỉ có ông Nguyễn Tất Thành biết, cho nên nhiều người Việt Minh ngạc nhiên sao lại đi tập kết và mang theo trẻ con, lỡ khi hai năm sau là có tuyển cử ! Hiệp định Genève giải quyết sự hiện diện của Pháp ở miền Bắc, còn chuyện Cộng Sản hoá VN còn dài đến đời sau khi trẻ con tập kết lớn lên cầm súng thay cha anh !

Về tâm lý phụ nữ hay khóc do cảm xúc mình bị mất mát gì đó, nhưng đàn ông khóc thường do cảm giác bất lực, phải đối mặt với bất bình tột độ, đau buồn lớn lao nhiều khi không phải vì mình. Nước mắt của nhà chánh trị yêu nước này lớn bằng sinh mạng 3,8 triệu người VN !

Người VN chúng ta biết về Điện Biên Phủ qua cảnh hò kéo pháo lên núi, qua hình ảnh các chiếc xe đạp thồ có thể tải 300 ký gạo. Không ai tự hỏi: súng đó ở đâu?

Theo Ông Foster Dulles bộ trưởng ngoại giao Mỹ, ông Dulles muốn Mỹ ủng hộ Pháp để chống lại CS vì chiến trường cho thấy có gần đủ yếu tố để kết luận Trung Cộng “tham gia trực tiếp” cuộc chiến Điện Biên Phủ. Bên cạnh Tướng Võ Nguyên Giáp là đại tướng Ly Chen Hoa với hai chục cố vấn chuyên môn, nhân viên truyền tin Trung Cộng thiết lập và điều hành hệ thống điện thoại của Việt Minh, súng cao xạ 37 ly có gắn ra-đa do Trung Cộng điều khiển, 1000 cam nhông của Việt Minh do tài xế Trung Cộng lái VN đi kèm. Đây mới chính là yếu tố bất ngờ của Pháp…

Nhưng tham vọng quyền lợi kinh tế của Pháp khiến giải pháp cứu nước Pháp chỉ là giải pháp tình thế không có lợi cho tuyên truyền nền dân chủ tự do không Cộng sản cho nên Mỹ đã không cứu Pháp…Nước Pháp hận Mỹ ngút trời và Pháp luôn muốn thấy Mỹ thất bại ở VN để trãi nghiệm nỗi cay đắng như Pháp đã trải qua, trong chiến tranh Điện Biên Phủ .

Pháp trợ giúp MTGPMN chống Mỹ thay Pháp và hy vọng sau hiệp định Paris có thể điều khiển được MTGPMN qua tuyên bố của Bà Nguyễn Châu Sa (tức là bà Nguyễn Thị Bình) ! Pháp hết lòng ca ngợi Bà Bình nhưng cuối cùng cũng bị hất cẳng !

Ngày nay khi có được thông tin quân sự Trung Quốc và cựu chiến binh Liên Xô trong cuộc chiến trên không với máy bay B 52 Mỹ đòi quyền lợi, danh dự, mới lòi ra sự thật ! Tôi vẫn hay tìm lại dấu xưa của lịch sử một cách khó khăn vì bị chôn vùi dưới lớp màn sắt che giấu .

Hôm nay lớp học vắng người!

Như một lẽ tự nhiên ai cũng nghĩ không nên có nội chiến nhưng hoà bình đâu có, đất nước làm gì có thể phát triển khi theo chủ thuyết sai lầm độc tài toàn trị Cộng Sản !

Khi đọc lịch sử Mỹ và cuộc nội chiến giải phóng nô lệ mới vô cùng thán phục tổng thống Abraham Lincoln (1809-1865) không lùi bước để chân lý được này sinh của chống lại sự mở rộng chế độ nô lệ ở Mỹ. Ông bị ám sát. Khi ký tuyên cáo giải phóng nô lệ Tổng thống Hoa Kỳ Abraham Lincoln nói: “Chưa từng có lúc nào trong đời mà tôi chắc chắn đã làm điều đúng bằng lúc ký tuyên cáo này.” (“I never, in my life, felt more certain that I was doing right, than I do in signing this paper.”)

Bạo lực, ám sát, nội chiến để cái tốt chân lý được nảy sinh trăm năm trước ở Mỹ thành công hơn VNCH chỉ nghĩ đến tình đồng bào dân tộc không chịu xả thân mà chờ đơi thương lượng.

Ngày nay VN có thể áp dụng biện pháp chuyển biến hoà bình thay vì chiến tranh hay không ? Dân VN chừng nào mới thoát khỏi hoạ diệt thân tan rã nhân cách vì nền giáo dục và kiểu xây dựng luật pháp, kiểu sử dụng người, hư hoại của CSVN ? Ước gì đọc được tư tưởng các ông xem các ông lấy điều gì làm danh dự ? Lấy các ngôi nhà tư bản nước ngoài cất 100% vốn, lấy chuyện vay vốn xây nhà hội nghị, chuyện ở máy lạnh đi xe hơi… chăng ?

Đâu là sự thật ?

Sự thật như con mèo của Schrödinger luôn bị che giấu khuất tầm nhìn, con người luôn có sự thiếu hoàn hảo của những cách hiểu các vấn đề.

Ông Nguyễn Tấn Dũng từng trả lời báo chí phỏng vấn là ông thích sự thật. Ngày càng thấy, không thể chờ đợi gì ở câu nói này vì “sự thật” của ông lại là sự chủ quan sai lầm do bị che giấu do chính ông không thật sự kiếm tìm. Do đó sự thật của ông Nguyễn Tấn Dũng chỉ làm nản lòng. Càng hơi lạnh gáy khi đọc phân tích tâm lý của Hà Tông Tư viết trong bộ sách “Thế kỷ công dân” của nhà xuất bản CAND của nước CHXHCNVN. Nhà nghiên cứu này viết, người xấu tự hạn chế vén khéo trong quyền lợi cá nhân còn một người có quyền lớn khi tự tin mình đúng tốt do không tham nhũng mà không tự thấy được sự thấp kém sai lầm thì …việc gì mà không dám làm ! Giống tâm lý các giáo sĩ Hồi giáo khủng bố tin là hy sinh vì Thánh Alah là tốt là đúng thì giết người bỗng thành là nhiệm vụ vinh quang. Hay khi tin bảo vệ danh dự gia đình là đúng có thể giết đứa con gái nếu yêu người không phải do gia đình chọn lựa. Giống kiều Tố Hữu thấy cần tiền thì bày chuyện đổi tiền, nay học theo cứ tự do in tiền lấy hết tiền dân hay chừa lại vửa đủ để sống ngắc ngoải! Rồi đồng tiền trượt giá, lại lo cứu lên, như một vòng lẩn quẩn do chính phủ xoay vần dân chúng !

Ba mươi tháng tư 2008 nghĩ về ba trăm năm Hoa Kỳ và bốn ngàn năm Việt Nam !
Việt Nam sắp sửa kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội. Người VN vẫn được dạy biết hãnh diện vì có “bốn ngàn năm văn hiến”. Nhưng khi sử dụng óc phản biện tất phải tự hỏi: “Ủa ? Vì sao chỉ cần ba trăm năm mà nước Mỹ thành nước hàng đầu thế giới về mọi mặt ?” Khi tìm hiểu lịch sử nước Mỹ bị VN coi như non trẻ không có bề dày văn hoá thì phát hiện rằng, VN cần phải biết đau lòng. Còn nếu nói chính xác là nên biết xấu hổ trước kết quả người VN bốn ngàn năm chưa xây dựng nổi đất nước !

Ngày nay thử làm so sánh Mỹ và lân bang Mexico có cùng biên giới vẫn chìm đắm trong nghèo khó, Châu Âu sa sút, khối CS tan tác. Quốc gia Hawaii của thổ dân da màu, sau khi thành một bang của nước Mỹ đã thành nơi có GDP cao hơn cả Đài Loan hay Singapore !

Còn có thể kết luận nào khác hơn là lòng yêu nước phải dẫn đến khao khát thiết kế đất nước thành vùng đất lành giàu mạnh con người hạnh phúc, giáo dục xã hội giải phóng con người khỏi bị áp lực của lề thói xấu. Muốn vậy phải có triết lý cầm quyền hay lý tưởng quốc gia có tầm cao tư duy, có tổ chức giáo dục-chánh trị-kinh tế tiên tiến. Mỗi con người làm chủ đời mình, dẹp bỏ tham vọng làm lãnh tụ làm chủ thiên hạ của các nhà chánh trị. Thu hẹp nền chánh trị đại diện, tiến đến ngày càng nhiều người có khả năng trực tiếp tham gia các vấn đề địa phương, quốc gia, quốc tế, hình thành một xã hội dân sự thân thiện với những người mình tin cậy nghe theo.

Ba mươi tháng tư 2008 còn dính liền với cuộc rước đuốc Olympic đầy băn khoăn

Chủ nghĩa dân tộc từng là một sợi chỉ đỏ xuyên suốt tâm hồn một dân tộc. Cần phân biệt ở nước bị xâm chiếm như VN chủ nghĩa dân tộc bảo vệ quyền lợi đất nước, chỉ chống lại chủ nghĩa đô hộ xâm lược, thôn tính là hoàn toàn đúng. Nhưng chủ nghĩa dân tộc cực đoan của nước mạnh, thúc đẩy việc xâm chiếm, đô hộ gây hoạ cho nước khác .

Chủ nghĩa dân tộc cực đoan của nước mạnh, thể hiện trong óc chiếm đoạt đất đai thôn tính đô hộ, đến phân biệt chủng tộc, tôn giáo, chánh trị.

Chủ nghĩa nhân loại mới là chân lý. Nhận thức nhân loại về vấn đề này là không rõ rệt cho đến khi Nước Mỹ có cuộc nội chiến để giải phóng …nô lệ da đen.

Chủ nghĩa nhân loại không có điểm bất đồng nào với chủ nghĩa dân tộc mà còn có hiệu quả hạn chế tinh thần dân tộc cực đoan.

Người mang Nhân sinh quan Công dân thế giới và Tinh thần nhân loại phủ nhận “tinh thần dân tộc cực đoan” và “bạo lực giết người” tật nhiên là phủ nhận tất cả chánh phủ độc tài phủ nhận đặc quyền phe nhóm chánh trị ở chế độ Phát xít, Cộng Sản và khủng bố Hồi giáo.

Chuẩn mực quốc gia phải nhanh chóng làm phẳng so với chuẩn mực quốc tế để người Việt Nam hưởng được nền văn minh ở tầm cao.

Tôi thật sự có cảm tình với khẩu hiệu Bắc Kinh chọn lựa cho Thế vận hội Bắc Kinh 2008 “Một thế giới, một ước mơ ”, vì đó là tư duy tiến bộ đương đại. Thật dễ chịu khi có lân bang hữu nghị hoà bình. Một thế giới với cùng một nền văn minh theo tiêu chí thống nhất của LHQ, một ước mơ hoà bình vĩnh cửu với đất nước đường biên giới được xác định vĩnh viễn. Muốn vậy quốc tế phải có cùng quan niệm thống nhất về vũ khí hạt nhân, bảo vệ môi trường và triệt tiêu tội phạm quốc tế như nguồn sản xuất ma túy, rửa tiền, tiền giả nằm trong quy mô và tầm kế hoạch các một quốc gia như các nước Trung Đông, Bắc Hàn và Trung Quốc…

Trung Quốc mang một quá khứ có xâm lấn đất đai và hầu hết các nước có chung đường biên giới với Trung Quốc khiến Trung Quốc không dễ có bạn. VN dù có giữ hoà khí song chưa bao giờ có thể là đồng minh với Trung Quốc.

So với khẩu hiệu chưa thấy làm gì cả, thậm chí đang làm ngược lại khẩu hiệu này.

Đó là lý do Trung Quốc bị nhiều nước tẩy chay và phản đối, kể cả từng người dân VN dù có bị ngăn cản biểu tình. Cho đến nay thì cuộc rước đuốc chẳng những không quảng bá cho uy tín Trung Quốc, trái lại còn làm cho nhiều người biết rõ thêm nhớ kỷ lại các vấn đề Trung Quốc từng gây ra, thành ra Trung Quốc thất bại về chánh nghĩa quốc gia ngay khi thế vận hội vẫn chưa bắt đầu !

Trần Thị Hồng Sương – VN
29.4.2008

Older Posts »

Blog at WordPress.com.