Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

July 27, 2008

Bích Liên: Vài suy nghĩ về luật trưng mua, trưng dụng tài sản

Bích Liên

Ngày 3/6/2008, Quốc hội thông qua nhanh chóng Luật trưng mua, trưng dụng tài sản. Nhưng báo chí trong nước đều im hơi lặng tiếng về sự kiện này cho đến lúc có công bố của Chủ tịch nước vào ngày 23/6/2008. Báo giới chính thống cũng chỉ giới thiệu vài dòng, không một bình luận nào. Và nếu có, thì chỉ «khen» «luật này ra đời rất đúng lúc». Thế nhưng, trái ngược với không khí «thanh bình» mà báo chí trong nước cố tạo ra, mối nguy về sự bất an dâng lên trong lòng dân lại luôn thường trực.

Ưu tư của một sinh viên ngành luật

Luật đòi hỏi ở người dân sự hi sinh quá lớn về quyền lợi kinh tế

Hi sinh quyền lợi kinh tế thể hiện không những ở loại tài sản có thể bị trưng dụng, trưng mua, mà còn cả mức giá trưng mua hoặc mức bồi thường.

Tài sản thuộc phạm vi trưng mua, trưng dụng là rộng, bao gồm : đất, nhà, các tài sản gắn với đất ; thuốc chữa bệnh, lương thực, thực phẩm, công cụ, dụng cụ và vật tư, vật dụng thiết yếu khác ; phương tiện giao thông vận tải, thông tin liên lạc và phương tiện kỹ thuật khác. (điều 13+23)

Cá nhân, tổ chức có tài sản là đối tượng trưng mua, trưng dụng hoàn toàn bị cưỡng chế, thậm chí chỉ bằng lời nói (trường hợp trưng dụng), không có pháp lí nhưng hiệu lực trưng dụng lại ngay lập tức.

Đối với giá tài sản trưng mua và mức bồi thường trưng dụng, khi không tìm được sự đồng thuận với cá nhân, tổ chức có tài sản, người có thẩm quyền «có thể thành lập hội đồng xác định giá trưng mua tài sản» (khoản 1c) điều 18 ) và «mức bồi thường» (với tài sản trưng dụng, khoản 2 điều 34). Có ai dám chắc trong một nước tham nhũng từ lâu trở thành quốc nạn như VN, hội đồng ấy sẽ đưa ra mức giá[1] chính xác, hoàn toàn dựa trên những thông số kĩ thuật, khách quan ? Và nếu thật sự có một hội đồng công minh ở VN, thì cũng không có nghĩa là người dân có được sự đảm bảo nào đó. Ngay điều 18 và 34 cho thấy người có thẩm quyền chưa chắc theo mức giá mà hội đồng đưa ra vì « quyền quyết định giá » của người có thẩm quyền tồn tại độc lập với việc thành lập hội đồng này ; hơn nữa, «thành lập» hay không hội đồng này thuộc quyền hạn của người có thẩm quyền trưng mua hay trưng dụng.

Như thế, quyền sở hữu- được Hiến pháp bảo đảm (điều 58 HP 1992) và quyền sử dụng tài sản của «tổ chức (ngoài nhà nước), cá nhân, hộ gia đình» có thể bị đưa ra hi sinh chỉ với mức giá rất thấp !

Sự hi sinh lại được bảo đảm bởi công lý…nửa vời

Trong tình trạng chiến tranh, đe dọa nguy hại đến an ninh, sự tồn tại của quốc gia, Nhà nước có quyền thâu tóm tất cả quyền lực (hay là quyền lực tuyệt đối –cho phép dùng vũ lực để cưỡng chế). Nhưng bù lại, cần phải có sự kiểm soát của tòa án để quyền lực ấy không bị lạm dụng.

Luật thông qua ngày 3/6 vừa qua đã trao một quyền lực tuyệt đối cho vài cơ quan Nhà nước khi thực hiện các biện pháp trưng mua, trưng dụng tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc sử dụng của người dân. Thế nhưng, thiếu độc lập với các cơ quan quyết định và thi hành quyết định trưng mua, trưng dụng, tòa án VN không thể nào có được «quyền kiểm soát» quyền lực ấy và như vậy, việc lạm dụng quyền lực là không thể tránh khỏi.

Sự công nhận quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện của người có tài sản tại điều 10 khoản 1c cũng vì thế không có giá trị gì trên thực tế. Thiếu đi tính độc lập, cơ quan tư pháp – đáng lý là quyền lực đối trọng với các quyền lực chính trị khác- rất khó đứng về phía người dân để bảo vệ quyền và tự do của họ, nhất lại trong mối quan hệ giữa công dân với Nhà nước. Tôn chỉ xử án quan trọng nhất của Toà án VN là bảo vệ ổn định xã hội. Sự tương thích giữa tính chất của các hoàn cảnh cho phép áp dụng luật này (xem điều 5- điều kiện trưng mua, trưng dụng) và biện pháp cần thiết để «ổn định xã hội» tạo điều kiện cho tòa án « giúp » cơ quan hành chính chà đạp lên quyền khiếu nại, tố cáo…

Công nhận trên văn bản một quyền mà không đảm bảo sự thực thi trên thực tế, việc đòi công lý là xa vời.

Công lý cũng không thể được thực thi khi một cơ quan vừa là bị cáo vừa là quan tòa. Theo luật này, Bộ tài chính vừa là cơ quan có thẩm quyền quyết định trưng mua (điều 14 khoản 2), trưng dụng (điều 24 khoản 1), lại vừa là cơ quan có «trách nhiệm… thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về trưng mua, trưng dụng tài sản», vừa đảm nhận «giải quyết khiếu nại, tố cáo» (điều 9, khoản 2d và 2đ). Có chăng công lý chỉ đến từ một Bộ tài chính liêm khiết, chính trực. Nhưng trong cơ chế hành chính ở VN hiện nay còn khó tìm thấy một viên chức liêm khiết, dám chống lại cả hệ thống bằng cách thiết lập công lý cho người bị oan, chứ đừng nói gì cả một nhóm người trong Bộ tài chính ?! Chỉ là công lý…nửa vời !

Thậm chí, giả sử tòa án là độc lập, thì với khoản 1c) của điều 10, khi được quyền «Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về trưng mua, trưng dụng tài sản theo quy định của pháp luật », người dân không biết phải tìm «quy định của pháp luật» này ở đâu để áp dụng cho đúng. Những quy định giải quyết xích mích liên quan đến quyết định và thi hành quyết định trưng mua, trưng dụng tài sản có thể nằm ở « luật đất đai », «luật đê điều», «luật bất động sản», «luật môi trường», «luật xây dựng», «luật khiếu nại, tố cáo»… Sự chồng chéo quy định như thế, có khác gì muốn làm nản lòng người khởi kiện.

Người dân đã có thể chờ đợi một cách chính đáng khả năng truy tố trách nhiệm cá nhân của người có thẩm quyền khi thực hiện sai việc trưng dụng, trưng mua như điều 48 trong dự án luật[2]. Nhưng luật thông qua ngày 3/6 không giữ lại điều luật này. Như thế có nghĩa là việc truy tố trách nhiệm chỉ còn giải quyết ở mặt hành chính. Vậy mà, theo hai điều 18 và 34, khi cá nhân, tổ chức có tài sản là đối tượng của luật không đồng ý với mức giá quyết định đơn phương bởi người có thẩm quyền thì họ chỉ có quyền khiếu nại[3]. Quyền tố cáo, quyền khởi kiện không áp dụng ở đây. Nhưng quyền khiếu nại chỉ cho phép người có tài sản bị trưng mua, trưng dụng «đề nghị» lên người có thẩm quyền [4] «xem xét lại» quyết định hoặc hành vi hành chính xâm phạm lợi ích của mình[5] . Nếu không có giải quyết thì sao ? Luật không đề cập đến.

Trong điều kiện đó, mất quyền tố cáo và quyền khởi kiện, lại thiếu khả năng truy tố trách nhiệm cá nhân, nguy cơ mất trắng tài sản (nếu mức giá ấn định là rất thấp) của người dân là rất cao. Mất trắng mà không biết kêu cứu ở đâu, đi đâu để tìm công lý !

Luật sẽ đặt đất nước vào tình trạng khó khăn bởi thất thoát vốn đầu tư và nguy cơ biểu tình cao

Nghiên cứu đồng thời điều 23 và điều 25 Hiến pháp 1992 cho thấy Hiến pháp chỉ đề cập đến vấn đề trưng mua, trưng dụng tài sản của tổ chức, cá nhân trong nước (khi thật cần thiết), mà không đề cập gì đến vấn đề này đối với người nước ngoài (ngay cả khi thật cần thiết). Hơn nữa, điều 25 «Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không bị quốc hữu hoá» có nghĩa là tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp không thể chuyển thành tài sản thuộc sở hữu của nhà nước, dù với bồi thường (trưng mua) hoặc không (tịch thu). Vậy ít nhất đối với vấn đề trưng mua tài sản, có thể hiểu rằng Hiến pháp cấm áp dụng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Cũng chính vì thế mà luật đầu tư năm 1996 (sau này bị sửa đổi bởi luật đầu tư 2005 theo hướng của luật 2008 này) quy định «Trong quá trình đầu tư vào Việt Nam, vốn và tài sản hợp pháp khác của nhà đầu tư nước ngoài không bị trưng dụng hoặc tịch thu bằng biện pháp hành chính, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không bị quốc hữu hoá»

Khi mở rộng « nạn nhân » của các biện pháp trưng mua, trưng dụng tới người nước ngoài, trong đó có Việt kiều- đối tượng mà mấy năm gần đây cung cấp khoản đầu tư lớn vào nền kinh tế VN, nền kinh tế VN có thể sẽ chịu khoản thất thoát lớn về nguồn vốn bởi sự ra đi của các nhà đầu tư này. Như thế sẽ chỉ làm nặng thêm khoản vay nước ngoài hiện nay vốn đã không có khả năng chi trả.

Tại sao lại lựa chọn một cách làm tự giết chết nền kinh tế của đất nước như thế ? Phải chăng chỉ là vì quyền lợi của bộ máy lãnh đạo khi cảm giác không đủ khả năng tháo gỡ nền kinh tế, tài chính của đất nước thoát khỏi khủng hoảng ?!

Khủng hoảng trong lòng dân cũng không thể tránh khỏi. Tài sản mà bộ luật đề cập đến bao gồm đất đai. Trước tình hình bất lực của chính quyền trong việc giải quyết các khiếu nại, tố cáo từ những cuộc thu hồi đất trong và sau hai cuộc chiến, phải chăng sự ban hành luật này nhằm mục đích hợp pháp hóa vấn đề cưỡng chế thu hồi đất ?! Luật ra đời có lẽ không phải để giải quyết các vấn đề khiếu kiện (đáp ứng lòng dân), mà trái lại cung cấp cho chính quyền một công cụ pháp lý để dễ dàng hơn trong việc thu hồi đất. Nhưng những cuộc biểu tình của bà con các tỉnh trước văn phòng QH ở HN và SG từ năm vừa qua đã cho thấy nỗi uất ức của người dân đang chuyển thành hành động. Khi luật này bắt đầu áp dụng, nạn nhân sẽ nhân lên, nguy cơ biểu tình cũng vì thế có thể lan rộng.

Lời kết : làm sao để tự bảo vệ tài sản của mình ?

Làm thế nào trước khi luật này có hiệu lực (1/9/2009 ) bảo vệ ít nhiều tài sản của mình ? Chẳng nhẽ tìm cách chuyển tài sản của mình thành những tài sản «không thuộc đối tượng trưng mua, trưng dụng» ?! Tức là bán tất cả rồi chuyển vào ngân hàng nước ngoài ?! Thế thì sẽ ở đâu, làm ăn ra sao ?! Ôi, không lẽ trong thời bình, người dân lại phải nghĩ đến chuyện di tản ?!

Bích Liên
© Tạp chí Phía Trước

[1] «Giá» ở đây, xin hiểu là giá trưng mua tài sản và mức bồi thường trưng dụng.
[2] mời xem tại http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2008/02/05/56472/
[3] «nếu người có tài sản… không đồng ý với giá này thì vẫn phải chấp hành nhưng có quyền khiếu nại.»
[4] «người có thẩm quyền» bao gồm người chịu trách nhiệm trực tiếp với quyết định, hành vi hành chính nào đó và cả người cấp trên của người đó.
[5] xem định nghĩa «khiếu nại» tại trang Hướng dẫn nghiệp vụ-BTP http://nghiepvu.moj.gov.vn/xembai.aspx?nv=295

Nguồn:
http://blog.360.yahoo.com/blog-V3M_NEolerbUJtSbv.5KMo8GAUmgg7A-?cq=1

June 5, 2008

Nông thôn Việt nam: Từ thở dài đến tiếng thét !

Nông thôn Việt nam, nông dân Việt nam đang kêu cứu.

 

Sản xuất nông nghiệp phát triển, sản lượng lúa, hoa màu tăng khá, hàng năm xuất khẩu 5 triệu tấn gạo, thu về hàng tỷ đôla, thủy sản, càphê, hạt điều đều tăng khá mạnh, thế nhưng nông dân vẫn kêu khổ, khổ lắm.

Hằng ngày, hàng vạn, hằng vạn nông dân đổ vào thành thị kiếm việc, từ làm thuê gánh mướn, đi ở, làm ôxin, hoặc rủ nhau lên biên giới làm cửu vạn, gùi hàng cho bọn buôn lậu, cho bọn cường hào địa phương. Hàng vạn, hàng vạn con gái nông thôn vùng sông Cửu long thất học nhà nghèo là nạn nhân của bọn buôn người, bị đưa sang Cambốt, Mãlai, Trung hoa, Đài loan, Nam Hàn làm người ở, làm nhân công rẻ mạt, làm gái điếm, vợ hờ, nạn nhân của vô vàn công ty tuyển mộ lao động được các quan chức quyền cao chức trọng bảo kê để chia lãi trên muôn vàn thống khổ, máu và nước mắt của bà con nông dân. 

*  Thở dài và hú hồn…

Bi kịch của nông dân thời đổi mới kể ra không xiết. Các bạn hãy đọc báo trong nước, có thể nghe vọng đến từ hang cùng ngỏ hẻm nông thôn những tiếng khóc nức nở, những tiếng thở dài não nề của bà con nông dân ta. Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều gắn bó với vùng Mỹ Đức sông Đáy mới được nhập vào thủ đô Hànội viết trên báo Tuổi trẻ báo động khẩn cấp về chất lượng sống của nông thôn, nơi xuất hiện một số làng ung thư, nhiều vùng phải dùng ”nguồn nước của Thần Chết”, nhiều nơi kiếm không ra một kỹ sư nông nghiệp, buộc già trẻ lớn bé nô nức bỏ quê đi tha hương kiếm sống lay lắt.

Nhà báo Lãng Quân trên Viêttimes đau lòng tả cảnh nông thôn trở thành ”thùng rác khổng lồ” cho các đô thị, vùng công nghiệp mới, nơi người lớn đến trẻ thơ vô tư tiêu thụ những thực phẩm, bánh kẹo, mứt rượu, que kem cực kỳ độc hại vì pha hóa chất rẻ hơn bèo để chuốc lấy cái chết tập thể, từ từ, chắc chắn, sau khi làm giàu cho bọn con buôn mất hết tính người từ thành thị và từ nước bạn vĩ đại đổ hàng về như nước lũ. Nhà báo Xuân Nam sâu sắc hơn thốt lên lời than về nền văn hóa làng xưa kia đậm đà thơm tho là thế, với hoa bưởi, vườn dâu, giếng nước, sân đình, tình làng nghĩa xóm, tối lửa tắt đèn có nhau, nay tan biến, nhường chỗ cho xì ke, đĩ điếm, xiđa, bia ôm, nhà chứa từ phố phường tràn về cùng xe gắn máy, quạt điện, tivi, nhà gạch tường cao có gắn mảnh chai…Bài báo kết luận bằng tiếng hú van gọi ”hồn vía quê hương xưa hãy trở về với làng quê thanh bình”, cứu vớt gấp bà con nông dân chìm đắm trong cảnh đổi mới oái oăm mù quáng đang tàn phá nông thôn đến tận gốc gác văn hóa sâu thẳm nhất.

 

 

 

Giáo sư Tương Lai trưởng thành từ đất kinh kỳ Huế Đẹp và Thơ cũng góp tiếng thở dài về hiện tình Nông nghiệp, Nông thôn và Nông dân; ông kéo chuông cảnh báo về nạn thất nghiệp giáng xuống hơn 10 triệu lao đông nông thôn chưa có lối thoát, về thảm trạng lao đông nông nghiệp sang thế kỷ 21 cơ bản vẫn là con trâu kéo cầy, người nông dân vẫn chân lấm tay bùn, mỗi năm nông thôn bị thiến hơn 70 ngàn héc-ta màu mỡ cho các khu công nghiệp và cả hàng chục bãi chơi gôn cho các nhà giàu và quan chức chơi sang, nông dân còn phải è cổ ra đóng góp từ 28 đến 30 khoản thuế, phụ phí, quyên góp… về an ninh, quốc phòng, giao thông, trường học, y tế, thủy lợi, bảo vệ thực vật, đê điều, môi trường, vệ sinh, tương trợ, khuyến học, văn hóa, kỷ niệm, cúng lễ . 

 

* Đền ơn trả nghĩa, bỏ rơi hay bạc đãi?

 

Đảng cộng sản luôn đề cao mối quan hệ ”máu thịt” giữa đảng với nông dân, nhấn mạnh mối ”liên minh công nông”, còn hứa hẹn xây dựng nông nghiệp hiện đại, nông thôn thịnh vượng. Vậy vì sao có những tiếng thở dài bi đát, tiếng hú gọi hồn vía nông thôn xưa hãy trở về, lời trách móc nặng nề trên đây? Đảng từng đề cao nông thôn là hậu phương vững chắc của chiến tranh, ca ngợi nông dân đóng góp biết bao người và của cho cuộc chiến, từng hứa hẹn đền đáp xứng đáng với những đóng góp ấy. Vậy mà sao đảng CS lại để nông thôn tàn lụi, nông dân đói khổ, nông nghiệp điêu tàn như hiện nay.

Mấy chục năm nay, kể từ khi đổi mới năm 1986, đảng từng ra nghị quyết về văn hóa, về đội ngũ trí thức, về giai cấp công nhân, về kinh tế biển, nhưng chưa một lần bàn bạc cho kỹ về Nông nghiệp, Nông thôn, Nông dân. Rõ ràng Nông dân đã và đang bị bỏ rơi, còn bị bạc đãi, người dân ở làng quê ngày càng đói khổ, còn bị cường hào mới bóc lột thậm tệ, nông thôn bị thành thị bỏ xa về mọi mặt, tỷ lệ đói khổ ở nông thôn tăng nhanh, tệ nạn xã hội và rác rưởi công nghiệp đang làm ruỗng nát cuộc sống ngột ngạt ở nông thôn đang ở trong vòng tử địa. Nghịch cảnh nhà thơ Bùi Minh Quốc mô tả bà mẹ từng đào hầm nuôi dưỡng và che chở cán bộ nay đội đơn khiếu kiện hàng trăm lần vẫn bị đứa con xưa làm ngơ, hình ảnh trớ trêu ấy đang lắp đi lắp lại ngàn vạn lần, tiêu biểu cho chính sách bất nhân thất đức của đảng cộng sản vô ơn bạc nghĩa đối với vô vàn ân nhân của chính mình. Giữa Quốc hội đang họp, đã có ai là đại biểu nông dân ? nói lên tiếng nói của 75% số dân, nguyện vọng, cảnh lầm than và vô vàn bức xúc của họ ? không, không có ai cả. Nông dân là công dân loại 2, không có đại diện, không có tiếng nói, hàng vạn ”dân oan ” đến kêu cứu trước Quốc hội đã bị công an [ là bạn dân (!) ] xua đuổi xuống tận Cầu Giấy rồi! 

 

* Việc chuẩn bị sửa đổi luật đất đai năm 2008Ban bí thư và bộ chính trị trung ương đảng CS đang chuẩn bị sửa đổi Luật Đất Đai vào năm nay. Hai cuộc họp vừa được tiến hành ở Hànội và Sàigòn, do Bộ Tài nguyên và môi trường và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì. Các nhà luật học và các chuyên gia nông nghiệp đều biết ở Việt nam, suốt mấy chục năm nay, không có gì phức tạp, rối rắm, kỳ quặc đến phi lý như những bộ Luật về Đất Đai (LĐĐ). Nào là LĐĐ 1987, LĐĐ 1993, rồi LĐĐ 1998, rồi lại LĐĐ 2003. Bên cạnh 4 bộ luật vốn đã rắc rối lại thêm không biết bao nhiêu Nghị định bổ sung, sửa chữa từ Nghị định 64/CP tháng 9-1993, NĐ 88/CP tháng 8-1994, NĐ 11/CP tháng 1-1995, NĐ 09/CP tháng 2-1996 cho đến những NĐ 69/CP tháng 11-2000, NĐ 68/CP tháng 10-2001 … Sinh viên trường luật nghiên cứu luật ĐĐ cứ như chui vào đường hầm bát quái mịt mùng, sinh viên nước ngoài càng chịu chết cứng vì nó không giống với luật ĐĐ bất cứ nước nào khác. Năm nay bộ phận trù bị lại đề nghị sửa 8 nội dung luật ĐĐ về : quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất; giao đất, cho thuê, chuyển mục đích sử dụng đất; giá đất; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền đất; thời hạn sử dụng đất; cổ phần hóa lên sàn giao dịch chứng khoán; thủ tục hành chính quản lý sử dụng đất; quản lý, phát triển thị trường bất động sản.

 

 

 

Từ trong nước, nhiều ý kiến vang lên nhân dịp này, mạnh dạn yêu cầu : thôi, không cải lương nữa, không sửa chữa bổ sung gì nữa, bỏ hẳn Luật ĐĐ phi lý đi vì nó hỏng từ gốc. Cả 4 bộ luật ĐĐ 1987, 1993, 1998, 2003 đều hỏng, đều sai từ gốc. Nỗi khổ nhục của nông dân, sự tàn phá vật chất và tinh thần ở nông thôn, sự lạc hậu liên miên của nông nghiệp suốt mấy chục năm nay đều bắt nguồn từ những bộ Luật phi lý ấy.

Nó bắt nguồn từ năm 1987 đảng CS ngang nhiên tuyên bố xóa bỏ quyền sở hữu ruộng đất của nông dân, quyền sở hữu được thiết lập từ xa xưa, được luật pháp thời phong kiến và cả thời thực dân tiếp nối bảo hộ nghiêm chỉnh, được chính bản Hiến pháp năm 1946 long trọng công nhận và bảo vệ.

Từ xa xưa, thời cổ đại, ở Trung quốc, Nhật bản hay ở La mã, Hy lạp, các nhà làm luật đầu tiên đều cho rằng con người nguyên thủy đã khai phá thiên nhiên hoang dã, từ rừng rú đầy rắn rết, thuồng luồng cá sấu, trăn voi hùm beo hung dữ, chuyển dần nền kinh tế săn bắt thành nền kinh tế nông nghiệp, và công nhận quyền sở hữu ruộng đất chính đáng cho những người đã có công khai phá.

Cái mưu mẹo, cái mánh khóe, cái gian xảo của đảng CS là đã bịa ra ” quyền sở hữu của toàn dân ” nhằm tước đoạt quyền tư hữu chính đáng của nông dân, rồi họ đứng ra vỗ ngực tự xưng là đại diện cho toàn dân, nắm chính quyền của nhân dân, thế là ”a-lê hấp ” từ hai bàn tay trắng họ nắm trọn ruộng đất trong cả nước, không phải tốn đến một giọt mồ hôi.  

* Những em sinh viên ”hậu sinh khả úy”:

Tháng 7 năm 2007, khi hàng ngàn nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long kéo đến trước Văn phòng Quốc hội ở Sàigòn để khiếu kiện dài ngày, nhóm sinh viên Hà Đông Xuân-Trần Hiền Thảo gửi bài báo đăng trên mạng Đối Thoại có đầu đề: ”Về chính sách Đât đai của đảng CSVN”.

Bài báo có đoạn viết: ” Một vị thuộc thế hệ ông bà chúng tôi nói mỉa mai: đảng CS xuất xứ vô sản làm gì có đất đai phân phát cho dân khi nào mà nay mỗi khi lấy đất của dân lại dám dùng từ ”thu hồi”? luật Đất Đai mang tính phản động vì nó tước đoạt quyền tư hũu đất đai của người dân, do vậy nó chống lại giai cấp nông dân đông đảo”. Các em sinh viên trẻ có suy nghĩ rất hay :” Cuộc Đổi Mới 1986 không phải do đảng đề xướng mà đúng ra là đảng đành thoát hiểm bằng cách theo đuôi những sáng kiến ”xé rào” của dân; nội dung Đổi Mới chẳng phải cái gì khác, mà chính là Sửa Sai, nghĩa là từ bỏ những nguyên lý thép về Chủ nghĩa Xã hội do các bạo chúa Stalin và Mao dày công dạy dỗ. Trong đảng luôn có giằng co miễn cưỡng khi từng bước phải từ bỏ các nguyên lý giáo điều. Những gì thuộc CNXH bị đảng từ bỏ thì đã rõ; đó là mảng cực lớn, lớn như cả cái áo so với cái nút áo. Trước tình hình này, giới bảo thủ trong đảng teo tóp lại, nhưng quyền uy vẫn còn rất lớn nên càng đi vào con đường phản động, cố thủ trong 2 cái lô cốt cuối cùng là cái đuôi XHCN trong kinh tế thị trường và coi Đất đai là sở hữu toàn dân do đảng thống nhất quản lý. Tuy nhiên 2 cái lô cốt này đã rệu rã trước cơn phong ba dân chủ hóa và toàn cầu hóa ! ”. Những nhận định sâu sắc, xác đáng, rất thực tế, của các em sinh viên trẻ thông minh .

Còn đây nữa, bài viết của em sinh viên ngành luật Đỗ Thúy Hường có đầu đề ”Tôi tìm hiểu Luật Đất Đai ” đăng trên mạng Lên Đường của Tập họp Thanh niên Dân chủ, tôi muốn mời các nhà luật học, các vị đại biểu quốc hội, các quan chức bộ Nông nghiệp và Xây dựng nông thôn, bộ Tài nguyên và Môi trường đọc kỹ để biết hôm nay tuổi trẻ, hậu sinh nước ta khả úy – và khả ái – đến mức nào!

Cô sinh viên mở đầu bài đã tỏ rõ thái độ : ” Tôi xin chia sẻ những gì tự tìm hiểu về cái bộ luật mất lòng dân này ”. Một thái độ ngay thật thẳng thắn đáng quý. Điều rất lạ, lại rất vui là em Hường có ông nội từng tham gia soạn thảo bộ Luật ĐĐ 1993. Và có vẻ như ông nội nay cũng cùng lập trường với cháu, càng thêm thú vị. Hường nhận xét : ” Đồng bào khiếu kiện triền miên, nhiều bạn nghĩ là do tổ chức đảng ở địa phương lộng hành. Nghĩ vậy không sai, nhưng chưa đủ. Cái gốc là do Luật ĐĐ đã truất quyền sở hũu đất của dân, từ đó cán bộ mới có thể hà hiếp dân”. Em Hường khẳng định : ”LĐĐ ở Việt nam đã gây đau khổ, oan khiên cho hàng chục triệu người, nhất là nông dân, kể từ khi nó ra đời (1987). Chính nó giúp tham nhũng tăng lên gấp 4 lần và mỗi năm rót 10% GDP vào túi bọn tham nhũng hoặc lãng phí. Hoàn toàn có cơ sở để đạo luật này bị gọi là sản phẩm của tư duy phản động ”.

Em sinh viên trẻ Đỗ Thúy Hường bẻ gãy hoàn toàn lập luận của đảng CS khi dựng lên Luật ĐĐ năm 1987, với đoạn luận văn chặt chẽ như sau :

     ” Đảng ta (xin châm chước và thông cảm cho em khi em còn dùng từ ”ta” này) giải thích sự tước bỏ quyền sở hũu đất đai của dân bằng lý sự như sau : đất đai là kết quả của một quá trình chế ngự thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm của cả dân tộc chứ không của riêng ai. Tách khỏi những điều kiện của Nhà nước, của cộng đồng, thì không một cá nhân nào có thể khai phá và giữ gìn bất cứ mảnh đất nào để rồi sau đó nói nó hoàn toàn là của mình. Có chăng, ở đây họ chỉ có công khai phá và xử dụng nó.

Ai có công chống ngoại xâm? Đương nhiên, chúng ta phải học lịch sử đảng để hiểu rằng đảng có công chống Pháp và Mỹ. Nhưng đảng cấm chúng ta nghĩ rằng sự nghiệp chống ngoại xâm là của toàn dân và có từ thời Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Quang Trung… và sau khi đuổi giặc thì người dân thời xưa vẫn có quyền sở hữu đất. Quyền này vẫn được thừa nhận trong 80 năm thực dân Pháp chiếm nước ta. Ấy vậy mà sau khi đuổi được thực dân Pháp thì đảng lại lý sự rằng không cá nhân nào có quyền sở hữu đất đai. Đang là chủ sở hữu, người dân trong nháy mắt chỉ còn có ”quyền sử dụng”, trong khi đó, đảng vô sản vốn chẳng có tý đất nào ban phát cho dân bỗng nhiên trở thành người có quyền ra lệnh ”thu hồi” (!). Dùng từ ”thu hồi” trong LĐĐ chẳng lẽ không nói lên điều gì về não trạng của đảng CS ? 

* Lẽ ra… lẽ ra …

Có 2 chuyện ”lẽ ra” đựơc nhiều nhà luật học và sinh viên ngành luật trong nước nêu lên một cách xác đáng. Lẽ ra ngay từ năm 1986 khi bắt đầu Đổi Mới, đảng CS đã phải sòng phẳng trả lại quyền sở hữu ruộng đất cho nông dân và giải thể các hợp tác xã, sau khi thừa nhận công cuộc hợp tác hóa do đảng CS ép buộc đã tàn phá nền sản xuất nông nghiệp đến mức nào, khi người nông dân sống lay lắt chỉ nhờ vào 5% mảnh đất riêng tư còn lại, còn nếu trông vào 95% ruộng hợp tác hóa thì chỉ có ăn cám, theo cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen. Vậy mà đảng CS vẫn ngang ngược tiếp tục chính sách tàn phá nông thôn bằng chính sách còn độc địa tệ hại hơn nữa là truất bỏ quyền sở hữu vốn có từ ngàn xưa của nông dân ta, dựng lên cái quyền sở hữu mơ hồ gọi là ”của toàn thể nhân dân”, nghĩa là không của ai cả, để đảng CS tự nhận là thay mặt nhân dân nắm hết. Không phải ngẫu nhiên mà mấy năm nay các dòng họ lớn ở đồng bằng sông Hồng và Trung bộ viết lại đầy đủ gia phả hằng 18, 19 cho đến 25, 26 đời của họ mình, kể lại trước đây mỗi  dòng họ đều có từ vài mẫu đến vài chục mẫu ”Tự điền” luôn được coi là thiêng liêng vì hoa lợi được chuyên dùng vào việc cúng bái, tế lễ, thừa tự, sửa sang mồ mả của tổ tiên và ông cha; nhiều cuộc họp dòng họ gần đây đặt vấn đề yêu cầu đảng CS trả lại những ”Tự điền” cho các dòng họ, cùng với những ”Học điền” mà các dòng họ lớn để dành cho việc khuyến khích con cháu học giỏi đậu cao thành nhân tài cho đất nước. Xưa kia, những Nguyễn Bỉnh Khiêm, Chu Văn An, Mạc Đĩnh Chi, Dương Lâm và Dương Khuê  đều được nuôi dưỡng và thành tài nhờ những thửa ruộng ”Học điền” quý báu như thế.

Đảng CS đến nay còn khẳng định việc tiêu diệt ”Tự điền””Học điền” như thế là chính nghĩa và hợp lẽ phải hay không?

Lẽ ra, năm 2006 khi Việt nam được nhận vào Tổ chức Thương mại thế giới WTO, đảng CS phải trả lại cho nông dân quyền sở hữu ruộng đất, khi Việt nam cam kết sửa đổi các điều luật không thích hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế. Theo luật pháp quốc tế phổ biến, làm gì có cái ”quyền sở hữu của toàn thể nhân dân”! làm gì có những chuyện rối rắm kỳ quặc về ”quyền sử dụng đơn thuần”, về ”quyền thu hồi ”, ” về đền bù ”, ” bồi thường và giải tỏa ”, chuyện thu hồi như cướp giật, giá đền bù bèo bọt, giá bán sau đó gấp 1 trăm đến 200, có khi 500 lần giá đền bù, để cho dân gọi quan chức đảng là bọn cướp đất, địa tặc, bọn cộng đớp và cộng mút của cải của nhân dân.

Điều phi lý khổng lồ đang nổi lên là công bằng xã hội, là bình đẳng xã hội giữa các tầng lớp và giai cấp. Vì sao đảng đã trả lại cho thương nhân, cho tư sản thương nghiệp và tư sản công nghiệp quyền sở hữu tư nhân về hàng hóa, cửa hàng, công ty, xưởng máy, xí nghiệp, cơ sở dịch vụ, kho hàng, mà riêng đối với nông dân vẫn một mực truất bỏ quyền sở hũu tư nhân, đày đọa nông dân phải chịu mãi mãi cuộc đời vô sản làm thuê cho đến mãn kiếp. Ruộng đất do ông cha nông dân khai phá, là đối tượng lao động bức thiết của nông dân mà không trả lại cho nông dân hiện thời quyền sở hữu, đảng CS không còn có một lý do nào có thể đứng vững .

* Năm 2008: năm đòi lại quyền sở hữu chính đáng

Tình hình đã chín cho cuộc đấu tranh dành lại quyền sở hữu chính đáng về ruộng đất của bà con nông dân ta. Mong rằng nông dân cả nước tận dụng thời cơ đảng CS đề ra việc bổ sung Luật Đất Đai năm 2008 này để nói lên yêu cầu khẩn thiết chính đáng của mình. Hàng vạn, hàng vạn dân oan trong Nam, ngoài Bắc, dọc Trường Sơn, trên Việt Bắc, xuyên Trung bộ mấy năm qua là những cuộc đấu tranh dạo đầu cho cao trào năm 2008 này. Hãy từ chối dứt khóat mọi ý kiến bổ sung mang tính chất vá víu cải lương lừa mị. Hãy tập trung vào đòi hỏi cơ bản là xóa bỏ hẳn các Luật ĐĐ hiện hành phi lý và phi pháp, trái với luật pháp quốc tế, trái đạo lý, phi nhân tính, nguồn gốc của nghèo đói, của quốc nạn tham nhũng; hãy đòi một cuộc trưng cầu dân ý toàn quốc về quyền sở hữu ruộng đất ở nước ta; hãy đòi một cuộc thảo luận rộng rãi tại quốc hội về vấn đề hệ trọng này, tại đó phải có tiếng nói của đại diện nông dân mọi miền của đất nước. Hội nông dân VN hiện chỉ là cái bóng mờ nhạt kiểu tay sai của đảng.

Các anh chị em trí thức, các bạn trẻ sinh viên, học sinh xuất thân từ nông thôn hãy ủng hộ mạnh mẽ nông dân nước ta, giúp nông dân những công việc thiết thực, ra báo và phát hành báo viết, ra báo mạng về nông thôn, cho bà con nông dân đọc, truyền tay ở nông thôn, tổ chức thật nhiều hội nông dân đòi quyền sống, đòi quyền làm chủ ruộng đồng, tố cáo bọn cường hào mới, bọn cướp đất, cướp ruộng, cướp rừng, tổ chức hội thảo về hiện tình nông thôn, về mối quan hệ giữa đảng CS và nông dân, về người nông dân mới. Trong các hội thảo, xin hãy nói thật nói thẳng, không quanh co, rằng đảng CS đã tàn phá nông nghiệp 3 lần cực nặng nề : trong Cải cách ruộng đất (1954-1956) đã khủng bố giết hại 20 ngàn nông dân yêu nước có bản lĩnh nông nghiệp bị gán cho là cường hào ác bá theo lệnh của ”cố vấn” Tàu; trong Hợp tác hóa cưỡng bức (miền Bắc 1961 – 1986; cả nước 1975-1986) đã bần cùng hóa nông thôn đến mức tận cùng; và từ 1987 đã độc đoán truất bỏ quyền sở hữu ruộng đất vốn có từ ngàn xưa, làm cho nông dân phần lớn trắng tay biến thành vô sản, nông thôn mất linh hồn, suy đồi về văn hóa, biến thành thùng rác khổng lồ của thành thị và khu kinh tế, nhiều nơi thành vương quốc của Thần Chết. Thế là quá đủ.

Nông thôn ta không thở dài, than vãn nữa. Hãy thét vang như sấm động đòi lại quyền sống của ta, đòi lại ruộng đồng của ta.

Người Việt hải ngoại hãy nhiệt liệt, tận tình ủng hộ bà con ta giành lại quyền sở hữu ruộng đất; đặc biệt là các vị về thăm quê hương, hãy nêu ở mọi nơi vấn đề cần kíp nóng bỏng này, góp thêm ý kiến, đồng thời vận động các giới quốc tế ủng hộ bền bỉ cuộc đấu tranh của nhân dân ta đòi quyền sở hữu, các quyền tự do, đòi chấm dứt chế độ độc đoán độc đảng, xây dựng chế độ đa nguyên đa đảng như ở mọi nước dân chủ văn minh. 

Người viết xin phép được đề nghị người Việt nam yêu nước thật lòng, thương dân thật lòng hãy nhân dịp này tỏ tình quý mến các bạn sinh viên trẻ Hà Đông Xuân, Trần Hiền Thảo và Đỗ Thúy Hường đã suy nghĩ già dặn đến vận nước và lòng dân, để sát cánh cùng các em mạnh bước trong cuộc hành trình lịch sử của dân tộc giành lại cuộc sống tự do và hạnh phúc.

Bùi Tín.

Paris  5-6-2008

May 10, 2008

Tài Sản Nguyễn Văn Quỳnh Phó Ban Trung Ương

Tài Sản Của Nguyễn Văn Quỳnh – Phó Ban Tổ Chức Trung Ương Đảng

Dân Oan Nguyễn Thị Gấm tố cáo


Biệt thự của ông Nguyễn Văn Quynh.Tại khu chung cư cán bộ


Căn nhà 4 tầng của ông Quynh ( ở giữa ) nhà số 152 – Đường Nguyễn
Văn Cừ – Thành Phố – Hạ Long – Tỉnh Quảng Ninh.


Nhà ông Quynh phía tay trái 4 tầng có mái ngói đỏ. Nhà số 9 – Ngõ 1132 – Phố Láng Thượng – Hà Nội.


Căn nhà trước cổng cửa sắt màu xanh của ông Quynh.số 32 – Khu
Phường Cẩm Phả – Tỉnh Quảng Ninh. Tháng 11 năm 2007 ông Quynh bắt đầu
chuyển lên TW làm Phó Ban Tổ Chức Trung Ương. Căn nhà này ông Quynh đã
tặng lại cho bố vợ tên là ( Xong ) sau khi được con rễQuynh tặng,cùng
thời điểm ông Xong bán lại cho người khác.


Đất của ông Quynh từ bức tường gạch thấp,tới sát nhà dân khoảng 1.000m2 bỏ cỏ mọc- Trục đường 334- ở Thôn 4 – Xã Hạ Long – Huyện Vân Đồn – Tỉnh Quảng Ninh

Đất của ông Quynh trong khuôn viên khoảng 2.000m2
bỏ trống cỏ mọc. Thôn 5 – Xã Hạ Long trục đường 334.

Đây là căn nhà của vợ chồng ông bà : Trần Văn Tỏi vợ Nguyễn
Thị Xình. Do vay nợ Ngân Hàng 10 triệu đồng không có tiền trả,gốc lẫn
lãi nhân lên thành 15 triệu đồng. Ngân Hàng Vân Đồn thu hồi.Biếu cho
ông Quynh ở Thôn 6 – Xã Hạ Long – Huyện Vân Đồn trục đường 334 Quảng Ninh.

(VNE)

Hà nội đang chuẩn bị dự thảo Luật Đất đai 2008

10/05/2008
K /G các bạn,
Tiếp theo HMDC vừa rồi, xin nhắc các bạn một số anh em trong nước mong rằng chúng ta hỗ trợ trong nước về đề tài Nông nghiệp – Nông dân – Nông thôn.
Vì hiện nay quốc hội Hà nội đang chuẩn bị dự thảo Luật Đất đai 2008, tiếp theo các bộ Luật Đất Dai1987, Luật Đất Đai 1993, Luật Đất Đai 2003.
Cái phi lý cơ bản của tất cả các bộ Luật ấy là Truất Quyền Sở Hữu Đất Đai của Nông dân, lập nên quyền sở hữu của ” Toàn Dân ”, từ đó vào trong tay Nhà Nước do đảng CS nắm, nghĩa là trong tay Đảng.
Nông thôn, Nông dân, Nông Nghiệp đã bị đảng CS làm cho điêu đứng suốt hơn nửa thế kỷ, qua Cải Cách Ruộng Đất, Hợp tác Hóa, Nông trường Quốc Doanh…
Vị chỉ cho Nông dân quyền Xử dụng nên mới đẻ ra chuyện ”Thu Hồi”, ”Đền bù”, ”cưỡng chế”, ”dân oan”, vi đền bù thường chỉ bằng 1 /20, 1 /50 giá trị trên ”thị trường” ruộng đất do đảng nắm độc quyền.
Trong nước mong rằng các vị Luật Gia, nhà Luật học am hiểu luật Đất Đai các nước thứ ba, như Ấn độ, Thái lan, Trung đông, phưong Tây, các luật đất đai hình thành từ thời Cổ Đại, Romain, Hy lạp, Hồng Đức… ra sao, lên tiếng mạnh mẽ hỗ trợ nông dân và dân oan đòi xóa bỏ Luật Đ Đ cũ, đòi lại quyền sở hữu tư nhân về ruộng đất như xưa. Khi đảng CS đã phải lùi về kinh tế thì trường, trả lại cho nhà buôn, tư sản thương nghiệp, tư sản công Nghiệp quyền tư hữu cửa hàng, tiệm buôn, công xưởng, xí nghiệp, dịch vụ…. thì không thể không trả lại Nông dân quyền sở hữu Ruộng Đất. Nhất là khi đã vào WTO, luật VN phải thích ứng với luật Quốc tế.
Vừa qua có điểm phi lý là công nhận sở hữu tư về nhà cửa, công nhận thị trường nhà cửa lại không công nhận thị trường đất đai, mà nhà lại dính chặt với đất.
Từ đó cơ quan cấp ”giấy phép làm nhà” – cán bộ cấp ủy đảng – tha hồ vơ vét của dân.
Trong nước sẽ lập những tổ chức” Nông dân đòi lại quyền Sở hữu Đất Đai”, Hội Lão Nông mới”, ”Tập hợp Nông dân đổi công lý”, “Hãy cứu lấy Nông dân và nông nghiệp”, ”Nông dân đoàn kết tự cứu”, ”tập hợp Nông dân Nam bộ, Bắc Bộ, Sông Hồng, Sông Cửu Long……. đòi lại quyền tư hữu”, ”Nông dân là chủ ruộng đồng”, ”chống bọn cò đất và cướp đất”,”chống bọn cường hào mới”
Trong nước mong Các đài RFA, RFI, BBC sẽ có những phỏng vấn nói chuyện với các nhà Luật Học, nhà Nông, về vấn để Nông Dân và Luật Đất Đai…Nếu Quốc hội kỳ này chưa bàn về luật 2008 thì cuối năm, có thêm thời gian để chuẩn bị tốt. Đây cũng là một nơi đứng lên để đòi Dân chủ và Nhân Quyền cho Giai cấp Nông Dân.
Đây là chỗ rất yếu của chế độ, và nguyện vọng bức súc của Nông dân vẫn chiếm 70 % số dân.
Kính thư,
Bùi Tín. 
 

——
Diễn dịch:
CS ăn cướp từ lý thuyết, luật rừng đến thực hành !!! 
Tất cả đều dựa trên : độc tài toàn trị, bất công, tham tàn, lừa bịp, gian dối, khủng bố bạo lực !

May 9, 2008

Quê hương

Hôm nay đi lang thang gặp 1 bà già đưa tay ngoắt ngoắt kêu mình vào để xem chỉ tay ,

dạo này mình cũng có nhiều chuyện suy nghĩ chưa thông nên tò mò ngồi xuống nghe thầy phán

thầy chẳng thèm hỏi tên tuổi quốc tịch

thầy tự tin phán thao thao bất tuyệt mình nghe chữ được chữ mất ,

đợi thầy nói hết bài rồi mình mới hỏi : nhờ thầy xem giùm chỉ tay con có đường về nước không ?

thầy dừng một chút suy tư : ai cũng mong có đường xuất ngoại, cậu lại đi hỏi đường về nước ?

rồi thầy lại phán thao thao bất tuyệt mình nghe lại chữ được chữ mất .

Trả 200 tệ rồi từ biệt thầy .

Chiều nay tôi lại 1 mình lang thang mà không biết đâu là chốn quê nhà .

“堅決支持祖國統一”  = ” kiên quyết dốc sức thống nhất tổ quốc”.

 

ONE CHINA ???

 Tuesday May 6, 2008 – 12:24am (ICT) Permanent Link | 39 Comments
—————
Cảnh báo :
CHÚNG TA ĐÃ và ĐANG MẤT NƯỚC, đang bị thôn tính, Hán hóa !!!!
Chính sách di dân, mua đất mở rộng không gian sinh tồn, bành trướng, lũng đoạn, khống chế : chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa, lịch sử, tôn giáo, môi sinh môi trường !!!
AI đã thông đồng, cấu kết, bán nước cầu vinh ???
Mỗi người dân phải ý thức sự thật trên, càng sớm càng tốt, để gìn giữ không gian sinh tồn, quyền lợi đất nước, cho mình, gia đình, con cháu về sau !
Từng bước, những nước sau đây đang bị Hán hóa: Tây Tạng, Miến Điện, VietNam, Lào, Cam Bốt, …. sau cùng là vài nước châu Phi, … và các nước tây phương
Hỏi là trả lời !

Chính Sách Đất Đai Tại Việt-Nam

8/2006
Nguyễn Quốc Khải

Với tổng số diện tích là 329,560 cây số vuông (km2) cho một dân số là 83.5 triệu, Việt-Nam đất hẹp dân đông và là một trong những nước có mật độ cao nhất thế giới. Đất đai là một tài nguyên khan hiếm và là một tích sản quý giá của hầu hết mọi người tại Việt-Nam cũng như các nước đang mở mang. Đất đai và vốn là hai tài nguyên quan trọng nhất đối với những công ty tư nhân. Một cuộc điều nghiên của Công Ty Tài Chánh Quốc Tế (International Finance Corporation – IFC) và Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) cho thấy rằng 2/3 các các công ty tư doanh đồng ý rằng vốn là một trở ngại chính cho sự phát triển và 1/3 còn lại cho rằng đất đai là nguyên nhân cơ bản. [1]

Sau khi duyệt qua những luật lệ đất đai từ thập niên 1950 đến nay, bao gồm những Luật Đất Đai 1988, 1993, và 2003, bài khảo cứu này sẽ thảo luận hai vấn đề thời sự là giá đất và vấn đề quy hoạch đất gây nhiều tranh cãi và chống đối hiện nay tại Việt-Nam. Sau hết, trong phần kết luận, bài khảo cứu đề nghị một vài ý kiến để giải quyết những bất công do việc trưng thu đất hiện nay gây ra.

Chính sách đất đai tại miền Bắc trước năm 1988

Dưới thời Pháp thuộc, phần lớn đất trồng trọt thuộc các chủ đồn điền Pháp hoặc các đại điền chủ bản xứ. Khoảng 3% dân bản xứ sở hữu 52% đất đai và trên 60% nông dân không có đất vào khoảng giữa thập niên 1940.

Từ 1952 đến 1956 có tất cả 5 cuộc cải cách ruộng đất được thực hiện tại miền Bắc Việt-Nam. Đất được phân phối cho nông dân. Nhờ vậy, số lượng nông phẩm sản xuất gia tăng nhanh chóng. Những đợt cải cách đầu ôn hòa, nhưng càng về sau càng khắt khe và đẫm máu hơn. Sau khi kiểm soát được toàn cõi miền Bắc, Cộng Sản Việt Nam (CSVN) ban hành đợt cải cách thứ tư vào ngày 14.7.1955. Nhà nước ra lệnh tịch thu đất đai, gia súc, nông cụ, nhà cửa, v.v. thuộc quyền sở hữu của thực dân Pháp, và các địa chủ và các “cường hào ác bá”. Đối với các địa chủ tham gia kháng chiến, hoặc các thương gia, kỹ nghệ gia kiêm nhiệm địa chủ, nhà nước áp dụng biện pháp nhẹ hơn như tịch thu hay trưng thu không có bồi thường thiệt hại, hoặc thu mua đất đai, gia súc, nông cụ, v.v. Ruộng đất của các giáo phái cũng bị truất hữu mà không bồi thường. Đợt cài cách thứ năm được thi hành vào mùa hè năm 1956. Chiến dịch cải cách ruộng đất này còn nhắm tiêu diệt giai cấp địa chủ và những phần tử chống đối chế độ qua những cuộc đấu tố trước toà án nhân dân.

Hai đợt cải cách ruộng đất vào năm 1955-1956 đã giết chết khoảng 200,000 người trong đó có 40,000 cán bộ đảng viên và đã gây công phẫn trong dân chúng. [2] Một chiến dịch sửa sai đã được phát động vào cuối 1956 và kéo dài đến cuối 1957. Nhưng cuộc cải cách ruộng đất không chấm dứt tại đây. Vào những năm 1957-1958, để thực hiện xã hội chủ nghĩa, vô sản hoá nhân dân, nhà nước bắt đầu thu hồi lại đất đai của nông dân để thành lập hợp tác xã sản xuất và các nông trường tập thể. Vì vậy năng suất đi xuống và sản lượng nông phẩm giảm. Vào giữa thập niên 1960 khoảng 90% gia đình nông dân tại miền Bắc gia nhập các đơn vị sản xuất tập thể. Trong khoảng thời gian đó, các gia đình ở nông thôn được chia cho khoảng 5% đất để canh tác, nhưng họ đã tạo được 60-70% lợi tức nhờ vào diện tích đất đai nhỏ bé đó. [3]

Chính sách đất đai tại miền Nam trước năm 1988

Trái với chính sách cải cách ruộng đất ở miền Bắc, miền Nam Việt-Nam thực hiện chính sách tư hữu hóa ruộng đất cho các tá điền. Cuộc cải cách điền địa thứ nhất do Tổng Thống Ngô Đình Diệm thực hiện từ nằm 1955 đến 1963 gồm có những điểm chính sau đây:

Quy chế tá canh được ban hành. Theo đó địa tô trước đây từ 40-60% (không chính thức) giảm còn phân nửa. Thời hạn cho thuê ruộng từ 2 – 5 năm tăng đồng đều lên 5 năm. Những ruộng đất bỏ hoang trong khoảng 500,000 ha không có chủ hiện diện khi kiểm kê trở thành tài sản của quốc gia và được chia phát không cho tá điền. Chủ điền chỉ được giữ tối đa là 100 ha. Trong đó 30 ha được trực canh và 70 ha còn lại phải cho tá điền thuê theo quy chế tá canh. Chính phủ bồi thường số đất bị truất hữu cho chủ điền bằng tiền mặt và trái phiếu 12 năm. Tá điền được mua trả góp vốn và lãi trong 12 năm tối đa 5 ha với giá chính phủ bồi thường chủ điền.

Theo Bộ Canh Nông, tổng số ruộng truất hữu là 651,132 ha bao gồm 430,310 ha của chủ điền Việt-Nam cộng với 220,813 ha của Pháp Kiều. Song song với chương trình cải cách điền địa, miền Nam Việt-Nam còn cho thiết lập các trung tâm dinh điền cho dân di cư từ ngoài Bắc và vùng duyên hải Trung phần. Mặc dầu vậy chương trình cải cách điền địa tại miền Nam Việt-Nam đưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa chỉ đạt được kết quả khiêm tốn với với 20% số tá điền được hữu sản hóa. Lý do chính là tình hình an ninh khiến các tá điền không giám mua đất truất hữu hoặc ký kết hợp đồng tá canh với chủ điền. Chủ điền bị hăm dọa không được thu địa tô. Do đó việc thi hành chương trình cải cách điền địa gặp khó khăn, nhất là trong thời gian 1960-1963.

Chương trình cải cách điền địa và dinh điền bị tạm gián đoạn trong thời gian 1963-1967 do các chính biến liên tục xẩy ra tại miền Nam Việt-Nam, nhưng được tái tục trong những năm 1967-1970 nhờ an ninh được vãn hồi qua các chương trình xây dựng nông nông và chiến dịch Phượng Hoàng. Ngoài ra chiến dịch Tổng Công Kích Mậu Thân đã làm tiêu hao hạ tầng cơ sở của CSVN ở miền Nam. Để bình định và cải tiến đời sống nông thôn, hệ thống ngân hàng nông thôn được thành lập để thay thế Quốc Gia Nông Tín Cuộc đã ngưng hoạt động trong thời gian 1963-1970, đồng thời Luật “Người Cầy Có Ruộng” được ban hành vào ngày 26.3.1970.

Theo luật này, ruộng đất không trực canh đương nhiên bị truất hữu và được bồi thường. Ruộng truất hữu được ưu tiên cấp phát cho tá điền (3 ha ở Nam phần và 1 ha ở Cao Nguyên và Trung phần). Điền chủ trực canh chỉ được giữ tối đa 15 ha. Tuy nhiên Luật “Người Cầy Có Ruộng” không áp dụng cho đối với đất của các tổ chức tôn giáo và đất hương hỏa.

Luật “Người Cầy Có Ruộng” được Hoa-Kỳ trợ giúp một ngân khoản US$225 triệu. Một phần tiền này dùng để bồi thường điền chủ có đất bị truất hữu và huấn luyện cán bộ xây dựng nông thôn thi hành luật cải cách ruộng đất. Kết quả là Luật “Người Cầy Có Ruộng” đã chấm dứt chế độ tá canh ở miền Nam Việt-Nam. Trong ba năm 1970-1973, 858,821 tá điền trở thành điến chủ một số đất là 1,003,325 ha. [4]

Sau khi chiến tranh giữa hai miền Nam Bắc chấm dứt vào năm 1975, chế độ xã hội chủ nghĩa được thực thi tại miền Nam, đất đai được tập thể hóa, nhưng chính sách này thất bại vì nông dân chống đối mạnh mẽ. Tính đến năm 1986, chỉ có 5.9% nông dân ở đồng bằng Sông Cửu Long, 20% ở miền Đông Nam phần, và 85% ở vùng đất thấp của miền Trung gia nhập các hợp tác xã. Số lượng nông phẩm sản xuất giảm xuống nhanh chóng khiến Việt-Nam phải dối phó với nạn khan hiếm thực phẩm. [5]

Để giải quyết nạn đói đe dọa, nhà nước phải nương tay để mặc dân chúng tự sản xuất nông phẩm trên những mảnh đất quanh nhà hay bỏ hoang. Vào năm 1981, Đảng CSVN ban hành Chỉ Thị 100, thiết lập hệ thống “khoán sản phẩm” để chính thức hoá tình trạng “xé rào” ở cả hai miền Nam Bắc. Theo chỉ thị này đất đai vẫn thuộc về toàn dân và do nhà nước quản trị, nhưng nông dân được trao cho một số nguyên liệu và được khoán cho làm một số công việc sản xuất trên mảnh đất được nhà nước chỉ định, được trả công trên số giớ làm, và được giữ số lượng nông phẩm thăng dư trên số lượng ấn định phải nộp cho nhà nước. Nhờ vậy số lượng nông phẩm tăng lên.

Chính sách này có nhiều khuyết điểm như tiền công trả cho nông dân không dựa trên lượng và phẩm của nông sản do gia đình nông dân sản xuất. Ngoài ra việc phân phối đất đai không công bằng đã gây ra nhiều kiện tụng. Tuy nhiên Chỉ Thị 100 là bước đầu quan trọng đưa đến những cải tổ rộng lớn với chính sách “Đổi Mới” vào cuối năm 1986.

Luật Đất Đai 1988

Để giải quyết tình trạng kiện tụng về đất đai mỗi ngày một nghiêm trọng, chính phủ Việt Nam đã ban hành luật đất đai lần đầu tiên vào năm 1988 sau khi chiến tranh chấm dứt tại Việt-Nam. Đất được phân phối cho dân chúng sử dụng, nhưng việc mua bán, thuê mướn đất đai, thay đổi mục tiêu sử dụng hoàn toàn bị cấm đoán. Cũng vào năm này, nhà nước ra Nghị Quyết số 10, chính thức hủy bỏ hệ thống sản xuất nông phẩm tập thể.

Luật Đất Đai 1988 có những điểm chính sau đây:

Đất đai thuộc quyền sở hữu chung đặt dưới sự quản lý của nhà nước.
Nhà nước cho cá thể và các tổ chức thuê đất để sử dụng lâu dài.
Người sử dụng đất có thể bán những sản phẩm gặt hái từ miếng đất đã sử dụng.
Mua bán đất bị cấm đoán.
Tranh chấp về đất đai sẽ được xử theo luật lệ.
Đất không được phép cho thuê lại.
Không được thay đổi cách sử dụng đã mô tả.

Luật Đất Đai 1993

Luật đất đai lần thứ 2 ban hành vào năm 1993. Luật mới tiến bộ hơn, cho phép người sử dụng đất được quyền chuyển nhượng, mua bán, cho thuê, thừa kế hoặc thế chấp. Việc áp dụng luật mới năm 1993 có sự khác biệt đáng kể giữa các vùng khác nhau. [6] Luật Đất Đai 1993 có rất nhiều hạn chế cản trở việc thực hiện các quyền trên. Trước tiên, chính phủ không ban hành bất kỳ sắc lệnh nào giải thích việc áp dụng các quyền này. Thứ 2, luật quy định diện tích đất nông nghiệp trồng cây hàng năm tối đa mà mỗi hộ miền Nam được phép sử dụng là 3 ha còn ở ngoài Bắc là 2 ha. Đối với đất trồng cây lâu năm, giới hạn tương ứng là 10 ha đất đồng bằng và 30 ha đất đồi núi. Thứ 3, thời gian sử dụng đất trồng cây hàng năm là 10-15 năm và gia hạn thêm. Thứ 4, cấm chuyển đổi đất trồng lúa sang trồng các loại cây khác. Thứ 5, việc chuyển nhượng đất lâu dài bị hạn chế bởi các trường hợp cụ thể (đi ra khỏi vùng, không có khả năng sử dụng mảnh đất riêng) và đòi hỏi phải có giấy phép của chính quyền địa phương. Thứ 6, không cho phép cho thuê hay cho thuê mướn đối với đất trồng cây hàng năm hoặc đất nuôi trồng thủy sản quá 3 năm, trừ khi có giấy phép của chính quyền. Thứ 7, việc mua bán trao đổi đất đều phải nộp thuế. Thuế suất áp dụng là 50% giá trị đất nếu là đất trồng lúa của một hộ gia đình sang tên cho một hộ gia đình khác và để trồng các loại cây khác. Thuế suất là 30% trong trường hợp đất xây dựng cơ sở công nghệ.

Trên nguyên tắc Luật Đất Đai 1993 cho phép dùng đất làm tài sản thế chấp nhưng giá trị đất lại không đáng kể. Các chủ nợ không được phép trao đổi, chuyển nhượng hay cho thuê quyền sử dụng đất. Các ngân hàng thường do dự cho vay tiền khi vật thế chấp là quyền sử dụng đất, nhất là khi quyền sử dụng sắp hết hạn. Các ngân hàng nước ngoài không chấp nhận quyền sử dụng đất làm vật thế chấp. Chỉ có các doanh nghiệp nhà nước được phép dùng quyền sử dụng đất làm vốn góp liên doanh với các đối tác nước ngoài. Hơn nữa, việc thiếu minh bạch trong áp dụng các quy định và thủ tục làm nảy sinh nhiều băn khoăn trong cho thuê và giải quyết tranh chấp. Hầu hết các trường hợp giao dịch liên quan đến đất đai đều được dàn xếp ở dạng phi chính thức và không hợp pháp.

Do đó Luật Đất Đai 1993 đã thất bại trong việc tạo lập một thị trường đất đai. Luật Đất Đai 1993 đã được tu chính lại hai lần vào năm 1998 và 2001. Tu chính 1998 cho phép khoảng 100,000 mẫu đất nông nghiệp được dùng cho mục tiêu khác mỗi năm. [7] Mỗi lần tu chính Quốc Hội chỉ đưa ra được một số biện pháp tạm bợ để giải quyết những trường hợp cấp bách và nghiêm trọng. Quốc Hội không đủ khả năng và thời giờ để giải quyết tận gốc vấn đề. Cả chủ tịch Quốc Hội lẫn thủ tướng chính phủ cũng đều công nhận như vậy. [8] Tình trạng đất đai ngày càng rắc rối với số đơn khiếu nại và kiện cáo ngày càng gia tăng. Mỗi năm riêng Viện Giám Sát Nhân Dân nhận được 5,000-7,000 khiếu nại. Tính đến cuối năm 2003 đã có khoảng 120,000 tranh chấp liên quan đến đất đai. [9] Những biến loạn lớn ở Cao Nguyên Trung Phần đã xẩy ra vào 2001 và 2004 chỉ vài tháng trước khi Luật Đất Đai 2003 bắt đầu có hiệu lực một phần liên quan đến việc xâm chiếm đất đai của đồng bào thiểu số.

Luật Đất Đai 2003

Vào ngày 26/11/2003 Quốc Hội Việt-Nam đã chấp thuận Luật Đất Đại 2003 mang số 13/2003/QH11. Luật mới này thay thế Luật Đất Đai 1993, những tu chính và bổ túc 1998 và 2001 cũng như những sắc lệnh và nghị định liên hệ và bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2004.

Luật 2003 tái xác nhận rằng đất đai không thuộc quyền sở hữu tư nhân mà là của toàn dân do nhà nước quản lý. Nhà nước bao gồm Quốc Hội, Chính Phủ, và Ủy Ban Nhân Dân cấp tỉnh và huyện. Nhà nước không trực tiếp sử dụng đất đai. Luật Đất Đai 2003 có những điểm chính sau đây được giải thích rõ hơn so với luật cũ:

Đất được chia ra làm 3 loại: đất nông nghiệp, đất phi-nông nghiệp, và dất bỏ hoang (Trước đây đất được phân làm 6 loại: đất nông trại, đất rừng, đất nông thôn, đất thành thị, đất dùng cho mục đích đặc biệt, và đất hoang). Trong mỗi loại đất lại chia ra nhiều thứ khác nhau tùy theo mục tiêu sử dụng như đất dành cho khu công nghệ, đất dùng cho khu kỹ thuật cao, đất dùng cho khu kinh tế, đất dành xây công sở, v.v.
Một điều khoản trong Luật Đất Đai 2003 ấn định về giá đất, hủy bỏ bao cấp, đấu thầu đất, khảo giá bao gồm quyền sử dụng đất, thu hồi đất chậm trễ sử dụng, v.v.
Người sử dụng đất có quyền chuyển nhượng, chỉ định, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng, thế chấp, bảo đảm, và góp vốn đối với quyền sử dụng đất.
Một số điều khoản nằm trong Luật Đất Đai 2003 quy định quyền lợi và bổn phận của người Việt hải ngoại, các tổ chức và người ngoại quốc đối với việc sử dụng đất tại Việt-Nam. Các công ty tư nhân nội địa được phép cho các nhà đấu tư nước ngoài thuê mướn lại quyền sử dụng đất dài hạn của mình với sự chấp thuận của cơ quan chính quyền đã cấp quyền sử dụng dất đai cho các công ty tư nhân này và thời hạn cho thuê không được quá hơn thời hạn đã ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đai. [10]

Luật Đất Đai 2003 được coi như là một bộ luật tỉ mỉ nhất từ trước đến nay bao gồm 6 chương và 146 điều. Tuy nhiên sau hơn một năm áp dụng Luật Đất Đai 2003 đã để lộ ra một số thiếu sót gồm những điểm chính được tóm tắt trong phần kế tiếp.

Các ngân hàng thường thường chỉ định giá đất bằng 70% số tiền thuê người sử dụng đất đã trả cho nhà nước, chứ không căn cứ trên giá thị trường. Ngoài ra, tiền thuê đất bắt đầu trả cho nhà nước vào tháng 2, 1995. Do đó trị giá đất và tiền vay dựa trên thế chấp không lớn. Điều này làm cho việc tài trợ bằng cách cầm cố quyền sử dụng đất đai bị giảm hiệu quả. [11]

Mặt khác, Luật Đầu Tư Nước Ngoài mới cho phép các chi nhánh ngân hàng ngoại quốc cho vay thế chấp trên quyền sử dụng đất đai. Nhưng cho đến nay chương trình cho vay thế chấp này gặp cản trở trầm trọng vì Việt-Nam thiếu một cơ sở trung ương để đăng ký những tích sản cầm cố. Vào tháng 3, 2002 Cơ Quan Đăng Ký Giao Dịch Bảo Đảm (National Register for Secured Transactions) đã được thành lập tại Hà-Nội và Saigon. Tuy nhiên cơ quan này không có thẩm quyền về quyền sử dụng đất đai và các cơ sở xây cất. Vấn đề này thuộc quyền quản trị của chính quyền địa phương. Do đó việc thực thi luật lệ về việc cầm cố tài sản dưới hình thức quyền sử dụng đất đai vẫn còn không chắc chắn. Một dự thảo luật đang được chuẩn bị bởi Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư để cho phép Cơ Quan Đăng Ký Giao Dịch Bảo Đảm quản trị cả những bất động sản.

Tuy cho phép các ngân hàng ngoại quốc cho vay nợ và dùng quyền sử dụng đất đai làm tài sản thế chấp, nhưng Luật Đất Đai 2003 lại không dự trù trường hợp những người vay nợ phá sản. Do đó các ngân hàng ngoại quốc đã thỉnh nguyện rằng Luật Đất Đai 2003 cần được tu chính để cho phép các ngân hàng này được sở hữu quyền sử dụng đất đai sau khi tài sản thế chấp của khách hàng bị tịch thu.

Các công ty đầu tư ngoại quốc được phép dùng quyền sử dụng đất làm vật thế chấp để vay nợ ngân hàng ỏ Việt-Nam theo Luật Đầu Tư Nưóc Ngoài. Nhưng trên thực tế, các công ty này khó vay được tiền ngân hàng ở trong nước, đặc biệt đối với những tài khoản lớn và dài hạn. Để bổ túc khiếm khuyết này, vào năm 2003, Ngân Hàng Nhà Nước Việt-Nam đã đệ trình Quốc Hội để khi soạn thảo luật đất đai Quốc Hội sẽ cứu xét để cho phép những công ty có đầu tư nước ngoài được dùng quyền sử dụng đất làm vật thế chấp để vay nợ ngân hàng ở nước ngoài. Nhưng cho tới nay thỉnh nguyện này chưa được chấp thuận.

Một điểm mâu thuẫn giữa Luật Đất Đai và Luật Đầu Tư Nước Ngoài liên quan đến những công ty với vốn đầu tư nước ngoài mới được phát hiện. Theo Luật Đất Đai, các công ty và tư nhân ngoại quốc đầu tư tại Việt-Nam muốn có đất dùng cho dự án đầu tư cần phải tham gia vào việc đấu thầu quyền sử dụng đất đai trước khi được cấp phát giấy phép đầu tư. Mặt khác, theo Luật Đầu Tư Nước Ngoài, trước hết các công ty và tư nhân muốn đầu tư vào Việt-Nam cần phải có giấy tờ về việc sử dụng đất mới xin giấy phép đầu tư để trở thành những thực thể có tư cách pháp lý. Vì mâu thuẫn này, công ty nước ngoài chỉ có thể đầu tư trong các khu công nghệ hoặc tham gia vào các dự án liên doanh, theo đó đối tác Việt-Nam sẽ đóng góp vốn dưới hình thức quyền sử dụng đất đai.

Mâu thuẫn dễ được giải quyết bằng cách sửa Luật Đất Đai 2003 để cho phép các công ty đầu tư nước ngoài được tham dự đấu thầu về quyền sử dụng đất đai trước khi có giấy phép hoạt động và trở thành một thực thể pháp lý. Cách thứ hai là sửa Luật Đầu Tư Nước Ngoài để cấp giấy phép hoạt động cho các công ty mà không đòi phải có giấy tờ đất đai trước. Tuy nhiên kể từ ngày Luật Đất Đai 2003 được Quốc Hội thông qua đã được 2 năm rồi, việc này vẫn chưa được giải quyết. Trong khi chờ đợi, các cơ quan Việt-Nam áp dụng Luật Đất Đai 1993. Theo đó những nhà đầu tư ngoại quốc không tham dự vào việc đấu thầu việc sử dụng đất, nhưng dự án đầu tư của họ cần được chấp thuận.

Theo Bộ Tài Nguyên Thiên Nhiên và Môi Trường, cơ quan chính phụ trách thanh tra việc thi hành luật đất đai, những khiếu nại của dân chúng là hợp lý và có những lý do khác nhau như số tiền bồi thường quá thấp, xin chứng chỉ khai phá đất khó khăn, v.v. Mặt khác, các toán thanh tra của Bộ Tài Nguyên Thiên Nhiên và Môi Trường báo cáo một than phiền và khiếu nại khác của dân chúng như nhân viên quản lý đất đai thiếu khảc năng, trình độ hiểu biết luật kém, một số nhiệm vụ của các cơ quan địa phương trùng hợp nhau, việc cấp phát chứng chỉ sử dụng đất chậm trễ v.v. Ngoài ra việc thi hành luật đất đai rất chậm, đặc biệt đối với những dự án xây cất, kế hoạch sử dụng đất lớn. Trong khi đó việc thu hồi những đất bỏ hoang tiến hành chậm.

Cuộc nghiên cứu của Ngân Hàng Phát Triển Á Châu cho thấy thêm ba điểm liên quan đến việc quản lý đất đai của nhà nước: (1) Việc đo đạc để phân chia đất đai không chính xác, gây khó khăn cho người nghèo khi họ dùng chứng chỉ quyền sử dụng đất đai trong các giao dịch; (2) Sổ sách và hồ sơ về đất đai thiếu minh bạch và không cập nhật hóa và phổ biến cho mọi người; và (3) Các chi phí liên quan đến giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thay đổi mục đích sử dụng đất, và càc phí tổn “ngầm”. [12]

Giá đất quá cao

Câu chuyện đất đai đến đây mới tạm chấm dứt về khía cạnh luật pháp và thuế. Một khía cạnh khác không kém phần quan trọng là giá cả. Thật là một nghịch cảnh rằng giá đất đai tại Việt-Nam, một trong những nước nghèo nhất trên thế giới, với lợi tức đầu người trung bình hàng năm là $540, lại thuộc vào mức cao nhất thế giới. Giá một thước vuông tại trung tâm Hà-Nội vào cuối năm 2003 trị giá US$7,000-US$8,000, cao hơn cả Nữu Ước và Đông Kinh. Vào tháng 10, 2003, nhà nước cho đấu giá một mảnh đất rộng 5,906 thuốc vuông ở ngoại ô phiá nam Hà-Nội, và đã thu về được VND148 tỉ. Với hối suất là 1US$ = VND15,550, giá mỗi thước vuông của mảnh đất này là US$2,990.

Một trong những lý do làm cho giá đất cao là có sự cách biệt giữa giá bao cấp do nhà nước ấn định và giá thị trường. Do đó sinh ra nạn đầu cơ nhà đất và hậu quả của tệ nạn này là giá nhà đất tiếp tục tăng. Để đối phó với giá đất tăng vọt, vào năm 2004, nhà nước đã tăng thuế trên tiền lời do dịch vụ mua bán đất từ 4% đối với đất xây nhà ở và 2% đối với đất trồng trọt, đồng đều đến 28%. [13]

Có hai cách chính để có được quyền sử dụng đất đai: thuê mướn trực tiếp từ nhà nước và bằng cách chuyển nhượng. Thuê mướn đất trực tiếp từ nhà nước đòi hỏi nhiều thời gian và tốn kém. Một cuộc điều nghiên của IFC cho thấy các công ty tư nhân cần phải tốn 200 ngày mới mua được quyền sử dụng đất đai từ chính phủ vì phải qua nhiều cửa ải. Mặt khác, đất ở Việt-Nam khan hiếm. Đất sử dụng cho mục tiêu thương mại / công nghệ gọi là đất chuyên môn thường phải chuyển từ đất nông nghiệp. Điều này đòi hỏi phí tổn bồi thường, chi phí tái định cư cho người đang sử dụng đất, tiền khai quang lô đất, v.v. cộng với tiền thuê đất. Đấy là chưa kể đến trường hợp dịch vụ thuê mướn đất này liên hệ đến tranh chấp và thương lượng cần thiết. Một tiến trình như thế có thể mất vài năm từ lúc nộp đơn xin quyền sử dụng đất đai cho đến khi có thể công ty bắt đầu hoạt động trên miếng đất đã thuê. Tuy nhiên các công ty tư nhân thường đã phải bắt đầu trả tiền thuê đất ngay từ khi ký kết khế ước thuê đất với nhà nước.

Cách thứ hai để mua quyền sử dụng đất đai là qua sự chuyển nhượng nhưng vẫn cần sự chấp thuận của nhà nước dựa trên mục tiêu kế hoạch quốc gia. Mục tiêu này quá tổng quát cho nên cho phép các cơ quan quản lý tùy tiện giải thích. Trên nguyên tắc, người có quyền sử dụng đất đai không thể chuyển nhượng quyền sử dụng đất đai nếu không có chứng khoán, một tài liệu gọi là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đai. Tuy nhiên phần đông những người sử dụng đất không có chứng chỉ này vì nhiều lý do bao gồm thủ tục phức tạp, phí tổn cao, đồ bản không đầy đủ, và quan trọng hơn cả là chứng khoán quyền sử dụng đất không mạng lại nhiều lợi lộc. Ngoài ra người bán phải chịu thuế chuyển nhượng trước đây là 2-4% nay là 28% như đã trình bầy ở trên. [14] Vì những khó khăn vừa kể, khoảng 70% giao dịch về quyền sử dụng đất đai thường được dàn xếp trên thị trường không chính thức nhưng rất sống động, theo đó những công ty tư nhân thuê đất của những công ty quốc doanh, những công ty tư nhân khác, hoặc trực tiếp từ các gia đình. Tuy nhiên những giao dịch không chính thức này mang nhiều rủi ro đáng kể vì trên nguyên tắc là trái luật và phải chịu phạt.

Những bất thường về giao dịch đất đai trên đây làm cản trở không ít sự bành trướng của hoạt động thương mại. Theo một cuộc điều nghiên của IFC và Ngân Hàng Thế Giới thực hiện vào 2003, 82% các giám đốc điều hành công ty tư nhân được hỏi ý kiến nhận xét rằng họ sẽ nới rộng cơ xưởng nếu thủ tục thuê đất dễ dàng và phí tổn thấp hơn và 1/3 số giám đốc nói rằng họ sẽ bành trướng hoạt động sang nhiều lãnh vực khác nhau.

Chính sách quy hoạch đất đai

Quy hoạch đất đai là lấy đất bỏ hoang hay thu hồi đất do dân chúng đang sử dụng, dời dân đi nơi khác để lấy đất dùng cho các dự án có lợi ích công cộng. Mục tiêu đề ra rất hợp lý, nhưng việc thực thi chính sách này gây ra nhiều kiện tụng và tạo ra cam phẫn trong dân chúng. Hiện tượng này hầu xẩy ra ở khắp 61 tỉnh và thành phố trên toàn quốc.

Trường hợp thông thường là dân bị lấy lại đất nhưng không được bồi thường theo giá thị trường hoặc không được đền bù gì cả vì không có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất đai. Dân có những trường hợp khiếu nại nghiêm trọng mà nhà nước không giải quyết nhanh chóng. Mới đây có trường hợp kiện cáo kéo dài 15 năm rồi mà vẫn chưa kết thúc. [15] Đất bị nhà nước thu hồi, “giải phóng mặt bằng”, rồi được phân lại thành các lô và rao bán lại với giá cao gấp nhiều lần cho những người giầu có để xây biệt thự hay các mục tiêu khác mà “chủ cũ” không đủ điều kiện thực hiện. Một nông dân ở Củ Chi, Trảng Bàng được đền bù 15 triệu đồng (US$951) cho một miếng đất rông ½ ha. Nhưng giá thị trường gấp 10 lần tức là 150 triệu VNĐ (US$9,510). Với một số tiền ít oi như thế, một nông dân không được huấn luyện để có nghề khác, vì nhà nước không có đủ ngân sách, chẳng bao lâu sẽ trở thành kẻ vô sản thuần tuý. [16] Một số nông dân trồng rau ở Đà Lạt bị đuổi ra khỏi khu đất đang sinh sống, xin đất ở nơi khác để tiếp tục sống về nghề trồng rau, nhưng không được chấp thuận. Nhà nước tính đưa số nông dân vào ở trong chung cư. Xưa nay chỉ biết cầm cuốc, cầm sẻng, họ lo sợ vì không biết làm gì khác để sống.

Nguyên nhân của tình trạng quy hoạch hỗn loạn này là do nhà nước không có một chính sách đất đai rõ ràng, không có sự giám sát hữu hiệu và sự lạm dụng địa vị của các quan chức nhà nước ở địa phương cũng như tại trung ương. “Trên bảo dưới không nghe. Địa phương tự tung, tự tác, muốn làm gì thì làm; vượt ra ngoài vòng kiểm soát của chính phủ. “[17] Ngoài ra một số cán bộ kiểm tra việc thi hành luật lại không hiểu rành rẽ về luật lệ đất đai. Các dự án phát triển cần quy hoạch đất đai được soạn thảo một cách thiếu minh bạch. Có những dự án quy hoạch được thiết kế giả tạo để làm tiền dân chúng.

Bất mãn vì bị mất đất mất nhà cửa, dân chúng đã biểu tình phản đối và thỉnh nguyện nhà nước giải quyết những bất công. Đã có những trường hợp dân chúng nổi loạn vì bị ức hiếp nhưng không biết trông cậy vào đâu. Dường như nhà nước không thông cảm. Ông Nông Đức Mạnh, Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt-Nam đã phát biểu như sau trước sự kiện là ngày càng có nhiều biểu tình: “Chế độ dân chủ của chúng ta ngày càng loạn.” [18] Gần 2 năm sau nhà nước ban hành Nghị Định số 38/2005/NĐ-CP vào ngày 18/3/2005 với tựa đề là “Nghị Định Của Chính Phủ Quy Định Một Số Biện Pháp Bảo Đảm Trật Tự Công Cộng” bao gồm những luật lệ ngăn chặn những cuộc biểu tình của dân chúng vì nhiều lý do khác nhau liên quan đến nhà đất, thuế, tham nhũng, nhân quyền và tôn giáo. Những cuộc tranh đấu bất bạo động nhằm lật đổ chế độ độc tài đã thành công tại Georgia, Ukraine, và Kygyzstan. Phong trào dân chủ đang phát triển ở tại Egypt và Saudi Arabia tại Trung Đông, Thái Lan và Nam Dương tại Á châu. Những biến cố này đã làm cho Hà-Nội phải lo ngại. [19]

Mặc dầu bị đe doạ đến an ninh cá nhân và gia đình, dân chúng vẫn tiếp tục tụ tập “khiếu kiện tập thể”. Mới đây vào ngày 17.10.2005 có khoảng 200 người biểu tình trước trụ sở Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội. Những người này dấu kín trong người những biểu ngữ đòi chống tham nhũng, đòi giải quyết những khiếu kiện về đất đai, và chỉ tung ra khi đã đến trước trụ sở. Nguồn tin này cũng cho biết đã xẩy ra xô xát giữa những người biểu tình và công an nhưng không rõ có bao nhiêu người bị thương. Sang ngày hôm sau, có khoảng 60-70 người diễn hành qua trụ sở Quốc Hội khi Quốc Hội đang họp, cũng để phản đối về vấn đề đất đai. Trong đám biểu tình có một số người mặc quần áo dân tộc vùng cao nguyên miền Trung. [20]

Tuyệt vọng vì khiếu kiện đòi nhà đất bị tịch thu tại Đà Lạt không có kết quả, Bà Phạm Thị Trung Thu đã ra Hà-Nội tự thiêu ngay tại nhà tiếp dân ở Quận Ba Đình ngày 29.9.2005. Bà bị phỏng nặng. Tai nạn này đã gây xúc động cho dư luận trong và ngoài nước. Ngày 18.8.2005, một người đàn ông từ tỉnh Tiền Giang đã đến tự thiêu trước trụ sở Tòa Tổng Lãnh Sự Hoa-Kỳ ở Saigon. Công An đã dặp tắt được lửa và mang nạn nhân đi biệt tăm. Đây là triệu chứng không tốt đẹp cho một chế độ được mệnh danh Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa với ba khẩu hiệu rất kêu: “Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc.” [21]

Kết luận

Đất đai hiện nay là một vấn đề nóng bỏng ở Việt-Nam. Hàng ngày các tờ báo trong nước đều có đăng tin về các vụ khiếu kiện, tham nhũng, ân oán liên quan đền đất đai từ thành thị đến thôn quê. Nhà nước cho phép báo chí loan tải tin tức là một tiến bộ. Điều này giúp giảm bớt bất mãn cùng cực của những người dân bị ức hiếp. Nhưng nếu nhà nước không tìm cách giải quyết thỏa đáng nguyện vọng của nhân dân, vấn đề bất công về đất đai sẽ ngày càng nghiêm trọng hơn, có cơ bùng nổ lớn và gây bất ổn trong xã hội.

Việc cấp bách là nhà nước phải bồi thường thiệt hại cho dân chúng bị trưng thu ruộng đất và nhà cửa theo giá thị trường. Luật này cần phải có hiệu lực hồi tố đối với những trường hợp trưng thu tài sản từ khi có Luật Đất Đai 1993 đến nay. Luật này đặc biệt phải áp dụng cả đối với đồng bào Thượng, những người chấn giữ biên thùy vào thời bình cũng như thời chiến. Đất nước không thể quên họ. Dân chúng phải được quyền khiếu nại tại địa phương cũng như tại các cấp cao hơn kể cả trung ương. Trung Ương không thể phủi tay đổ lỗi hết cho địa phương. Những Biện pháp này không những vì lý do công bằng mà còn là cách để ngăn chặn nạn đầu cơ, tham nhũng, bóc lột những kẻ thân cô thế cô và giúp rút ngắn thời gian chờ đợi của các nạn nhân.

Các thành viên của 13 đoàn thanh tra của Bộ Tài Nguyên Thiên Nhiên và Môi Trường cần phải được huấn luyện để trở nên thành thạo về luật lệ đất đai. Báo cáo của các đoàn thanh tra cần phải được gửi thẳng cho một Ủy Ban Liên Bộ Đặc Trách về Đất Đai mà Bộ Trưởng Tài Nguyên Thiên Nhiên và Môi Trường sẽ là Tổng Thư Ký và Thủ Tướng sẽ là đóng vai trò Chủ Tịch. Nhà nước cần phải lập ra một ngân quỹ đặc biệt để bồi thường trong các vụ khiếu kiện đất đai. Những biện pháp này sẽ giảm bớt thời gian chờ đợi của dân chúng và cơ hội tham nhũng.

Ngân sách dành để chi tiêu vào việc dậy nghề những người bị trưng thu nhà đất hiện nay không thực tế. Bà Bộ Trưởng Bộ Lao Động, Thương Binh và Xã Hội Nguyễn Thị Hằng nói rất đúng: “Quốc Hội đòi hỏi nhà nước phải huấn nghệ cho một triệu người mỗi năm, mà ngân sách chỉ đủ để huấn luyện 160,000 người.” Chương trình dậy nghề cũng phải để ý rằng nông dân không thể học những ngành đòi hỏi phải có trình độ trung học, phải có ngoại ngữ và phải có khả năng dùng máy điện toán. [22]

Trên đây là những vấn đề cấp bách cần thi hành ngay. Nhưng để đại đoàn kết dân tộc, không gì bằng là giải quyết vấn đề nhà đất tận gốc. Nhà nước cần nghiên cứu phương cách hợp tình hợp lý để bồi hoàn cho những người bị tịch thu bất động sản của họ sau khi chiến tranh tại Việt-Nam chấm dứt vào năm 1975 và cho cả những nạn nhân của hai cuộc cải cách ruộng đất đấm máu 1955-1956, dù chỉ là một nghĩa cử tượng trưng.

Nguyễn Quốc Khải

Chú Thích:

[1] Javed Hamid, “Toward a Greater Role for the Domestic Private Sector in Vietnam’s Economic Development,” IFC. Paper presented at the conference on “Opening Markets and Continued Growth – Vietnam and Asian Economy” organized by the Asia Society in Hanoi, March 5-7, 2003.

[2] Lâm Thanh Liêm, “Chính Sách Cải Cách Ruộng Đất Việt-Nam, 1954-1994,” Nhà Sách và Xuất Bản Nam Á, Paris: 1995.

[3] Quy-Toan Do, Lakshmi Iyer, “Land Rights and Economic Development: Evidence from Vietnam,” The World Bank, and MIT, May 2003.

[4] Lâm Thanh Liêm, “Chính Sách Cải Cách Ruộng Đất Việt-Nam, 1954-1994,” Nhà Sách và Xuất Bản Nam Á, Paris: 1995.

[5] Quy-Toan Do, Lakshmi Iyer, “Land Rights and Economic Development: Evidence from Vietnam,” The World Bank, and MIT, May 2003.

[6] Rita Liljestrom và các cộng sự , “Thuận lợi và khó khăn của nông thôn Việt Nam: kẻ mất người được trong công cuộc đổi mới”, Curzon Press, United Kingdom: 1998.

[7] Tran Dinh Thanh Lam, “Factories Grabbing Land From Farmers,” Inter Press Service, Ho Chi Minh City: June 3, 2004.

[8] The Saigon Times Daily, “National Assembly Discusses Land Regulations,” May 31, 2001.

[9] Financial Times Information, “Vietnam’s Legislators Call for Lower Land Prices,” October 28, 2003.

[10] National Assembly, Socialist Republic of Vietnam, “Law on Land, No. 13-2003-QH11, March 31, 2004.

[11] U.S. Department of State, “2005 Investment Climate Statement – Vietnam,” Wsahington, DC : November 2005.

[12] Asia Development Bank, “Nguời Nghèo Không Được Hưởng Lợi Từ Luật Đất Đai,” 15.11.2004

[13] Financial Times Information, Speculation Pushes Up Property Prices to Sky High Level in Vietnam,” December 16, 2003.

[14] Financial Times Information, Speculation Pushes Up Property Prices to Sky High Level in Vietnam,” December 16, 2003.

[15] Tiền Phong, “Đà Nẵng: Một Vụ Khiếu Kiện 15 Năm Chưa Kết Thúc do UBNDTP Tiền Hâu Bất Nhất,” 10.10.2005.

[16] Tran Đinh Thanh Lam, “Factories Grabbing Land From Farmers,” Inter Press Service, Ho Chi Minh City: June 3, 2004

[17] Chu Vũ, “Đất Đai: Vấn Đề Nóng Bỏng Hiện Nay ở Việt-Nam,” 16.09.2005.

[18] Deutsche Presse-Agentur, “Land Protest in Vietnam’s Capital,” Hanoi: June 26, 2003.

[19] Vietnam Review, “Nghị Định Số 38/2005 của CSVN Quy Định Một Số Biện Pháp Bảo Đảm Trật Tự Công Cộng,” Washington, DC: 28.03.2005.

[20] Vietnam Review, “Hai Vụ Biểu Tình Tại Hà Nội Về Vấn Đề Đất Đai,” Hà-Nội, 19.10.2005.

[21] Người Nhặt Tin, “Tức Nước Vỡ Bờ – Chuyện Một Người Tự Thiêu,” Thông Luận, Paris: 13.10.2005.

[22] Tran Đinh Thanh Lam, “Factories Grabbing Land From Farmers,” Inter Press Service, Ho Chi Minh City: June 3, 2004

Nguyễn Quốc Khải

——————————————————————————–

Cựu đề mục
Huyền Thoại: Phát Triển Trước Dân Chủ Sau (8/14/2006)
Tiếng Vọng Từ Chicago (8/14/2006)

Tân đề mục
Vụ án siêu nghiêm trọng trong cung đình Hà nội: Quả Trứng Bên Mép Bàn (8/14/2006)
Chín Bài Bình Luận Về Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) (8/14/2006)
Bản Dự Thảo Báo Cáo Chính Trị Trình Đại Hội X Của Đảng CSVN (8/14/2006)
Lời Trần Tình III (8/14/2006)
Bàn Thêm Về Vấn Đề LẠC-VIỆT (8/14/2006)
Sài Gòn Muôn Thuở Để kỷ niệm Ba Mươi Năm Sài Gòn Mất Tên (8/14/2006)
Sự “Lộng Giả Thành Chân” Trong Cuốn “Đại Tướng Lê Đức Anh” Của Khuất Biên Hòa. (8/14/2006)
Chủ Nghĩa Mác Và Đảng Cộng Sản Việt Nam (8/14/2006)
THÊM VÀI CẢM NGHĨ VỀ BÀI THƠ ÔNG ĐỒ (8/14/2006)
Tính Sổ Dân Chủ Đầu Năm: ĐÔNG VÀ TÂY PHUƠNG VẪN CÒN NHIỀU CÁCH BIỆT (8/14/2006)

————
– Qua Những Sai Lầm Trong Cải Cách Ruộng Đất – Xây Dựng Quan Điểm Lãnh Đạo
LTS: Sau đây là bài nói chuyện của  L.S Nguyễn Mạnh Tường về chiến dịch Cải…

– Việt Nam Sau 30 Năm Dưới Chế Độ Cai Trị Của Đảng Cộng Sản Việt Nam
30 tháng Tư năm 2005 đánh dấu 30 năm ngày đảng CSVN chiếm được Miền Nam và áp đặ…
– Bí Ẩn Bao Trùm Ba Vụ Án “Nam Kờ” TRẦN VĂN VĂN, NGUYỄN VĂN BÔNG, TRẦN VĂN BÁ
Nén hương cho sĩ khí Trần Văn Bá      Nhiều năm đã trôi qua…

Blog at WordPress.com.