Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

July 27, 2008

Bích Liên: Vài suy nghĩ về luật trưng mua, trưng dụng tài sản

Bích Liên

Ngày 3/6/2008, Quốc hội thông qua nhanh chóng Luật trưng mua, trưng dụng tài sản. Nhưng báo chí trong nước đều im hơi lặng tiếng về sự kiện này cho đến lúc có công bố của Chủ tịch nước vào ngày 23/6/2008. Báo giới chính thống cũng chỉ giới thiệu vài dòng, không một bình luận nào. Và nếu có, thì chỉ «khen» «luật này ra đời rất đúng lúc». Thế nhưng, trái ngược với không khí «thanh bình» mà báo chí trong nước cố tạo ra, mối nguy về sự bất an dâng lên trong lòng dân lại luôn thường trực.

Ưu tư của một sinh viên ngành luật

Luật đòi hỏi ở người dân sự hi sinh quá lớn về quyền lợi kinh tế

Hi sinh quyền lợi kinh tế thể hiện không những ở loại tài sản có thể bị trưng dụng, trưng mua, mà còn cả mức giá trưng mua hoặc mức bồi thường.

Tài sản thuộc phạm vi trưng mua, trưng dụng là rộng, bao gồm : đất, nhà, các tài sản gắn với đất ; thuốc chữa bệnh, lương thực, thực phẩm, công cụ, dụng cụ và vật tư, vật dụng thiết yếu khác ; phương tiện giao thông vận tải, thông tin liên lạc và phương tiện kỹ thuật khác. (điều 13+23)

Cá nhân, tổ chức có tài sản là đối tượng trưng mua, trưng dụng hoàn toàn bị cưỡng chế, thậm chí chỉ bằng lời nói (trường hợp trưng dụng), không có pháp lí nhưng hiệu lực trưng dụng lại ngay lập tức.

Đối với giá tài sản trưng mua và mức bồi thường trưng dụng, khi không tìm được sự đồng thuận với cá nhân, tổ chức có tài sản, người có thẩm quyền «có thể thành lập hội đồng xác định giá trưng mua tài sản» (khoản 1c) điều 18 ) và «mức bồi thường» (với tài sản trưng dụng, khoản 2 điều 34). Có ai dám chắc trong một nước tham nhũng từ lâu trở thành quốc nạn như VN, hội đồng ấy sẽ đưa ra mức giá[1] chính xác, hoàn toàn dựa trên những thông số kĩ thuật, khách quan ? Và nếu thật sự có một hội đồng công minh ở VN, thì cũng không có nghĩa là người dân có được sự đảm bảo nào đó. Ngay điều 18 và 34 cho thấy người có thẩm quyền chưa chắc theo mức giá mà hội đồng đưa ra vì « quyền quyết định giá » của người có thẩm quyền tồn tại độc lập với việc thành lập hội đồng này ; hơn nữa, «thành lập» hay không hội đồng này thuộc quyền hạn của người có thẩm quyền trưng mua hay trưng dụng.

Như thế, quyền sở hữu- được Hiến pháp bảo đảm (điều 58 HP 1992) và quyền sử dụng tài sản của «tổ chức (ngoài nhà nước), cá nhân, hộ gia đình» có thể bị đưa ra hi sinh chỉ với mức giá rất thấp !

Sự hi sinh lại được bảo đảm bởi công lý…nửa vời

Trong tình trạng chiến tranh, đe dọa nguy hại đến an ninh, sự tồn tại của quốc gia, Nhà nước có quyền thâu tóm tất cả quyền lực (hay là quyền lực tuyệt đối –cho phép dùng vũ lực để cưỡng chế). Nhưng bù lại, cần phải có sự kiểm soát của tòa án để quyền lực ấy không bị lạm dụng.

Luật thông qua ngày 3/6 vừa qua đã trao một quyền lực tuyệt đối cho vài cơ quan Nhà nước khi thực hiện các biện pháp trưng mua, trưng dụng tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc sử dụng của người dân. Thế nhưng, thiếu độc lập với các cơ quan quyết định và thi hành quyết định trưng mua, trưng dụng, tòa án VN không thể nào có được «quyền kiểm soát» quyền lực ấy và như vậy, việc lạm dụng quyền lực là không thể tránh khỏi.

Sự công nhận quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện của người có tài sản tại điều 10 khoản 1c cũng vì thế không có giá trị gì trên thực tế. Thiếu đi tính độc lập, cơ quan tư pháp – đáng lý là quyền lực đối trọng với các quyền lực chính trị khác- rất khó đứng về phía người dân để bảo vệ quyền và tự do của họ, nhất lại trong mối quan hệ giữa công dân với Nhà nước. Tôn chỉ xử án quan trọng nhất của Toà án VN là bảo vệ ổn định xã hội. Sự tương thích giữa tính chất của các hoàn cảnh cho phép áp dụng luật này (xem điều 5- điều kiện trưng mua, trưng dụng) và biện pháp cần thiết để «ổn định xã hội» tạo điều kiện cho tòa án « giúp » cơ quan hành chính chà đạp lên quyền khiếu nại, tố cáo…

Công nhận trên văn bản một quyền mà không đảm bảo sự thực thi trên thực tế, việc đòi công lý là xa vời.

Công lý cũng không thể được thực thi khi một cơ quan vừa là bị cáo vừa là quan tòa. Theo luật này, Bộ tài chính vừa là cơ quan có thẩm quyền quyết định trưng mua (điều 14 khoản 2), trưng dụng (điều 24 khoản 1), lại vừa là cơ quan có «trách nhiệm… thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về trưng mua, trưng dụng tài sản», vừa đảm nhận «giải quyết khiếu nại, tố cáo» (điều 9, khoản 2d và 2đ). Có chăng công lý chỉ đến từ một Bộ tài chính liêm khiết, chính trực. Nhưng trong cơ chế hành chính ở VN hiện nay còn khó tìm thấy một viên chức liêm khiết, dám chống lại cả hệ thống bằng cách thiết lập công lý cho người bị oan, chứ đừng nói gì cả một nhóm người trong Bộ tài chính ?! Chỉ là công lý…nửa vời !

Thậm chí, giả sử tòa án là độc lập, thì với khoản 1c) của điều 10, khi được quyền «Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về trưng mua, trưng dụng tài sản theo quy định của pháp luật », người dân không biết phải tìm «quy định của pháp luật» này ở đâu để áp dụng cho đúng. Những quy định giải quyết xích mích liên quan đến quyết định và thi hành quyết định trưng mua, trưng dụng tài sản có thể nằm ở « luật đất đai », «luật đê điều», «luật bất động sản», «luật môi trường», «luật xây dựng», «luật khiếu nại, tố cáo»… Sự chồng chéo quy định như thế, có khác gì muốn làm nản lòng người khởi kiện.

Người dân đã có thể chờ đợi một cách chính đáng khả năng truy tố trách nhiệm cá nhân của người có thẩm quyền khi thực hiện sai việc trưng dụng, trưng mua như điều 48 trong dự án luật[2]. Nhưng luật thông qua ngày 3/6 không giữ lại điều luật này. Như thế có nghĩa là việc truy tố trách nhiệm chỉ còn giải quyết ở mặt hành chính. Vậy mà, theo hai điều 18 và 34, khi cá nhân, tổ chức có tài sản là đối tượng của luật không đồng ý với mức giá quyết định đơn phương bởi người có thẩm quyền thì họ chỉ có quyền khiếu nại[3]. Quyền tố cáo, quyền khởi kiện không áp dụng ở đây. Nhưng quyền khiếu nại chỉ cho phép người có tài sản bị trưng mua, trưng dụng «đề nghị» lên người có thẩm quyền [4] «xem xét lại» quyết định hoặc hành vi hành chính xâm phạm lợi ích của mình[5] . Nếu không có giải quyết thì sao ? Luật không đề cập đến.

Trong điều kiện đó, mất quyền tố cáo và quyền khởi kiện, lại thiếu khả năng truy tố trách nhiệm cá nhân, nguy cơ mất trắng tài sản (nếu mức giá ấn định là rất thấp) của người dân là rất cao. Mất trắng mà không biết kêu cứu ở đâu, đi đâu để tìm công lý !

Luật sẽ đặt đất nước vào tình trạng khó khăn bởi thất thoát vốn đầu tư và nguy cơ biểu tình cao

Nghiên cứu đồng thời điều 23 và điều 25 Hiến pháp 1992 cho thấy Hiến pháp chỉ đề cập đến vấn đề trưng mua, trưng dụng tài sản của tổ chức, cá nhân trong nước (khi thật cần thiết), mà không đề cập gì đến vấn đề này đối với người nước ngoài (ngay cả khi thật cần thiết). Hơn nữa, điều 25 «Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không bị quốc hữu hoá» có nghĩa là tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp không thể chuyển thành tài sản thuộc sở hữu của nhà nước, dù với bồi thường (trưng mua) hoặc không (tịch thu). Vậy ít nhất đối với vấn đề trưng mua tài sản, có thể hiểu rằng Hiến pháp cấm áp dụng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Cũng chính vì thế mà luật đầu tư năm 1996 (sau này bị sửa đổi bởi luật đầu tư 2005 theo hướng của luật 2008 này) quy định «Trong quá trình đầu tư vào Việt Nam, vốn và tài sản hợp pháp khác của nhà đầu tư nước ngoài không bị trưng dụng hoặc tịch thu bằng biện pháp hành chính, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không bị quốc hữu hoá»

Khi mở rộng « nạn nhân » của các biện pháp trưng mua, trưng dụng tới người nước ngoài, trong đó có Việt kiều- đối tượng mà mấy năm gần đây cung cấp khoản đầu tư lớn vào nền kinh tế VN, nền kinh tế VN có thể sẽ chịu khoản thất thoát lớn về nguồn vốn bởi sự ra đi của các nhà đầu tư này. Như thế sẽ chỉ làm nặng thêm khoản vay nước ngoài hiện nay vốn đã không có khả năng chi trả.

Tại sao lại lựa chọn một cách làm tự giết chết nền kinh tế của đất nước như thế ? Phải chăng chỉ là vì quyền lợi của bộ máy lãnh đạo khi cảm giác không đủ khả năng tháo gỡ nền kinh tế, tài chính của đất nước thoát khỏi khủng hoảng ?!

Khủng hoảng trong lòng dân cũng không thể tránh khỏi. Tài sản mà bộ luật đề cập đến bao gồm đất đai. Trước tình hình bất lực của chính quyền trong việc giải quyết các khiếu nại, tố cáo từ những cuộc thu hồi đất trong và sau hai cuộc chiến, phải chăng sự ban hành luật này nhằm mục đích hợp pháp hóa vấn đề cưỡng chế thu hồi đất ?! Luật ra đời có lẽ không phải để giải quyết các vấn đề khiếu kiện (đáp ứng lòng dân), mà trái lại cung cấp cho chính quyền một công cụ pháp lý để dễ dàng hơn trong việc thu hồi đất. Nhưng những cuộc biểu tình của bà con các tỉnh trước văn phòng QH ở HN và SG từ năm vừa qua đã cho thấy nỗi uất ức của người dân đang chuyển thành hành động. Khi luật này bắt đầu áp dụng, nạn nhân sẽ nhân lên, nguy cơ biểu tình cũng vì thế có thể lan rộng.

Lời kết : làm sao để tự bảo vệ tài sản của mình ?

Làm thế nào trước khi luật này có hiệu lực (1/9/2009 ) bảo vệ ít nhiều tài sản của mình ? Chẳng nhẽ tìm cách chuyển tài sản của mình thành những tài sản «không thuộc đối tượng trưng mua, trưng dụng» ?! Tức là bán tất cả rồi chuyển vào ngân hàng nước ngoài ?! Thế thì sẽ ở đâu, làm ăn ra sao ?! Ôi, không lẽ trong thời bình, người dân lại phải nghĩ đến chuyện di tản ?!

Bích Liên
© Tạp chí Phía Trước

[1] «Giá» ở đây, xin hiểu là giá trưng mua tài sản và mức bồi thường trưng dụng.
[2] mời xem tại http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2008/02/05/56472/
[3] «nếu người có tài sản… không đồng ý với giá này thì vẫn phải chấp hành nhưng có quyền khiếu nại.»
[4] «người có thẩm quyền» bao gồm người chịu trách nhiệm trực tiếp với quyết định, hành vi hành chính nào đó và cả người cấp trên của người đó.
[5] xem định nghĩa «khiếu nại» tại trang Hướng dẫn nghiệp vụ-BTP http://nghiepvu.moj.gov.vn/xembai.aspx?nv=295

Nguồn:
http://blog.360.yahoo.com/blog-V3M_NEolerbUJtSbv.5KMo8GAUmgg7A-?cq=1

Advertisements

June 26, 2008

LUẬT TRƯNG MUA, TRƯNG DỤNG TÀI SẢN

Hỏa tốc

Thời buổi này rồi mà cái gì tụi nó cũng giấu như mèo giấu cứt .

Thursday June 26, 2008 – 07:15pm (ICT) Permanent Link 2 Comments

Luật hiếp dâm

LUẬT
TRƯNG MUA, TRƯNG DỤNG TÀI SẢN
CỦA QUỐC HỘI KHÓA XII, KỲ HỌP THỨ 3, SỐ 15/2008/QH12

NGÀY 03 THÁNG 06 NĂM 2008
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;
Quốc hội ban hành Luật trưng mua, trưng dụng tài sản.
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Luật này quy định về việc trưng mua, trưng dụng tài sản; quyền và trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc trưng mua, trưng dụng tài sản; quyền và nghĩa vụ của người có tài sản trưng mua, trưng dụng; quyền và nghĩa vụ của người khác có liên quan đến việc trưng mua, trưng dụng tài sản.
Điều 2. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Trưng mua tài sản là việc Nhà nước mua tài sản của tổ chức (không bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị vũ trang nhân dân), cá nhân, hộ gia đình thông qua quyết định hành chính trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia.
2. Trưng dụng tài sản là việc Nhà nước sử dụng có thời hạn tài sản của tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng dân cư thông qua quyết định hành chính trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia.
3. Người có tài sản trưng mua là tổ chức, cá nhân, hộ gia đình trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền sở hữu tài sản thuộc đối tượng trưng mua.
4. Người có tài sản trưng dụng là tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng dân cư trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền sở hữu tài sản hoặc quyền sử dụng tài sản thuộc đối tượng trưng dụng.
Điều 3. Chính sách trưng mua, trưng dụng tài sản
1. Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp về tài sản của tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng dân cư.
2. Người có tài sản trưng mua được thanh toán tiền trưng mua tài sản; người có tài sản trưng dụng bị thiệt hại về tài sản do việc trưng dụng gây ra thì được bồi thường thiệt hại theo giá thị trường.
3. Nhà nước khuyến khích và ghi nhận bằng văn bản việc tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng dân cư tự nguyện hiến, tặng cho tài sản cho Nhà nước hoặc cho Nhà nước sử dụng tài sản mà không nhận bồi thường trong trường hợp trưng mua, trưng dụng tài sản.
Điều 4. Nguyên tắc trưng mua, trưng dụng tài sản
1. Việc trưng mua, trưng dụng tài sản chỉ được thực hiện trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia.
2. Việc trưng mua, trưng dụng tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người có tài sản và không phân biệt đối xử.
3. Việc trưng mua, trưng dụng tài sản được thực hiện theo quyết định của người có thẩm quyền và phải tuân theo điều kiện, trình tự, thủ tục quy định tại Luật này.
4. Người có tài sản trưng mua, trưng dụng phải chấp hành quyết định trưng mua, trưng dụng tài sản của người có thẩm quyền.
5. Việc quản lý, sử dụng tài sản trưng mua, trưng dụng phải đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả.
Điều 5. Điều kiện trưng mua, trưng dụng tài sản
Việc trưng mua, trưng dụng tài sản chỉ được thực hiện khi Nhà nước có nhu cầu sử dụng tài sản mà các biện pháp huy động khác không thực hiện được, thuộc một trong các trường hợp sau đây:
1. Khi đất nước trong tình trạng chiến tranh hoặc trong tình trạng khẩn cấp về quốc phòng theo quy định của pháp luật về quốc phòng và pháp luật về tình trạng khẩn cấp;
2. Khi an ninh quốc gia có nguy cơ bị đe doạ theo quy định của pháp luật về an ninh quốc gia;
3. Khi mục tiêu quan trọng về an ninh quốc gia có khả năng bị xâm phạm hoặc cần được tăng cường bảo vệ theo quy định của pháp luật về quốc phòng và pháp luật về an ninh quốc gia;
4. Khi phải đối phó với nguy cơ hoặc để khắc phục thảm hoạ do thiên tai, dịch bệnh gây ra trên diện rộng hoặc nếu không ngăn chặn kịp thời sẽ gây hậu quả nghiêm trọng đến tính mạng, sức khoẻ và tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước.
Điều 6. Hình thức và hiệu lực của quyết định trưng mua, trưng dụng tài sản
1. Quyết định trưng mua tài sản phải được thể hiện bằng văn bản.
2. Quyết định trưng dụng tài sản phải được thể hiện bằng văn bản; trường hợp đặc biệt không thể ra quyết định bằng văn bản thì người có thẩm quyền quyết định trưng dụng tài sản được quyết định trưng dụng tài sản bằng lời nói để thực hiện nhiệm vụ được giao nhưng phải có giấy xác nhận.
3. Quyết định trưng mua, trưng dụng tài sản có hiệu lực thi hành kể từ thời điểm ký ban hành.
Điều 7. Huỷ bỏ quyết định trưng mua, trưng dụng tài sản
1. Quyết định trưng mua, trưng dụng tài sản bị huỷ bỏ trong các trường hợp sau đây:
a) Quyết định trưng mua, trưng dụng tài sản trái với quy định của Luật này;
b) Khi quyết định trưng mua, trưng dụng tài sản chưa được thực hiện nhưng điều kiện trưng mua, trưng dụng tài sản quy định tại Điều 5 của Luật này không còn;
c) Khi quyết định trưng mua, trưng dụng tài sản chưa được thực hiện nhưng vì lý do khách quan mà tài sản không còn tồn tại.
2. Khi xảy ra một trong những trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, người có thẩm quyền ra quyết định trưng mua, trưng dụng tài sản có trách nhiệm huỷ bỏ quyết định trưng mua, trưng dụng tài sản; trong trường hợp Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) không quyết định hủy bỏ quyết định trưng mua, trưng dụng tài sản thì Thủ tướng Chính phủ quyết định huỷ bỏ.
3. Quyết định huỷ bỏ quyết định trưng mua, trưng dụng tài sản phải được thể hiện bằng văn bản và có hiệu lực thi hành kể từ thời điểm ký ban hành; người có tài sản trưng mua, trưng dụng được nhận quyết định hủy bỏ quyết định trưng mua, trưng dụng tài sản.
4. Trường hợp quyết định trưng mua tài sản quy định tại điểm a khoản 1 Điều này bị huỷ bỏ mà tài sản trưng mua đã được bàn giao, tiếp nhận và người có tài sản trưng mua không nhận lại tài sản thì người có tài sản trưng mua được thanh toán theo quy định tại Điều 19 của Luật này; nếu người có tài sản trưng mua nhận lại tài sản mà việc trưng mua đã gây thiệt hại cho họ thì được bồi thường theo quy định tại Điều 34 của Luật này.
5. Trường hợp quyết định trưng dụng tài sản quy định tại điểm a khoản 1 Điều này bị huỷ bỏ mà tài sản trưng dụng đã được bàn giao, tiếp nhận và việc trưng dụng đó đã gây thiệt hại thì người có tài sản trưng dụng được bồi thường theo quy định tại Điều 34 của Luật này.
Điều 8. Quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản trưng mua, trưng dụng
1. Quyền sở hữu tài sản trưng mua thuộc về Nhà nước kể từ thời điểm quyết định trưng mua tài sản có hiệu lực thi hành.
2. Quyền sở hữu tài sản trưng dụng vẫn thuộc về người có tài sản trưng dụng; quyền quản lý, sử dụng tài sản trưng dụng trong thời gian trưng dụng thuộc về Nhà nước.
Điều 9. Trách nhiệm quản lý nhà nước về trưng mua, trưng dụng tài sản
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về trưng mua, trưng dụng tài sản trong phạm vi cả nước.
2. Bộ Tài chính chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về trưng mua, trưng dụng tài sản và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật về trưng mua, trưng dụng tài sản;
b) Hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương thực hiện trưng mua, trưng dụng tài sản theo quy định của pháp luật;
c) Hướng dẫn việc sử dụng ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước để thanh toán tiền trưng mua tài sản, chi trả tiền bồi thường thiệt hại do việc trưng dụng tài sản gây ra cho người có tài sản và người được huy động để vận hành, điều khiển tài sản trưng dụng theo quy định của Luật này;
d) Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về trưng mua, trưng dụng tài sản theo thẩm quyền;
đ) Giải quyết khiếu nại, tố cáo về trưng mua, trưng dụng tài sản theo thẩm quyền.
3. Các bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình
phối hợp với Bộ Tài chính thực hiện quản lý nhà nước về trưng mua, trưng dụng tài sản.
4. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về trưng mua, trưng dụng tài sản.
Điều 10. Quyền và nghĩa vụ của người có tài sản trưng mua, trưng dụng
1. Người có tài sản trưng mua, trưng dụng có các quyền sau đây:
a) Được thanh toán tiền trưng mua tài sản; được hoàn trả tài sản trưng dụng và bồi thường thiệt hại do việc trưng dụng tài sản gây ra;
b) Được khen thưởng về thành tích và đóng góp trong hoạt động trưng mua, trưng dụng tài sản theo quy định của pháp luật;
c) Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về trưng mua, trưng dụng tài sản theo quy định của pháp luật.
2. Người có tài sản trưng mua, trưng dụng có nghĩa vụ chấp hành quyết định trưng mua, trưng dụng tài sản.
Điều 11. Quản lý, lưu trữ các tài liệu liên quan đến việc trưng mua, trưng dụng tài sản
Các tài liệu liên quan đến việc trưng mua, trưng dụng tài sản phải được lập thành hồ sơ và được quản lý, lưu trữ theo quy định của pháp luật.
Điều 12. Những hành vi bị nghiêm cấm
1. Trưng mua, trưng dụng tài sản không đúng đối tượng, điều kiện, thẩm quyền và trình tự, thủ tục theo quy định của Luật này.
2. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong việc trưng mua, trưng dụng tài sản để tham ô, tham nhũng, trục lợi hoặc vì mục đích cá nhân khác.
3. Trì hoãn, từ chối hoặc chống lại việc thực hiện quyết định trưng mua, trưng dụng tài sản, quyết định huy động người vận hành, điều khiển tài sản trưng dụng.
4. Bán, trao đổi, tặng cho và các giao dịch dân sự khác làm thay đổi quyền sở hữu đối với tài sản đã có quyết định trưng mua.
5. Hủy hoại, làm thay đổi hiện trạng của tài sản đã có quyết định trưng mua, trưng dụng.
6. Cản trở hoặc xúi giục người khác cản trở việc trưng mua, trưng dụng tài sản.
7. Quản lý, sử dụng tài sản trưng mua, trưng dụng trái với quy định của pháp luật.
Chương II
TRƯNG MUA TÀI SẢN
Điều 13. Tài sản thuộc đối tượng trưng mua
1. Nhà và tài sản khác gắn liền với đất trong trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 5 của Luật này.
2. Thuốc chữa bệnh, lương thực, thực phẩm, công cụ, dụng cụ và vật tư, vật dụng thiết yếu khác.
3. Phương tiện giao thông vận tải, thông tin liên lạc và phương tiện kỹ thuật khác.
Điều 14. Thẩm quyền quyết định trưng mua tài sản
1. Thủ tướng Chính phủ quyết định trưng mua tài sản quy định tại khoản 1 Điều 13 của Luật này.
2. Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ trưởng Bộ Công Thương, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình quyết định trưng mua tài sản quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 13 của Luật này.
3. Người có thẩm quyền quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này không được uỷ quyền hoặc phân cấp thẩm quyền quyết định trưng mua tài sản.
Điều 15. Nội dung quyết định trưng mua tài sản
1. Quyết định trưng mua tài sản có các nội dung chủ yếu sau đây:
a) Họ tên, chức vụ, đơn vị công tác của người quyết định trưng mua tài sản;
b) Tên, địa chỉ của người có tài sản trưng mua;
c) Tên, địa chỉ của tổ chức được giao quản lý, sử dụng tài sản trưng mua;
d) Mục đích trưng mua;
đ) Tên, chủng loại, số lượng, hiện trạng của tài sản trưng mua;
e) Giá trưng mua tài sản (nếu thoả thuận được);
g) Thời gian và địa điểm bàn giao, tiếp nhận tài sản trưng mua;
h) Thời hạn, hình thức và địa điểm thanh toán tiền trưng mua tài sản.
2. Quyết định trưng mua tài sản phải được giao ngay cho người có tài sản trưng mua; trường hợp người có tài sản trưng mua vắng mặt thì quyết định trưng mua tài sản phải được giao cho Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp xã) nơi có tài sản trưng mua.
Điều 16. Bàn giao, tiếp nhận tài sản trưng mua
1. Việc bàn giao, tiếp nhận tài sản trưng mua được thực hiện theo đúng đối tượng, thời gian và địa điểm quy định tại quyết định trưng mua tài sản. Đối với tài sản mà pháp luật quy định phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu thì phải có hồ sơ, giấy tờ liên quan đến quyền sở hữu tài sản kèm theo; trường hợp vì lý do khách quan chưa cung cấp được hồ sơ, giấy tờ liên quan đến quyền sở hữu tài sản đó thì thực hiện bàn giao tài sản theo hiện trạng.
2. Thành phần tham gia bàn giao, tiếp nhận tài sản trưng mua gồm có:
a) Người có tài sản trưng mua hoặc người đại diện hợp pháp;
b) Đại diện tổ chức được giao quản lý, sử dụng tài sản trưng mua.
3. Việc bàn giao, tiếp nhận tài sản trưng mua phải được lập thành biên bản. Nội dung chủ yếu của biên bản gồm có:
a) Tên, địa chỉ của người có tài sản trưng mua hoặc người đại diện hợp pháp;
b) Tên, địa chỉ của tổ chức được giao quản lý, sử dụng tài sản trưng mua;
c) Tên, chủng loại, số lượng, hiện trạng của tài sản trưng mua tại thời điểm bàn giao, tiếp nhận;
d) Thời gian và địa điểm bàn giao, tiếp nhận tài sản trưng mua;
đ) Danh mục hồ sơ, giấy tờ kèm theo (nếu có).
4. Trường hợp người có tài sản trưng mua hoặc người đại diện hợp pháp không có mặt tại địa điểm bàn giao, tiếp nhận tài sản trưng mua theo thời hạn đã quy định thì trong biên bản bàn giao, tiếp nhận tài sản phải ghi rõ sự vắng mặt của họ và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản trưng mua.
Điều 17. Cưỡng chế thi hành quyết định trưng mua tài sản
Trường hợp quyết định trưng mua tài sản đã được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật mà người có tài sản trưng mua không chấp hành thì người quyết định trưng mua tài sản ra quyết định cưỡng chế thi hành và tổ chức cưỡng chế thi hành hoặc giao cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp huyện) nơi có tài sản trưng mua tổ chức cưỡng chế thi hành.
Điều 18. Giá trưng mua tài sản

1. Việc xác định giá trưng mua tài sản được quy định như sau:
a) Giá trưng mua tài sản được xác định căn cứ vào giá phổ biến trên thị trường địa phương của tài sản cùng loại hoặc có cùng tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng và xuất xứ tại thời điểm quyết định trưng mua tài sản;
b) Trường hợp tại thời điểm thanh toán tiền trưng mua tài sản, giá thị trường của tài sản trưng mua cao hơn so với giá thị trường tại thời điểm quyết định trưng mua thì giá trưng mua tài sản được tính theo giá thị trường tại thời điểm thanh toán;
c) Đối với tài sản là bất động sản, phương tiện kỹ thuật hoặc tài sản khác mà việc xác định chính xác giá khó thực hiện ngay tại thời điểm trưng mua tài sản thì người có thẩm quyền quyết định trưng mua tài sản có thể thành lập hội đồng để xác định giá trưng mua tài sản.
2. Giá trưng mua tài sản do người có tài sản trưng mua và người có thẩm quyền quyết định trưng mua tài sản thoả thuận theo nguyên tắc quy định tại điểm a khoản 1 Điều này và được ghi vào quyết định trưng mua tài sản. Trường hợp không thoả thuận được thì người có thẩm quyền quyết định trưng mua tài sản quyết định giá trưng mua tài sản; nếu người có tài sản trưng mua không đồng ý với giá này thì vẫn phải chấp hành nhưng có quyền khiếu nại.
Điều 19. Thanh toán tiền trưng mua tài sản

1. Tiền trưng mua tài sản được thanh toán một lần cho người có tài sản trưng mua trong thời hạn như sau:
a) Không quá bốn mươi lăm ngày, kể từ ngày quyết định trưng mua tài sản có hiệu lực thi hành đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 5 của Luật này;
b) Không quá ba mươi ngày, kể từ ngày quyết định trưng mua tài sản có hiệu lực thi hành đối với trường hợp quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 5 của Luật này.
2. Trường hợp không thể thanh toán kịp theo thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này vì lý do bất khả kháng thì được gia hạn, nhưng thời gian gia hạn không quá bốn mươi lăm ngày đối với trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này và không quá ba mươi ngày đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này. Việc gia hạn phải được thông báo bằng văn bản cho người có tài sản trưng mua biết trước khi kết thúc thời hạn thanh toán quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản 1 Điều này.
3. Bộ Tài chính, cơ quan tài chính địa phương chịu trách nhiệm thanh toán tiền trưng mua tài sản cho người có tài sản trưng mua theo đúng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này và quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
Điều 20. Kinh phí thanh toán tiền trưng mua tài sản

Kinh phí thanh toán tiền trưng mua tài sản do ngân sách nhà nước chi trả theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
Điều 21. Quản lý, sử dụng tài sản trưng mua

Việc quản lý, sử dụng tài sản trưng mua được thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.
Điều 22. Hiến, tặng cho tài sản trưng mua

Trường hợp người có tài sản trưng mua tự nguyện hiến, tặng cho tài sản trưng mua cho Nhà nước thì Nhà nước không phải thanh toán tiền cho người hiến, tặng cho tài sản. Việc hiến, tặng cho tài sản được lập thành văn bản.

Wednesday June 25, 2008 – 04:13pm (ICT) Permanent Link 12 Comments
———————————————————————
Luật hiếp dâm _ 2

Chương III
TRƯNG DỤNG TÀI SẢN
Điều 23. Tài sản thuộc đối tượng trưng dụng

1. Nhà, đất và tài sản khác gắn liền với đất.
2. Máy móc, thiết bị, phương tiện giao thông vận tải, thông tin liên lạc và phương tiện kỹ thuật khác.
Điều 24. Thẩm quyền quyết định trưng dụng tài sản

1. Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ trưởng Bộ Công Thương, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình quyết định trưng dụng tài sản quy định tại Điều 23 của Luật này.
2. Người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này không được phân cấp thẩm quyền quyết định trưng dụng tài sản.
Điều 25. Nội dung của quyết định trưng dụng tài sản

1. Quyết định trưng dụng tài sản bằng văn bản có các nội dung chủ yếu sau đây:
a) Họ tên, chức vụ, đơn vị công tác của người quyết định trưng dụng tài sản;
b) Tên, địa chỉ của người có tài sản trưng dụng hoặc người đang quản lý, sử dụng hợp pháp tài sản trưng dụng;
c) Tên, địa chỉ của tổ chức, họ tên và địa chỉ của cá nhân được giao quản lý, sử dụng tài sản trưng dụng;
d) Mục đích, thời hạn trưng dụng tài sản;
đ) Tên, chủng loại, số lượng, hiện trạng của từng tài sản trưng dụng;
e) Thời gian và địa điểm bàn giao, tiếp nhận tài sản trưng dụng.
2. Quyết định trưng dụng tài sản phải được giao cho người có tài sản trưng dụng hoặc người đang quản lý, sử dụng hợp pháp tài sản; trường hợp người có tài sản trưng dụng hoặc người đang quản lý, sử dụng hợp pháp tài sản trưng dụng vắng mặt thì quyết định trưng dụng tài sản phải được giao cho Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản trưng dụng.
Điều 26. Trình tự, thủ tục quyết định trưng dụng tài sản bằng lời nói

1. Người có thẩm quyền quyết định trưng dụng tài sản được quyết định trưng dụng tài sản bằng lời nói. Khi quyết định trưng dụng tài sản bằng lời nói, người có thẩm quyền quyết định trưng dụng tài sản phải viết giấy xác nhận việc trưng dụng tài sản ngay tại thời điểm trưng dụng. Nội dung giấy xác nhận phải ghi rõ họ tên, chức vụ, đơn vị công tác của người có thẩm quyền quyết định trưng dụng tài sản; tên, địa chỉ của người có tài sản trưng dụng hoặc người đang quản lý, sử dụng hợp pháp tài sản; tên, chủng loại, số lượng, hiện trạng của từng tài sản trưng dụng; mục đích, thời hạn trưng dụng; tên, địa chỉ của tổ chức, họ tên và địa chỉ của cá nhân được giao quản lý, sử dụng tài sản trưng dụng.
2. Chậm nhất là bốn mươi tám giờ, kể từ thời điểm quyết định trưng dụng tài sản bằng lời nói, cơ quan của người đã quyết định trưng dụng tài sản bằng lời nói có trách nhiệm xác nhận bằng văn bản việc trưng dụng tài sản và gửi cho người có tài sản trưng dụng hoặc người đang quản lý, sử dụng hợp pháp tài sản một bản. Văn bản xác nhận phải có các nội dung chủ yếu được quy định tại khoản 1 Điều 25 của Luật này.
Điều 27. Huy động người vận hành, điều khiển tài sản trưng dụng

1. Trường hợp tài sản trưng dụng phải có người vận hành, điều khiển nhưng tổ chức, cá nhân được giao quản lý, sử dụng tài sản trưng dụng không có người vận hành, điều khiển thì người quyết định trưng dụng tài sản được huy động người đang vận hành, điều khiển tài sản trưng dụng đó để vận hành, điều khiển .
2. Quyết định huy động người vận hành, điều khiển tài sản trưng dụng có các nội dung chủ yếu sau đây:
a) Họ tên, chức vụ, đơn vị công tác của người quyết định huy động;
b) Họ tên, địa chỉ của người được huy động;
c) Mục đích huy động;
d) Thời điểm, thời hạn huy động.
3. Quyết định huy động người vận hành, điều khiển tài sản trưng dụng phải được thể hiện bằng văn bản và phải được giao cho người được huy động. Trường hợp đặc biệt không thể ra quyết định bằng văn bản thì người có thẩm quyền quyết định trưng dụng tài sản được quyết định huy động người vận hành, điều khiển tài sản trưng dụng bằng lời nói và phải có giấy xác nhận việc huy động ngay tại thời điểm huy động. Giấy xác nhận phải có các nội dung chủ yếu được quy định tại khoản 2 Điều này.
4. Người được huy động vận hành, điều khiển tài sản trưng dụng có nghĩa vụ chấp hành quyết định huy động.
Điều 28. Thời hạn trưng dụng tài sản

1. Thời hạn trưng dụng tài sản bắt đầu từ khi quyết định trưng dụng có hiệu lực thi hành đến:
a) Không quá ba mươi ngày, kể từ ngày bãi bỏ tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 5 của Luật này;
b) Không quá ba mươi ngày, đối với trường hợp quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 5 của Luật này.
2. Trường hợp hết thời hạn trưng dụng tài sản quy định tại khoản 1 Điều này nhưng mục đích của việc trưng dụng tài sản chưa hoàn thành thì được gia hạn nhưng thời gian gia hạn không quá mười lăm ngày.
3. Quyết định gia hạn trưng dụng tài sản phải được thể hiện bằng văn bản và gửi cho người có tài sản trưng dụng trước khi kết thúc thời hạn trưng dụng.
Điều 29. Bàn giao, tiếp nhận tài sản trưng dụng

1. Việc bàn giao, tiếp nhận tài sản trưng dụng được thực hiện theo đúng đối tượng, thời gian và địa điểm quy định tại quyết định trưng dụng tài sản.
2. Thành phần tham gia bàn giao, tiếp nhận tài sản trưng dụng gồm có:
a) Người có tài sản trưng dụng, người đại diện hợp pháp hoặc người đang quản lý, sử dụng hợp pháp tài sản;
b) Cá nhân, đại diện tổ chức được giao quản lý, sử dụng tài sản trưng dụng.
3. Việc bàn giao, tiếp nhận tài sản trưng dụng phải được lập thành biên bản. Nội dung chủ yếu của biên bản gồm có:
a) Tên, địa chỉ của tổ chức, họ tên và địa chỉ của cá nhân được giao quản lý, sử dụng tài sản trưng dụng;
b) Tên, địa chỉ của người có tài sản trưng dụng, người đại diện hợp pháp hoặc người đang quản lý, sử dụng hợp pháp tài sản trưng dụng;
c) Tên, chủng loại, số lượng, hiện trạng của từng tài sản trưng dụng tại thời điểm bàn giao, tiếp nhận;
d) Thời gian và địa điểm bàn giao, tiếp nhận tài sản trưng dụng.
4. Trường hợp người có tài sản trưng dụng, người đại diện hợp pháp hoặc người đang quản lý, sử dụng hợp pháp tài sản trưng dụng không có mặt tại địa điểm bàn giao, tiếp nhận tài sản theo thời gian đã quy định thì trong biên bản bàn giao, tiếp nhận tài sản phải ghi rõ sự vắng mặt của họ và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản trưng dụng.
Điều 30. Bàn giao, tiếp nhận tài sản trong trường hợp quyết định trưng dụng bằng lời nói

Người đang quản lý, sử dụng tài sản trưng dụng phải giao ngay tài sản cho cá nhân, đại diện tổ chức được giao quản lý, sử dụng tài sản trưng dụng sau khi có quyết định trưng dụng tài sản bằng lời nói.

Điều 31. Cưỡng chế thi hành quyết định trưng dụng tài sản

Trường hợp quyết định trưng dụng tài sản đã được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật mà người có tài sản trưng dụng không chấp hành thì người quyết định trưng dụng tài sản ra quyết định cưỡng chế thi hành và tổ chức cưỡng chế thi hành hoặc giao cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi có tài sản trưng dụng tổ chức cưỡng chế thi hành.

 
Điều 32. Quản lý, sử dụng tài sản trưng dụng

Tổ chức, cá nhân được giao quản lý, sử dụng tài sản trưng dụng có trách nhiệm sau đây:
1. Sử dụng tài sản đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả;
2. Bảo quản, bảo dưỡng, sửa chữa tài sản trong thời gian trưng dụng.
Điều 33. Hoàn trả tài sản trưng dụng

1. Tài sản trưng dụng được hoàn trả khi hết thời hạn trưng dụng theo quyết định trưng dụng tài sản.
2. Quyết định hoàn trả tài sản trưng dụng phải được lập thành văn bản và có các nội dung chủ yếu sau đây:
a) Tên, địa chỉ của tổ chức, họ tên và địa chỉ của cá nhân được giao quản lý, sử dụng tài sản trưng dụng;
b) Tên, địa chỉ của người có tài sản trưng dụng hoặc người quản lý, sử dụng hợp pháp tài sản;
c) Tên, chủng loại, số lượng, hiện trạng của từng tài sản hoàn trả;
d) Thời gian và địa điểm hoàn trả tài sản.
3. Thành phần tham gia hoàn trả tài sản trưng dụng:
a) Cá nhân, đại diện tổ chức được giao quản lý, sử dụng tài sản trưng dụng;
b) Người có tài sản trưng dụng, người đại diện hợp pháp hoặc người quản lý, sử dụng hợp pháp tài sản.
4. Việc hoàn trả tài sản trưng dụng phải được lập thành biên bản. Nội dung chủ yếu của biên bản gồm có:
a) Tên, địa chỉ của người có tài sản trưng dụng, người đại diện hợp pháp hoặc người quản lý, sử dụng hợp pháp tài sản trưng dụng;
b) Tên, địa chỉ của tổ chức, họ tên và địa chỉ của cá nhân được giao quản lý, sử dụng tài sản;
c) Tên, chủng loại, số lượng, hiện trạng của từng tài sản hoàn trả;
d) Thời gian và địa điểm hoàn trả.
5. Trường hợp người có tài sản trưng dụng hoặc người quản lý, sử dụng hợp pháp tài sản không đến nhận tài sản thì tổ chức, cá nhân được giao quản lý, sử dụng tài sản trưng dụng tiếp tục quản lý và tài sản được xử lý theo quy định của pháp luật dân sự. Trường hợp người có tài sản trưng dụng tự nguyện hiến, tặng cho tài sản cho Nhà nước thì xác lập sở hữu Nhà nước đối với tài sản đó. Việc hiến, tặng cho tài sản được lập thành văn bản.
Điều 34. Bồi thường thiệt hại do việc trưng dụng tài sản gây ra

1. Người có tài sản trưng dụng được bồi thường thiệt hại trong các trường hợp sau đây:
a) Tài sản trưng dụng bị mất;
b) Tài sản trưng dụng bị hư hỏng;
c) Người có tài sản trưng dụng bị thiệt hại về thu nhập do việc trưng dụng tài sản trực tiếp gây ra.
2. Mức bồi thường thiệt hại do việc trưng dụng tài sản gây ra do người quyết định trưng dụng tài sản thoả thuận với người có tài sản trưng dụng theo nguyên tắc quy định tại các điều 35, 36 và 37 của Luật này. Trường hợp không thoả thuận được thì người quyết định trưng dụng tài sản quyết định mức bồi thường; nếu người có tài sản trưng dụng không đồng ý với mức bồi thường này thì vẫn phải chấp hành nhưng có quyền khiếu nại. Trong trường hợp cần thiết, người có thẩm quyền quyết định trưng dụng tài sản có thể thành lập hội đồng để xác định mức bồi thường.
3. Trường hợp người có tài sản trưng dụng không nhận bồi thường thì được ghi vào biên bản hoàn trả tài sản.
4. Trường hợp tài sản trưng dụng là tài sản nhà nước giao cho các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập bị mất hoặc bị hư hỏng thì được bố trí kinh phí theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước để mua mới hoặc sửa chữa.
Điều 35. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp tài sản trưng dụng bị mất

1. Trường hợp tài sản trưng dụng bị mất thì việc bồi thường được thực hiện bằng tiền.
2. Mức bồi thường bằng tiền được xác định căn cứ vào giá thị trường của tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng, mức độ hao mòn với tài sản đã trưng dụng trên thị trường tại thời điểm thanh toán.
3. Trường hợp tài sản bị mất đã được mua bảo hiểm, đóng lệ phí trước bạ thì mức bồi thường bao gồm cả chi phí mua bảo hiểm và lệ phí trước bạ.
Điều 36. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp tài sản trưng dụng bị hư hỏng

1. Trường hợp tài sản trưng dụng bị hư hỏng thì việc bồi thường được thực hiện theo một trong các hình thức sau đây:
a) Tổ chức, cá nhân được giao quản lý, sử dụng tài sản trưng dụng sửa chữa, khôi phục lại tài sản và hoàn trả cho người có tài sản trưng dụng;
b) Người có tài sản trưng dụng được bồi thường các khoản chi phí có liên quan theo giá thị trường tại thời điểm hoàn trả tài sản để tự sửa chữa, khôi phục lại tài sản.
2. Trường hợp tài sản trưng dụng là đất thì việc bồi thường được thực hiện theo một trong các hình thức sau đây:
a) Tổ chức, cá nhân được giao quản lý, sử dụng tài sản trưng dụng khôi phục lại mặt bằng và hoàn trả cho người có tài sản trưng dụng;
b) Người có tài sản trưng dụng được bồi thường các khoản chi phí bồi bổ, tôn tạo lại mặt bằng theo giá thị trường tại thời điểm hoàn trả tài sản để tự khôi phục lại.
3. Trường hợp tài sản trưng dụng bị hư hỏng không thể sửa chữa, khôi phục được thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 35 của Luật này.
Điều 37. Bồi thường thiệt hại về thu nhập do việc trưng dụng tài sản trực tiếp gây ra

1. Trường hợp thu nhập của người có tài sản trưng dụng bị thiệt hại do việc trưng dụng tài sản trực tiếp gây ra thì mức bồi thường được xác định căn cứ vào mức thiệt hại thu nhập thực tế tính từ ngày giao tài sản trưng dụng đến ngày hoàn trả tài sản trưng dụng được ghi trong quyết định hoàn trả tài sản.
2. Mức thiệt hại thu nhập thực tế được xác định như sau:
a) Đối với những tài sản trên thị trường có cho thuê, mức thiệt hại được xác định phù hợp với mức giá thuê của tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tiêu chuẩn kỹ thuật và chất lượng tại thời điểm trưng dụng tài sản;
b) Đối với những tài sản trên thị trường không có cho thuê, mức thiệt hại được xác định trên cơ sở thu nhập do tài sản trưng dụng mang lại trong điều kiện bình thường trước thời điểm trưng dụng.
Điều 38. Chi trả tiền bồi thường thiệt hại do việc trưng dụng tài sản gây ra

1. Tiền bồi thường thiệt hại do việc trưng dụng tài sản gây ra được chi trả một lần trong thời hạn không quá ba mươi ngày, kể từ ngày hoàn trả tài sản.
2. Trường hợp không thể thanh toán kịp theo thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này vì lý do bất khả kháng thì được gia hạn nhưng thời gian gia hạn không quá ba mươi ngày. Việc gia hạn phải được thông báo bằng văn bản cho người có tài sản trưng dụng được biết trước khi kết thúc thời hạn thanh toán quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Tiền bồi thường thiệt hại do việc trưng dụng tài sản gây ra được chi trả trực tiếp cho người có tài sản trưng dụng.
4. Bộ Tài chính, cơ quan tài chính địa phương có trách nhiệm chi trả tiền bồi thường thiệt hại do việc trưng dụng tài sản gây ra cho người có tài sản trưng dụng theo đúng quy định của Luật này. Trường hợp chậm trả tiền bồi thường thiệt hại thì phải thanh toán tiền lãi theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm thanh toán.
Điều 39. Bồi thường thiệt hại đối với người được huy động để vận hành, điều khiển tài sản trưng dụng

1. Trong thời gian được huy động để vận hành, điều khiển tài sản trưng dụng, người được huy động được bồi thường thiệt hại theo mức thu nhập trung bình ba tháng liền kề của công việc mà người đó thực hiện trước khi được huy động.
2. Khi thi hành quyết định huy động của người có thẩm quyền quy định tại Luật này, nếu người được huy động để vận hành, điều khiển tài sản trưng dụng bị thiệt hại về tính mạng hoặc sức khoẻ thì được bồi thường như sau:
a) Trường hợp bị ốm đau, tai nạn mà thiệt hại về sức khoẻ thì được thanh toán chi phí cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ;
b) Trường hợp bị ốm đau, tai nạn làm suy giảm hoặc mất hoàn toàn khả năng lao động thì được bồi thường tuỳ theo mức độ suy giảm khả năng lao động theo quy định của pháp luật về lao động;
c) Trường hợp bị ốm đau, tai nạn mà chết thì được bồi thường chi phí cho việc mai táng và tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị tai nạn có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật về lao động;
d) Trường hợp bị thương hoặc chết mà đủ điều kiện thì được hưởng chính sách theo quy định của pháp luật về người có công.
Điều 40. Kinh phí bồi thường thiệt hại do việc trưng dụng tài sản gây ra

1. Kinh phí bồi thường thiệt hại do việc trưng dụng tài sản gây ra do ngân sách nhà nước chi trả theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
2. Đối với tài sản trưng dụng đã tham gia bảo hiểm bị thiệt hại nhưng không được doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm chi trả hoặc số tiền được doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm chi trả theo chế độ quy định thấp hơn số tiền người có tài sản trưng dụng được bồi thường thì số tiền chênh lệch do ngân sách nhà nước chi trả.
Chương IV
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 41. Sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật, bộ luật

1. Bỏ cụm từ “trưng mua” tại đoạn 2 khoản 1 Điều 270 của Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10 và sửa đổi đoạn này như sau:
“Nhà ở, công trình xây dựng trái phép có thể bị dỡ bỏ hoặc tịch thu”.
2. Bỏ cụm từ “trưng dụng” tại Điều 55 của Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm số 03/2007/QH12 và sửa đổi, bổ sung Điều này như sau:
“Điều 55. Huy động các nguồn lực cho hoạt động chống dịch
1. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm và quy mô của bệnh dịch đe dọa đến sức khoẻ nhân dân, người có thẩm quyền được huy động người, huy động cơ sở vật chất, thiết bị y tế, thuốc, hoá chất, vật tư y tế, cơ sở dịch vụ công cộng, phương tiện giao thông và các nguồn lực khác để chống dịch. Các phương tiện giao thông tham gia chống dịch được ưu tiên theo pháp luật về giao thông.
2. Tài sản đã huy động nếu được hoàn trả phải được vệ sinh, diệt trùng, tẩy uế trước khi hoàn trả.
3. Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm bảo đảm các điều kiện để thực hiện các biện pháp chống dịch theo quy định của Luật này.”
3. Thay cụm từ “trưng dụng” bằng cụm từ “huy động” tại khoản 8 Điều 14 của Luật Công an nhân dân số 54/2005/QH11 và sửa đổi, bổ sung khoản này như sau:
“8. Trong trường hợp cấp thiết, được ra quyết định hoặc kiến nghị tạm đình chỉ, đình chỉ hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân gây nguy hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và huy động phương tiện giao thông, thông tin, các phương tiện kỹ thuật khác của cơ quan, tổ chức, cá nhân và người điều khiển, sử dụng các phương tiện đó theo quy định của pháp luật.”
4. Thay cụm từ “trưng dụng đất” bằng cụm từ “quyết định sử dụng đất có thời hạn” tại điểm đ khoản 2 Điều 35 của Luật đê điều số 79/2006/QH11 và sửa đổi, bổ sung điểm này như sau:
“đ) Trường hợp khẩn cấp chống lũ, lụt, bão, thiên tai khác mà cần phải sử dụng đất thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện có quyền quyết định sử dụng đất có thời hạn. Chính phủ quy định chi tiết việc trả lại đất và bồi thường thiệt hại cho người có đất bị Nhà nước quyết định sử dụng đất có thời hạn.”
5. Thay cụm từ “trưng dụng đất” bằng cụm từ “quyết định sử dụng đất có thời hạn” tại điểm a khoản 8 Điều 42 của Luật đê điều số 79/2006/QH11 và sửa đổi, bổ sung điểm này như sau:
“a) Hướng dẫn việc bồi thường cho tổ chức, cá nhân bị thu hồi đất hoặc bị quyết định sử dụng đất có thời hạn để phục vụ cho xây dựng, tu bổ, nâng cấp, kiên cố hóa đê điều và các công trình phòng, chống lũ, lụt, bão”.
6. Bãi bỏ Điều 45 của Luật đất đai số 13/2003/QH11.
7. Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm sửa đổi, bổ sung quy định về trưng mua, trưng dụng tài sản tại các văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành để đảm bảo phù hợp với quy định của Luật này.
Điều 42. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2009.
2. Đối với các trường hợp Nhà nước đã thực hiện việc trưng mua, trưng dụng tài sản của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì thực hiện theo các quy định của pháp luật tại thời điểm trưng mua, trưng dụng.
Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 03 tháng 6 năm 2008.

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI
Nguyễn Phú Trọng

June 5, 2008

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CHẾT ĐỨT ĐUÔI CON NÒNG NỌC

LÝ ĐẠI NGUYÊN

Chỉ mới vừa đây, giới đầu tư quốc tế đã không tiếc lời ca tụng Việtnam là một thị trường năng động, sẽ thành rồng, thành cọp ở Á châu, mức phát triển chỉ đứng sau Trung Hoa. Nhưng nay tỷ lệ lạm phát tại Việtnam bỗng lên tới 25% ở tháng 05/08, cao nhất trong 13 năm qua. Trị giá 1 USD đã vượt quá 17.000 đồng VN, trong khi đó tập đoàn tài chánh Golman Sachs ước tính tiền đồng VN sẽ lên giá 22.150 đến 23.150 ăn một USD. Thị trường chứng khoán Sàigòn, Hànội rớt xuống sàn, rồi chui tuột xuống gầm. Năm ngoái, tập đoàn tài chánh quốc tế khổng lồ, Merrill Lynch, quyết định rút khỏi thị trường chứng khoán Việtnam đã đưa ra lời kêu gọi; “Chúng tôi khuyến cáo giảm mức phân bổ đầu tư xuống mức tối đa – Zero – tại một trong những thị trường nổi trôi nhất tại Á Châu, đó là Việtnam”.  

 Nhờ vậy mà Chứng Khoán Việtnam hôm nay có chết thì chết một mình, không làm quốc tế chết theo. Giá cả xăng dầu, hàng hóa, thực phẩm tăng khủng khiếp, khiến dân nghèo càng nghèo thêm. Công nhân không đủ nuôi gia đình. Nạn đình công lan tràn Việtnam, kéo các nhà sản xuất nước ngoài vào cuộc khủng hoảng lạm phát, càng ngày càng trâm trọng. Ngân hàng đầu tư Morgan Stanley đánh giá rằng, có nhiều khả năng xẩy ra khủng hoảng tiền tệ tại Việtnam.

Trong khi đó, lời phát biểu tại Diễn Đàn Doanh Nghiệp Việt Nam của Phòng Thương Mại Mỹ ở Việtnam cho rằng; “Môi trường kinh doanh tại Việtnam đang phải đương đầu với những mối đe dọa của tình trạng đầu cơ bất động sản giả tạo. lạm phát lương bổng, lao động bất ổn và tham nhũng”. Nhân đây Phòng Thương Mại Mỹ không quên nêu ra vụ bắt giữ 2 nhà báo Nguyển Việt Chiến và Nguyễn Văn Hải là những nhà báo từng mạnh dạn điều tra vụ tham nhũng PMU 18 tại bộ Giao Thông Vận Tải trong năm 2006. Lời phát biểu đó còn nhấn mạnh rằng: “Điều quan trọng là không thể trừng phạt những người dân và các viên chức hành động có trách nhiệm trong việc bài trừ tham nhũng”. Cùng trong diễn đàn này, Võ Hồng Phúc, bộ trưởng Kế Hoạch và Đầu Tư đã đọc bài học thuộc lòng do đảng dậy, rằng: “Hai nhà báo vừa kể bị bắt vì phạm luật, và rằng, phòng Thương Mại Mỹ tại Việtnam đã không nhận được những tin tức đúng đắn về vụ này.”

Dư luận quốc tế và Việtnam trong, ngoài nước thừa biết, ngay cả những tên cầm đầu Việtcộng cũng đã ngầm hiểu: Chính cơ chế cộng sản đã tạo ra tham nhũng, và cái gọi là Luật, mà chúng tạo ra chỉ nhằm bảo vệ địa vị, quyền lực, tham nhũng của cộng đảng, và diệt những người chống tham nhũng, đòi tự do dân chủ. Thế rồi hậu quả là đẩy nền kinh tế chập chững của Việtnam vào tử điạ. Dân chúng hoàn toàn không tin vào khả năng điều hành nền kinh tế của những chiếc đầu đần độn tham quyền, tham nhũng của cộng đảng. Nhân tài bỏ cơ quan nhà nước và quốc doanh để làm cho công ty ngoại quốc. Tuy Việtnam vào WTO, mà chương trình giải tư các công ty quốc doanh đảng quản, vẫn đứng ỳ một chỗ. Việc hứa cho thành lập các công ty 100% vốn quốc tế vẫn chưa đi tới đâu, khiến cho ngoại quốc cũng hứa rất nhiều, nhưng thực tế chưa có là bao. Việtnam vẫn chì là một nền kinh tế gia công, suất cảng nông phẩm, và dầu thô, trong khi nông dân lại là thành phần nghèo mạt rệp. Việtnam vẫn phải nhập cảng xăng dầu và nguyên liệu kỹ nghệ dài dài. Thế nên Việtnam cũng phải chiụ chung số phận với giá dầu tăng vọt hiện nay trên thế giới, kéo theo giá thực phẩm gia tăng, thâm hụt mậu dịch, lạm phát phi mã, giá vàng, ngoại tệ giao động mạnh.

Để đối phó với tình trạng trên, nhà nước Việtcộng chỉ đưa ra những biện pháp vá víu, như quy định trần của lãi suất là 12%. Nhưng lạm phát vẫn tăng, mà không có tiền chạy vào Ngân Hàng. Sau 2 tuần lễ nhà nước Việtcộng đành cho phá trần lãi. Các ngân hàng được dịp thi nhau mời kéo thân chủ với lãi suất cao từ 18% đến 20%. Hiện nay ở Việtnam có 5 ngân hàng Thương Mại Nhà Nước, 6 ngân hàng Liên Doanh, 36 ngân hàng Thương Mại Cổ Phần, 44 chi nhánh ngân hàng Nước Ngoài, 10 công ty Tài Chánh, 13 công ty tài chánh phụ và gần 1000 quỹ tín dụng. Thử hỏi, bằng từng ngần ấy cái vòi hút tiền của dân vào, hút tiền của nhà nước ra, mà không thể đầu tư vào đâu để có lời trên 20%, thì chỉ có cách đổi từ tiền đồng VN ra dollars Mỹ, rồi ù té chạy, chứ biết làm sao hơn? Đứa chạy được thì phải là đảng viên có thần, có thế. Đứa không chạy được thì như Nguyễn Văn Mười Hai năm xưa đi tù mọt gông. Nhưng tiền của dân, vốn của nước vẫn thành mây, thành khói.

Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng Việtcộng, hôm 03/06/08 cho biết: “Chính phủ sẽ nghiêm trị những kẻ đầu cơ và những người tung tin thất thiệt để tăng giá và gây xáo trộn thị trường.” Nguyên tắc “đục nước, béo cò” là kinh nhật tụng của những tên cộng sản tham nhũng lưu manh làm kinh tế hiện nay. Chính chúng là những đứa đầu cơ, trục lợi bằng bất cứ thủ đoạn nào, chỉ có Báo Chí Tự Do và Tòa Án Độc Lập mới làm chúng chùn bước. Nhưng hiện nay cộng đảng nắm luôn Báo Chí lẫn Tòa Án, mà Dũng định nghiêm trị chúng sao nổi. Nhất là 2 ký giả, 2 viên chức năng nổ chống tham vừa bị đi tù, thì ai ngu gì mà nghe Dũng xúi dại. Trong khi phe cánh thân Trungcộng đang khai thác tình thế suy sụp của kinh tế Việtnam để bắt Nguyễn Tấn Dũng và bộ sậu của hắn làm “con dê tế thần”. Chẳng thế mà Nông Đức Mạnh phải vội sang Tầu để nhận mật kế của quan thầy, nhằm ăn thua đủ vào kỳ họp đảng tháng 07/08 này đó sao?

Trả lời phỏng vấn BBC Việt ngữ, kinh tế gia trưởng UNDP tại Hànội, Jonathan Pincus nói: “Kinh tế vĩ mô thì uy tín hay lòng tin là 90%.”. Ông thêm rằng: “Nếu chính phủ không rõ ràng trong chính sách, và các biện pháp, để cho những lời đồn đoán đóng vai trò lấn át thì những người không có được thông tin đầy đủ sẽ làm những việc có tính cách bảo vệ cho chính họ một cách rất quyết liệt.”. Đúng vậy, người dân Việtnam và cà quốc tế, đã không còn tin tưởng vào cái cơ chế quái đản “Kinh Tế Thị Trường theo Định Hướng Xã Hội Chủ Nghiã” và khả năng lãnh đạo của Cộng Đảng nữa. Làm sao họ có uy tín để vận hành nổi nền Kinh Tế Vĩ Mô của Việtnam, trong hoàn cảnh khắc nghiệt vừa phải tranh thủ được nhân tâm, huy động nổi nội lực quốc dân và ngoại lực của quốc tế, nhằm giảm lạm phát, đẩy nền kinh tế đi lên. Trái lại chỉ thấy hình ảnh cuộc khủng hoảng 1997 tại Á Châu, phát xuất từ Thái Lan, khiến chỉ trong 2 tuần lễ nước này mất 30 tỷ USD dự trữ. Việtnam hiện nay có thể đã mất đến 10 tỷ USD. Nhưng không vì vậy mà gây ảnh hường dây chuyền ra Á Châu như hồi 1997, vì các nước trong vùng đã biết dùng Dân Chủ Hoá chế độ để thủ thân. Có chăng, Việtnam sẽ là cái trớn của một chiếc kim, chích lủng quả bóng kinh tế khổng lồ đang căng phồng Trungcộng. Vì hai nước này cùng chung chính sách Độc Tài Toàn Trị để vận hành một nền Kinh Tế Thị Trường Tự Do Toàn Cầu Hóa, mà vẫn kéo lê cái duôi “con nòng nọc” là cơ chế Xã Hội Chủ Nghiã lỗi thời. Đã tới lúc do nhu cầu thực tế buộc Việtnam vào cái thế phải chặt đứt cái đuôi quái gở, chẳng giống ai đó đi rồi!

Little Saigon ngày 03/06/2008.

May 29, 2008

Tôi tìm hiểu Luật Đất Đai (viết tắt LĐĐ)

25.03.2008 16:38

 Tôi xin chia sẻ những gì tự tìm hiểu về cái bộ luật mất lòng dân này. Ngoài việc đọc lại Luật (té ra có tới 4-5 cái, và nhiều nghị định, pháp lệnh đi kèm), tôi còn hỏi han những người cao tuổi, nhất là các nạn nhân. Riêng tôi, có thuận lợi hơn các bạn trong nhóm – vì tôi học luật, lại có ông nội từng ở ban soạn thảo luật 1993.  

Chúng ta quan tâm chuyện đồng bào khiếu kiện triền miên do đất đai bị “thu hồi” nhưng được bồi thường quá rẻ mạt. Nhiều bạn nghĩ do tổ chức đảng ở địa phương lộng hành. Nghĩ vậy không sai, nhưng chưa đủ. Cái gốc là do LĐĐ đã truất quyền sở hữu đất của dân, từ đó cán bộ mới có thể hà hiếp dân.  

LĐĐ ở Việt Nam đã gây đau khổ, oan khiên cho hàng chục triệu người, nhất là nông dân, kể từ khi nó ra đời (1987). Chính nó giúp tham nhũng tăng lên gấp 4 lần và mỗi năm rót 10% GDP vào túi bọn tham nhũng, hoặc lãng phí. Hoàn toàn có cơ sở để đạo luật này bị gọi là “sản phẩm của tư duy phản động”.

LĐĐ: sản phẩm của tư duy phản động:

http://www.thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=print&sid=2130

http://www.thtndc.org/modules.php?name=News&op=viewst&sid=934

http://www.doi-thoai.com/baimoi0907_374.html

– vân vân…

Suốt 20 năm vận hành, nó bị cuộc sống chống lại quyết liệt đến mức đảng CSVN phải sửa đổi, bổ sung, thay thế… tới 4 lần; và nay (2008 ) lại sắp phải thay luật lần thứ 5. Vậy mà Luật 2008 vẫn chỉ là tạm thời, còn theo thông báo chính thức thì tới năm 2011 mới hy vọng có luật “hoàn chỉnh”. Nhưng ngay hôm nay tôi có thể nói: Không bao giờ có LĐĐ hoàn chỉnh, nếu không sửa tận gốc. Vậy cái “gốc” đó là gì?

Cái gốc “phản động” của LĐĐ

Không nước nào dám coi tài nguyên đất đai là không quan trọng bậc nhất. Ở Việt Nam lại càng như vậy khi bình quân diện tích đất trên đầu người (vốn đã thấp) cứ ngày càng thu hẹp do dân số tăng nhanh. Đảng CSVN ý thức đầy đủ rằng độc quyền kiểm soát đất đai ở một nước mà nông dân chiếm trên 70% dân số sẽ tạo ra quyền lực tối thượng về kinh tế, qua đó là quyền lực độc tôn về xã hội và chính trị. Do vậy, hiến pháp 1980 được một quốc hội gồm 90% đảng viên thông qua có ghi một ý mà ngay khi đó người dân chưa thể nhận ra sự nguy hiểm cho mình, thậm chí còn hả hê vì thấy “toàn dân” (chung chung) được đảng đề cao: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, hầm mỏ… mà pháp luật qui định là của Nhà nước đều thuộc sở hưũ tòan dân”. Ông nội tôi bảo: Luật gia lõi đời như bà Ngô Bá Thành khi giơ tay thông qua luật còn tưởng rằng “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” nghĩa là… đảng sẽ cho mỗi người dân sở hữu một mảnh đất (!). 

Dựa vào hiến pháp, LĐĐ 1987 (và các năm sau) khằng định: Đất đai là “tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì thay thế được, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở khác nhau và trải qua nhiều thế hệ nhân dân ta tốn bao công sức và xương máu mới khai thác, bồi bổ, cải tạo và bảo vệ được vốn đất như ngày nay”. Khi đó, mọi người chưa thể nhận ra đây là lời mào đầu để ngay sau này đảng CSVN có lý do biến sở hữu đất đai của người dân (dù đó là tự mua một cách chính đáng, tự khai hoang, hoặc do tổ tiên để lại…) trong nháy mắt thành sở hữu của đảng. Kinh chưa? Chỉ bằng mấy tờ giấy mà đảng làm điên đảo cả xã hội! 

Đảng ta giải thích sự tước bỏ quyền sở hữu đất đai của dân bằng lý sự như sau:

“Đất đai là kết quả của một quá trình chế ngự thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm của cả dân tộc chứ không của riêng ai. Tách khỏi những điều kiện của nhà nước, của cộng đồng, thì không một cá nhân nào có thể khai phá và giữ gìn bất cứ mảnh đất nào để rồi sau đó nói nó hoàn toàn là của mình. Có chăng, ở đây họ chỉ có công khai phá và sử dụng nó”.  

Ai có công chống ngoại xâm? Đương nhiên, chúng ta phải học Lịch Sử Đảng để hiểu rằng đảng ta có công chống Pháp và Mỹ. Nhưng đảng cấm chúng ta nghĩ rằng sự nghiệp chống ngoại xâm là của toàn dân và có từ thời Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng đạo, Quang Trung… và sau khi đuổi được giặc thì người dân thời xưa vẫn có quyền sở hữu đất. Quyền này vẫn được thừa nhận trong 80 năm thực dân Pháp chiếm nước ta. Ấy vậy mà sau khi đuổi được thực dân Pháp thì đảng ta lại lý sự rằng không cá nhân nào có quyền sở hữu đất đai. Đang là chủ sở hữu, người dân trong nháy mắt chỉ còn có “quyền sử dụng”; trong khi đó, đảng vô sản vốn chẳng có tý đất nào ban phát cho dân bỗng nhiên trở thành người có quyền ra lệnh “thu hồi” (!). Dùng từ “thu hồi” trong LĐĐ chẳng lẽ không nói lên điều gì về não trạng của đảng ta?

Thực hiện luật = làm xáo trộn và gây đau khổ

Luật 1987 mới thi hành được 5 năm rưỡi đã bị cuộc sống chống lại quyết liệt. Sự xáo trộn xã hội và bức xúc trong dân tới mức đe doạ, khiến đảng ta phải thay thế nó bằng Luật 1993. Luật này vẫn không thể “đi vào cuộc sống”, nên đến 1998 phải bổ sung nhiều điều. Vẫn không ổn, tới 2003 lại phải có luật mới. Nhưng chính cái Luật 2003 này đã tạo ra nhiều triệu dân oan, hàng chục ngàn cuộc khiếu kiện đông người và dài ngày, kể cả biến thành biểu tình… đến mức công an phải lộ diện đàn áp. Luật 2003 có công đầu đưa tham nhũng lên thành quốc nạn. Chính nó có vai trò hàng đầu khiến cho đảng phải ban hành và thực thi các quy định pháp luật về “cưỡng chế”, về tội “chống người thi hành công vụ”, “cấm tụ tập khiếu kiện quá 5 người”… Nay, lại sắp có luật 2008.

Biện bạch cách gì thì sự thay đổi luật soành soạch như vậy cũng cho thấy “lòng dân” không chấp nhận “ý đảng”. Điều này, đảng ta biết rõ hơn chúng ta.  

Ví dụ, sự thi hành luật 1987.

Đối tượng thi hành luật chỉ có 2: dân (ông chủ, theo học thuyết “làm chủ tập thể” của cụ Lê Duẩn) và nhà nước (đầy tớ, có nhiệm vụ… quản lý ông chủ). Luật 1987 khá đơn giản, vì nội dung chủ yếu của nó chỉ là quy định quan hệ đất đai giữa chủ và đầy tớ. Ông chủ tuy mất hẳn quyền sở hữu đất đai, nhưng vẫn được đầy tớ cho phép sử dụng nó, khi cần thì “thu hồi”. Không có đối tượng thứ ba nào khác.

Chính khi LĐĐ 1987 có hiệu lực, mọi người nhận ra một điều: Ý đồ tiêu diệt tôn giáo, tiêu diệt sở hữu và tiêu diệt thị trường là ngu xuẩn, là việc chống Trời.

Tuy về pháp lý, không ai có quyền mua bán đất, nhưng thị trường đất đai vẫn tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau, thông qua luồn lách, hối lộ. Dân vẫn có quyền sở hữu nhà, do vậy khi đã có nhà hợp pháp thì đương nhiên chủ nhà được “quyền sử dụng vĩnh viễn” (tức sở hữu) miếng đất nằm dưới cái nhà đó. Do vậy, chuyện ngược đời những năm đó là mảnh đất (cố định, tĩnh tại) lại phụ thuộc vào cái nhà (dễ biến động, có thể mua bán, đổi chác). Thế là, muốn bán (hay mua) đất chỉ cần làm cái nhà tạm bợ trên mảnh đất đó, rồi bán (hay mua) cái nhà đó là… xong. Cũng bằng cách đó, đất công bị chiếm dụng vô tội vạ. Người có quyền “cho phép làm nhà” tha hồ tham nhũng. 

Luật 1993. Thấy rõ, không thể xoá được thị trường nói chung và thị trường đất đai nói riêng, đảng ta cho phép luật này có những bổ khuyết quan trọng.

Luật cho người dân được sử dụng đất lâu dài hơn (tới 20 và 50 năm) đồng thời có 5 quyền (sử dụng, chuyển quyền sử dụng, thừa kế, thế chấp và cho thuê đất: nghĩa là gần như có quyền sở hữu). Mặc dù về pháp lý, dân không có đất và nhà nước chưa thừa nhận thị trường đất đai, nhưng nhờ kẽ hở cố ý của luật, người ta vẫn mua bán đất; chỉ cần trong giao kèo ghi là… “giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Cũng lúc này, đảng cảm thấy nguy cơ “chệch hướng” ngày càng lớn, nên dẫu buộc phải công nhận cơ chế thị trường, nhưng gắn cho nó cái đuôi “theo định hướng XHCN”. Tới nay, trải 20 năm, nhiều người cho rằng cái đuôi này sắp rụng hẳn, kể cả trong thị trường đất đai. 

Ông nội tôi nói lại: Những người tiến bộ trong nhóm soạn thảo luật 1993 phải rất khéo léo để không chạm tới nguyên lý “thép” (đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước thông nhất quản lý) mà vẫn đưa được 5 quyền cho dân. Kỳ công nhất, là đưa được ý “bồi thường theo giá thị trường” vào văn bản. Ý này giúp dân có cơ sở đấu tranh và tố cáo kiểu bồi thường (cướp) đất hiện nay là bất hợp pháp.  

Luật 1993 lạc hậu rất nhanh vì không chỉ có hai đối tượng liên quan tới đất đai (như quy định ở luật 1987) mà còn phát sinh các đối tượng khác: cơ quan nhà nước, các tổ chức, đoàn thể, nông trường, đất của quân đội… Và thiếu những qui định về quỹ đất tạo cơ sở hạ tầng, chuyển đổi đất nông nghiệp sang mục đích khác và thiếu cả qui định chế độ sử dụng đất của các cơ quan, tổ chức… Chính vì vậy, chỉ sau 1 năm, đã có tới hai pháp lệnh được bổ sung để cấp cứu.

Với luật 1993, thị trường đất được ngấm ngầm phục hồi, sự mua bán công bằng và tấp nập hơn, giá cả phản ánh đúng giá trị của đất.

Luật này chứa đựng mầm tham nhũng và rối loạn. Ví dụ quyền “giao đất” ngang với quyền sinh sát, rất dễ quy đổi ra tiền. Nhưng bất công và đau khổ xảy ra ngay lập tức mỗi khi bọn đầy tớ “thu hồi” đất mà mà chúng tạm giao cho ông chủ. Tuy trên văn bản có ghi rõ: đất bị thu hồi được bồi thường theo giá thị trường, nhưng “giá thị trường” ở đây lại “theo định hướng XHCN”, nghĩa là do “đầy tớ” quy định. Đây chính là nguyên nhân khiến người dân thấy rõ mình bị ăn cướp. Khiếu kiện triền miên cũng từ đó mà ra. Cho tới năm nay, 2008, đảng thừa nhận rằng giá đất do nhà nước quy định để “đền bù” chỉ bằng 60% giá thực tế trên thị trường. Vậy, “thu hồi” là cướp trắng trợn 40% tài sản. 

Các luật về cưỡng chế, trừng trị “kẻ” chống người thi hành công vụ đã hỗ trợ đắc lực LĐĐ mỗi khi đảng “thu hồi” một diện tích lớn. Chưa đủ, về sau còn có nghị định “cấm tụ tập trên 5 người để khiếu kiện”.  Từ đó, trên báo chí, chủ đề liên quan đất đai chiếm tỷ lệ vào loại cao nhất.   

Luật 1998 quy định việc (đầy tớ) giao đất cho các loại chủ (cá nhân và tổ chức), có thu tiền và không thu tiền sử dụng (thuê đất). Việc mua bán đất chưa được thừa nhận chính thức, do vậy vẫn được nguỵ trang dưới dạng “chuyền nhượng quyền sử dụng” và phải có sự cho phép của cấp có thẩm quyền. Nhiều người giàu lên bất thường vì có quyền “cho phép”. 
 
Luật 2003: dự kiến tám nội dung phải sửa

Trong cuộc họp báo này 7-3-2008 về sửa LĐĐ 2003, ông bộ trưởng Tài nguyên – Môi trường nói có 8 nội dung phải sửa và “phải sửa ngay”: 1) vấn đề quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; 2 ) giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; 3) tài chính về đất đai, giá đất; 4) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất; 5) thời hạn sử dụng đất; 6) quyền sử dụng đất khi cổ phần hóa, lên sàn giao dịch chứng khoán; 7) thủ tục hành chính trong quản lý và sử dụng đất; 8 ) quản lý và phát triển thị trường bất động sản. Qua đó, ta thấy nhiều điều đã phát sinh mà luật 2003 không lường trước, đồng thời nhiều vấn đề do sự ngoan cố về quan điểm và lập trường.

Ví dụ nội dung 4 cho thấy dân vẫn mất quyền sở hữu đất, nhưng nội dung 3 (giá đất) và 8 (thị trường bất động sản) lại cho thấy sức mạnh vô địch của cơ chế thị trường đối với mọi phản động lực dám chống lại nó. Hy vọng sẽ tới lúc thắng bại phân minh. 

Trong hội nghị có người khen ngợi tính hiệu dụng và tiện lợi rất cao của bằng khoán điền thổ (giấy công nhận sở hữu đất thực hiện từ năm 1927 và đề nghị đảng ta nên học theo cách đó (của thực dân, phong kiến). Chuyện cấp riêng rẽ “sổ hồng” (công nhận sở hữu nhà, do Bộ Xây Dựng cấp giấy) và “sổ đỏ” (chỉ công nhận “quyền sử dụng đất”, do bộ TN-MT cấp) đang bị phản đối dữ, dư luận đang đòi hỏi gộp lại… (xem vấn đề 4 ở trên). Cái nguyên lý thép về “sở hữu toàn dân” đang núng thế. 

Nhưng vấn đề nổi cộm nhất vẫn là giá đất “thế nào là theo giá thị trường” (không kèm định hướng XHCN). Đây là điều mà tất cả các tờ báo đều nêu rõ sau cuộc họp báo. Mời các bạn đọc bài trên các báo khác nhau phản ánh nội dung cuộc họp báo nói trên và ý kiến, quan điểm của các tờ báo.  

Những gì còn rơi rớt lại của mô hình XHCN “cũ”:

1. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước (của đảng, do đảng, vì đảng) thống nhất quản lý. Hậu quả: a) đất công bị chiếm dụng vô tội vạ; b) tham nhũng tràn lan; c) khi trưng dụng đất tư nhân cho việc công ích lẽ ra cần coi người mất đất là những người có công, hy sinh, phải bồi thường cao hơn giá thị trường thì lại làm ngược lại.

2. Quôc doanh là chủ đạo (mặc dù quốc doanh chiếm dụng 70% vốn nhà nước nhưng chỉ dưa lại 30% lãi, nhưng nếu không thế thì… mất CNXH)

3. Cái đuôi “định hướng XHCN” gắn vào cơ chế thị trường khiến thị trường không phát huy hết tác dụng tích cực, mà còn ngược lại

4. Tất cả những gì ở trên chỉ để tạo cớ cho đảng ta cai trị dân vĩnh viễn

 

Đỗ Thuý Hường (sinh vien)

 

May 12, 2008

Đại sứ quán Việt Nam hay chợ trời?

Xuân Cang

Chợ Trời Praha (Phòng Lãnh Sự Quán)

Người Việt Nam (VN) sinh sống ở nước ngoài mang hộ chiếu VN có lẽ ai cũng biết tới sự phiền hà sách nhiễu của Lãnh sự quán (LSQ) VN, nhất là lãnh sự tại các nước Đông Âu. Do một duyên nợ không đáng có mà tôi phải có mặt 8 lần để chứng kiến cách làm việc của LSQVN tại Cộng hòa Séc (Czech).

Thực tế đập vào mắt tôi không thể nói gì khác bằng một câu tôi đã được nghe ở đâu đó “Hành là chính”.

Khả năng “hành” của nhân viên LSQ đã đạt tới thượng thừa, phong cách Bá kiến thời XHCN, “hãy đập bàn đập ghế đòi cho được năm đồng, nhưng được rồi thì lại vất trả lại năm hào vì thương anh túng quá!”.

“Dấu nhập cảnh của anh đâu”, “Chứng minh thư nhân dân của chị đâu”, “Chị phải đưa các cháu lên trinh diện”, v.v… Các câu hỏi có tính bắt bí thường được đưa ra có tính phủ đầu làm những người làm giấy tờ (NLGT) lo ngại việc này khó xong.

Như vậy là mũi tên đã trúng đích. Nhân viên lãnh sự (NVLS) hết sức nhã nhặn “lấy ngay buổi chiều nhé, nộp 3500 Kč (Kuron – đơn vĩ tiền Séc, gần 205$)”. Phần đông NLGT dễ dàng chấp nhận cái giá đó như môt sự thoát nạn. Những người không muốn chi 3500Kč sẵn sàng đợi cả tuần thường chuẩn bị tinh thần sẵn từ nhà, trước khả năng vòi tiền lão luyện của NVLS đôi khi vẫn chấp nhân giá 3500Kč coi đó như sự mất tiền khôn ngoan. Người ta lo sợ bị gây khó dễ bắt bí lại tốn thêm vài lần đi lại.

Tôi được chứng kiến một thanh niên trẻ bối rối trả lời: “chị cho em chờ 1 tuần” với giọng của người có lỗi. Tôi không thể hiểu được bạn trẻ đó và bao người khác có lỗi gì để phải bị hành như vậy, phải chăng lỗi là đã làm công dân một nước XHCN dân chủ gấp triệu lần nước Tư bản. Những câu hỏi bắt bí trên không được đặt ra với các anh chị làm dịch vụ (NLDV), những người này thường mang tới cả tập giây tờ và giải quyết công việc tương đối nhanh chóng. Sự trao đổi của họ nghe cũng rất đễ thương hơn, thân ái hơn vì cùng hội cùng thuyền, cả hai đều là người ăn tiền. Tiền thì “có Liên Xô chịu”, mọi sự đã có khổ chủ lo. NLDV là bước đệm an toàn giải tỏa được nhiều nỗi xung khắc cho NVLS, nó cũng giúp đỡ được nhiều người không có thời gian, hoặc không muốn gặp những cái mặt không chơi được của mấy kẻ… đầy tớ cho dân kia.

Những người làm dịch vụ cũng giúp cho một số người thiếu tự tin trước sự bắt bí của NVLS nhưng cũng chính cái cơ chế này đã báo hại nhiều người. Một bạn trẻ đã phải trả 25000Kč để làm lại cuốn hộ chiếu đó là những người thay mặt cho những người sẵn sàng trả tiền cho việc không phải gặp NVLS. Một anh dich vụ chuyên nghiệp thổ lộ, giấy tờ của em, em cũng nhờ người khác làm.

Phòng tiếp dân LSQ có không khí hết sức đặc biệt, mặc dù là cơ quan ngoại giao nhưng không khác gì cái chợ trời: có mặc cả, có chặt chém, có tiếp thị, có luồn lách… “Sao anh khỏe mất hộ chiếu vậy“? “Anh mất lần này lần thứ hai phải không?” “Đáng nhẽ phải thu anh 5.000!” – Chị Hằng NVLS nói với một người tới nhận hộ chiếu với giọng tiếc rẻ vì không sớm phát hiện ra khiếm khuyết kia trước khi thu tiền, 3.500 Kč vẫn chưa thỏa mãn lòng tham.

Một người cần làm hộ chiếu riêng cho con được NVLS mời chào “anh đổi hộ chiếu đi, được luôn 10 năm” mặc dù hộ chiếu của anh mới được cấp năm 2007. Hộ chiếu đã trở thành món hàng béo bở cho NVLS, mỗi quyển hộ chiếu với điều kiện chờ một tuần họ thu 1500Kč (85 đô la Mỹ) lời ít nhất 45 đô la, so với giá được ấn định của bộ ngoại giao và thông thường họ thu 150 đô la. Phương thức thanh toán ở đây theo kiểu tiền trao cháo múc không có chi phiếu rườm rà hay quệt Visa card (thẻ tín dụng) gì cả, cứ tiền tươi thóc thật, chẳng bao giờ thấy họ viết hóa đơn. Khi tôi đề nghị NVLS viết phiếu thu tiền họ đã né tránh khất lần, nhưng đến khi thấy rằng không viết cho tôi không đựợc, họ đã phải viết tới 4 lần xé đi viết lại. Đây là kết quả của việc: 1/ họ không quen viết phiếu; 2/ họ không nhớ là thu của tôi bao nhiêu tiền. 3/ là họ lo lắng vì đây là chứng từ ăn tiền trắng trợn. Vì mối lợi họ đã phí phạm tài sản, hủy bỏ biết bao nhiêu cuốn hộ chiếu hoàn toàn còn giá trị sử dụng.

Một câu chuyện khá ngộ nghĩnh giữa mấy người bạn “Tây bánh mỳ” (Người Séc) và “Tây rau muống” (người VN mang quốc tịch Séc) trong một quán bia. Những người Séc biết tiếng Việt (có thể nói họ là bạn của VN) hỏi người VN “Cậu làm vizum (visa) hết bao nhiêu?”. Câu hỏi chứa đựng sự hiểu biết lọc lõi văn hóa chợ trời, họ cùng cười xòa vì cùng 1 vizum mà mỗi người mỗi giá, anh ta nói thêm người xếp hàng trước anh ta trả tiền “Vizum” với giá khác nữa…

Về chuyên môn nghề nghiệp của nhân viên tôi có thể nhận xét một cách thành thực là tệ không thể hiểu được. Một người Sloven (Slovakia) sau khi xem “vizum” vào VN không biết vì lý do gì “vizum” của anh ta có giá trị từ ngày 13 của tháng sau mà anh đã có vé vào ngay hôm sau. Anh đề nghị sửa lại, chị cấp vizum bối rối bâng quơ hỏi “nó bảo cái gì vậy?”. Chị không biết hỏi ai vì chắc chị biết khả năng tiếng Séc của đồng nghiệp ngồi bên. Một người nhận hộ chiếu thắc mắc “chị ơi sao nơi sinh trong hộ chiếu của em lại ghi sai” , “không sao đâu sai một chút không có vấn đề gì đâu” – anh ta được trả lời một cách ráo hoảnh. Một người nói đùa chêm vào 1 câu, “sao không ghi nhầm luôn là sinh ở Pháp may ra còn được nhờ”. Tôi hiểu nỗi lo lắng chính đáng của thân chủ quyển hộ chiếu, sai sót này dễ dàng trở thành nguyên nhân để bị hành vào dịp khác và anh chính là người phải trả giá cho sự sai sót này trong lần làm giấy tờ sau. Một cuộc trao đổi giữa chị Hằng nhân viên LS và 1 người làm dịch vụ giấy tờ “cái hộ chiếu này phải nộp 5000Kč” (gần 290$). Anh dịch vụ trả lời vui vẻ “vâng chị cứ thu, cái này là lỗi của người ta họ phải trả thôi”. Không biết khổ chủ cuốn hộ chiếu phạm cái lỗi gì, có phải sai nơi sinh không? Cái này tôi không biết, và rất khó biết.

Tôi chứng kiến nhiều điều rất đặc biệt, có rất nhiều người VN mang hộ chiếu tên người khác đặc biệt hơn là có một người Trung Quốc mang hộ chiếu VN. Chỉ cần chi tiền “đậm” hơn bạn sẽ thay tên đổi họ như bạn muốn.

Có rất nhiều mực thước căn bản được NVLS kê làm ghế ngồi: Không niêm yết minh bạch giá lệ phí theo đúng quy định, không viết phiếu thu tiền, không đeo bảng hiệu ghi rõ danh tính chức vụ, trả lời tùy tiện không dựa trên văn bản của luật pháp, đồng thời việc cấp hộ chiếu 1 cách bừa bãi cho thấy những người có chức quyền sẵn sàng ngồi xổm trên luật pháp. Có hai thứ được họ đặt lên đầu đó là quyền và tiền.

Trong cuộc trao đổi với những người bạn, một người nói rất buông xuôi: “biết làm sao được chính họ cũng phải bỏ ra cả đống tiền mới được ngồi vào chỗ đó. Giờ phải thu vốn thu lãi chứ”. Câu trả lời của anh bạn tôi biểu hiện 1 não trạng con buôn theo đúng nghĩa của nhà cầm quyền vẽ ra đó là buôn gian bán lận, buôn quan bán chức. Rặt một phường con buôn.

Tôi mơ ước có một ngày phường con buôn không còn thao túng nước Việt, người Việt Nam khước từ văn hóa chợ trời trong những nơi không đáng có, chúng ta có những Thương gia theo đúng nghĩa của nó .

Praha, 28/03/2008

© DCVOnline

http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=5015

May 10, 2008

Tài Sản Nguyễn Văn Quỳnh Phó Ban Trung Ương

Tài Sản Của Nguyễn Văn Quỳnh – Phó Ban Tổ Chức Trung Ương Đảng

Dân Oan Nguyễn Thị Gấm tố cáo


Biệt thự của ông Nguyễn Văn Quynh.Tại khu chung cư cán bộ


Căn nhà 4 tầng của ông Quynh ( ở giữa ) nhà số 152 – Đường Nguyễn
Văn Cừ – Thành Phố – Hạ Long – Tỉnh Quảng Ninh.


Nhà ông Quynh phía tay trái 4 tầng có mái ngói đỏ. Nhà số 9 – Ngõ 1132 – Phố Láng Thượng – Hà Nội.


Căn nhà trước cổng cửa sắt màu xanh của ông Quynh.số 32 – Khu
Phường Cẩm Phả – Tỉnh Quảng Ninh. Tháng 11 năm 2007 ông Quynh bắt đầu
chuyển lên TW làm Phó Ban Tổ Chức Trung Ương. Căn nhà này ông Quynh đã
tặng lại cho bố vợ tên là ( Xong ) sau khi được con rễQuynh tặng,cùng
thời điểm ông Xong bán lại cho người khác.


Đất của ông Quynh từ bức tường gạch thấp,tới sát nhà dân khoảng 1.000m2 bỏ cỏ mọc- Trục đường 334- ở Thôn 4 – Xã Hạ Long – Huyện Vân Đồn – Tỉnh Quảng Ninh

Đất của ông Quynh trong khuôn viên khoảng 2.000m2
bỏ trống cỏ mọc. Thôn 5 – Xã Hạ Long trục đường 334.

Đây là căn nhà của vợ chồng ông bà : Trần Văn Tỏi vợ Nguyễn
Thị Xình. Do vay nợ Ngân Hàng 10 triệu đồng không có tiền trả,gốc lẫn
lãi nhân lên thành 15 triệu đồng. Ngân Hàng Vân Đồn thu hồi.Biếu cho
ông Quynh ở Thôn 6 – Xã Hạ Long – Huyện Vân Đồn trục đường 334 Quảng Ninh.

(VNE)

THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI PARIS NGÀY 8.5.2008

THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI PARIS NGÀY 8.5.2008

Giáo chỉ số 9 của Đức Tăng thống Thích Huyền Quang giả hay thật ? Phe chống đối Giáo chỉ số 9 là ai ? Sư Thích Quảng Ba nói đúng hay sai ?… Ông Võ Văn Ái trả lời báo Saigon Times ở Sydney, Úc Đại Lợi

PARIS, ngày 8.5.2008 (PTTPGQT) – Báo Saigon Times do ông Hữu Nguyên làm Chủ nhiệm đã cho đăng bài phỏng vấn ông Võ Văn Ái trong số phát hành tại Sydney, Úc Đại lợi, ngày 1.5.2008. Qua 12 câu hỏi, tất cả những vấn đề trọng yếu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) đã được đề cập. Từ Giáo chỉ số 9 do Đức Tăng thống Thích Huyền Quang ban hành ngày 8.9.2007 làm dấy lên sự chống đối của một số Tăng sĩ và Cư sĩ trong cộng đồng Phật giáo hải ngoại. Những bài viết nặc danh có, hữu danh có, tung huyễn tin lên mạng Internet quy kết Giáo chỉ giả. Rồi những lời tuyên bố tại Úc của Sư Thích Quảng Ba kêu gọi Phật tử hải ngoại hãy ủng hộ cho Giáo hội Phật giáo Nhà nước, v.v…

Tất cả những thắc mắc trong dư luận cộng đồng người Việt hải ngoại 8 tháng qua được ông Võ Văn Ái, Phát ngôn nhân Viện Hoá Đạo, GHPGVNTN, Giám đốc Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế kiêm Tổng Uỷ viên Ngoại vụ Văn phòng II Viện Hoá Đạo, giải đáp tường tận.

Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế xin đăng tải toàn văn cuộc phỏng vấn trên báo Saigon Times dưới đây :

Saigon Times (SGT) : Thưa Ông, một trong những sự kiện quan trọng nhất đối với Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất là Giáo Chỉ Số 9 do Đức Đệ tứ Tăng thống Thích Huyền Quang ấn ký. Vậy xin Ông cho biết, nguyên nhân nào và hoàn cảnh nào khiến Đại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang ban hành Giáo Chỉ số 9?

Ông Võ Văn Ái (Ô. VVA) : Nguyên nhân và hoàn cảnh Giáo chỉ số 9 do Đức Đệ tứ Tăng thống Thích Huyền Quang ban hành ngày 8.9.2007 xuất phát từ 7 nhận định về vị thế và tình hình Phật giáo trong dòng lịch sử Việt Nam hai nghìn năm qua. Trong 7 nhận định ấy, 4 nhận định sau đây khế hợp với tình hình Gíao hội bị nhà cầm quyền Cộng sản đàn áp, đồng thời với sự xuất hiện của một thành phần cơ hội gây rối trong nội bộ Phật giáo trong cũng như ngoài nước. Nói theo lời Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ, là hoàn cảnh « trong đánh ra ngoài đánh vào », hay nói theo thuật ngữ Phật giáo là « nội ma ngoại chướng ».

Nói tóm, Gíao chỉ số 9 là « biện pháp tự vệ cùng tiên liệu đối phó với tình hình”, mà ai cũng có thể nhận ra mối hiểm nguy ngày nay của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất được trình bày qua 4 nhận định ghi trong Giáo chỉ số 9 như sau :

– Nhận định rằng kể từ khi chiến tranh Việt Nam kết thúc năm 1975, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất vẫn tiếp tục sống trong hoàn cảnh bị bức hiếp, không có tự do, không được quyền hoằng dương Chánh pháp theo truyền thống Phật giáo;

– Nhận định rằng vì nhiều lý do nội tại hay khách quan, vô tình hay cố ý, một số chư Tăng, Phật tử rời bỏ con đường cao rộng của Chánh pháp, đem thân phục vụ thế quyền làm biến tướng Bát chánh đạo và làm nghiêng ngửa Giáo hội;

– Nhận định rằng sự phát triển bền vững của nhân loại ngày nay là cuộc phát triển tổng hợp và đồng bộ trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa, giáo dục, môi sinh ; đạo Phật chỉ có thể phục vụ hữu hiệu con người trong một xã hội tự do, tôn trọng nhân quyền và dân chủ. Nhận định này làm nền tảng cho yêu sách phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tại Việt Nam, và là lý do vận động kiên trì suốt 32 năm qua của Giáo hội và Phật giáo đồ trong nước cũng như công tác vận động quốc tế của Giáo hội và Phật giáo đồ ở hải ngoại;

– Nhận định rằng những cuộc đàn áp liên tục, ngày càng gia tăng của Nhà cầm quyền CHXHCNVN, đặc biệt gần đây đối với các Ban Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) tại các tỉnh miền Nam và miền Trung. Hơn nữa, ngày 16 âm lịch Đinh Hợi tức 28.8.2007, hầu hết hàng giáo phẩm thuộc Ban Chỉ đạo Viện Hóa Đạo, từ Viện trưởng, Phó Viện trưởng đến đa số các Tổng vụ trưởng bị các Ủy ban Nhân dân Phường mời đi làm việc, song song với chiến dịch báo chí, truyền thanh, truyền hình của Nhà nước trên toàn quốc tấn công, bôi nhọ, vu cáo GHPGVNTN và Viện trưởng Viện Hóa Đạo, vì Giáo hội thể hiện đức từ bi của đạo Phật góp phần cứu trợ vật chất cho tập thể Dân oan đi khiếu kiện bị thiếu thốn lương thực. Các cuộc cứu trợ thuần túy từ thiện xã hội của Giáo hội đã được thực hiện công khai ngày 13.7 và 17.7 tại Saigon và ngày 23.8 tại Hà Nội. Thực tại Dân oan đi khiếu kiện là mối bức xúc xã hội trầm trọng, sở dĩ còn tồn tại đến ngày hôm nay, là vì nỗi oan ức của người nông dân bị cướp đất, cướp nhà, bị lăng nhục và xúc phạm nhân phẩm từ hơn 20 năm qua không được nhà cầm quyền giải quyết. Chiến dịch đàn áp, vu cáo và khủng bố tinh thần hiện nay đối với GHPGVNTN báo hiệu một cuộc bắt bớ, đàn áp nước lũ có thể xẩy ra bất cứ lúc nào, bó buộc Giáo hội phải có biện pháp tự vệ cùng tiên liệu đối phó với tình hình;

– Nhận định rằng đồng thời với cuộc đàn áp trong nước nhằm tiêu diệt GHPGVNTN, một số phần tử cơ hội trong cộng đồng Phật giáo hải ngoại tiếp tay gây phân hóa, tạo ly gián, biến tướng chủ trương, đướng hướng sinh hoạt của GHPGVNTN Hải ngoại, âm mưu dập tắt tiếng nói của Giáo hội trên địa bàn quốc tế.

Điều lạ là câu viết trong nhận định cuối cùng trên đây : « một số phần tử cơ hội trong cộng đồng Phật giáo hải ngoại tiếp tay gây phân hóa, tạo ly gián, biến tướng chủ trương, đướng hướng sinh hoạt của GHPGVNTN Hải ngoại, âm mưu dập tắt tiếng nói của Giáo hội trên địa bàn quốc tế », thực tế chỉ nói giới hạn « một số phần tử cơ hội trong cộng đồng Phật giáo hải ngoại », thế nhưng bỗng nhiên có hàng loạt người nổi lên nhao nhao tự nhận mình thuộc « một số phần tử cơ hội » ấy, để tuôn lời trách móc Giáo chỉ số 9 « khai trừ » họ, hoặc « giải tán » toàn thể các Giáo hội tại hải ngoại ?! Thế thì tự họ cáo buộc họ theo kiểu « lạy ông tôi ở bụi này » chứ chẳng ai khác.

« Một số phần tử cơ hội trong cộng đồng Phật giáo hải ngoại » này đã được Hoà thượng Thích Thiện Hạnh, Chánh Thư ký Viện Tăng thống kiêm Chánh Đại diện GHPGVNTN tỉnh Thừa thiên – Huế, nói rõ tên và danh xưng trong bản Phúc trình Phật sự viết ngày 8.9.2007 gửi Hoà thượng Viện trưởng Viện Hoá Đạo. Đặc biệt qua điều 2 và 3 sau đây (xin xem toàn văn trong Thông cáo báo chí do Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế phát hành ngày 2.11.2007) :

« 2- Một số Phật tử ở Úc và Hoa kỳ, có gọi điện về thăm và nhân tiện, bày tỏ sự bất bằng về một số Thượng tọa, Đại đức và Cư sĩ tu xuất, đang là Thành viên Hội đồng Điều hành GHPGVNTN/HN tại Úc và Hoa kỳ, lại đi vận động tách khỏi GHPGVNTN là vì sao? Chúng tôi chỉ trả lời vắn tắt trên điện thoại rằng, chắc vì các vị có một vài mâu thuẫn cá nhân nào đó, trong phương pháp hành đạo. Có dịp sẽ trò chuyện sau. Bây giờ không tiện.

« Điều mà Phật tử thắc mắc, chúng tôi thấy, đã được cụ thể qua quan điểm của anh Trần Quang Thuận và Bùi Ngọc Đường. Hai anh hồi cuối tháng 6 và đầu tháng 7 năm 2007; anh Trần Quang Thuận chê trách Hòa Thượng Quảng Độ. Bùi Ngọc Đường ngoài những lời lẽ như anh Thuận; Bùi Ngọc Đường còn thêm chê bai Giáo hội. Sau hết Bùi Ngọc Đường khuyên chúng tôi từ chức Chánh thư ký Viện Tăng thống để nghỉ ngơi, giống hệt như lời Thượng tướng Công an Nguyễn Văn Hưởng đã khuyên Đức Tăng Thống thôi việc, nghỉ ngơi. Giọng điệu hai anh có vẻ như muốn thỏa hiệp, để được sinh hoạt, ý tưởng nầy còn được thấy rõ qua nhóm Thân Hữu Già Lam.

« 3- Chúng tôi được biết, ở Tu Viện Quảng Hương Già Lam; cách đây một năm, đã hình thành một nhóm, có tên gọi “Thân Hữu Già Lam”. Thành viên khoảng trên dưới 40 vị gồm các thành phần Tu sĩ, Cư sĩ, Cư sĩ tu xuất. Các vị có mặt trong nước, ngoài nước khắp các châu lục. Các vị sinh hoạt dưới dạng Tăng già, chưa dám đứng hẳn vào Gíao hội Phật giáo Việt Nam năm 1981. Các vị quyên góp tiền gây quĩ xây dựng Đại Học, Thư Viện, Hội Trường, làm Văn Hóa Giáo Dục Phật Giáo. Đứng đầu nhóm có GS TS Lê Mạnh Thát, và học giả Thượng Tọa Thích Tuệ Sĩ. Cả hai vị đều đã có một quá khứ hào quang sáng chói, được người dân miền nam Việt Nam vinh danh “người về từ cõi chết”. Có điều lạ là, hồi cuối tháng 7/2007, Hòa Thượng Thích Đức Chơn, về Qui Lai dự lễ Húy nhật Thân mẫu. Hòa Thượng có ghé chùa Báo Quốc thăm, chúng tôi có hỏi Hòa thượng về nhóm “Thân Hữu Già Lam”. Hòa thượng có vẻ ngạc nhiên và bảo, tôi thực sự không hay biết gì về việc này, làm vậy sao được.

“Nhóm “Thân Hữu Già Lam” phần đông, đang là thành viên chủ chốt của GHPGVNTN trong nước và hải ngoại. Nay vì một vài ý kiến bất đồng nào đó mà xây lưng lại với Giáo hội và vận động người khác chống lại Giáo hội, cô lập hai vị Hòa thượng đang lãnh đạo Giáo hội thì chẳng hay ho gì! Mà ai lại làm vậy bao giờ. Những mâu thuẫn nội bộ trong sinh hoạt là chuyện bình thường. Cái gì còn có đó, vai trò phục vụ đạo pháp dân tộc của các vị còn kia, đã mất mát gì đâu mà vội vàng, đôi khi bất đạt, còn gây tổn thương lớn cho tập thể, tổ chức Giáo hội.

“Chúng tôi có đọc nội dung biên bản cuộc họp của các vị “Thân Hữu Già Lam” ngày 23/8/2006, qua hệ thống điện thoại có nhiều người tham dự, từ Việt nam, Úc, Canada, Mỹ, … Họ tổ chức cuộc họp nầy đã hơn một năm nay, và hiện nay đang hoạt động tích cực. Phật đản PL: 2551 vừa qua, vùng nam California, những vị thuộc nhóm “Thân Hữu Già Lam” đã không tuyên đọc Thông điệp của Đức Tăng Thống Đệ Tứ GHPGVNTN khi cử hành lễ Phật Đản”.

SGT : Thưa nội dung chính yếu của Giáo Chỉ số 9 là gì? Trong Giáo Chỉ Số 9 có điểm gì đặc biệt liên quan đến Phật Giáo VNTN tại Úc và Tân Tây Lan?

Ô. VVA : Như đã nói ở trên, Gíao chỉ số 9 là « biện pháp tự vệ cùng tiên liệu đối phó với tình hình” thông qua 4 nhận định về hiện trạng cấp thiết và nguy biến trước cảnh “trong đánh ra ngoài đánh vào” hoặc “nội ma ngoại chướng” của Giáo hội. Biện pháp thi hành là thiết lập Văn Phòng 2 Viện Hoá Đạo, mà nhiệm vụ được quy định tại Điều 2 của Giáo chỉ số 9 là : “Văn phòng II Viện Hóa Đạo đại diện cho Viện Hóa Đạo tại hải ngoại để truyền đạt chủ trương, đường lối và hoạt động của Giáo hội trong nước thông qua các cơ sở của Giáo hội ở hải ngoại, các cộng đồng Phật giáo và cộng đồng Người Việt hải ngoại nói riêng, và trong cộng đồng thế giới nói chung”.

Ở vào tình trạng Giáo hội trong nước bị nhà cầm quyền Cộng sản khủng bố toàn triệt không còn cách hoạt động dù là tối thiểu, thì nhiệm vụ của Văn phòng 2 được quy định theo Điều 4 : “Văn phòng II Viện Hóa Đạo nối tiếp nhiệm vụ và hoạt động của Giáo hội gặp lúc Viện Hóa Đạo trong nước bị đàn áp không thể hoạt động. Mọi hoạt động của Văn phòng II Viện Hóa Đạo dựa trên cơ sở lập trường và đường hướng quy định trong bản Hiến chương GHPGVNTN được Đại hội Khoáng đại kỳ V ngày 12.12.1973 tu chính, và tuân thủ lập trường biểu hiện qua các văn kiện, thông điệp, tuyên cáo, kêu gọi do Giáo hội trong nước công bố từ năm 1992 đến nay”.

Điều cần nói là Văn Phòng 2 Viện Hoá Đạo vốn đã hiện hữu từ năm 1992 nhưng trực thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngoại tại Hoa Kỳ chiếu theo Quyết Định số 27-VPLV/VHĐ do Hoà thượng Thích Huyền Quang, Quyền Viện trưởng Viện Hóa Đạo, ban hành ngày 10.12.1992. Nay theo Giáo chỉ số 9 do Đức Tăng thống Thích Huyền Quang ban hành ngày 8.9.2007, thì Văn phòng 2 Viện Hoá Đạo chiếu theo Điều 3: “Văn phòng II Viện Hóa Đạo trực thuộc sự chỉ đạo và điều hành của Viện trưởng Viện Hóa Đạo trong nước. Thành viên Văn phòng II Viện Hóa Đạo do Viện trưởng Viện Hóa Đạo thỉnh tuyển và chỉ định; tùy theo nhu cầu, hoàn cảnh, các thành viên có thể được bổ sung, hoán chuyển hay thay đổi”.

Như thế, Giáo chỉ số 9 ban hành việc thiết lập Văn Phòng 2 Viện Hoá Đạo theo cơ cấu mới, nên không đề cập gì đến Giáo hội các châu cũng như Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất tại Úc và Tân Tây Lan.

SGT : Quý vị lãnh đạo Phật Giáo, Phật tử, cũng như người Việt nói chung tại VN cũng như hải ngoại, đã có những phản ứng gì đối với Giáo Chỉ số 9?

Ô. VVA : Tất cả chư Tôn đức Tăng Ni và Phật tử trung kiên với đường lối, lập trường cố hữu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất dưới sự lãnh đạo tối cao của Đức Tăng thống Thích Huyền Quang và Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hoá Đạo, đều có phản ứng duy nhất : Tán thán và khâm tuân Giáo chỉ số 9 do Đức Tăng thống Thích Huyền Quang ban hành. Tán thán vì nhận định rằng đối tượng của Giáo chỉ số 9 là Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam. Một nhà cầm quyền theo chủ nghĩa ngoại lai Mác – Lênin nên thi hành chủ trương tiêu diệt Phật giáo nói riêng và tôn giáo nói chung. Đồng thời tán thán Giáo chỉ số 9 đã cứu nguy Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.

Nếu không có Giáo chỉ số 9, thì ngày nay Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đã bị nhà cầm quyền Cộng sản nuốt chửng, như lời Giáo chỉ số 9 nhận định, thông qua « một số chư Tăng, Phật tử rời bỏ con đường cao rộng của Chánh pháp, đem thân phục vụ thế quyền làm biến tướng Bát chánh đạo và làm nghiêng ngửa Giáo hội” và « một số phần tử cơ hội trong cộng đồng Phật giáo hải ngoại tiếp tay gây phân hóa, tạo ly gián, biến tướng chủ trương, đướng hướng sinh hoạt của GHPGVNTN Hải ngoại, âm mưu dập tắt tiếng nói của Giáo hội trên địa bàn quốc tế”.

Phản ứng mạnh mẽ nhất có tính đồng thuận ủng hộ GHPGVNTN đến từ Cộng đồng Người Việt Hải ngoại. Sự lên tiếng đầu tiên là « Tuyên Cáo » ngày 21.11.2007 « Xác định lập trường ủng hộ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất do nhị vị Hòa thượng Huyền Quang và Quảng Độ lãnh đạo cùng các cơ cấu trực thuộc Giáo Hội »« Kêu gọi đồng hương đề cao cảnh giác trước những âm mưu xâm nhập và khuynh đảo, gây mâu thuẫn tôn giáo trong Cộng đồng người Việt hải ngoại của CSVN ». Tuyên cáo này do Cộng đồng Người Việt Tự do Liên bang Úc châu công bố với các chữ ký của Chủ tịch Liên bang, Bác sĩ Nguyễn Mạnh Tiến, Chủ tịch Tiểu bang NSW, Võ Trí Dũng, Chủ tịch Tiểu bang VIC, Nguyễn Thế Phong, Chủ tịch Tiểu bang QLD, Bùi Trọng Cường, Chủ tịch Tiểu bang Nam Úc, Đoàn Công Chánh Phú Lộc, Chủ tịch Tiểu bang ACT, Lê Công, Chủ tịch Tiểu bang Bắc Úc, Lê Tấn Thiện, Chủ tịch Tiểu bang Wollongong, Trần Hương Thuỷ, và Chủ tịch Tiểu bang Tây Úc, Phạm Lê Hoàng Nam.

« Tuyên cáo » của Ủy Ban Phối Hợp Đấu Tranh Yểm Trợ Quốc Nội vùng Đông Hoa Kỳ ngày 1.12.2007 « Xác định lập trường ủng hộ GHPGVNTN do nhị vị Đại Lão Hòa Thượng Huyền Quang và Quảng Độ lãnh đạo cùng các cơ cấu trực thuộc Giáo Hội, ủng hộ Giáo chỉ số 9 của Đức Tăng thống Thích Huyền Quang ban hành ngày 8.9.20076 cũng như thành quả của Đại hội Bất thường của GHPGVNTN Hải ngoại tại Hoa Kỳ tổ chức ở chùa Bửu Môn, thành phố Port Arthur ngày 10.11.2007 ».

Tiếp đến là « Bản Lên Tiếng chung » của Cộng Đồng Việt Nam tại Nam California, Hoa Kỳ, « về sự tái cấu trúc (theo Giáo chỉ số 9 của Đức Đệ tứ Tăng thống Thích Huyền Quang) và công cuộc đấu tranh cho Đạo pháp và Dân tộc của GHPGVNTN dưới sự lãnh đạo của Đức Tăng thống Thích Huyền Quang và Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ ». Bản Lên tiếng chung này đã được 24 đoàn thể, đảng phái, tổ chức tại California, Hoa Kỳ, đồng ký tên và công bố hôm 27.12.2007.

Ngoài ra, sự kiện mới mẻ chưa hề xẩy ra trước đây, là sự lên tiếng tự phát của hàng loạt bài tố cáo những phần tử cơ hội trong cộng đồng Phật giáo hải ngoại ẩn nấp dưới nhiều danh xưng, như nhóm Về Nguồn, nhóm Thân hữu Già Lam, nhóm Tăng Ni Hải ngoại, v.v… Các loạt bài này rộng rãi tung lên mạng lưới Internet, các Trang Nhà hay thông qua các buổi hội luận Paltalk. Đây chính là phản ứng lành mạnh và có ý thức của quần chúng đông đảo trong Cộng đồng Người Việt Tị nạn Cộng sản.

Trong nội bộ Giáo hội, thì Ðại hội Bất thường của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngoại tại Hoa Kỳ tổ chức tại Chùa Bửu Môn ở thành phố Port Arthur, bang Texas Hoa Kỳ, ngày 10.11.2007, với 89 đơn vị thuộc các Hội đồng, các Tổng vụ và các Miền của Giáo hội trên toàn quốc Hoa Kỳ bao gồm 108 Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức Tăng Ni, và Cư sĩ đại biểu đã thể hiện sâu xa tinh thần “Vọng hướng Giáo hội Mẹ” với Ý thức Giải nguy hiện trạng nội ma ngoại chướng đang phân hóa cộng đồng dân tộc và cộng đồng Phật giáo. Đại hội đồng thanh quyết nghị triệt để khâm tuân Giáo chỉ số 9 của Đức Tăng thống Thích Huyền Quang.

Điều trọng yếu là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngoại tại Hoa Kỳ là chiếc nôi đón nhận sự ra đời của Văn phòng 2 Viện Hoá Đạo năm 1992 và nay tiếp tục bảo toàn Văn phòng 2 Viện Hoá Đạo theo cơ chế mới trong công cuộc giải trừ Quốc nạn và Pháp nạn.

Hiển nhiên cũng có những phản ứng chống lại Giáo chỉ số 9 đến từ một số chư Tăng và Cư sĩ vốn có chân hoặc có chức vụ trước kia trong GHPGVNTN Hải ngoại. Tôi dùng chữ « trước kia », là vì họ không còn ở trong GHPGVNTN nữa. Dù rằng họ tiếp tục tuyên bố họ thống thuộc GHPGVNTN, tôn kính hai ngài lãnh đạo tối cao là Đức Tăng thống Thích Huyền Quang và Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hoá Đạo ; nhưng lại xác nhận là « họ không khâm tuân Giáo chỉ số 9 ». Tuyên bố như vậy thì khác gì một công dân Úc nào đó nói rằng tôi tôn kính Thủ tướng Úc nhưng tôi không chấp nhận luật pháp và Hiến pháp Úc Châu ?! Những cá nhân nào, dù là Tăng, dù là Cư sĩ hoặc nhân danh Giáo hội một châu hay một quốc gia nào ở hải ngoại tuyên bố như trên, là tự họ đặt họ ra ngoài khuôn khổ của GHPGVNTN. Một Giáo hội dân lập và lịch sử như GHPGVNTN cũng không thể chấp nhận trong hàng ngũ mình những thành viên vô kỷ luật và đi sai đường hướng, lập trường của Giáo hội.

Vấn đề đặt ra là tại sao những người này chống Giáo chỉ số 9, nhưng vẫn tự đặt họ vào trong khuôn khổ của GHPGVNTN, hơn nữa còn tôn kính Đức Tăng thống và Đại lão Hoà thượng Viện trưởng Viện Hoá Đạo ?

Dễ hiểu thôi : uy tín của hai ngài lãnh đạo GHPGVNTN rất lớn, trong lòng quần chúng Phật tử trong và ngoài nước cũng như trong chính giới và công luận quốc tế. Mặt khác GHPGVNTN là giáo hội bất khuất không bái lạy chế độ Cộng sản lại còn kiên cường đấu tranh cho tự do tôn giáo, nhân quyền và dân chủ suốt 33 năm qua. Nên được mọi tầng lớp nhân dân và các tôn giáo bạn vị nể. Những người nói trên đây đang sống giữa Cộng đồng Người Việt Tị nạn Cộng sản và thụ hưởng sự cúng dường của đàn na tín thí. Do đó, họ phải dựa hơi vào GHPGVNTN để được an toàn và phát triển chùa viện của họ, mong tránh việc tẩy chay của đồng bào thuộc phe dân tộc. Dù lập trường họ đã đổi thay và họ chủ trương thủ tiêu tranh đấu. Cho nên vấn đề chống Cộng của họ chỉ là việc màu mè. Ví dụ mà bản thân tôi từng chứng kiến cho thấy sự màu mè này. 33 năm trước đây tôi đến gặp một nhà sư ở Paris mong cầu sư đứng lên đấu tranh giải nguy cho Giáo hội trong nước. Thời ấy ông đang phục vụ cho Sư Ông Nhất Hạnh. Sư trả lời với tôi rằng : « Tôi nay chỉ lo việc đạo thôi, không muốn dính gì đến việc thế sự ». Thế rồi một vài năm sau, phong trào Người Vượt Biển dồn dập đến Pháp. Đa số là Phật tử không chấp nhận chế độ độc tài toàn trị. Thời ấy Paris chỉ có 2 ngôi chùa, một ngôi chùa tuyên bố không làm chính trị, trong nghĩa không tham gia đấu tranh cho nhân quyền và tự do tôn giáo, nên bị đa số quần chúng Phật tử lãnh đạm không đến sinh hoạt. Nhân đấy mà vị sư tôi vừa nói bỗng nhảy ra hoạt động hăng hái rồi trở thành vị sư « đệ nhất chống Cộng » ở Paris. Hiển nhiên là quần chúng Phật tử đã đông đảo đến sinh hoạt và ủng hộ xây dựng ngôi chùa của vị sư này. Chùa phát triển lớn vào bậc nhất, nhưng nay vị sư cũng dần dà « đấu tranh » theo lối xuân thu nhị kỳ, dần dà trở về vị trí của câu ông đáp lời mời gọi của tôi 33 năm trước.

Những người chống Giáo chỉ số 9 là ai ? Họ gồm có : 8 vị Hoà thượng ở Hoa Kỳ vừa họp Đại hội để ly khai GHPGVNTN và cho thành lập tổ chức mới mang tên « Cộng đồng Phật giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ » ; tại Canada có tổ chức của Thượng toạ Thích Bổn Đạt – Thích Tâm Hoà ; tại Úc có một số chư Tăng do Thượng toạ Thích Quảng Ba bảo lãnh sang Úc, tập trung tại một ngôi chùa ở ngoại ô Sydney. Công tác của nhóm nhà sư này là ngày ngày tung qua nhiều địa chỉ E.mail lên mạng Internet phổ biến các tài liệu giả, các bài nặc danh đánh phá GHPGVNTN, bất kính với hàng lãnh đạo Giáo hội và tập trung chĩa mũi dùi mạ lỵ và vu khống Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế hòng gây hoang mang và ly gián trong Cộng đồng đấu tranh của Người Việt nước ngoài.

Tại sao tuyên bố mình vẫn là thành viên GHPGVNTN, lại thành lập tổ chức có danh xưng khác ? Câu hỏi có thể tìm thấy ở các thành viên được trọng vọng trong tổ chức « Cộng đồng Phật giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ » thường đi đi về về Việt Nam và đã liên hệ với nhà cầm quyền Cộng sản, như 3 Hoà thượng Thích Giác Nhiên, Thích Minh Tuyên, Thích Phước Thuận và hai Cư sĩ Bùi Ngọc Đường, Trần Quang Thuận. Là người dân chủ, tôi tôn trọng sự chọn lựa chính trị của 5 vị này, họ có toàn quyền theo hay không theo, liên hệ hay không liên hệ với chế độ Cộng sản. Tuy nhiên tôi đòi hỏi ở họ sự lương thiện trí thức. Hãy công khai nói lên chính kiến của mình, hãy mở cuộc tranh luận ý kiến, thay vì ẩn nấp vào các sự kiện thuần tuý Phật giáo để trí trá viết hay cho viết hàng chục bài nặc danh chửi bới hồ đồ, vu cáo trắng trợn thông qua cái gọi là nhóm Tăng Ni Hải ngoại. Có tranh luận mới làm sáng tỏ vấn đề, và biết đâu họ không khai thị cho người khác bước theo con đường thoả hiệp Cộng sản của họ, nếu họ có lý và có chiến lược phát huy đạo Phật Việt Nam dưới mái nhà tù Cộng sản ?

Sở dĩ chúng tôi không trả lời các sự đánh phá và bôi nhọ này, đặc biệt đến từ các E.mail của ngôi chùa ở Úc nói trên và nhóm Tăng Ni Hải ngoại, là vì hai lý do. Chúng tôi không trả lời cho những kẻ thiếu can đảm bảo vệ ý kiến họ khi không dám ký tên thật và địa chỉ thật dưới bài viết. Trả lời các bài viết nặc danh khác chi đối đáp với những cô hồn vất vưởng ? Lý do thứ hai, là các bài viết ấy với lý luận hồ đồ, ngôn ngữ xỏ xiên, mà mục tiêu đánh phá y hệt các bài viết đăng trên các báo Công An, An Ninh Thế giới, Nhân Dân, Quân Đội Nhân dân… của Đảng Cộng sản đánh phá GHPGVNTN, Đức Tăng thống Thích Huyền Quang, Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ và tôi, Võ Văn Ái, mà chúng tôi đọc được qua hàng trăm bài từ 1977 đến nay. Hãy so chiếu ngôn ngữ, lý luận, mục tiêu của hai loại bài viết nặc danh này tất thấy ngay chúng phục vụ ai và chúng muốn gì. Chắc chắn là không phục vụ cho dân tộc và không muốn cho đạo Phật phát huy.

SGT : Được biết, Thượng Tọa Thích Quảng Ba là Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Hoằng Pháp, và là Phó Hội Chủ Giáo Hội Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại Úc Đại Lợi-Tân Tây Lan. Ngoài ra, theo lời của chính Thượng Tọa TQB thì Thượng Tọa cũng còn giữ vai trò trong Phòng 2 Viện Hóa Đạo GHPGVNTN. Nhưng trong Thông Cáo Báo Chí làm tại Paris ngày 17 tháng 3 năm 2008, Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế có đề cập đến một tài liệu giả mạo, trong đó xác nhận có nhiều tên tuổi [trích nguyên văn] “trong danh sách giả mạo gồm 52 Tăng Ni có nhiều vị không được Viện Hoá Đạo trong nước công nhận, như trường hợp Thượng toạ Thích Quảng Ba là một”. Xin ông cho biết rõ lý do vì sao, Thượng Toạ Thích Quảng Ba lại không được Viện Hóa Đạo trong nước công nhận?

VVA : Chiếu theo Quyết định số 38/VHĐ/QĐ/VT do Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hoá Đạo, ký ngày 9.3.2008 phê chuẩn thành viên nhân sự Hội Đồng Giáo Phẩm và Hội Đồng Điều Hành GHPGVNTNHN tại Úc châu và Tân Tây Lan, thì Thượng toạ Thích Quảng Ba không còn giữ một chức vụ gì cả.

Thượng toạ Thích Quảng Ba chưa bao giờ có tên hay giữ một vai trò gì trong Văn phòng 2 Viện Hoá Đạo chiếu theo danh sách nhân sự Văn phòng 2 Viện Hoá Đạo được Viện Hoá Đạo hay Hội đồng Lưỡng Viện trong nước phê chuẩn.

Muốn được Viện Hoá Đạo trong nước phê chuẩn cho một vị Tăng hay Cư sĩ vào một chức vụ thuộc GHPGVNTN, thì vị này phải là thành viên trung kiên của GHPGVNTN, đồng thời khâm tuân đường lối, lập trường của GHPGVNTN chiếu theo Hiến chương của GHPGVNTN, bản tu chính ngày 12.12.1973, và các văn kiện của Giáo hội do hàng lãnh đạo tối cao công bố từ sau năm 1975 đến nay, như các văn kiện của Đức Cố Đệ Tam Tăng thống, Đức Đệ tứ Tăng thống Thích Huyền Quang và Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hoá Đạo.

SGT : Trong phiên họp ngày 15-12-1999, LHQ đã chính thức thừa nhận Lễ Tam Hợp là Đại lễ Phật Đản LHQ, ngày lễ hội văn hóa tôn giáo thế giới. Vậy thưa Ông, Lễ Tam Hợp có nguồn gốc từ đâu? Ý nghĩa của Lễ Tam Hợp là gì? Nguyên nhân nào khiến LHQ lại chính thức thừa nhận Lễ Tam Hợp là Đại Lễ Phật Đản LHQ?

Ô. VVA : Trước hết xin giải thích chữ Tam hợp trong thành ngữ Lễ Phật Đản Tam hợp. Ba ngày trọng đại trong cuộc đời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là ngày sinh, ngày thành đạo và ngày nhập Niết Bàn (tức ngày viên tịch). Cả ba ngày này đều rơi vào ngày Trăng tròn. Đại lễ ngày đản sinh hay khánh đản Đức Phật, tiếng Phạn gọi Vesak, là ngày Rằm tháng Tư âm lịch, rơi vào tháng 5 dương lịch, được kết hợp với 2 ngày Rằm kia nên gọi là Tam hợp, tức hợp nhất 3 ngày Rằm trong cuộc đời viên mãn của Đức Phật Thích Ca.

Có người đã nói sai rằng một vị sư người Mỹ đề xuất Liên Hiệp Quốc công nhận lễ Vesak như một đại lễ quốc tế.

Không phải thế, người đề nghị qua một dự thảo Nghị quyết « Công nhận quốc tế về ngày Lễ Vesak tại trụ sở Liên Hiệp Quốc và qua các văn phòng liên hệ (United Nations Day of Vesak) » (văn bản số A/54/L.59) do ông John De Saram, Đại sứ nước Sri Lanka đệ trình trong phiên họp khoáng đại tại trụ sở LHQ ở New York ngày 15.12.1999. Đại sứ Sri Lanka kêu gọi Hội đồng LHQ công nhận ngày Vesak là ngày thiêng liêng nhất của Phật giáo, và cho phép được công khai hành lễ tại trụ sở LHQ và các trung tâm LHQ trên thế giới. Ông cũng cho biết đại diện các nước Hy lạp, Mauritius, Na Uy và Thổ Nhĩ Kỳ hỗ trợ bản dự thảo này.

Đại diện của nhiều quốc gia phát biểu hỗ trợ dự thảo Nghị Quyết trong phiên họp khoáng đại gồm có Thái Lan, Singapore, Bangladesh, Bhutan, Tây Ban Nha, Miến Điện, Nepal, Pakistan, Ấn Độ, Lesotho, Nicaragua, Hoa Kỳ…

Lời phát biểu hỗ trợ của Singapore rất có ý nghĩa khi bà Đại sứ Christine Lee nói rằng « công nhận lễ Vesak là một việc làm thích hợp nhằm tôn vinh Đức Phật. Đây là một trong bốn ngày lễ chính tại Singapore là nơi một phần ba dân số là Phật tử ». Bà còn nhấn mạnh rằng « dự thảo Nghị quyết phù hợp với Nghị quyết của Đại hội đồng LHQ lấy năm 2000 làm năm quốc tế Văn hoá Hoà bình và thập kỷ 2001 – 2010 là thập kỷ quốc tế về Văn hoá Hoà bình cho Thiếu nhi toàn cầu. Dự thảo Nghị quyết này còn mở đường cho năm 2001 là Năm Đối thoại giữa các nền văn minh ».

Đại sứ Tây Ban Nha, ông Juan Luis Flores, thì phát biểu rằng nước ông là một thành viên hỗ trợ Dự thảo Nghị quyết, và tin rằng “LHQ là một nghị trường để các tôn giáo và các nền văn hoá lớn gặp gỡ và hội thoại”.

Đại sứ Ấn Dộ, ông Kamalesh Sharma, nói rằng “Phật giáo tác động lớn lao vào các giá trị tâm linh, luân lý, đạo đức của thế giới, rất xứng đáng để Hội đồng LHQ công nhận và tôn vinh ngày Vesak. Lời dạy tinh tuý của Đức Phật tác động lên đời sống hàng triệu người trên thế giới mang lại niềm hy vọng và giải thoát ».

Nghị quyết được chấp thuận thông qua trong phiên họp cùng ngày 15.12.1999.

SGT : Từ khi được LHQ chính thức công nhận cho đến nay, Đại Lễ Phật Đản LHQ đã được tổ chức như thế nào, ở đâu?

Ô. VVA : Năm đầu tiên, 2000, Đại lễ Phật Đản Tam hợp được chính thức tổ chức tại trụ sở LHQ ở New York. Sau đó tổ chức ở Mumbai (Ấn Độ), và 3 lần liên tục diễn ra ở Bangkok (Thái Lan).

Năm nay, 2008, Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam vì lý do tuyên truyền đăng cai xin tổ chức tại Việt Nam từ ngày 13 đến 17.5.2008 tại Trung tâm Hội nghị quốc gia Mỹ Đình (Hà Nội).

SGT : Chủ nghĩa cộng sản là một chủ nghĩa vô thần. Cộng sản với tôn giáo trái ngược nhau như nước với lửa. Thực tế lịch sử xuyên suốt thời gian ngót một thế kỷ qua cũng cho thấy, bất cứ nơi đâu có chế độ cộng sản, cũng có đàn áp dã man tôn giáo. Cụ thể, tại Việt Nam, kể từ khi chế độ CS được thiết lập tại Miền Bắc vào năm 1954, tại Miền Nam vào năm 1975, chế độ CS đã không ngừng đàn áp, khủng bố, sách nhiễu tôn giáo, trong đó có Phật Giáo. Như vậy, ngày 17/5/2007, khi bộ ngoại giao CSVN gửi công hàm số 241 xin chính phủ Thái và Ban Tổ Chức Quốc Tế, cho CSVN đăng cai Đại Lễ Phật Đản LHQ vào tháng 5 năm nay, thì cộng sản VN đã có âm mưu gì?

Ô. VVA : Như đã nói, việc nhà cầm quyền Hà Nội đăng cai tổ chức Đại lễ Phật Đản chỉ nhằm vào việc tuyên truyền cho chế độ độc tài toàn trị và độc đảng mà thôi. Mục đích nhắm che đậy chính sách đàn áp Giáo hội dân lập và lịch sử là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN), phô trương cho các nước Âu Mỹ thấy rằng « không có đàn áp tôn giáo tại Việt Nam » hoặc « đã có thay đổi trong chính sách tôn giáo tại Việt Nam ».

Ai mà tin được sự kiện một chế độ vô thần, phi tôn giáo và đàn áp tôn giáo lại tôn vinh Đức Phật nhân ngày Khánh đản ? Tệ hơn, sao lại có sự kiện tôn vinh Đức Phật, đồng thời với việc đàn áp GHPGVNTN ? đàn áp 20 Ban Đại diện GHPGVNTN tại các tỉnh thành miền Trung và miền Nam ? đàn áp những Trưởng tử của Ngài, như hàng giáo phẩm Phật giáo và Phật giáo đồ trong nước, đặc biệt là Đức Tăng thống Thích Huyền Quang và Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hoá Đạo hiện đang bị quản chế khắc khe tại Tu viện Nguyên Thiều ở Bình Định, và Thanh Minh Thiền viện ở Saigon ?

Sự thật là Sri Lanka đã phản đối việc đăng cai tổ chức của Việt Nam. Trên tờ Giác Ngộ số Xuân Mậu Tý của Giáo hội Phật giáo Nhà nước, Phóng viên hỏi Giáo sư Lê Mạnh thát rằng : « Chúng ta có gặp phải sự phản đối nào trong quá trình vận động để trở thành nước đăng cai Đại lễ Phật Đản LHQ 2008? ».

Ông Thát cho biết một vị sư đại diện Sri Lanka không đồng tình vì đặt vấn đề : « Việt Nam có phải là một đất nước Phật giáo không để có thể nhận được quyền đăng cai tổ chức Đại lễ Phật Đản LHQ 2008 ? ».

Chắc chắn giáo sư Lê Mạnh Thát đã dựa vào « hào quang án tử hình năm xưa » để bênh vực cho Việt Nam Cộng sản được đăng cai. Ông Thát còn cầu cứu cả Hoa Kỳ để hỗ trợ cho luận điểm của ông khi khẳng định rằng : « Thống kê của Mỹ cho thấy rằng Việt Nam hiện có 60-70% là Phật tử. Như vậy rõ ràng Việt Nam xứng đáng được nhận quyền đăng cai này ».

Theo tin riêng tôi được biết, thì đang có sự lủng củng nội bộ trong Văn phòng Ban Thư ký Uỷ ban tổ chức Quốc tế (IOC). Văn phòng này được đặt vĩnh viễn tại trường Đại học Mahachulalongkorn, Bangkok. Lý do là vì nhà cầm quyền Hà Nội xen lấn, áp đặt chính trị quá nhiều vào Đại lễ Phật Đản sắp tới gây bất mãn cho nhiều quốc gia thành viên trong Uỷ ban tổ chức Quốc tế Đại lễ Phật đản (IOC), nhất là Nhật Bản. Cho nên, Đại lễ Phật Đản LHQ 2008 sẽ được cử hành song song tại Bangkok và Hà Nội, chứ không tổ chức duy nhất tại Hà Nội, như các năm trước tổ chức duy nhất tại New York (Hoa Kỳ), Mumbai (Ấn Độ) rồi Bangkok (Thái Lan).

SGT : Nhìn vào thành phần nhân sự, cơ cấu tổ chức cũng như mục tiêu của Đại Lễ Phật Đản LHQ năm nay tại VN, có gì đặc biệt chứng tỏ có CSVN đã chính trị hóa Đại Hội?

Ô. VVA : Theo cuộc họp báo ngày 27.11.2007 tại Hà Nội, thì Ông Nguyễn Thế Doanh, Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ làm Trưởng ban Điều phối Quốc gia Đại lễ VESAK 2008 của Liên hợp quốc, tức nhà cầm quyền Cộng sản thống lĩnh tổ chức chứ không là Phật giáo, kể cả Phật giáo quốc doanh. Ông Doanh cho biết “Chủ trì các Tiểu ban Tuyên truyền, An ninh, Tài chính – Hậu cần (cho Đại lễ Phật Đản) là các cơ quan Nhà nước ». Trong khi ấy, theo Thông bạch Hướng dẫn tổ chức Đại lễ Phật Đản LHQ 2008 phát hành ngày 7.1.2008 của Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Nhà nước, thì Giáo hội Phật giáo Nhà nước chỉ đóng vai trò phụ thuộc : « Ban Thường Trực Hội đồng Trị sự GHPGVN hướng dẫn việc tổ chức Đại Lễ Phật đản Liên Hiệp Quốc 2008 ».

Cũng theo tuyên bố tại phiên họp liên tịch sáng ngày 10.3.2008 tại Saigon giữa Ban Điều phối quốc gia (Nhà cầm quyền Hà Nội), Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Nhà nước và Thường trực Ủy ban Tổ chức quốc tế (IOC) nhằm đúc kết các công tác phối hợp và tổ chức Đại lễ Phật đản LHQ 2008, thì có những điều sau đây cho thấy bàn tay Đảng « chính trị hoá » Đại lễ Phật đản :

Giáo sư Lê Mạnh Thát cho biết « các đề án tổng thể và chi tiết tổ chức đã được hoàn tất và đệ trình Chính phủ ». Nghĩa là việc tổ chức không nằm trong phạm vi Phật giáo, mà là nhà cầm quyền Cộng sản. Trong tư cách Trưởng Tiểu ban Lễ tân – Giao tế, Giáo sư Lê Mạnh Thát cho biết « sẽ phối hợp cùng Tăng Ni sinh Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội và sinh viên Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đảm trách việc tiếp đón và hướng dẫn khách trong thời gian tham dự Đại lễ ». Nghĩa là việc gì Đảng cũng nhúng tay vào. Theo số liệu Nhà nước cho biết thì số lượng Tăng Ni lên đến bốn chục nghìn, Phật tử thì hàng chục triệu, nhưng lại không đủ người đảm đang việc «tiếp và hướng dẫn khách» nhân dịp Đại lễ Phật Đản ! Vì vậy mà phải nhờ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đảm trách chăng ? « Nhờ » hay theo lệnh Đảng buộc phải chấp nhận ?

Trong cuộc họp liên tịch nói trên, lủng củng trong việc tổ chức bắt đầu manh nha, nếu ta nghe lời phát biểu sau đây của HT. Thích Trí Quảng, Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội Nhà nước, Trưởng Tiểu ban Nội dung của Đại lễ Phật Đản :

« Hiện nay, Tiểu ban Nội dung do tôi làm Trưởng ban đã và đang tiến hành soạn thảo đề án tổng thể, các đề án chi tiết, các bài phát biểu liên quan đến Đại lễ Phật đản và Hội thảo… Tất cả các văn kiện sẽ hoàn tất vào cuối tháng 3 trình Ban Điều phối Quốc gia (tức Nhà cầm quyền CS, chúng tôi chú) để thống nhất nội dung, trước khi được sử dụng. Riêng cá nhân tôi có những nhận xét như sau:

« Thái Lan là nước có kinh nghiệm tổ chức Đại lễ Phật đản LHQ từ nhiều năm. Các khách mời tham dự được tăng cường sau mỗi năm. Việt Nam lần đầu tổ chức với số lượng 90 quốc gia là điều rất đáng mừng nhưng cũng rất lo ngại về các khâu tổ chức.

« Thế nhưng hiện nay, Ủy ban Tổ chức quốc tế, Ban Điều phối Quốc gia (tức Nhà cầm quyền CS, chúng tôi chú) và Gíao hội Phật giáo Việt Nam (tức Giáo hội Nhà nước, chúng tôi chú) vẫn chưa phối hợp nhịp nhàng. Có một số nhập nhằng giữa ba phía chưa được thống nhất nên công việc không thông lắm. Do đó chúng tôi đề nghị giữa Ban ĐPQG, IOC và GHPGVN phải phối hợp chặt chẽ, đoàn kết nhất trí trong điều phối công việc ».

SGT : Quan điểm của GHPGVNTN về Đại lễ Phật Đản LHQ 2008 tại Hà Nội như thế nào?

Ô. VVA : Dù tổ chức ở bất cứ đâu hay tại quốc gia nào, Đại lễ Phật Đản phải do chư Tăng Ni, Phật tử của quốc gia ấy đứng ra đảm nhiệm và điều hành. Cũng thế, kỵ giỗ Ông Bà là trách nhiệm của con cháu. Chả lẽ ông Lý trưởng làng thôn, hay Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân lại đứng ra chủ trì cúng kiến thay con cái sao ?!

Đại lễ Phật Đản là đại lễ tôn giáo, không thể để cho bất cứ tập đoàn chính trị nào thao túng để « buôn thần bán thánh ». Nền tảng của Lễ là tấm lòng thành.

Tập đoàn Cộng sản Việt Nam là những tên đồ tể tế sống hàng triệu người Việt trên bàn thờ Mác – Lênin – Staline thông qua cuộc chiến thừa sai với mục tiêu xích hoá con Rồng cháu Tiên, thông qua Cải cách Ruộng đất và Mậu Thân 68, thì làm sao có đủ tấc lòng thành để lễ bái Đức Phật ?

Ngoại trừ trước ngày Phật Đản, Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam công khai lên tiếng xin SÁM HỐI với toàn dân về sự thảm sát dân lành và khủng bố sĩ phu của đất nước, cam kết sẽ tôn trọng Nhân quyền cho 85 triệu người sống, Linh quyền cho hàng triệu người chết oan. Đặc biệt phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, hoàn trả mọi tài sản và cơ sở Cộng sản cưỡng chiếm của Giáo hội sau năm 1975, và trả tự do cho tất cả tù nhân tôn giáo, tù nhân vì lương thức và tù nhân chính trị.

SGT : Những năm gần đây, nhìn vào những diễn biến của Phật Giáo tại VN, nhiều người lo ngại khi thấy có những nhân vật tên tuổi chống CS của thuở nào như thiền sư Lê Mạnh Thát, Thượng Tọa Thích Tuệ Sĩ… nay đã quy phục nhà nước, tham gia Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (do đảng CSVN giật dây). Nhóm Thân Hữu Già Lam thì cho rằng, sự quy phục này là “trá hàng VC để làm văn hóa, hoằng pháp”. Ông nghĩ sao về điều này? Liệu những nhà lãnh đạo tinh thần nói chung, Phật Giáo nói riêng, có cần phải trá hàng CS để làm văn hóa, hoằng pháp đạo giáo hay không?

Ô. VVA : Chính trị thường trí trá. Vì chính trị mà có người lòn trôn. Nhưng tôn giáo thì không.

Đó là một lẽ. Lẽ khác, « trá hàng » mà tuyên bố mình trá hàng thì ngu và dốt quá. Đảng Cộng sản Việt Nam rất dốt về quản lý đất nước, rất bội bạc về nhân nghĩa, rất lưu manh về hứa hẹn, nhưng rất giỏi về tình báo và công an trị. Ở lĩnh vực này, Cộng sản giỏi vào bực thầy của « thiền sư Lê Mạnh Thát, Thượng tọa Thích Tuệ Sĩ… hay Nhóm Thân Hữu Già Lam », thì làm sao các người này qua mặt được Cộng sản ?!

Sống và chứng kiến bao nhiêu cảnh đổi dời lố lăng, như trường hợp một ông cựu Phó tổng thống Việt Nam Cộng hoà từng gào kêu « Bắc tiến » và « giết tới tên Cộng sản cuối cùng ». Nhưng nay y về nước xin quy hàng Cộng sản, thì có việc gì không thể xẩy ra nơi cõi Sa bà này ? Thuật ngữ Phật giáo diễn tả sự đời ấy bằng hai chữ : Vô thường.

Phải là Thiền sư thật, Đạo sư thật, phải là Bồ Tát thật, thì mới thoát ly khỏi vô thường.

SGT :Từ khi CSVN giật dây thành lập Giáo Hội Phật Giáo VN (GHPGVN), dư luận trong và ngoài nước vẫn coi GHPGVN là một tổ chức Phật giáo quốc doanh, tiếp tay CS. Tuy nhiên, Thượng Tọa Thích Quảng Ba thì lại cho rằng, GHPGVN đã có công duy trì Phật pháp, và nếu không có GHPGVN thì mấy chục năm qua, Phật giáo tại VN sẽ bị suy sụp hoàn toàn. Cụ thể là trong cuộc phỏng vấn của đài SBS do Ngọc Hân thực hiện, phát thanh ngày 28 tháng 5 năm 2007, Thượng Tọa Thích Quảng Ba nói [trích nguyên văn]: “Dù là chính quyền VN lập ra GHPGVN nhưng mà [CS] luôn luôn chèn ép, luôn luôn gây áp lực, luôn luôn gây khó khăn trong rất nhiều lãnh vực và lần lần bị tháo gỡ lần lần ra được lỏng lẻo hơn, được cởi mở hơn là nhờ cái sức tranh đấu của GHPGVNTN. Cho nên một giáo hội duy trì Phật pháp một giáo hội chỉ trích chính quyền để cho chính quyền lỏng tay với Phật giáo nói chung. Đây là một sự hợp tác không thành văn và không có văn bản và không có họp hội. Nếu không có PGVNTN thì dĩ nhiên GHPGVN cũng không được sinh hoạt tốt đẹp một cách tạm thời một cách tương đối như hiện nay. Còn nếu không có GHPGVN, chỉ có GHPGVNTN trong tù tội không thôi đó thì chùa chiền tăng ni phật tử trong mấy chục năm qua cũng đã suy sụp hoàn toàn và không có cái sinh hoạt gì gọi là phật giáo hết.” Thưa Ông nghĩ sao về luận điệu này?

Ô. VVA : Quý báo dùng hai chữ « luận điệu » là đã gói ghém hết nội dung tinh thần của người phát biểu. Thượng toạ Thích Quảng Ba có quyền nhận định như trên trong tư cách cá nhân, nhưng ông không đại biểu cho lập trường của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.

Ở trên, quý báo nói rằng : « dư luận trong và ngoài nước vẫn coi Gíao hội Phật giáo Việt Nam là một tổ chức Phật giáo quốc doanh, tiếp tay Cộng sản ».

Đây không chỉ là dư luận mà là một thực tại.

Ông Đỗ Trung Hiếu, một cán bộ tôn giáo cao cấp của Đảng Cộng sản, được các ông Xuân Thủy rồi Nguyễn Văn Linh và Trần Quốc Hoàn trực tiếp giao phó nhiệm vụ “thống nhất Phật giáo” đầu năm 1979 với chức Chính ủy của Đoàn Công tác thống nhất Phật giáo Việt Nam, mà thành quả đưa tới sự ra đời của Giáo hội Phật giáo Việt Nam (Giáo hội Nhà nước) ngày 4 tháng 11 năm 1981 tại Hà Nội.

Sau này vì hối hận, ông viết tài liệu « Thống nhất Phật giáo » 50 trang đánh máy, khổ A4. Ông Hiếu viết xong và đề ngày “Phật Ðản 2538, ngày 15.4 Giáp Tuất (25.5.1994)”. Tài liệu tiết lộ tất cả sự thật của cái gọi là Giáo hội Phật giáo Việt Nam (xem toàn văn trên tạp chí Quê Mẹ số 133, Paris, 1995).

Qua tập tài liệu, ông Ðỗ Trung Hiếu cho biết chi tiết tên tuổi từ các vị lãnh đạo Ðảng đến hàng giáo phẩm cao cấp Phật giáo, theo hoặc chống, trong quá trình thống nhất Phật giáo do Ðảng chủ trương sau ngày cưỡng chiếm miền Nam năm 1975.

Chủ trương của Trung ương Ðảng và Ban Dân vận Trung ương về vấn đề thống nhất Phật giáo là :

« Nội dung đề án là biến hoàn toàn Phật giáo Việt Nam thành một hội đoàn quần chúng. Còn thấp hơn hội đoàn, vì chỉ có Tăng, Ni, không có Phật tử ; chỉ có tổ chức bên trên không có tổ chức bên dưới, tên gọi là Hội Phật giáo Việt Nam (…) Nội dung hoạt động là lo việc cúng bái chùa chiền, không có hoạt động gì liên quan tới quần chúng và xã hội (…) Lấy chùa làm cơ sở chứ không phải lấy quần chúng Phật tử làm đơn vị của tổ chức Giáo hội”.

Ông Hiếu nhận định về sự thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam (Nhà nước) tại chùa Quán Sứ, Hà Nội, ngày 4.11.1981, như sau :

“Thực sự đại biểu là giữa Phật giáo của ta và GHPGVNTN. Ban Vận động Thống nhất Phật giáo Việt Nam đều là đại biểu dự Ðại hội, trong đó đại biểu của ta đa số. Chín tổ chức và hệ phái Phật giáo, GHPGVNTN là một, còn lại tám với những danh nghĩa khác nhau, nhưng tất cả đều hoặc là ta hoặc là chịu sự lãnh đạo của Ðảng”. (…) “Cuộc thống nhất Phật giáo lần này bên ngoài do các hòa thượng gánh vác, nhưng bên trong bàn tay đảng Cộng sản Việt Nam xuyên suốt quá trình thống nhất để nắm và biến tướng Phật giáo Việt Nam trở thành một TỔ CHỨC BÙ NHÌN CỦA ĐẢNG (chúng tôi nhấn mạnh)”.

(…) “Việc thống nhất Phật giáo Việt Nam theo tôi biết, Ðảng chủ trương thống nhất Phật giáo của ta với Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) khối Ấn Quang. Phật giáo của ta là Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam (HPGTNVN) và Ban Liên lạc Phật giáo Yêu nước (BLLPGYN) ở miền Nam. Ở miền Bắc, phật tử đã vào các đoàn thể quần chúng hết rồi, chỉ còn những cụ già đi lễ bái ở chùa ngày rằm, mồng một, theo tục lệ cổ truyền. Sư tiêu biểu thật hiếm. Cụ Trí Ðộ đã luống tuổi, quanh đi quẩn lại vẫn cụ Phạm Thế Long, nhưng khả năng đức độ của cụ ảnh hưởng trong nước và quốc tế hạn chế. BLLPGYN có khá hơn một tí. Cụ Minh Nguyệt (đảng viên cộng sản, theo ô. Hiếu) có thành tích ở tù 15 năm Côn Ðảo, cụ Thiện Hào (đảng viên cộng sản, theo ô. Hiếu) có thành tích đi kháng chiến, nhưng điều phật tử cần ở nhà Sư, cả hai cụ đều hạn chế.

“GHPGVNTN khối Ấn Quang là một tổ chức tôn giáo và tổ chức quần chúng mang tính xã hội chính trị có màu sắc dân tộc, thu hút đông đảo quần chúng và có uy tín trên thế giới, nhiều nhà sư tài giỏi. Nếu thống nhất theo Kiến nghị của cụ Ðôn Hậu, có nghĩa là giải thể BLLPGYN, sát nhập HPGTNVN vào GHPGVNTN và chịu sự lãnh đạo của họ. Như thế GHPGVNTN phát triển ra toàn lãnh thổ Việt Nam chứ không chỉ ở miền Nam như trước năm 1975.

“Quan trọng là Ðảng không bao giờ lãnh đạo được GHPGVNTN, mà ngược lại GHPGVNTN trở thành một tổ chức tôn giáo rộng lớn có đông đảo quần chúng, là một tổ chức có áp lực chính trị thường trực với Ðảng và chính phủ Việt Nam.

“Thống nhất theo dự án của ban Tôn giáo chính phủ chưa ổn lắm, vì chung qui cũng đưa các cụ ở HPGTNVN và BLLPGYN xách cặp cho GHPGVNTN mà thôi”.

Đọc xong các tiết lộ của ông Đỗ Trung Hiếu trên đây, mà còn nghĩ rằng Giáo hội Phật giáo Việt Nam (tức Giáo hội Nhà nước) có thể đóng một vai trò nào đó cho nền Phật giáo dân tộc ngoài vai trò tay sai chính trị, khuyển mã cho Đảng, thì chỉ có thể phát xuất từ hai loại người. Một là ngây thơ, hai là cò mồi cho Cộng sản. Xin nói ngay tôi không « chụp mũ » cho ai cả. Vì rằng, đối với tôi và thực tế lịch sử đã minh chứng, là có những người không là đảng viên Cộng sản, nhưng ăn nói, suy nghĩ hay hành động lại phục vụ cho Cộng sản còn hơn đảng viên Cộng sản. Chỉ là vấn đề trí tuệ.

Cần nói thêm rằng, vì viết tài liệu nói trên mà ông Đỗ Trung Hiếu bị 18 tháng tù giam tại trại Xuân Lộc.

SGT :Cũng trong buổi phỏng vấn đó của đài SBS, Thượng Tọa Thích Quảng Ba còn kêu gọi, “Tăng ni phật tử hải ngoại dù là giáo hội nào hay không giáo hội nào, cũng luôn luôn yểm trợ những sinh hoạt của Phật giáo trong nước cho dù là sinh hoạt đó cuả Giáo Hội Thống Nhất điều hành hay là Gíao hội Phật giáo Việt Nam điều hành”. Thưa Ông, lời kêu gọi này nguy hiểm ở chỗ nào?

Ô. VVA : Nguy hiểm ở sự ba phải và nhập nhằng trong một Cộng đồng Người Việt Tị nạn vốn rất minh bạch về luận điểm dân tộc và tôn giáo trước chế độ độc tài toàn trị gian manh, phi tôn giáo, chống tôn giáo và chống con người.

SGT : Chân thành cảm ơn thì giờ qúy báu cùng tâm huyết của Ông.

Đơn thư tố cáo về việc vi phạm nhân quyền nghiêm trọng !

                Hội đồng nhân quyền của Liên hiệp quốc

                Liên hiệp Âu châu – EU

                Nghị Viện Âu châu – EP

                Quốc Hội Úc Châu thủ đô Canbera

                Uỷ ban nhân quyền Việt nam

                Tổ chức theo dõi và bảo vệ Nhân quyền Quốc tế – HRW

                Tổ chức ân xá Quốc tế

                Mạng lưới bảo vệ Nhân quyền Việt Nam của đồng bào hải ngoại

                Tổ chức phóng viên không biên giới – RSF

                Các tổ chức đấu tranh cho tự do dân chủ nhân quyền trên toàn thế giới

                Các cơ quan thông tấn báo chí trong, ngoài nước và Quốc tế

             

      Tôi tên là Nguyễn Tiến Nam hiện thường trú tại tổ 24, phường Yên Thịnh thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái- Việt Nam, tôi viết bản tố cáo này để tố cáo công an nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã vi phạm nhân quyền và luật pháp của chính nhà nước việt nam này đã đặt ra

 

Ảnh 2 :  Hình công dân Nguyễn Tiến Nam đang bị tên Minh đầu húi cua là công an bảo vệ chính trị cho ĐCSVN – thuộc đơn vị công an quận Hoàn Kiếm, TP Hà Nội xông vào bóp cổ lôi đi để tiếp tục đánh đập.

     Ảnh do phóng viên hãng tin AFP chụp sáng ngày 29/4/2008 trước của chợ Đồng Xuân Hà Nội.

      Ngày 29 – 4 – 2008 theo kế hoạch ngọn đuốc Olympics Bắc Kinh 2008 ô nhục sẽ đi qua đất nước Việt Nam. Vì vậy tôi hưởng ứng lời kêu gọi trên các trang mạng internet tham gia biểu tình ôn hòa chống lại việc chính trị hóa ngọn đuốc Olympics 2008 này trước cửa chợ Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm thủ đô Hà Nội để từ đó chúng tôi sẽ diễu hành qua 1 số tuyến phố trên thủ đô Hà Nội hô vang các khẩu hiệu có nội dung :

         ” Trường Sa –  Hoàng Sa là của Việt Nam” !

          “ Phản đối nhà cầm quyền Bắc Kinh cho tầu chiến Trung Quốc bắn giết ngư dân Việt Nam ” !

          “ Hãy tẩy chay Thế vận hội Olempic Bắc Kinh 2008 !”….

Kính gửi:

Ảnh 2 : Sinh viên Nguyễn Tiến Nam đang bị các tên công an xúm vào khiêng vô ban quản lý chợ Đồng Xuân để tiếp tục hành hung dã man. Người mặc áo hoa cộc tay trái có đeo đồng hồ, đầu bạc hoa râm chính là thượng tá Hà Mạnh Hoà an ninh quận công an Hoàn Kiếm, Hà Nội. Trong ảnh có các tên mặc áo dân sự đầu đội nhựa bảo hiểm để đi xe máy đều là mật vụ CSVN.

Hình do hãng tin AFP chụp sáng 29/4/2008 trước cửa chợ Đồng Xuân.

Vào hồi 9 giờ sáng ngày 29-4-2008 tôi đến trước cửa chợ Đồng Xuân Hà Nội tay cầm biểu ngữ tẩy chay rước đuốc Olympics cùng 1 số người dân bao gồm hơn 50 đồng bào dân oan các tỉnh đang khiếu kiện ở vườn hoa Mai Xuân Thưởng, cộng với 14 thân nhân của số ngư dân tỉnh Thanh Hoá đã bị chết dưới họng súng của những kẻ bành trướng Trung Cộng, cùng các nhà tranh đấu dân chủ như nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, ông Vi Đức Hồi, nhà thơ Trần Đức Thạch, các nhà giáo Dương Thị Xuân, anh Vũ Hùng, các bạn sinh viên Ngô Quỳnh, Phạm Văn Toản, Nguyễn Nhất….thì bất ngờ tôi bị công an Việt Nam xông đến bóp cổ tôi làm tôi ngạt thở và thâm tím khu vực yết hầu. Tiếp theo sau đó họ đánh tôi rất dã man, bị đàn áp đánh đập cùng với tôi có nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, nhà giáo Vũ Hùng và nhiều người khác……. Sau đó họ bắt chúng tôi vào văn phòng ban của quản lý chợ Đồng Xuân tiếp tục đánh đập chúng tôi rất tàn ác, rồi họ lôi tôi vào phòng kín để đấm đá liên tục vào bụng tôi làm cho tôi nôn ra hết thức ăn ra và có lẫn máu tươi. Tiếp đến sau đó họ đưa chúng tôi về công an phường Đồng Xuân, quận Hoàn kiếm – Hà nội để thẩm vấn suốt từ 10 giờ sáng ngày 29-4-2008 đến 22 giờ tối cùng ngày.

Cuối cùng chúng cho xe công an các tỉnh đưa chúng tôi về trụ sở công an các tỉnh, thành phố để tiếp tục đe doạ và khủng bố tinh thần, rồi sau rốt mới tạm thời thả chúng tôi ra để tiếp tục bị thẩm vấn đe doạ vào các ngày liên tiếp sau đó tại các cơ quan công an tỉnh và thành phố nơi gia đình chúng tôi đang sinh sống.


Ảnh 6 và 7 trên đây là các vết móng tay của tên công an Minh đã bóp huyệt họng, yết hầu Nguyễn Tiến Nam để lại trên cổ nạn nhân. Việc cổ họng em Nam bị cấu xé đến rớm maú, da bị chày xước và rách trên cổ của sinh viên Nguyễn Tiến Nam sau khi bị công an Hà Nội bóp nghẹt thở và bị đánh đập tàn ác sáng ngày 29/4/2008 trước cửa chợ Đồng Xuân Hà Nội là bằng chứng hành hung dân lành vô tội của lực lượng công an nhà nước CSVN không thể chối cãi được nữa.

Ảnh này do thợ nhiếp ảnh thị xã Yên Bái thực hiện sáng ngày 30/4/2008 tại nhà Nguyễn Tiến Nam.

Chúng tôi là những người Việt Nam yêu nước tiến hành biểu tình một cách hòa bình trong ôn hòa, bất bạo lực không gây rối, không bạo loạn, không có vũ lực, vậy mà công an của nhà nước Cộng sản Việt Nam đã vu khống cho chúng tôi tội danh “gây rối trật tự nơi công cộng ” để lấy cớ đàn áp đánh đập tàn bạo chúng tôi. Kể cả cho dù khi đã bị bắt vào ban quản lý chợ Đồng Xuân, chúng tôi tuy không thể chống lại lệnh bắt giữ bằng miệng do lực lượng an ninh mật vụ công an quá đông đúc áp đảo hơn 60 chục dân thường đi tham gia biểu tình sáng hôm đó. Thế nhưng phía công an, an ninh chính trị, họ vẫn bóp cổ đánh đập chúng tôi rất dã man như là trấn áp tội phạm hình sự nguy hiểm vậy. Qua việc này chúng tôi thấy rõ ràng là chính họ – nhà cầm quyền CSVN và công an của họ đã vi phạm chính pháp luật do họ đã đề ra rất thô bạo và phi pháp. Những hành động, lời nói và việc làm của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đã gây ra cho chúng tôi đã vi phạm nhân quyền 1 cách trắng trợn mà họ đã long trọng cam kết trước cộng đồng quốc tế và với chính tổ chức Liên Hợp Quốc khi họ xin gia nhập tổ chức này.

Vì vậy tôi làm đơn thư này mong tất cả các tổ chức, các hội đoàn, các cá nhân bênh vực cho Nhân quyền, Dân chủ và Tự do hãy lên tiếng để đòi nhà cầm quyền của ĐCSVN phải dừng ngay mọi hành động vi phạm quyền con người mà họ đã ký kết với thế giới.

Tôi cực lực lên án và mạnh mẽ tố cáo tội ác vi phạm nhân quyền của công an Hà Nội đã gây ra đối với nhân dân trong nước trước dư luận rộng rãi trên khắp toàn cầu. Tôi cũng tha thiết mong quý đồng bào Việt Nam ở hải ngoại hãy chuyển dịch bức thư này của tôi sang các ngoại ngữ quan trọng và chính yếu để gửi tới các Chính phủ yêu chuộng tự do, dân chủ cùng các tổ chức Nhân quyền Quốc tế để họ hiểu được sự thật về tình trạng vi phạm các quyền Con Nguời tại Việt Nam đang diễn ra thường xuyên, liên tục và nghiêm trọng như thế nào.

Cuối cùng tôi xin trân trọng cám ơn tất cả các quý vị và quý đồng bào.

Thị xã Yên Bái, tỉnh Yên Bái
Ngày 01/5/2008
Công dân Nguyễn Tiến Nam
Email liên hệ : daibangxanhyb@gmail.com
Số điện thoại công khai : 0943 – 816 – 416

April 10, 2008

audio: sưu tầm vài bài nghiên cứu, bình luận, phỏng vấn về hiện tình VN

RFA: Hoàng Sa, Trường Sa bị lấn chiếm: Giải pháp nào để bảo tòan

Luật sư Trần Thanh Hiệp: Đưa vụ Hoàng Sa, Trường Sa ra trước HĐBA là cốt để Luật sư Trần Thanh Hiệp: Giải pháp pháp lý là ngọn, giải pháp chính trị mới
www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2008/01/02/ParacelAndSpartlyIslandsWereTransgressedP2_TtHiepNAn/

RFA: Hoàng Sa, Trường Sa bị lấn chiếm: Giải pháp nào để bảo tòan

Luật sư Trần Thanh Hiệp: Đương nhiên, việc Trung Quốc tự quyền sáp nhập Luật sư Trần Thanh Hiệp: Là để hiểu rõ vì sao vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa lại rất
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2008/01/01/ParacelAndSpartlyIslandsWereTransgressedP1_TtHiepNAn/

RFA: Hội luận trong ngoài nước về hiện tình ngành tư pháp Việt Nam

Luật sư Trần Thanh Hiệp : Vâng, về điểm này, tôi xin phép luật sư Trần Lâm …. Luật sư Trần Thanh Hiệp : Tôi thấy luật sư ở Việt Nam hiện thời bây giờ làm
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/10/05/SeniorLawyersDiscussWeaknessesInVnCurrentLegalSystemP2_TMi/

RFA: Hiệp ước về Biên giới Đất liền Việt Nam-Trung Quốc

Bản hiệp ước này đựơc quốc hội Trung quốc thông qua ngày 29 tháng 4 năm 2000, Rồi Trần Độ, Nguyễn Thanh Giang, Phạm Quế Dương… là ký tất.”
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2008/01/11/China-Vietnamese_land_frontier_treaty_NAn/

RFA: Bị buộc tội chống phá Nhà nước vì trả lời phỏng vấn RFA

4 thành viên của Hiệp Hội Đoàn Kết Công Nông Việt Nam ra tòa phúc thẩm tại thành phố Hồ …. Dân biểu NaUy kể lại cuộc gặp gỡ nhà văn Trần Khải Thanh Thủy
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2008/02/27/Court_sentenses_4_dissidents_in_HoChiMinh_City_VHung/

RFA: Đảng Dân Chủ Nhân Dân phản đối phiên tỏa phúc thẩm xử các nhà

Phiên toà phúc thẩm xử 4 thành viên Hiệp Hội Đoàn Kết Công-Nông Việt Nam và cũng là đảng …. Dân biểu NaUy kể lại cuộc gặp gỡ nhà văn Trần Khải Thanh Thủy
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2008/02/28/PDP_condemns_jail_sentences_handed_down_to_its_members_TMi/

RFA: Gia đình ông Trần Văn Hòa, thành viên đảng Dân chủ Nhân Dân

Ông Trần Văn Hòa, chấp sự của Hội thánh tại thành phố Hạ Long. …. ông đã đệ đơn chưa và phản ứng của Văn phòng Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp Quốc như thế nào?
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/05/13/TranVanHoaFamilyFleeToCambodia_VHung/

RFA: Tranh chấp Trường Sa, Hoàng Sa

Trong buổi phát thanh trước, BTV Nguyễn An và Luật sư Trân Thanh Hiệp, …. học lịch sử để làm lịch sử” của nhà văn Trần Trung Đạo trên trang talawas.org.
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/SpratlyParacels/ – 36kCachedSimilar pages

RFA: Việt Nam có cần thay đổi hiến pháp?

Để bàn sâu thêm về ý kiến này, Nguyễn An của Đài Á Châu Tự Do đã trao đổi với Luật sư Trần Thanh Hiệp, chủ tịch Trung Tâm Việt Nam về Nhân quyền ở Pari về
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2005/09/16/VietnamConstitution_TTHiepNAn/ – 23kCachedSimilar pages

RFA: Nhận định về làn sóng đình công tại Việt Nam (phần 3)

Ls Trần Thanh Hiệp: Tôi không cố ý hay vô tình bỏ quên không bàn đến mặt nhân Ls Trần Thanh Hiệp: Theo lẽ, các điều khoản của luật quốc tế về quyền đình
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2006/03/08/StrikesInVietnamP3_TTHiepNAn/

RFA: Tuyên ngôn Độc lập 02-09-1945 và Nhân quyền

Luật sư Trần Thanh Hiệp: Tôi không nghe đọc bản Tuyên ngôn ngày 02-09 nhưng Luật sư Trần Thanh Hiệp: Thế nhưng ký tham gia để rồi lại tìm cách vô hiệu
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/09/02/IndepenceDeclaration09021945AndHumanRights_TTHiep/

RFA: Về tội Chống Nhà nước và tội Phá rối an ninh

Luật sư Trần Thanh Hiệp: Phải dựa vào pháp luật và nhất là cuộc tranh luận Luật sư Trần Thanh Hiệp: Thứ hai, tội phạm nào cũng gồm có hành vi cấu thành
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/05/09/ActivitiesAgainstTheStateToBeChargedTo6Dissident_TTHiepKhanh/

RFA: Nhận định về những cuộc đình công xảy ra hàng loạt tại Việt

Trần Thanh Hiệp: Nếu tại Pháp, là nước tôi đang ở, mà phải bàn về đình …. Trần Thanh Hiệp: Tôi tưởng chúng ta chẳng cần bàn luận dông dài về những sai lầm
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2006/03/07/StrikesInVietnamP1_TTHiepNAn/

RFA: Luật sư Trần Quốc Hiền bị tuyên án 5 năm tù giam và hai năm

Phiên xử hôm nay tại Toà án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là phiên thứ ba trong luật sư Trần Quốc Hiền còn là phát ngôn nhân của Hiệp hội Đoàn kết Công
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/05/15/VietnamCoutJailsLabourOrganiserForFiveYears_GMinh/

RFA: Phương cách ứng xử của Hà Nội trong quan hệ với Bắc Kinh?

Trao huân chương Sao vàng cho hai nhân vật từng ký những Hiệp định Biên giới Lãnh hải không mấy thuận cho quốc gia dân tộc là các ông Lê Khả Phiêu – Trần
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2008/01/22/Discussion_with_AuDThe_on_the_VN_political_situations_p2_VHung/

RFA: Nhân quyền và Dân chủ tại VN, tránh sa lầy tranh chấp chính trị

Trong một chương trình trước, Luật sư Trần Thanh Hiệp, chủ tịch Trung Trần Thanh Hiệp: Hiện thời hãy còn quá sớm để nói bắt đầu có dân chủ ở Việt Nam.
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2006/11/05/Discussion_on_Situation_of_Rights_Democracy_in_Vietnam_p2_NAn/

RFA: Nghệ thuật ca kịch cải lương Việt Nam sau 1975

Bài “Vai diễn để đời: Không có lớp trẻ” của tác giả Thanh Hiệp mở đầu với tiểu Tôi hay tin các HCV Giải Trần Hữu Trang hiện nay đang dựng lại vở Thanh
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2005/11/19/TheArtOfCaiLuongVietnamAfter1975_TQuang/ – 27kCachedSimilar pages

RFA: Hội luận trong ngoài nước về hiện tình ngành tư pháp Việt Nam

LS Trần Thanh Hiệp: Một cách đơn giản là chế độ đó phải thay đổi hệ thống Luật sư Trần Thanh Hiệp: Cái chuyện thay đổi chế độ đâu có phải là cái chuyện
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/10/06/SeniorLawyersDiscussWeaknessesInVnCurrentLegalSystemP3_TMi/ – 18kCachedSimilar pages

RFA: Công lý trong vụ án Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân?

Trần Thanh Hiệp: Nói công lý là, như Luật La Mã đã nói, mang lại cho mỗi Trần Thanh Hiệp: Tôi không biết là giữa các luật sư có sự phân công hay không.
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/11/26/Jutice_of_Vietnamese_Communist_Party_TTHiep/ – 27kCachedSimilar pages

RFA: Bang giao Việt – Mỹ và nhân quyền Việt Nam (phần 2)

Trong buổi phát thanh vừa qua, Luật sư Trần Thanh Hiệp, chủ tịch Trung Tâm Việt Nam về Luật sư Trần Thanh Hiệp: Đúng là tôi có nói như ông vừa nhắc lại.
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/06/29/HumanRightsInVietnamUsRelationsPart2_TTHiep/ – 24kCachedSimilar pages

RFA: Các giai đoạn của cuộc cải cách ruộng đất (phần 2)

Sự kiện thứ nhất là chính phủ Bảo Đại ra đời sau hiệp định Élysée năm 1949. Thứ hai là nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được thành lập vào 1/10/1949.
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2006/05/16/LandReform50YearsAgoP2_NAn/ – 24kCachedSimilar pages

RFA: Việt Nam trong nỗ lực gia nhập Hội Ðồng Bảo An LHQ

Tuần tới, hàng trăm nguyên thủ các nước thành viên Liên Hiệp Quốc sẽ đổ về New …. Vợ chồng Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và bà Trần Kim Chi (trái) chụp
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/09/21/VietnamToTheUNSecurityCouncil_Khanh/ – 29kCachedSimilar pages

RFA: Nhân Quyền

Để tìm hiểu về sự khác biệt giữa hai cách nhận định này, Nguyễn An phỏng vấn Luật sư Trần Thanh Hiệp, chủ tịch Trung Tâm Việt Nam về Nhân quyền,
http://www.rfa.org/vietnamese/nhanquyen/ – 36kCachedSimilar pages

RFA: Hội luận trong ngoài nước về hiện tình ngành tư pháp Việt Nam

Và luật sư Trần Thanh Hiệp, từ Pháp, cựu luật sư các toà Thựơng thẩm ở Sài Luật sư Trần Thanh Hiệp : Nghe Luật sư Trần Lâm nói về cái thực trạng pháp
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/10/05/SeniorLawyersDiscussWeaknessesInVnCurrentLegalSystemP1_TMi/ – 30kCachedSimilar pages

RFA: Hội luận trong và ngoài nước về quyết định đưa Việt Nam trở

Mục sư Trần Mai: Tôi đã được tiếp xúc thường xuyên với các Mục sư thuộc Hiệp Hội Thông Công (VEF) thì các Mục sư trong VEF của chúng tôi đều đoán biết trước
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2005/11/20/VietnamStillInTheListofCPC_VHung/ – 20kCachedSimilar pages

RFA: Triển vọng cải thiện tình trạng nhân quyền ở Việt Nam (I)

Trần Thanh Hiệp: Bàn về khái niệm nhân quyền phổ quát, muốn cho đầy đủ, Trần Thanh Hiệp: Ở Việt Nam, thời tiền kỳ sử của nhân quyền dài hơn thời kỳ minh
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2005/11/01/HumanRightsSituationInVN_TTHiepNAn/ – 26kCachedSimilar pages

RFA: So sánh các bản hiến pháp 1946, 1959, 1980 và 1992 (hiện hành)

Trần Thanh Hiệp: Trên đại thể, tôi có thể chia xẻ sự nhận định với giáo sư …. Cũng xin thưa rằng quan điểm của luật sư Trần Thanh Hiệp không nhất thiết
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2005/09/17/AnalysisVietnamConstitution_TTHiepNAn/ – 25kCachedSimilar pages

RFA: Việt Nam xếp hạng thứ 145 về tự do, dân chủ

Trả lời câu hỏi của đài chúng tôi, làm thế nào, dân chúng Việt Nam sớm hưởng tự do, dân chủ, từ Ba Lan, ông Trần Ngọc Thành, Chủ tịch ủy ban Bảo vệ Người
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2006/12/14/VietnamRanks145DemocracyIndex_DHieu/ – 17kCachedSimilar pages

RFA: Tôn Giáo

Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy trả lời phỏng vấn RFA sau khi vừa được trả tự do Vấn đề Thác Bản Giốc trong hiệp ước biên giới Việt-Trung · Hiệp ước về
http://www.rfa.org/vietnamese/tongiao/ – 34kCachedSimilar pages

RFA: Mở ra những trận “cận chiến pháp quyền để chống vi phạm nhân

Trần Thanh Hiệp: Tôi cho rằng những người tranh đấu cho nhân quyền ở Việt Nam Trần Thanh Hiệp: Trên nguyên tắc thì pháp luật tại Việt Nam là công cụ cai
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2006/01/03/NewWayToFightAgainstHanoiHumanRightsViolation_TTHiep/ – 26kCachedSimilar pages

RFA: <img src=”http://www.rfa.org/vietnamese

Sáng ngày hôm nay thứ Ba (15-05) Toà án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã cáo buộc luật sư Trần Quốc Hiền, người phát ngôn của Hiệp hội Đoàn kết Công Nông
http://www.rfa.org/vietnamese/FatherNguyenVanLyTrial/ – 41kCachedSimilar pages

RFA: Triển vọng cải thiện tình trạng nhân quyền ở Việt Nam (V)

Trần Thanh Hiệp: Có ba tác nhân chính hiện đang tác động trong lãnh vực nhân Trần Thanh Hiệp: Ta có thể tạm đặt giả thuyết rằng nhà cầm quyền Hà Nội,
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2005/11/03/HumanRightsSituationInVN_THiepNAn/ – 26kCachedSimilar pages

RFA: Quá trình cải tổ Luật pháp tại Việt Nam (III)

Trần Thanh Hiệp: Đánh giá cải tổ luật pháp cộng sản ở Việt Nam được tới mức khách quan Trần Thanh Hiệp: Nói lượng là nói về mặt thực định của luật pháp.
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2005/07/18/LegalReformsInVietnam_TTHiep/ – 27kCachedSimilar pages

RFA: Nữ sinh viên Mỹ gốc Việt được học bổng Barry Goldwater của

Thanh Trúc hân hạnh giới thiệu đến quí vị cô sinh viên Nguyễn Tống Mỹ Linh 20 tuổi học Vụ kiện của ông Trần Văn Trường, một Việt kiều Mỹ về nước làm ăn
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2006/04/06/MyLinhWinGoldwaterScholarship_Truc/ – 22kCachedSimilar pages

RFA: Nhân quyền Việt Nam qua phúc trình 2007 của bộ Ngoại giao Mỹ

Luật sư Trần Thanh Hiệp: Ai cũng thấy là đã có một sự trùng hợp ngẫu nhiên. Luật sư Trần Thanh Hiệp: Bản phúc trình của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã quan sát
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/03/19/VietnamInUSStateDpartment2006HumanRightsReport_NAnTTHiep/ – 23kCachedSimilar pages

RFA: Triển vọng cải thiện tình trạng nhân quyền ở Việt Nam (IV)

Hôm nay Nguyễn An tiếp tục trao đổi với luật sư Trần Thanh Hiệp về nhân Trần Thanh Hiệp: Thật ra, Tuyên ngôn Thế giới về nhân quyền 1948 không phải là
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2005/11/03/HumanRightsSituationInVN4_THiepNAn/ – 28kCachedSimilar pages

RFA: Tuyên ngôn nhân quyền 1948, tiếng gọi của thời đại

Trần Thanh Hiệp: Bản Tuyên ngôn thế giới nhân quyền 1948 có thể ví như một thứ …. Trần Thanh Hiệp: Tuyên ngôn 1948 chỉ là một Nghị quyết của Đại Hội Đồng
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2005/12/11/DeclarationOnHumanRights_TTHiep/ – 23kCachedSimilar pages

RFA: Nghị quyết 1481 lên án chủ nghĩa Cộng sản theo quan điểm của

Trụ sở đặt tại thành phố Strasbourg miền Đông bắc nước Pháp, cũng là nơi Liên hiệp Châu Âu và Quốc hội Châu Âu đặt trụ sở thứ hai sau trụ sở thứ nhất ở
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2006/02/08/PACE_Resolution1481_Condemns_Communist_Regimes_YLan/ – 26kCachedSimilar pages

RFA: Ý nghĩa chuyến đi thăm nước Mỹ của ông Phan Văn Khải

Thanh Quang trao đổi với Luật sư Trần Thanh Hiệp, hiện là Chủ tịch của Trung …. Trần Thanh Hiệp: Đó là cách nói của những người Mỹ có trách nhiệm ngoại
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2005/06/19/PhanVanKhai_US_TTHiep/ – 24kCachedSimilar pages

RFA: Nghị quyết của Cộng đồng các Quốc gia Dân chủ về Việt Nam

Ban lãnh đạo quốc tế tiến trình phi chính phủ, một thành phần của tổ chức Cộng đồng các …. Buổi ra mắt sách của Nhà văn Trần Khải Thanh Thuỷ ở California
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/10/06/An_interview_with_Chairman_of_Community_of_Democracy_YLan/ – 20kCachedSimilar pages

RFA: Triển vọng cải thiện tình trạng nhân quyền ở Việt Nam (II)

Trần Thanh Hiệp: Tại vì trong công ước về nhân quyền mà Việt Nam đã ký vào năm Trần Thanh Hiệp: Việt Nam xã hội chủ nghĩa bị dính líu vào vụ CPC đúng là
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2005/11/01/VNHumanRightsSituation_THiepNAn/ – 29kCachedSimilar pages

RFA: Phân tích giá trị của bản hiến pháp 1946 của Việt nam

Trần Thanh Hiệp: Khi nói bản Hiến pháp năm 1946 vẫn còn nguyên giá trị là Trần Thanh Hiệp: Thật ra trong Hiến pháp có cả chính trị lẫn luật nhưng khi
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2005/09/17/AnalysisVietnamConstitution_THiepNAn/ – 25kCachedSimilar pages

RFA: Phỏng vấn Hồng Y Phạm Minh Mẫn về phiên toà xử Linh mục

Vatican II đề ra mục tiêu xây dựng Nước Trời tại trần thế nầy là kiến tạo một cộng đồng trong sự thánh thiện và hiệp nhất, trong yêu thương và bình an.
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/04/20/InterviewCardinalPhamMinhManAboutFatherNguyenVanLy_MLam/ – 30kCachedSimilar pages

RFA: Huế, 25 ngày kinh hoàng của 40 năm trước

Bộ Đội Bắc Việt đã có mặt trong thành phố Huế từ sáng sớm mùng Một Tết. Ông Trần Ngọc Huế, vào thời điểm đó, là Đại Đội Trưởng Đại Đội Hắc Báo thuộc Sư Đoàn
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2008/01/31/City_of_Hue-25_deadly_days_40_years_ago_TGiao/ – 27kCachedSimilar pages

RFA: Cuộc tranh đấu dân chủ hiện nay sẽ đi về đâu?

Luật sư Trần Thanh Hiệp, chủ tịch Trung Tâm Việt Nam về nhân quyền, Luật sư Trần Thanh Hiệp: Hiện tại trước mắt thì tình hình chưa thấy có gì mói.
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2006/12/14/ProspectOfTheFightForDemocarcyInVietnam_TTHiepNAn/ – 24kCachedSimilar pages

RFA: Dư luận phản ứng trước việc chính phủ tăng giá xăng dầu

Thông tin trên mạng Vietnamnet cho biết chính phó giám đốc Bến xe Miền Đông tại thành phố Hồ Chí Minh, ông Trần Duy Sinh, thừa nhận là các hãng xe buộc phải
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2008/03/06/Impacts_of_gas_price_hike_on_transportation_GMinh/ – 21kCachedSimilar pages

RFA: Có tiến bộ về nhân quyền ở Việt Nam hay không? (phần 1)

Trần Thanh Hiệp: Có thay đổi không hẳn là đã có tiến bộ nếu chỉ là những thay Trần Thanh Hiệp: Khẳng định rằng hiện nay tình hình nhân quyền ở Việt Nam
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2008/03/04/Is_there_any_improvement_in_the_HumanRights_in_Vietnam_part1_NAn/ – 21kCachedSimilar pages

RFA: Phản ứng của Hiệp hội Đoàn kết Công Nông Việt Nam trước bản

Việt Hùng: Trước đây nhà cầm quyền đã bắt ông Nguyễn Tấn Hoành, bà Trần Thị Hồng và một số thành viên của Hiệp hội tại tỉnh Đồng Nai, trường hợp của luật sư
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/05/15/InterviewPhamLinhOnLawyerTranQuocHienTrial_VHung/ – 24kCachedSimilar pages

RFA: Tình trạng cài răng lược giữa hợp pháp và bất hợp pháp

Nguyễn An: Kính chào luật sư Trần Thanh Hiệp. Về tình hình nhân quyền hiện Trần Thanh Hiệp: Tôi cho là không. Vì hệ thống pháp luật ấy chính là nguyên
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2006/11/28/IntertwiningSituationBetweenLegalAndIllegalActivities_TTHiep/ – 21kCachedSimilar pages

RFA: Nhiều người tham gia biểu tình chống Trung Quốc bị thẩm vấn

Luật gia Thanh Hải: Những người xử lý vi phạm họ không trả lại cho bọn tôi đấy cũng là một hình thức, không lẽ họ xông vào họ cởi trần người ta ra à?
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2008/01/23/Anti-China_protesters_say_government_cannot_silence_them_TMi/ – 28kCachedSimilar pages

RFA: Triển vọng hành nghề luật sư tại Việt Nam

Ông Trần Thanh Hiệp đã hành nghề luật sư tại Sai Gòn từ giữa thập niên 1950 và Luật sư Trần Thanh Hiệp: Không hẳn như vậy, được hành nghề không có nghĩa
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2006/09/05/ProspectOfLawyerInVietnam_TTHiep/ – 27kCachedSimilar pages

RFA: Dân chủ và “dân chủ ở cơ sở”

Việt Long: Thưa Luật sư Trần Thanh Hiệp, “Dân chủ ở cơ sở” là một nhóm từ ngữ …. Trần Thanh Hiệp: Tôi thấy rằng những gì ông Nông Đức Mạnh nói về dân chủ
http://www.rfa.org/vietnamese/binhluan/2004/11/01/tranthanhhiep102904p/ – 23kCachedSimilar pages

RFA: Bàn về vụ án Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân sắp đem ra xử

Luật sư Trần Thanh Hiệp: Điều 14 đoạn 3 của Công ước quốc tế về các quyền dân Luật sư Trần Thanh Hiệp: Tôi khẳng định là trong vụ án của hai đồng nghiệp
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/04/30/CaseOfLawyersNguyenVanDaiandLeThiCongNhan_TTHiepNAn/ – 23kCachedSimilar pages

RFA: Đàn áp có hệ thống

Luật sư Trần Thanh Hiệp: Nói đàn áp trống trơn là nói một hành vi riêng lẻ để Luật sư Trần Thanh Hiệp: Hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay bao gồm
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/04/29/TheSystematicCrackDown_TTHiepNAn/ – 23kCachedSimilar pages

RFA: Đặt vấn đề chính thống dân chủ ơ Việt Nam

Trần Thanh Hiệp: Chữ tính chính thống là một danh từ mới trong ngôn ngữ …. Trần Thanh Hiệp: Đặt lại trên cơ sở khái niệm tính chính thống của một chế độ
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2006/11/28/IssuesOfLigitimacyInVietnam_TTHiep/ – 23kCachedSimilar pages

RFA: Tình trạng nhân quyền tại Việt Nam hiện nay

Nguyễn An ghi nhận ý kiến của Luật sư Trần Thanh Hiệp, Chủ tịch Trung tâm Việt Nam Nhân Quyền tại Paris, hiện ông đang có mặt tại Thủ đô Hoa Thịnh Đốn của
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2006/09/03/IsAnyDemocraticProgressVietnam_NAn/ – 17k

RFA: Việt Nam dự định thiết lập cơ quan Bảo hiến trực thuộc Quốc hội

Luật sư Trần Thanh Hiệp hiện là Chủ tịch Trung tâm Nhân quyền Việt Nam tại Luật sư Trần Thanh Hiệp: Thưa, 3 trong 4 bản hiến pháp XHCN được ban hành tại
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2006/04/15/FoundationToGuarrantyVNConstitutuion_TTHiepNAn/ – 18kCachedSimilar pages

RFA: Chuyển động mở đường cho dân chủ ở Việt Nam

Trần Thanh Hiệp: Điều rất rõ là hiện nay chính quyền xã hội chủ nghĩa đã không Trần Thanh Hiệp: Tôi cho rằng chúng ta không thể chấp nhận chủ trương đổi
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2006/05/08/DraftOnFreeToEstablishAssociation_TTHiep/ – 25kCachedSimilar pages

RFA: Hà Nội không cho mẹ luật Lê Thị Công Nhân sang Pháp dự hội nghị

Hôm qua, bà Trần Thị Lệ, mẹ của luật sư Lê Thị Công Nhân, đã không được nhà cầm quyền Việt Nam trả hộ chiếu và không cho đi Pháp theo lời mời của Hiệp Hội
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/11/03/Hanoi_forbid_the_mother_of_emprisoned_lawyer_go_to_France/ – 14kCachedSimilar pages

RFA: Tư tưởng chính trị Việt Nam hiện đại

Được biết Luật sư Trần Thanh Hiệp, Chủ tịch Trung Tâm Việt Nam về Nhân Quyền, Nguyễn An: Xin chào Luật sư Trần Thanh Hiệp, nghe nói lần này ông trở lại
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2006/09/03/VietnamesePoliticalModernConcepts_NAn/ – 18kCachedSimilar pages

RFA: Những chuyển biến về Nhân quyền và Dân chủ ở Việt Nam

Trần Thanh Hiệp: Những hiện tượng vừa được nêu lên như ra báo hay lập hội, Trần Thanh Hiệp: Về mặt chính trị, Đảng cầm quyền không còn đủ sức mạnh để
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2006/11/04/Discussion_on_Situation_of_Rights_Democracy_in_Vietnam_p1_NAn/ – 22kCachedSimilar pages

RFA: Trao đổi thư tín với thính giả (Ngày 11-1-2008)

Chúng tôi cũng được thư của quí thính giả Biêu Phạm, Văn Trần, Khánh Trần hoặc Khanh Trần. Xin vui lòng bỏ qua nếu Thanh Trúc đọc tên sai vì email tiếng
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2008/01/11/ListenersForum_Truc/ – 27kCachedSimilar pages

RFA: Nhân ngày Quốc tế Nhân quyền, bàn về nhân quyền ở Việt Nam

Trần Thanh Hiệp: Có chứ. Với một bản văn quốc tế mà người ta coi là ngọn hải Trần Thanh Hiệp: Tư tưởng về nhân quyền thật ra đã manh nha từ gần 5000 năm
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2006/12/10/1948_Universal_Declaration_of_HumanRights_a_New_concept_TTHiep/ – 24kCachedSimilar pages

RFA: “Anh hùng và Kẻ bội phản trong Quân lực VNCH,” một tiếng nói

Hãy nhìn như vậy, để cảm nhận một Trần Ngọc Huế chiến sĩ dũng cảm, trả giá đắt cho lòng trung thành nhưng chẳng bao giờ phải trả lời câu hỏi về danh dự.
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2008/02/19/VN_forgotten_army_heroism_and_betrayal_in_the_ARVN_TGiao/ – 29kCachedSimilar pages

RFA: Cuộc đàn áp nhân quyền hậu APEC tại Việt Nam

Nguyễn An: Xin chào Luật sư Trần Thanh Hiệp. Trong một cuộc trao đổi hồi Luật sư Trần Thanh Hiệp: Dĩ nhiên về mặt hình thức thì nhà cầm quyền Hà Nội có
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/03/19/PostAPECHumanRightsCrackDown_NAnTTHiep/ – 26kCachedSimilar pages

RFA: Độc tài vẫn cứ dẫm chân tại chỗ

Trần Thanh Hiệp: Tôi cứ tưởng là với bản án sẽ tuyên của tòa phúc thẩm của Hà Trần Thanh Hiệp: Tôi tưởng câu hỏi này của qúy đài đã được chính tòa phúc
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/11/29/Dictatorship_in_Vietnam_remains_unchanged_TTHiep/ – 21k

RFA: Lê Nguyên Sang: Tội phạm chính trị bị xét xử như tội thường phạm

Luật sư Trần Thanh Hiệp: Bác sĩ Lê Nguyên Sang đã kháng cáo trong thời hạn Luật sư Trần Thanh Hiệp: Tôi không khẳng định rằng Bác sĩ Sang có phạm tội
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/08/17/LeNguyenSangPoliticalCriminalOrCommonCriminal_TThiep/ – 24kCachedSimilar pages

RFA: Để có tiến bộ về nhân quyền ở Việt Nam? (phần 2)

Luật sư Trần Thanh Hiệp: Không. Tôi có cơ sở vững chắc để quả quyết rằng chẳng những không Luật sư Trần Thanh Hiệp: Trước hết là cơ sở về mặt sự kiện.
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/02/01/HowToImproveHumanRightsInVietnamP2_TTHiepNAn/ – 24kCachedSimilar pages

RFA: Hơn 2 triệu trẻ em Việt Nam bị suy dinh dưỡng

Tại hội nghị dinh dưỡng tòan quốc năm 2008, thứ trưởng bộ y tế Trần Chí đến trẻ em Việt Nam là con số thống kê vừa được liên hiệp quốc công bố cho thấy,
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2008/01/26/MoreThanTwoMillionVnChildrenSufferFromMalnutrition_DHieu/ – 17kCachedSimilar pages

RFA: RFA Vietnamese

Hôm nay, bài thứ ba trong loạt bài về trẻ vị thành niên Việt trong những đường dây mãi dâm ở …. Ngày này bảy năm trước, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từ trần.
http://www.rfa.org/vietnamese/ – 38kCachedSimilar pages

RFA: Nữ nghệ sĩ Thanh Ngân, giai nhân của sân khấu cải lương

Thanh Ngân được học ở trường nghệ thuật sân khấu của nhà hát Trần Hữu Trang. mướt trong vai người phụ nữ bị ức hiếp như đã diễn trong tuồng Duyên Kiếp.
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2006/05/07/DivaActressThanhNgan_NPhuong/ – 25kCachedSimilar pages

RFA: Human Rights Watch đề nghị giải pháp cho nền pháp lý Việt Nam

Mới đây, chúng tôi có dịp gửi đến quý vị loạt hội luận giữa hai vị luật sư lão thànhTrần Lâm tại Hải Phòng và Trần Thanh Hiệp từ Paris.
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/10/20/HumanRightsWatchSuggestsSolutionsForVnLegalSystem_TMi/

RFA: Vụ án cha Lý là vụ án xét xử những người vô tội

Luật sư Trần Thanh Hiệp: Thưa ông Nguyễn An, cách người luật sư nhìn tội Luật sư Trần Thanh Hiệp: Nguyên tắc cơ bản của luật hình là không ai bị coi là
www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/03/27/FatherNguyenVanLyCaseTrialForInoccents_DiemHiep/
Luật sư Trần Thanh Hiệp: Vâng, hôm trước tôi có nói là việc nhà cầm quyền Luật sư Trần Thanh Hiệp: Đó chính là chỗ khuất tất của nhà cầm quyền Hà Nội.
www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/03/19/LegalAspectOfTemporaryArrestDissident_NAnTTHiep/

RFA: Phiên tòa xử Linh mục Nguyễn Văn Lý: một bản án lên án chế độ

Được yêu cầu bình luận về vụ án này, Luật sư Trần Thanh Hiệp, LS Trần Thanh Hiệp: Như ông Nguyễn An vừa nhắc lại, trước phiên xử ngày 30-03,
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/04/04/A_SelfInflicting_Sentence-Catholic_Priest_NguyenVanLy_case_TTHie/ – 23kCachedSimilar pages

RFA: Tuyên ngôn 1948: từ lý tưởng tới thực hành

Trần Thanh Hiệp: Nếu có nói nhiều điều tốt về bản Tuyên ngôn 1948 thì cũng …. Trần Thanh Hiệp: Nếu không cần vội vàng kết luận thì chúng ta vẫn còn có thể
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2005/12/11/DeclarationOnHumanRights4_TThiep/ – 24kCachedSimilar pages

RFA: Có gì mới về nhân quyền ở Việt Nam?

Việt Long tham khảo ý kiến Luật sư Trần Thanh Hiệp về vấn đề này. …. Trần Thanh Hiệp: Nếu chỉ nhìn vấn đề về một mặt mà thôi thì có thể nói là có mâu
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2005/03/27/VietNam_HumanRights_TTHiep/ – 24kCachedSimilar pages

RFA: Năm mới bàn chuyện đổi mới tư duy

Trần Thanh Hiệp: Giáo sư Phan Đình Diệu, một nhà trí thức hàng đầu ở trong Trần Thanh Hiệp: Tôi cho là ông Phan Đình Diệu vận dụng những kiến thức của
www.rfa.org/vietnamese/binhluan/2005/01/23/vietnam_cpv_leaders/

RFA: Không thể bịt miệng dân oan khiếu kiện

Trần Thanh Hiệp: Ở Việt Nam đêm 18-07 vừa qua đã không diễn ra cảnh một Thiên Trần Thanh Hiệp: Theo tôi, nhà cầm quyền Hà Nội đã không thoả mãn được bất
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/08/01/The_Disbandment_of_Complainants_TTHiep/ – 23kCachedSimilar pages

RFA: Mở ra những trận “cận chiến pháp quyền” để chống vi phạm nhân

Trần Thanh Hiệp: Ở Việt Nam vừa xảy ra một trường hợp lạm quyền mà theo tôi có Trần Thanh Hiệp: Theo tôi, những hành vi phạm pháp quả tang kể trên là
www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2006/01/03/NewWayToFightAgainstHanoiHumanRightsViolation_TTHiep2/

RFA: Hội luận của giới trẻ trong và ngoài nước về điều 4 Hiến Pháp

Trên Diễn Đàn mấy tuần gần đây, 3 bạn trẻ ở hai miền Nam-Bắc và 1 thanh niên …. và luật sư Trần Thanh Hiệp – một cựu luật sư các toà thượng thẩm ở Sài Gòn
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/11/28/YouthDiscussArticle4OfVietnamConstitution_final_TMi/ – 30kCachedSimilar pages

RFA: Bài học thực tế về vụ án Trần Khuê

Chúng tôi phỏng vấn luật gia quốc tế Trần Thanh Hiệp về việc này. Ông Trần Thanh Hiệp từng là thành viên luật sư đòan Tòa thượng Thẩm Sài Gòn và luật sư
www.rfa.org/vietnamese/binhluan/2004/07/16/141251/
RFA: Bang giao Việt – Mỹ và nhân quyền Việt Nam (phần 1)

Luật sư Trần Thanh Hiệp: Nhân quyền ở Việt Nam không phải là chuyện mới lạ gì …. Luật sư Trần Thanh Hiệp: Không ai phủ nhận rằng Nguyễn Vũ Bình và Lê Quốc
www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/06/29/HumanRightsInVietnamUsRelationsPartI_TTHiep/
RFA: Nhận định về làn sóng đình công tại Việt Nam (phần 2)

Ls Trần Thanh Hiệp: Biện pháp của Thủ tướng Khải tăng mức lương tối thiểu Ls Trần Thanh Hiệp: Sự cách biệt giữa ngôn từ và thực tế là điều thông thường
www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2006/03/08/StrikesInVietnamP2_TTHiepNAn/
RFA: Quốc Hội Châu Âu thông qua quyết nghị về tình trạng nhân

Quyết nghị này là thành quả cuộc điều trần tại quốc hội Châu Âu hôm 12- 9 vừa khi Liên hiệp Châu Âu không chịu áp dụng Điều quy định các nguyên tắc dân
www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2005/12/03/EUParliamentPassedHumanRightsResolution_YLan/
RFA: Hiệp định Biên giới Đất liền Việt – Trung

Theo hiệp ước biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc, ký vào cuối năm 1999, và dự định sẽ hoàn thành việc phân giới cắm mốc trên thực địa nội
www.rfa.org/vietnamese/in_depth/ChinaVietnamBorder/

RFA: “Lá thư của ông Kiệt là lời chứng của một nhân chứng mắt thấy

Từ Paris, Luật sư Trần Thanh Hiệp phát biểu: “Lá thư tháng 7 của ông Kiệt là một lời chứng của một nhân chứng mắt thấy tai nghe về những chuyện đã xảy ra
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2005/10/25/VoVanKietRequestsChange_Hung/ – 18kCachedSimilar pages

RFA: Trao đổi Thư tín với Thính giả (ngày 11-10-2007)

Tôi được nghe bài nói chuyện giữa cô Trà My và hai luật sư Trần Lâm và Trần Thanh Hiệp. Rất có ý nghĩa. Xin quý đài cho tôi gửi lời cảm ơn rất nhiều đến
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/10/11/ListenersForum_VLong/ – 30kCachedSimilar pages

RFA: Chung quanh quan điểm và chính sách của Hà Nội về nhân quyền

Luật sư Trần Thanh Hiệp, chủ tịch Trung Tâm Việt Nam về nhân quyền ở Paris Ý kiến riêng của ông Trần Thanh Hiệp không nhất thiết phản ánh quan điểm của
www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2005/08/23/VNPoliciesAttitudesHumanRights_THiep/

—-
http://www.doi-thoai.com/baimoi0108_251.html

Ls

Trần Thanh Hiệp , fig 2« Từ 1945, Cụ bị Cộng sản gạt. Cụ dẩn chứng từng trường hợp lịch sử. Nay, già rồi, Cụ nhứt định sẽ không để bị gạt . Cụ có thể bị thua cuôc, nhưng không để bị cộng sản có thể lường gạt như những lần trước đây nữa. Cụ nhấn mạnh cộng sản là cái thứ lúc nào cũng tìm đủ mọi cách để lường gạt mọi người » .

TS  Võ Nhơn Trí, fig 4,

« Tôi sống với cộng sản ở Hà nội 23 năm nên tôi hiểu chúng nó quá. Chúng nó không bao giờ có tình cảm, mà cũng không có lý trí. Chúng nó lúc nào cũng chỉ biết lường gạt, để bảo vệ quyền lợi của đảng, mà thực chất, chính là quyền lợi riêng của nhóm chóp bu là trên hết »

http://phusa.free.fr/VONHANTRI_VNCanDoimoiThucsu/VNCDMTS2_Loitua.htm

March 10, 2008

Cần phải chính quy hơn nữa

Loạt bài: Hồ sơ Nhân văn-Giai phẩm
 1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11   12   13   14   15   16   17   18   19   20   21   22   23   24   25   26   27   28   29   30   31   32   33   34   35   36   37   38   39   40   41   42   43   44   45   46   47   48   49   50   51   52   53   54   55   56   57   58   59   60   61   62   63   64   65   66   67   68   69   70   71   72   73   74   75   76   77   78   79   80   81   82   83   84   85   86   87   88   89   90 
8.1.2007
Nguyễn Hữu Đang
Cần phải chính quy hơn nữa
Trong bản báo cáo của ông Khơ-rút-sốp trước Đại hội lần thứ 20 Đảng Cộng sản Liên Xô có một đoạn nói vắn tắt, gần như lướt qua, mà thực ra rất quan trọng.Đoạn đó nói về sự quan tâm đặc biệt của Trung ương Đảng đối với vấn đề củng cố nền pháp trị xã hội chủ nghĩa và kết luận:

Những tổ chức của Đảng, của Nhà nước và các công đoàn phải chú ý với một tinh thần cảnh giác đến việc tôn trọng pháp luật Xô-Viết và tố cáo, vạch mặt bất cứ ai phạm vào nền pháp trị Xô-viết và những biểu hiện phi pháp và độc đoán nhỏ.

Tại sao sau ba mươi năm kiến thiết chủ nghĩa xã hội với hai lần đặt hiến pháp và nhiều lần chỉnh lý pháp luật cũng như sửa đổi hệ thống và lề lối xét xử của toà án, bây giờ sắp bước vào giai đoạn kiến thiết chủ nghĩa cộng sản, Liên–Xô còn phải đặt vấn đề pháp trị một cách nóng hổi như vậy?

Chính là vì trong bao lâu Stalin đã lạm dụng quyền hành, dung túng bè lũ phản cách mạng Beria, lấy uy thế chính trị mà lũng loạn bộ máy nhà nước, vi phạm nghiêm trọng chế độ pháp trị. Coi thường pháp luật trở thành một tác phong của nhiều cán bộ, của nhiều cấp uỷ Đảng hay cơ quan chính quyền. Biết bao nhiêu công dân lương thiện và đảng viên tốt – kể cả Trung ương uỷ viên của Đảng – đã bị tù đầy, bắn giết oan trong tình trạng đó? Cho nên Đại hội đã phải quan tâm đặc biệt đến việc bảo vệ chế độ pháp trị nó là hiện thân của tinh thần nhân văn, tinh thần dân chủ, tinh thần kỷ luật trong một nhà nước văn minh.

Điều này ở xã hội ta không phải ai cũng công nhận dễ dàng. Vì lòng khinh bỉ của chúng ta đối với pháp lý tư sản lớn quá đến nỗi ở một số đông người nó đã trở thành lòng khinh bỉ pháp lý nói chung. Vì trong cuộc kháng chiến kéo dài và gian khổ, chúng ta đã quen giải quyết mọi công viêc to nhỏ trong không khí gia đình, với tinh thần tuỳ tiện. Chúng ta đã quen dùng cái “linh động” để gỡ cho công việc trôi chảy được mỗi khi vấp phải điều quy định chính xác. Chúng ta đã quen dùng cái “lập trường” để thay cho luật lệ cụ thể.

Và kháng chiến đã thành công, độc lập và dân chủ ít ra đã thực hiện trên một nửa đất nước, nên chúng ta cũng dễ chủ quan, tự mãn tưởng rằng nền nếp cũ vẫn còn có giá trị

Nhầm to. Nếu hiện tượng trên là tất yếu đối với hoàn cảnh chiến tranh du kích thì trái lại, nó không có một lý do tồn tại nào trong hoàn cảnh hoà bình.

Hoà bình lập lại đã hai năm, dù cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất đất nước có phức tạp, gay go thế nào thì cũng không thể coi miền Bắc như ở một hoàn cảnh bất thường để duy trì mãi tình trạng thiếu một nền pháp trị hẳn hoi.

Trong Cải cách Ruộng đất, những việc bắt người, giam người, tra hỏi (dùng nhục hình dã man), xử tù, xử bắn, tịch thu tài sản, hết sức bừa bãi, bậy bạ, cũng như việc bao vây đến làm chết đói những thiếu nhi vô tội trong các gia đình địa chủ (hoặc chính là nông dân mà bị quy sai thành phần), không phải chỉ hoàn toàn do sự lãnh đạo kém cỏi mà còn do thiếu chế độ pháp trị hẳn hoi. Giá các Đoàn Uỷ lúc nào cũng thấy trên đầu họ con mắt dõi theo của thần công lý, giá lúc nào họ cũng thấy văng vẳng bên tai câu nhắc nhở của toà án: “hễ làm trái pháp luật là bị truy tố đấy” thì chắc chắn là họ đã thận trọng hơn và nhiều tai vạ đã tránh được cho nhân dân rồi.

“Giết nhầm sẽ bị kiểm thảo”, ý nghĩ ấy có thể là nghiêm chỉnh, nhưng nó mới nhẹ nhàng, thoải mái làm sao!

Sẽ có những người nói: “Sở dĩ nên nông nỗi ấy là vì họ không vững lập trường”.

Vững lập trường! Điều đó rất quí nhưng chưa đủ. Không phải cán bộ nào, công dân nào cũng vững lập trường. Và ngày những người thực sự vững lập trường mà không có nền pháp trị tinh vi làm mực thước thì cũng chỉ mới có bảo đảm nhận thức được một cách chung chung về phương hướng và yêu cầu của công việc chứ không có bảo đảm biết làm cho đúng phương pháp, cách thức để đạt tới yêu cầu đó.

Sẽ có những người lo xa: “Đặt ra lắm luật lệ rất dễ đưa đến những bệnh quan liêu, máy móc, hình thức”.

Không phải thế. Quan liêu, máy móc, hình thức là những bệnh do thiếu lý luận cách mạng, thiếu đạo đức cách mạng, thiếu nhiệt tình cách mạng. Chẳng biết ít lệ luật sẽ giúp cho việc tránh các bệnh ấy được đến đâu nhưng nhất định không ai có thể chối cãi điều này: ít lệ luật là một điều thuận tiện cho sự lạm quyền, độc đoán.

Nhiều lệ luật cũng vẫn có kẻ lạm quyền, độc đoán được. Những điều đó chỉ dễ thực hiện trong chế độ cũ, luật lệ đã mang sẵn tính chất thực tế thì không biết mà dùng, không có đủ thế lực mà dùng. Còn trong chế độ ta, nhân dân có đủ cả quyền hành, ý thức và lực lượng để dùng luật lệ, bảo vệ luật lệ, thì họ sẽ không để cho những kẻ kia lạm quyền, độc đoán mãi.

Một nền pháp trị đầy đủ sẽ là một bảo đảm vững chắc cho tính chất dân chủ của chế độ ta. Nó sẽ là đường “rày” cho đoàn xe lửa chở dân tộc ta chạy lên chủ nghĩa xã hội thật nhanh mà không trệch.

*

Do pháp trị thiếu sót mà Cải cách Ruộng đất hỏng to đến thế. Do pháp trị thiếu sót mà quân đội chưa có chế độ binh dịch hợp lý, công an hỏi giấy giá thú đôi vợ chồng ngồi ngắm cảnh trăng lên ở bờ hồ, hộ khẩu rình bên cửa sổ khiến người ta mất ăn, mất ngủ, cán bộ thuế tự tiện vào khám nhà người kinh doanh, ở khu phố có chuyện đuổi nhà lung tung hoặc ép buộc người ở rộng phải nhường lại một phần nhà cho cán bộ hay cơ quan ở. Do pháp trị thiếu sót mà nhiều cơ quan bóc xem thư của nhân viên và một ngành rất quan trọng nọ đòi thông qua những bài báo nói đến mình, làm như một bộ phận của Nhà nước lại có quyền phục hồi chế độ kiểm duyệt mà chính Nhà nước đã bãi bỏ. Do pháp trị thiếu sót, người ta đã làm những việc vu cáo và đe doạ chính trị trắng trợn, ngăn cản việc mua đọc báo Nhân văn, hành hung báo Trăm hoa v.v…

Tưởng đã đến lúc nhân dân phải tích cực bảo vệ chế độ bằng cách tố cáo những hành động phi pháp ở bất cứ trường hợp nào đã có luật lệ rồi.

Về mặt xúc tiến xây dựng ngay một chế độ pháp trị đầy đủ, tinh vi, chúng tôi đề nghị:

  1. Thi hành Hiến pháp (hoặc là Hiến pháp 1946 sửa đổi cho thích hợp với hoàn cảnh ngày nay, hoặc là Hiến pháp mới sẽ đặt ra). Trên cơ sở Hiến pháp, Quốc hội sẽ biểu quyết những đạo luật thay các sắc lệch và nhiều văn kiện khác.
  2. Quốc hội họp đều, sáu tháng một kỳ. Không có lý do trong hoàn cảnh hoà bình mà công việc của Quốc hội vẫn khoán trắng cho một Ban thường trực gần như không hoạt động gì.
  3. Chấn chỉnh ngành tư pháp, chủ yếu là tăng quyền hành thực sự của Bộ tư pháp.

Chúng tôi tin rằng toàn thể các tầng lớp nhân dân đều đồng tình với chúng tôi về ba đề nghị trên. Vì nhân dân thiết tha mong được sống trong một xã hội chính quy hơn nữa.

Để mọi quyền làm ăn, sinh hoạt và tự do dân chủ khỏi bị xâm phạm.

Để được thoải mái góp phần kiến thiết quốc gia.

12-10-56

Nguồn: Báo Nhân văn số 4, trang 1 và trang 5, số ra ngày 5.11.1956. Bản điện tử do talawas thực hiện
Older Posts »

Blog at WordPress.com.