Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

May 21, 2008

Những kẻ bị khai trừ (I)

Nguyễn Văn Lục

Kể từ khi thành lập đảng Cộng Sản Việt Nam đến nay (1) đã có bao nhiêu cuộc thanh trừng nội bộ, hoặc thủ tiêu các đồng chí của chính họ?

Câu trả lời là không kể xiết được. Bàn tay sắt của đảng cộng sản với bạo lực và lừa bịp đã kéo dài từ hơn nửa thế kỷ nay. Lúc mà người ta nhận diện ra được thế nào là chủ nghĩa cộng sản thì đã quá trễ… Sở dĩ có tình trạng khai trừ là vì chế độc độc đảng, độc tài đến nỗi con người nghĩ ngợi cũng cần phải xin phép. Con người luôn luôn ở trong tình trạng có tội, bị khai trừ. Đó là một thứ tù nhân trong tương lai.

Và mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn, mỗi lần thay đổi chính sách lại có thứ tù nhân mới, có kẻ bị khai trừ mới. Có thứ bị khai trừ trong “thời kỳ” theo đệ tứ hay theo đệ tam, khai trừ “thời kỳ” cải cách ruộng đất, khai trừ “thời kỳ” Nhân Văn Giai Phẩm, khai trừ “thời kỳ” chính sách theo Nga hay theo Tàu, khai trừ “thời kỳ” trong “vụ án chống đảng, chống nhà nước ta đi theo chủ nghĩa xét lại và làm tình báo cho nước ngoài”, khai trừ “thời kỳ” Mặt trận Giải phóng miền Nam, khai trừ “thời kỳ” những người cựu kháng chiến Nam bộ.

Và nay có thêm một thứ khai trừ mới: Phe phái tranh ăn tìm cách loại trừ nhau… Như mới đây, những người dính dáng trong vụ PMU nay bị bắt và bị điều tra. Tướng công an Phạn Xuân Quắc bị điều tra. Hai nhà báo Thanh Niên và Tuổi Trẻ bị bắt.

Tham Nhũng liên kết với đảng được dịp trả thù đối với những ai đòi công lý.

Thêm nạn nhân, thêm oán hận, thêm tủi nhục, thêm phân hóa, chia rẽ, thêm lãng phi nhân lực. Đã có biết bao gia đình tan nát lầm than trong cải cách ruộng đẩt. Phùng Quán đã diễn tả bản chất đảng cộng sản đối với dân:

Những con người tiêu máu của dân
Như tiêu giấy bạc giả

Chúng tôi, xin lược chọn một vài thời kỳ khai trừ chưa được nói tới nhiều mà thôi.

Đối với người cộng sản, họ chia dân chúng ra ba loại người và có ba cách đối xử. Hoặc dân phải “ngoan”, chữ dùng của Vũ Thư Hiên. Ngoan thì tạm yên thân Bảo biểu tình chống Mỹ, chống Tàu thì chống. Bây giờ bảo không được chống thì không đựợc chống. Nghĩa là bảo gì nghe nấy.

Nhưng nếu trong xã hội chẳng may có nhiều người ngoan thì bướng trở thành một cái tội. Bướng, bất mãn, không “giáo dục” được, tức ngoan cố thì bị khai trừ. Nhưng nếu chống đối nữa thi trở hành phản động sẽ bị thanh trừng, bị tù tội hoặc thủ tiêu, ám sát..

Khai trừ nhóm đệ tứ, còn gọi là Trốt-kít

Vì thế, ngay từ cuối năm 1937, tại Nam phần, đã xảy ra liên tiếp các cuộc thanh trừng nội bộ giữa đệ tam và đệ tứ quốc tế do cộng sản Pháp như Duclos, Gitton giật giây những người cộng sản đệ tam như Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn Tạo, Trần Văn Thạch, Nguyễn Văn Nguyễn. Gitton đã viết thơ cho Nguyễn Văn Nguyễn, đề ngày 19 tháng 5, 1957 như sau:

“Phải chấm dứt sự hợp tác với bọn Tạ Thu Thâu kể từ nay..Phải gấp rút ly khai”.

Chứng cớ là Daniel Guérin, bạn thân của ông Tạ Thu Thâu hồi ở Pháp đã viết như sau:

Tạ Thu Thâu (1906-1944)
Nguồn: tusachnghiencuu.org


“Ngoài sự bắt bớ của chính phủ, bọn Stalinist quyết đồ sát Tạ Thu Thâu, vu cáo là Phát Xít. Ấy là, chính ở Paris mà bọn Stalinist mưu đồ sát hại Tạ Thu Thâu và các bạn của Thâu. Các bạn nên hiểu ràng, chính từ trong khám đường sâu thảm, Tạ Thu Thâu, người bạn của chúng ta chỉ còn trông cậy có chúng ta, hy vọng có chúng ta.

(trích dẫn Nguyễn Kỳ Nam, Hồi ký 1925-1964, từ trang 23-25, chưa xuất bản).

Ngoài Tạ thu Thâu, lần lượt đến Phan Văn Hùm, Huỳnh Văn Phương, Trần Quang An, Phan Văn Chánh, Nguyễn Bình hay những người có cộng tác với Việt Minh trong Mặt trận Quốc gia thống nhất như Huỳnh Phú Sổ, Dương Văn Giáo.

Họ đã lần lượt bị sát hại. Vì đối với cộng sản, đệ tứ là kẻ thù trên cả kẻ thù như thực dân Pháp.

Trong dịp Trần Văn Giàu đến Paris hồi tháng 10, 1989, hơn 100 nhân sĩ, trí thức VN ở Pháp đã chất vấn Trần Văn Giàu về vấn đề thủ tiêu ám sát đệ tứ. Theo bác sĩ Trần Ngươn Phiêu cho biết Trần Văn Giàu rất lúng túng. Việc họp này đã được thu băng và còn được lưu giữ. Trần Văn Giàu cũng hứa “rửa” tiếng cho Tạ Thu Thâu, nếu đảng cộng sản VN không “rửa”. Nhưng từ đó đến nay, chưa bao giờ thấy Trần Văn Giàu làm gì để “rửa” cả. (Trích Trần Ngươn Phiêu, Phan Văn Hùm, thân thế và sự nghiệp, trang 358). Ngoài các nhóm đệ tứ bị sát hại ở miền Nam, ngoài Bắc những trí thức miền Bắc như Trương Tửu, Phan Khôi, Nguyễn Hữu Đang, Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường cũng bị tiếng oan là đệ tứ. Nhất là trường hợp Trần Đức Thảo, một trí thức thân với đệ tam.

Nhưng ai đã giết Tạ Thu Thâu?

Vào năm 1989, tại Pháp, hơn 100 nhân vật chính trị và văn hóa đòi phục hồi danh dự cho Tạ Thu Thâu bị giết tại ven biển Mỹ Khê, Quảng Ngãi vào tháng 9, 1945. Những người giết Tạ Thu Thâu kết tội ông làm Việt gian cho phát xít Nhật. Cuối năm 1939, chính Nguyễn Ái Quốc gửi báo cáo cho quốc tế cộng sản ghi rõ:

Đối với bọn Trốt Kýt, không thể có một thỏa hiệp hay nhân nhượng nào cả. Phải lột mặt nạ chúng như là tay sai của Phát xít, phải tiêu diệt chúng về chính trị.
Ông viết tiếp khi ở bên Tàu: “Bọn Trốt kít là một lũ bất lương, những con chó săn của chủ nghĩa Phát xít Nhật và chủ nghĩa Phát xít Quốc tế” (Trích Thành Tín, Mặt Thật, trang 112-113, Turpin Press 1994).

Theo ông Hoàng Hoa Khôi, thuộc nhóm đệ tứ trong tập hồ sơ: Nhìn lại sáu mươi năm tranh đấu cho Việt Nam, ông viết:

“Sau khi điều tra, chúng tôi biết được ba thủ pham. Họ đều là những người cộng sản. Người thứ nhất là Kiều Đức Thắng, trách nhiệm nghiệp đoàn, người thứ hai là Nguyễn Văn Trấn, đã từng được đi học tập ở Moscow, người thứ ba là Nguyễn Văn Tây, cựu bộ Trưởng chính phủ Trần Văn Giàu”.
(trích Hoàng Hoa Khôi, Hồ sơ đệ tứ, trang 228 ).

Cũng cần nói thêm ông Nguyễn Văn Trấn sau này đã phản tỉnh và viết cuốn: Viết cho mẹ và Quốc Hội. Trong sách, ông Trấn né tránh về vai trò sát thủ của ông trong việc thủ tiêu những người CS đệ tứ. Ông là cánh tay mặt của Trần Văn Giàu, người bị coi là có trách nhiệm trong các vụ ám sát nhóm đệ tứ. Ông mất năm 1998.

Cũng có nhiều tài liệu khác viết về cái chết của Tạ Thu Thâu như cuốn Việt Nam 1920-1945 của ông Ngô Văn hay tài liệu: Người Việt ở Pháp 1940-1954 của ông Đặng Văn Long.

Khai trừ nội bộ ở ngoài Bắc

Sau cuộc chiến 1954-1975, theo ông Bùi Tín, có đến hàng trăm vụ án chính trị gọi là “chống lại lãnh đạo”, “chống đảng”, “xét lại”, “phản động” vẫn không được thanh minh để giải tỏa nỗi oan ức. Những người trực tiếp trách nhiệm là Lê Duẩn và Lê Đức Thọ. Mà Võ Nguyên Giáp sợ. Mà Hồ chí Minh im lặng. Sau đó, ông Bùi Tín trong bản kiến nghị của một công dân, ông đã đưa ra hằng trăm tên tuổi những người bị tù, bị oan ức, bị xỉ nhục. Gia đình họ bị điêu đứng. Có người đã chết oan ức và tủi nhục. Ông Bùi Tín đã đòi công lý cho các người sau đây: các tướng Đặng Kim Giang, Nguyễn Vinh, Lê Liêm; các đại tá Đỗ Đức Kiên, Nguyễn Minh Nghĩa, Nguyễn Hiếu, Phan Hoàng; các giáo sư: Bùi Công Trừng, Nguyễn Mạnh Tường, Đào Duy Anh; các nhà báo: Hoàng Thế Dũng, Nguyễn Kiên Giang, Quang Hân, Mai Luân, Mai Hiển, Định Chân, Trần Thư, Khắc Tiếp, Hồng Văn; các văn nghệ sĩ Hoàng Cầm, Lê Đạt, Trần Dần, Phùng Quán, Nguyễn Bính, Hữu Loan, Minh Giang, Quang Dũng, Trần Châu, Trần Đĩnh, Hà Minh Tuân, Việt Phương, Anh Chính, Sỹ Ngọc, Văn Cao, Tử Phác, Đặng Đình Hưng, Trần Lê Văn, Chu Ngọc, Trần Tích Linh; vụ trưởng Vũ Đình Huỳnh; các đại tá Ngọc Bằng, Cao Nham, Đỗ Trường, Nguyễn Trần Thiết bị giữ và vụ án ông Ta Đình Đề.

Trong cuốn Án tích cộng sản Việt Nam, tác giả Trần Gia Phụng đã đưa ra một danh sách trong “Thông Điệp xanh” mà nhiều tên tuổi phù hợp với danh sách của ông Bùi Tín. Xin được đưa ra:

Bùi Công Trừng, Bùi Ngọc Tấn, Dương Bạch Mai, Đào Phan tức Đào Huy Dếnh, Đặng Cần, Đặng Đình Cầu, Đặng Kim Giang, Đinh Chân, Đỗ Đức Kiên, Đỗ Văn Doãn, Hoàng Minh Chính, Hoàng Thế Dũng, Huy Vân, Lê Liêm Lê Minh Nghĩa, Lê Trọng Nghĩa, Lê Vinh Quốc, Lưu Động, Mạc Lân, Mai Hiến, Mai Lân, Minh Tranh, Nguyễn Cận, Nguyễn Gia Lộc, Nguyễn Hồng Sỹ, Nguyễn Kiến Giang, Nguyễn Minh Cần, Nguyễn Thị Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thẩm, NguyễN Văn Vịnh, Phạm Kỳ Vân, Phạm Quang Đức, Phạm Viết, Phan Thế Vấn, Phùng Văn Mỹ, Quảng Hân, Trần Châu, Trần Đĩnh, Trần Minh Việt, Trần Thư, Tuân Nguyễn, Ung Văn Khiêm, Vũ Đình Huỳnh, Vũ Huy Cương, Vũ Thư Hiên.

Đó là những nạn nhân ở phía Bắc mà ông Bùi Tín có giao tiếp, quen biết và biết rõ.

Trong số những người trên, nhà văn Vũ Thư Hiên cho biết bố ông là Vũ Đình Huỳnh bị bắt vì tội thành phần “xét lại”. Ông bị bắt ngày 18/10/1967 vì “chống đảng”. Theo bà Phạm Thị Tề, chồng bà bị còng tay bằng còng số 8, nhưng còng sắt không vừa, họ đã trói giật cánh khủy ông, một ông già đã về hưu. Hình ảnh đó cho đến chết tôi cũng không thể quên, vì nó tàn bạo và man rợ gấp bội phần so với thời thực dân” (trên Diễn đàn số 44).

Ít lâu sau đến lượt Vũ Thư Hiên theo bố vào tù. Bố đi tù thì theo lý lịch, theo luật tru di tam tộc, không tội trở thành có tội, con phải tù theo là phải rồi. Cũng nhờ đó mà sau này Vũ Thư Hiên viết cuốn Đêm giữa ban ngày.

Một cuốn sách làm nên tên tuổi anh.

Mặt trận giải phóng miền Nam

Dươnng Quỳnh Hoa tự Bảy Hồng
Nguồn: roninfilms.com.au


Phần đông những người của MTGPMN đều là trí thức, chuyên viên. Có tất cả khoảng 30 người vào khu. Chỉ có ba cặp vợ chồng, còn tất cả đi một mình. Có thêm 6 thanh niên chưa quá 30 tuổi. Vào khu rồi bà Dương Quỳnh Hoa mới thành hôn với kỹ sư Huỳnh Văn Nghị. Ngay sau 1975, chừng một tháng, Hà nội đã xóa sổ MTGPMN. Từ đó phần đông những người đã theo Mặt trận bất mãn, chống đối và ly khai. Họ là những người như Lữ Phương, Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín, Nguyễn Trọng Văn, (ba người này không vào khu, vẫn ở thành phố) Trương Như Tảng, Dương Quỳnh Hoa. Trước đây, họ bị coi là bù nhìn, sau họ cảm thấy bị phỉnh gạt trắng trợn. Phần lớn âm thầm, nuốt nhục rút lui, hoặc trốn ra ngoại quốc như bộ trưởng Trương Như Tảng.

Dù sao, bỏ quên là một hình thức khai trừ nhẹ nhàng nhất mà họ may phúc được hưởng.

Hoặc xin ra khỏi đảng như vợ chồng bác sĩ Dương Quỳnh Hoa.

Bà Dương Quỳnh Hoa mất ngày 25/02/2006, tại Sài gòn. Sinh thời, bà theo học ngành thuốc tại Sài gòn và nhất là tại Pháp, gia nhập đảng cộng sản Pháp vào những năm 1948-1954. Với tư tưởng xã hội và cấp tiến như thế, bà tham gia MTDTGPMN. Sau này bà đã thú nhận, đó là một ảo tưởng chính trị trong đời.

Ông Huỳnh Văn Nghị, chồng bà đã phản đối quyết định thống nhất ngay lập tức Mặt trận giải phóng miền Nam và Liên minh các lực lượng dân chủ và hòa bình. Họ bị loại trừ. Bà xin ra khỏi đảng, nhưng thời đó, thủ tướng Phạm Văn Đồng đồng ý với điều kiện bà phải giữ im lặng. Nhưng sư im lặng đó không kéo dài được lâu khi bà phải chứng kiến quá nhiều điều “phản cách mạng” từ khi đảng cộng sản Việt Nam ‘thực thi’ cái lý tưởng mà bà đã hy sinh cả đời sống cho nó. Khi được tờ báo Far Eastern Economic Review (FEER) phỏng vấn vào ngày 17/10/1996: Quel est l’évènement le plus marquant pendant les 50 années passées? Bà trả lời: L’effondement du mur de Berlin qui mit un terme à la “grande illusion” (Tạm dịch. Biến cố nào được kể là nổi bật nhất trong 50 năm qua? DQH: Sự sụp đổ bức tường Bá Linh và chấm dứt một “ảo tưởng” lớn.

Nhất là khi được Stanley Karnow phỏng vấn về sự thất bại của cộng sản Việt Nam (The Failure of Communism in Vietnam, Nguyen Phuc Buu Chanh, Online: http://snipurl.com/29phe   [ http://www.freerepublic.com  ], May 19, 2008 ) bà Dương Quỳnh Hoa đã trả lời rằng:

Tôi đã là người cộng sản cả đời tôi. Nhưng bây giờ khi chứng kiến những sự thật về chủ nghĩa cộng sản và sự thất bại của nó, quản trị kém, tham nhũng, đặc quyền, áp chế, lý tưởng của tôi đã không còn. (“I have been a Communist all my life, but now I’ve seen the realities of Communism, and it is a failure—mismanagement, corruption, privilege, repression. My ideals are gone.”)

Chủ nghĩa cộng sản là tai họa. Những cán bộ đảng cộng sản không hề hiểu biết về sự cần thiết của việc phát triển một cách hợp lý. Họ bị mê hoặc bởi những khẩu hiệu của Mác Xít đã không còn giá trị nữa, nếu không muốn nói rằng chúng không bao giờ có giá trị. Họ là những kẻ (tàn ác) quá độ. (“Communism has been catastrophic. Party officials have never understood the need for rational development. They’ve been hypnotized by Marxist slogans that have lost validity—if they ever were valid. They are outrageous.”)

Người ta tự hỏi rằng nếu bà Dương Quỳnh Hoa không phải là một khuôn mặt nổi tiếng, một trí thức hàng đầu của MTGPMN thì bà có được bình yên, không bị tù tội sau khi tuyên bố những lời như trên với một ký giả Hoa Kỳ? Nhưng điều này có thể giải thích phần nào vì khi nhà cầm quyền cộng sản nộp đơn kiện chính phủ và một số công ty hoá chất Hoa Kỳ tại toà án New York về những thiệt hại về nhân mạng và nhất là ảnh hưởng tai hại phụ nữ Việt Nam ở những vùng ô nhiễm thường bị xẩy thai hay sinh ra trẻ dị dạng. Một trong ba người đứng tên trong đơn kiện này lại là bà bác sĩ Dương Quỳnh Hoa.
Những dữ kiện về bà Dương Quỳnh Hoa trong đơn kiện do phía cộng sản đưa ra trước toà án New York đọc được như sau:

Người đi kiện DUONG QUYNH HOA
Điều thứ 135. Năm 1964, plaintiff Duong Quynh Hoa là một người Việt Nam và là một y sĩ cư ngụ tại thành phố Saigon thuộc miền Nam Việt Nam
Điều 136. Trong thời gian này, bà thường đi lại tỉnh Biên Hoà và vùng Sông Bé là những nơi bị nhiễm thuốc độc do những bị cáo trên đây sản xuất.
Điều 137. từ 1968-1976, Dr. Hoa là Bộ Trưởng Y tế cuả CPLT MNVN và sinh sống tại tỉnh Tây Ninh.
Điều 138. Trong thời gian ở tây Ninh,bà được chỉ thị nhiều lần phải bao đầu bàng bao Plastic cì quân đội Hoa Kỳ sẽ rải hoá chất độc. Trong thời gian này, bà đã trông thấy một thùng đựng chất độc da cam sản xuất bởi những bị cáo được thả xuống từ máy bay quân đội Hoa Kỳ.
Điều 139. Tháng 5, 1970, Dr. Hoa sinh hạ một bé trai tên là Hùynh Trung Son. Plaintiff Huynh Trung Son sinh ra bị dị tật và bị tàn phế.
Điều 140. Plaintiff Huynh Trung Sơn chết khi được 8 tháng tuổi.
Điều 141. Sau chiến tranh, Dr. Hoa bắt đầu có triệu chứng ngứa ngáy và bị lỡ ngoài da.
Điều 142. Năm 1971, Dr. Hoa có thai và bị sẩy thai vào tháng 7, 1971 sau 8 tuần lễ có thai.
Điều 143. Dr. Hoa có thai lần nữa nhưng lai sầy thai sau sau tuần vào tháng 1 năm 1972.
Điều 144. Sau khi mất đứa con đầu lòng và sầy thai hai lần, Dr. Hoa quyết dđ0nh sẽ không có con nữa.
Điều 145. năm 1985, sau khi bị ngất xỉu và chóng mặt nhiều lần, , Dr. Hoa bị khám phá là bị bệnh tiểu đường..
Điều 146. Năm 1998, Dr. Hoa bị bệnh ung thư vú và phảigiải phẩu cắt bỏ ngực.
Điều 147. Năm 1999, Dr. Hoa thử máu và khám phá ra nồng độ chất độc da cam dioxin trong máu bà cao hơn độ bình thường rất nhiều.
Điều 148. Cả hai cái chết của hai người đi kiện, plaintiff Duong Quynh Hoa con trai của ba là Huynh Trung Son là do chất độc da cam do những bị cáo nêu ra ở trên sản xuất.
(trích từ phán quyết cuả toà UNITED STATES DISTRICT COURTEASTERN DISTRICT OF NEW YORK vụ VN xin kiện vụ chất độc da cam)

Năm 2004, mặc dù chi rất nhiều tiền cho các tổ hợp luật sư danh tiếng cuả Hoa Kỳ toà án ờ New York đã bác đơn xin kiện của chính phủ Việt Nam về vụ chất độc da cam. Từ đó đến nay, tuy phía Việt Nam cho biết sẽ kháng án nhưng vấn đề này không còn được đề cập tới sôi nổi như trước đây. Ghi chép lại dài dòng về những chi tiết của đời sống riêng của bà Dương Quỳnh Hoa để thấy rằng dù không bị cộng sản thanh trừng, bà cũng đã phải trả cái giá quá đắt. Bà là một điển hình cho trí thức miền Nam khi chọn sai lý tưởng để theo đuổi và nhất là khi đó lại là chủ nghiã cộng sản. Ít ra thì khi có phán quyết này của toà án Hoa Kỳ, bà Dương Quỳnh Hoa đã qua đời, khỏi phải thêm một lần thất vọng

Trong Hồi ức Nguyễn Thị Bình, một người còn được trọng dụng, dày đến 700 trang, người đã một thời là đồng chí với nhau ở trong bưng là bà Dương Quỳnh Hoa đã không được bà Bình nhắc đến một lần.

Những người khác như quý ông Trịnh Đình Thảo (1901-1982), vợ là bà Ngô Thị Phú, quê quán Sóc Trăng. Ông Lâm Văn Tết ( 1896-1982) Ông bà Phùng Văn Cung, vợ là Lê Thoại Chi. Giáo sư Nguyễn Văn Kiết, Nhà văn Thanh Nghị, Hoàng Trọng Quỳ, vợ là nghệ sĩ Tâm Vấn. Ông bà Trần Kim Bảng, bút hiệu Thiên Giang, vợ là nữ sĩ Vân Trang, thân sinh ra gs địa chất Trần Kim Thạch. Em gái bà Vân Trang là nghệ sĩ Mộng Trung, vợ Trần Văn Khê. Giáo sư Nguyễn Văn Chì, vợ là là bà Nguyễn Đình Chi, Chánh án Phạm Ngọc Thu, Võ Ngọc Thành, dược sĩ Hồ Thu, kỹ sư Cao Văn Bổn, kỹ sư Tô Văn Cang, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, chức sắc Cao Đài Nguyễn văn Ngỡi, bà Bùi thị Nga (vợ của ông kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát.)

Sau 1975, sau “ngày giải phóng”, họ làm gì? Họ ở đâu ? Họ chẳng làm gì cả Họ tiếp tục ngồi chơi xơi nước với danh hão? Họ tiếp tục ăn bánh vẽ dù chẳng còn muốn ăn. Bà Bùi Thị Nga có thay chồng viết cuốn Huỳnh Phát, cuộc đời và sự nghiệp, dày trên 600 trang cùng không một chữ cho bà Dương Quỳnh Hoa.

Hồi đó quý vị được đảng bố trí ở biên giới Việt Nam-Campuchia, khoảng giữa bót Tà Xúa tới Chợ Giữa, Kà tum. Nhưng vì vấn đề an ninh,quân sự, chỗ ở cũng bị thay đổi nhiều lần để tránh phi cơ Mỹ ném bom.

Nhiều vị được dẫn đến “Trung ương” MTGPMN, phải vất vả lắm.Trước hết, phải vượt qua kinh Đìa Vàng, đến Ba Thu trong vùng Mỏ Vẹt. Nhà ở là mấy chục nóc nhà ni lông. Ai cũng ngủ võng cả. Nghe tiếng máy bay là lăn từ võng xuống hầm ngay đó. Nhà ăn tập thể thì nóc lợp lá trung quân, chung quanh có nhiều hầm đào sẵn để tránh bom. Nhà này vừa dùng làm chỗ ăn uống đồng thời là chỗ hội họp chính tri. Hằng ngày, Huỳnh Tấn Phát, linh hồn của Mặt trận, họp để đọc tin tức, nghe bá cáo và học tập. Nhất là nhanh chóng “để các vị ổn định tư tưởng và đời sống riêng tư.”

Nhiều vị ra đi tưởng chỉ vài tuần là “Giải phóng xong miền Nam”. Nay nhớ nhà, nhớ cơm, nhớ phở, nhớ điện, nhớ nước, nhớ cầu tiêu, nhớ tiện nghi Sài Gòn Nhiều khi không biết làm gì thì gs Nguyễn Văn Kiết mang triết học của Kant, Hegel ra giảng cho các quý vị nghe đỡ buồn. Vấn đề ăn uống chắc không có trở ngại gì. Chỉ sợ kiến rừng. Đồ ăn dư phải để trong một bát nước, nếu không kiến bò vào bát xơi trước. Nhưng vấn đề tắm rửa cho mấy vị phụ nữ thì thật phiền hà. Người như bác sĩ Dương Quỳnh Hoa mà nay phải ra tắm suối cởi truồng thì coi sao được. Bảo vệ phải làm nhà tắm, đi khuân nước về, rồi phải đun sôi cho vị nữ bác sĩ tắm cho đỡ lạnh. Đối vị nữ lưu như bà, thế là cực khổ lắm rồi.
Công việc chính là ngồi chơi xơi nước. Biết mình bị lợi dụng, biết bị làm cảnh, biết bị lừa.

Nhưng, như nhạc TCS, Tiến thoái lưỡng nan, đi… về… lận đận.

Muốn về cũng không có đường về.

Huỳnh Tấn Phát (1913-1989)
Nguồn: wikimedia.org


Quý vị thì nhàn, không có việc gì làm, họp hành đưa ra nghị quyết, tuyên bố rồi biên bản bị vứt vào sọt rác, vì Trung ương đã soạn sẵn. Nguyễn Hữu Thọ làm chủ tịch Hội đồng cố vấn chính phủ cũng nhàn. Ngồi chơi xơi nước đến hai lần. Trong khi đó theo Trần Thanh Quốc, thư ký riêng của Huỳnh Tấn Phát – chủ tịch Phát làm chủ tịch chính phủ cách mạng lâm thời cộng Hòa miền Nam VN – với chức vụ đó ông “không có một chút thì giờ để nghỉ ngơi. Chỉ có thể nói những phút giây rảnh rỗi là khi anh lên yên con ngựa sắt để đi họp. Đó là thời gian nghỉ ngơi thanh thản nhất.” Bận thế đấy.

Trước 1975, 4 vị thanh niên là Trần Quang Long, Trần Triêu Luật, Lê Hiếu Đằng, và Trần Thiên Tứ sang công tác ở tuyên huấn R. Trần Quang Long và Trần Triệu Luật đã chết sau ba đợt bom tại đây.

Hầu hết những vị này, sau 30/04/1975 đều cho ngồi chơi xơi nước. Đó là cách đãi lọc kiểu cộng sản. Chỉ riêng những người đã từng chiến đấu dưới hàng ngũ cộng sản như Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Thị Bình còn được giữ chức vụ ngồi chơi nước như Phó Thủ tướng chính phủ. Ông Phát sau này chỉ lo vụ tiêp tân, đón tiếp khách ngoại quốc hoặc có nhiệm vụ đi ra nước ngoài thay mặt chính phủ.

Đó là số phận dành cho những kẻ chạy cờ. Một cách khai trừ “ êm dịu”

(Còn tiếp)

© DCVOnline


(1) (Xem thêm Hồi ký Une goutte d’eau dans le grand océan của Hoàng Văn Hoan về những năm đầu tiên của đảng cộng sản từ 1920-1930 ở bên Thái Lan và bên Tàu).

http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=5059

April 12, 2008

CHÍNH THỂ QUỐC GIA, CHẾ ĐỘ CỘNG HÒA, NẠN NHÂN CỦA CHIẾN LƯỢC HOA KỲ

30 tháng 4 / 1975, 30 tháng 4 / 2006, đã 31 năm trời, hơn 1/3 cuộc đời, “Thời gian đã làm nhòa đi bao kỷ niệm” , như một bài hát nọ nói lên; nhưng thời gian cũng giúp chúng ta có đủ bình tâm, sáng suốt để nhận ra thực hư, phải trái, để nhận ra chính thể quốc gia, chế độ cộng hòa là gì ? Và tại sao lại có ngày 30 tháng tư 1975 ? Tại sao chính thể quốc gia, chế độ cộng hòa đó lại phải thua trận ? Phải chăng họ là nạn nhân của chiến lược ngoại giao toàn cầu Hoa Kỳ , dân Việt là con chốt của cuộc cờ tranh hùng tư bản – cộng sản ?

Một chế độ xụp đổ tất nhiên không phải chỉ vì một nguyên nhân, ngay dù cho đó là nguyên nhân chính quan trọng, mà do nhiều nguyên nhân : nguyên nhân gần, xa, nguyên nhân nội tại, ngoại tại.Cũng như chính thể quốc gia không phải mới bắt đầu từ năm 1954, mà ít nhất là sau Thế Chiến Thứ Hai.

Ngày 6 và 9 tháng 8 năm 1945, hai trái bom nguyên tử bỏ xuống Hiroshima và Nagashaki. Nhật đầu hàng. Quân Nhật chiếm đóng tại Việt Nam như rắn mất đầu. Lợi dụng tình thế đó, nhất là lợi dụng cuộc biểu tình của công chức Hà Nội, ngày 19 tháng 8, đảng Cộng sản Việt Nam đã nổi lên cướp chính quyền ở Hà Nội và một vài nơi. Bảo Đại thoái vị và tuyên bố : “Thà làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước bị trị “. Tinh thần yêu nước của dân Việt, từ dân cho tới quân, vào lúc này, không ai có thể chối cãi được. Ai ai cũng thiết tha vì độc lập và sẵn sàng hy sinh cho đất nước. Chính phủ đoàn kết dân tộc quốc cộng ra đời. Bảo Đại, nay là công dân Vĩnh Thụy, làm cố vấn cho chính phủ. Tuy nhiên chính phủ đoàn kết quốc gia không sống được lâu, vì Hồ chí Minh và những người cộng sản, chỉ nghĩ đến quyền lợi của đảng, nghe lời Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản, tìm cách giết hại những người quốc gia. Cố vấn Vĩnh Thụy bỏ sang Hồng Kông. Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn tường Tam sang Nam Kinh. Phó Chủ tịch chính phủ Nguyễn hải Thần sang Quảng Tây. Ở điểm này ta thấy rõ không phải vì người quốc gia không muốn đoàn kết, không muốn hòa giải hòa hợp, mà vì người cộng sản tìm cách triệt hạ người quốc gia.

Ở Hồng Kông ít lâu, đầu năm 1949, Bảo Đại qua Pháp thương thuyết với tổng thống Pháp Vincent Auriol, yêu cầu Pháp trao trả độc lập cho Việt Nam. Ngày 8/3/1949, Thỏa ước Elysée được kí kết giữa Bảo Đại và Vincent Auriol, theo đó Việt Nam độc lập và nằm trong Liên Hiệp Pháp.Ngày 2/7/1949, Bảo Đại về nước thành lập Chính phủ quốc gia. Quốc trưởng kiêm Thủ tướng chính phủ : Bảo Đại. Chính thể quốc gia được thành lập từ đó. Cũng từ đó chiến tranh Quốc-Cộng bắt đầu, đứng sau là cuộc tranh hùng tư bản – cộng sản. Cuộc chiến kéo dài 5 năm.

Hiệp định Genève 1954 mà đồng chủ tịch là Anh, Liên Sô, với sự tham dự của Mỹ, Trung Cộng, Ấn, được kí kết, chia đôi Việt Nam. Sau đó chế độ Cộng Hòa ra đời ở miền Nam. Năm 1956, chính phủ Cộng Hòa miền Nam từ chối tổ chức tổng tuyển cử như tinh thần hiệp ước Genève, viện lẽ rằng miền Bắc không có dân chủ, bầu cử sẽ không phản ảnh trung thực nguyện vọng của dân, hơn thế nữa Cộng hòa Việt Nam không ký vào Hiệp Định Genève. Cùng năm Khrouschev đề nghị cho 2 nước Việt Nam : Việt Nam Cộng hòa, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào Liên Hiệp Quốc. Chính phủ Việt Nam Cộng hòa từ chối . Liền sau đó đảng Cộng sản quyết định mở đường mòn Hồ chí Minh nhằm vận tải người, võ khí, lương thực vào Nam để cưỡng chiếm miền Nam, “thống nhất” bằng võ lực. Năm 1960 Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam được thành lập, đứng sau là đảng Cộng sản. Chiến tranh quốc – cộng lại tái diễn. Quân Mỹ đổ bộ vào miền Nam càng ngày càng đông. Chiến tranh càng ngày càng khốc liệt mà cao điểm là trận tổng công kích tết Mậu Thân 1968, buộc Mỹ phải công nhận Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và mở ra Hội Đàm Ba Lê, với sự tham dự của 4 thành phần: Mỹ, Việt Nam Cộng Hòa, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Hiệp Định Ba Lê được kí kết vào năm 1973 với sự tham dự của 3 thành phần Việt Nam, với sự hiện diện của Tổng Thư Kí Liên Hiệp Quốc, của 5 cường quốc Mỹ, Nga, Anh, Pháp, Trung cộng và một số quốc gia khác.

Tuy nhiên vì chiến lược toàn cầu, vì khó khăn nội bộ, Hoa Kỳ không thể giúp miền Nam như trước đây; trong khi đó cộng sản miền Bắc được sự giúp đỡ càng ngày càng gia tăng của khối cộng sản, đưa đến hiện tượng 30/4/1975 : trước sự tấn công của cộng sản chính thể Việt Nam Cộng Hòa đã xụp đổ.

Chính thể Việt Nam Cộng Hòa xụp đổ tất nhiên bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó có sự lầm lẫn của chính quyền Mỹ, thay vì giúp các lực lượng quốc gia bằng kinh tế và quân sự, lại đổ quân vào miền Nam, làm cho ngọn cờ chính nghĩa quốc gia đã lu mờ, chao đảo trước đây vì sự có mặt của người Pháp, nay lại trở nên lu mờ và chao đảo hơn vì sự có mặt của người Mỹ. Sau này theo sự tiết lộ cuả Hoàng văn Hoan quân số Trung cộng đóng tại miền Bắc có lúc lên tới 300 ngàn , nhưng với bản chất gian manh lừa đảo Cộng sản đã qua mặt được nhân dân miền Nam và cộng đồng quốc tế. Hơn thế nữa, chiến tranh càng ngày càng trở nên khốc liệt, gần như gia đình Việt Nam nào cũng có con em trong quân đội, là nạn nhân xa gần của chiến tranh, dễ bị lay chuyển bởi tuyên truyền cộng sản : ” Chỉ cần Mỹ rút khỏi, Thiệu Kỳ ra đi là hòa bình trở lại “. Tinh thần quân đội miền Nam thì càng ngày càng xút giảm, không phải vì thiếu ý chí chiến đấu, mà vì thiếu phương tiện chiến đấu. Trước đó người Mỹ chi tiêu cho chiến tranh Việt Nam 20 tỷ Mỹ kim mỗi năm (kể cả quân đội Mỹ), nay chỉ còn không đầy 1 tỷ, đúng ra là 700 triệu, mà chỉ tháo khoán 300 triệu. Chuyện thua gần như chắc. Chỉ tiếc rằng chính quyền miền Nam đă không sửa soạn việc thua một cách khéo léo, gây nên quá nhiều mất mát, đau thương.

Nhưng trong những nguyên nhân thua trận, có người nghĩ : “Nguyên nhân chính đó là chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ, Việt Nam là con chốt bị thí trong cuộc cờ tranh hùng tư bản – cộng sản .” Có phải thật thế hay không ?

Cuộc tranh hùng tư bản – cộng sản không phải chỉ mới bắt đầu ở Việt Nam, mà có thể nói từ năm 1919, khi các nước tư bản Anh, Pháp, Nhật gửi quân sang Nga giúp những người Bạch Nga giành lại chính quyền, lật đổ chính quyền cộng sản của Lénine. Cuộc chiến kéo dài 2 năm, phía tư bản và Bạch Nga thua, đưa đến sự kiện tư bản và cộng sản hòa hoãn. Năm 1921, Anh kí hoà ươc thương mại với Cộng Hòa Liên Bang Sô Viết Nga. Rồi hiện tượng phát xít xuất hiện, ở Ý năm 1921 với Mussolini, ở Đức năm 1933 với Hitler; sau này ở Nhật với nhóm quân phiệt. Trục phát xít Đức – Ý – Nhật ra đời. Thế Chiến Thứ Hai bùng nổ phần lớn là lỗi ở ba nước Trục. Các nước cộng sản tư bản bắt buộc phải bắt tay nhau để diệt phát xít.

Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt. Cuộc tranh hùng tư bản – cộng sản trở lại, bắt đầu Chiến Tranh Lạnh.Chiến Tranh Lạnh bắt đầu từ sau Thế Chiến đến lúc bức tường Bá Linh xụp đổ, gần 50 năm .Trước khi bức tường Bá Linh xụp đổ, Paul Nitzé, cha đẻ của Chính sách Be Bờ (Politique d’Endiguement ) đă tuyên bố : “Chúng ta đã thắng Chiến Tranh Lạnh”. Vậy Paul Nitzé là ai ? Chính sách Be Bờ là gì ? Đâu là những điểm chính của chính sách này đã giúp Hoa Kỳ và thế giới tự do đánh bại cộng sản ? Và tại sao Việt Nam Cộng Hòa lại là nạn nhân của chính sách này ? Paul Nitzé, cố vấn về vấn đề an ninh, cùng tổng thống Truman, tham dự hội nghị Potsdam từ ngày 17/7 đến ngày 2/8/1945 với Churchill và Staline.

Theo những nhà báo và sử gia thì Paul Nitzé đã mang quyển truyện Trại Súc Vật (Animal Farm ) của nhà văn hào nổi tiếng Anh quốc, George Orwell, là quyển sách gối đầu giường và ông cũng không ngần ngại cho Staline mượn đọc. Chính sách Be Bờ của ông là lấy ý từ quyển sách này. Theo G. Orwell, trong một trại súc vật nọ, một hôm, con heo già mà người đọc liên tưởng ngay đến K. Marx, nằm mơ tới một thế giới khác, quả thực là tốt đẹp, là một thiên đàng; bỗng bừng mắt dậy, thấy thực tế quá đau thương, phũ phàng. Con heo già suy nghĩ, tìm nguyên do và đi đến kết luận là tại con người, ông chủ trại bóc lột xúc vật. Con người, con heo già nghĩ thầm, không có tài cán gì, nó không thể kéo cày như con ngựa, không thể đẻ trứng như con gà, chưa lạnh thì nó đã run, chưa nóng thì nó đã nực; thế mà nó lại ăn sung, mặc sướng, chẳng qua vì nó bóc lột sức lao động cuả các con vật. Thế rồi con heo già tụ tập những con vật khác lại, nào gà, nào vịt, nào ngựa, nào chó v.v.., để tuyên truyền và hô hào làm cách mạng. Cách mạng súc vật thành công, mặc dầu có sự chống trả của ông chủ. Ban đầu thì thóc gạo trong kho còn nhiều, con vật nào cũng hỉ hả, chia chác công bằng. Sau đó, vì súc vật không biết sản xuất, làm kinh tế, thóc gạo trong kho càng ngày càng cạn, sự công bằng càng ngày càng giảm, đưa đến chỗ súc vật cắn quái lẫn nhau.

Trại súc vật tan rã. Theo Paul Nitzé, đương đầu với cộng sản lúc ban đầu, lúc cao điểm, là lao đầu vào chỗ chết. Phải đợi. Chính vì lẽ đó mà Paul Nitzé cùng George Kenan, một chuyên viên về vấn đề cộng sản và Nga sô ở bộ ngoại giao Hoa Kỳ từ năm 1940, soạn ra chính sách Be Bờ.

Chính sách này được gói ghém trong một tài liệu mật từ năm 1950 tới năm 1989. Tài liệu này được chính giới nhất là giới ngoại giao Hoa Kì coi như là Kinh Thánh cho chính sách đối ngoại trong thời Chiến Tranh Lạnh, được viết vào năm 1950 bởi Paul Nitzé, lúc ông làm cố vấn cho Truman, với sự trợ giúp của G. Kenan. Tài liệu này mang tên “Chỉ thị số 68 của Hội Đồng An ninh Quốc gia” định ra những mục tiêu dài hạn và phương thức đối phó với cộng sản trong nền ngoại giao Hoa Kỳ. Những mục tiêu đó là :
1) Ngăn chặn sự bành trướng của Nga Sô ở Á châu ;
2) Tăng cường giúp đỡ các nước Tây Âu và Khối Bắc Đại Tây Dương về vật chất cũng như về tinh thần, để Nga sô không thể làm áp lực, để mặc cả với Thế giới Tự do ;
3) Kiên nhẫn chờ đợi tranh chấp bùng nổ trong lòng chế độ cộng sản; lúc đó mới đổi thế phòng thủ ra thế phản công. Tài liệu này còn nhấn mạnh thêm rằng đừng bao giờ hạ nhục Nga Sô, mà ngược lại tìm cách tạo những phương tiện thuận lợi để Nga Sô biến đổi, đi theo chiều hướng dân chủ Tây phương và tôn trọng chủ quyền của các dân tộc khác.

Trải qua bao nhiệm kỳ và đời tổng thống, ông Paul Nitzé vẫn giữ chức Trưởng phái đoàn về vấn đề tài giảm binh bị Mỹ – Nga tại Genève. Ngày hôm nay người ta mới rõ ra rằng đây là một đài quan sát để biết rõ hiện tình quân sự và võ trang của Nga Sô, ngõ hầu lôi cuốn Nga vào một cuộc chạy đua tiêu tiền giữa kẻ giầu và người nghèo, đến lúc kẻ nghèo kiệt sức rồi ngã quỵ . Đó là lúc mà tổng thống Reagan thách thức Nga Sô chạy đua vào hệ thống phòng thủ không gian. Cũng là lúc đế quốc Nga Sô xụp đổ. Năm 1989, Paul Nitzé 82 tuổi, xin về hưu, không làm Trưởng phái đoàn thương thuyết tài giảm binh bị nữa, mới tiết lộ đứa con tinh thần của mình “Chỉ thị số 68 của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia” và tuyên bố : “Chúng ta đă thắng Chiến tranh Lạnh”. Đó cũng là ý kiến của Tướng Brent Crowcroft, Cố vấn an ninh của tổng thống G. Bush cha, khi ông tuyên bố vào ngày 9/4/1989 : “Tây phương đă chiến thắng cộng sản trên phương diện ý thức hệ “.

Một cách tổng quát, người ta có thể nói chiến lược ngoại giao toàn cầu Hoa Kỳ đối với cộng sản có thể chia ra làm 2 giai đoạn : Giai đoạn phòng thủ và giai đoạn tấn công.

1) Giai đoạn phòng thủ chính là giai đoạn của chính sách Be Bờ đi từ cuối Thế Chiến Thứ Hai đến cuối thập niên 60, đầu thập niên 70.

Trong giai đoạn này, phía cộng sản tấn công phía tư bản trên nhiều phương diện: ý thức hệ, chính trị, kinh tế, quân sự và xã hội . Phía tư bản chỉ tìm cách be bờ, ngăn chặn sự bành trướng của cộng sản.

Về ý thức hệ, người cộng sản dùng lí thuyết mác lê như một lợi khí tuyên truyền nhằm giải phóng con người, giải phóng các nước bị trị khỏi ách thống trị của đế quốc tư bản, để đi đến một thế giới cộng sản đại đồng.

Về chính trị, kinh tế, quân sự và xã hội, Nga sô một mặt giúp đỡ các đảng cộng sản tại các nước tư bản, xúi dục thợ thuyền đình công, gây tê liệt kinh tế, xáo trộn xă hội, mặt khác giúp các phong trào, các tổ chức chính trị ở những nước nhược tiểu đòi độc lập. Cộng sản đã tấn công tư bản từ lâu, từ thời Lénine. Lúc đầu với chiến lược tấn công trực tiếp, nhắm ngay đầu não tư bản để tấn công, theo đúng tinh thần của Marx, cách mạng cộng sản chỉ có thể xẩy ra tại các nước tư bản kỹ nghệ tiền tiến, vì chỉ ở những nước này mới có giai cấp vô sản, độiquân tiền phong của cách mạng cộng sản. Nhưng Marx đã hoài công chờ đợi. Lénine cũng vậy. Cách mạng cộng sản không xẩy ra ở Anh. Cuộc nổi dậy vào năm 1921 của cộng sản Đức ở Berlin mà Lénine đặt nhiều kỳ vọng thì bị dẹp trong trứng nước. Năm 1923, tại Đại Hội IV Đệ Tam Quốc tế Cộng sản, họp từ tháng 11 tới tháng 12 năm này, với đề tài ” Vấn đề thuộc địa và Đông phương ” Lénine đổi chiến lược, nhằm tấn công gián tiếp tư bản. Ông nói : ” Cách mạng cộng sản sẽ đi qua của ngõ New Delhi, Bắc Kinh rồi mới tới Ba lê và Luân Đôn . ” Chính vì lẽ đó mà Hồ chí Minh, tiêu biểu cho các nước bị trị bởi đế quốc Pháp, lúc đó đang sống ở Pháp, có dịp đọc tài liệu về vấn đề thuộc địa của Lénine, và L. Roy, người Ấn Độ cùng học trường Đông Phương của Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản, rất coi thường họ Hồ trên phương diện lý thuyết và tư tưởng, tiêu biểu cho các nước bị trị trong đế quốc Anh; cả hai đã được Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản giúp đỡ. Vào năm 1923 Phái Đoàn Cộng sản đại diện Lénine đă kí với Tôn dật Tiên một Hiệp ước thân thiện, cử phái đoàn Borodine mà Hồ chí Minh làm thông ngôn và Chu ân Lai làm thư kí giúp đỡ họ Tôn mở trường quân sự Hoàng Phố. Chiến lược tấn công gián tiếp của Lénine lúc đầu đă mang lại nhiều kết quả ngoạn mục, làm cho tư bản thất điên bát đảo: Anh phải trao trả độc lập cho Ấn vào năm 1947. Phải nhớ cuộc giành độc lập của Ấn là do Ghandi lãnh đạo chứ không phải đảng cộng sản của L. Roy. Tuy nhiên đảng này cũng đóng góp phần quan trọng vào cuộc giành độc lập này và đã gây một tiếng vang rất lớn. Mao trạch Đông cướp được chính quyền ở lục địa năm 1949. Hồ chí Minh cướp chính quyền ở Việt Nam vào năm 1945, nắm quyền ở miền Bắc từ năm 1954. Cùng nhiều cuộc đảo chính có mầu sắc cộng sản theo mô hình kinh tế tập trung ở Phi châu và châu Mỹ La tinh.

Những chiến thắng trên tuy ngoạn mục, nhưng không phải là những đòn chí tử, đánh gục đối phương, mà ngược lại nó chỉ làm cho cộng sản, đứng đầu là Nga Sô, hao tổn quá nhiều về tiền tài. Các đảng cộng sản trên thế giới và ngay cả những quốc gia có khuynh hướng cộng sản mới thành lập không giúp gì được Nga Sô, mà chỉ là những chương mục để Nga sô chuyển tiền giúp đỡ. Những đảng cộng sản ở những nước giầu có như Pháp, Anh, Ý cũng vẫn do Nga Sô giúp đỡ hàng năm. Cộng thêm vào đó là cuộc chạy đua vũ trang với Hoa Kỳ đã làm Nga kiệt quệ.

2) Giai đoạn phản công. Người ta có thể nói giai đoạn này bắt đầu vào năm 1968 khi Nixon đắc cử tổng thống, khi tranh chấp Nga – Hoa lên đến cao điểm, khi Mỹ chứng tỏ đã vượt Nga về vấn đề chạy đua không gian , khi những phi hành gia của Mỹ đặt chân lên mặt trăng ( 1969 ), khi Nixon viếng thăm Bắc Kinh năm 1972. Để phản công, Hoa Kỳ cũng tấn công cộng sản trên nhiều phương diện : ý thức hệ, chính trị, kinh tế, quân sự và xã hội. Có nghĩa là Hoa kỳ chứng minh cho thế giới thấy thực tế cộng sản hoàn toàn trái ngược với lý thuyết và tuyên truyền cộng sản. Cộng sản không mang lại ấm no, hạnh phúc mà là nghèo đói ; không mang lại tự do, giải phóng, mà là độc tài và xiềng xích. Cộng sản không mang lại tình huynh đệ, thế giới đại đồng, mà là tranh chấp biên giới như tranh chấp Nga – Hoa, tranh chấp Việt – Hoa. Đồng thời Hoa Kỳ phải tô điểm hình ảnh của mình bằng cách không giúp đở những chính quyền độc tài, phản nhân quyền và giảm thiểu sự có mặt quân đội trên thế giới. Người ta có thể nói đó là một trong những nguyên do chính khiến Hoa Kỳ rút khỏi Việt Nam, không hỗ trợ chính quyền cũa Shad d’Iran.
Tháng 7/ 1976, tổng thống Mỹ Henry Ford kí hiệp ước Helsinki trong đó có điều khoản tôn trọng nhân quyyền. Hoa Kỳ đă đưa vấn đề tự do, dân chủ, tôn trọng nhân quyền lên hàng ý thức hệ để tấn công cộng sản .

Về chính trị và quân sự, ngoài việc thách thức Nga Sô chạy đua vũ trang như tổng thống Reagan thách thức về hệ thống phòng thủ không gian, Hoa kỳ còn giúp Kháng chiến A phú Hãn, làm sa lầy Nga Sô ở đây, giúp Liên Đoàn Đoàn Kết ở Ba Lan, đầu cầu đưa đến sự xụp đổ cộng sản ở Đông Âu.Cho đến ngày bức tường Bá Linh xụp đổ 1989, giai đoạn phản công của Hoa Kỳ kéo dài trên dưới 20 năm.

Nhưng tại sao có người lại đưa ra giả thuyết cho rằng chính thể quốc gia, chế độ cộng hòa Việt Nam lại là nạn nhân của chiến lược ngoại giao tòan cầu Hoa Kỳ ?

Từ khi Hoa Kỳ có mặt ở Việt Nam, năm 1954 tới 1975, giai đoạn này nằm trong giai đoạn của chiến lược phòng thủ với chính sách Be Bờ (1950 – 1970) và giai đoạn sửa soạn bước sang chiến lược tấn công (1970 – 1975). Vì cán cân lực lượng còn ngang ngửa, vì tranh chấp chưa bùng nổ trong lòng chế độ cộng sản, Hoa Kỳ rất thận trọng trong giai đoạn này, chỉ tìm cách be bờ, ngăn chặn sự bành trướng của cộng sản, cố gắng không gây gổ với họ. Bởi lẽ đó, vào thập niên 60, có nhiều lần Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa đề nghị gửi quân qua vĩ tuyến 17, đánh thẳng ra ngoài Bắc . Hoa Kỳ đều từ chối. Tác giả bài này, sau 1975, có dịp dự một cuộc hội thảo quốc tế về Chiến tranh Việt Nam : một vị cựu chính khách Việt Nam Cộng Họ̀a có hỏi một vị kí giả, cựu nhân viên ngoại giao Hoa Kỳ : Trong một trận đá banh giữa 2 đội A và B; đội B chỉ có quyền phòng thủ chứ không có quyền tấn công; đội A thì có cả 2 quyền. Trong trường hợp như vậy, hỏi quí vị, làm sao đội B có thể thắng đội A . Vị cựu ngoại giao Hoa Kỳ đã không trả lời.Là nạn nhân suốt trong thời kỳ chính sách Be Bờ (1950 – 1970), Việt Nam Cộng Hòa còn là nạn nhân của thời kỳ Hoa Kỳ sửa soạn phản công (1970 – 1975).

Trong thời kỳ sửa soạn phản công, Hoa Kỳ phải tô điểm hình ảnh của mình : một mặt trình bày xã hội Hoa Kỳ cởi mở, dân chủ, kinh tế phồn thịnh; mặt khác giảm thiểu sự có mặt quân sự trên thế giới, giúp đỡ những phong trào tranh đấu vì dân chủ nhân quyền. Bởi lẽ đó, năm 1978, Hoa Kỳ không ngần ngại ngừng giúp đỡ chính quyền Shad d’Iran, vô tình tạo dịp thuận lợi để Khomeini về nước cướp chính quyền.

Tất nhiên việc Hoa Kỳ kí Hiệp Định Ba Lê, rút quân khỏi Việt Nam không phải chỉ vì chiến lược toàn cầu, vì chính sách Be Bờ, mà còn vì nhiều nguyên do khác: vào thập niên 60, phong trào phản chiến ngày càng mạnh ở Hoa Kỳ, đồng Dollar mất giá trên thị trường buộc tổng thống Nixon phải lấy quyết định bỏ nguyên tắc đổi ra vàng ( convertible en or ) của Dollar; vào đầu thập niên 70, vụ Waltergate, khủng hoảng chính trị Hoa Kỳ làm Nixon phải từ chức.Chúng ta không thể nhìn một biến cố chính trị, lịch sử từ một góc cạnh, qui về một nguyên nhân, mà phải nhìn nó từ nhiều góc cạnh, tìm ra nhiều nguyên nhân. Như thế mà nhiều khi còn lầm lẫn trong phán xét.
Có người nói chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ nói chung và ở Việt Nam nói riêng rất là mâu thuẫn, tay phải đánh tay trái, chân trái đá chân phải.

Đúng , nếu chúng ta nhìn cục bộ và ngắn hạn như việc rút quân vội vã ở Việt Nam, việc một số nhà ngoại giao Hoa Kỳ bị bịt mắt dẫn đi và làm nhục ở ngoài đường tại Iran năm 1978. Sai , nếu chúng ta nhìn toàn diện và dài hạn. Ngày hôm nay không ai chối cãi là Hoa Kỳ đã lãnh đạo thế giới Tự do chiến thắng Cộng sản trong Chiến Tranh Lạnh. Lãnh đạo một cuộc chiến trong vòng nửa thế kỷ, rồi chiến thắng nó không phải là tầm thường và thiếu kiên nhẫn, cũng như chính sách trong suốt thời gian đó không phải là thiếu khôn ngoan và không hợp lí.

Chỉ tiếc rằng Chiến Tranh Lạnh đã chiến thắng mà Việt Nam vẫn còn là cộng sản, mặc dầu phần đóng góp của dân Việt Nam vào chiến tranh này không phải là nhỏ !

Viết đến đây, tác giả bài này lại nhớ đến những câu chuyện mà Ông thân sinh của tác giả thường kể về những đối thoại của Ông với một Cụ đồ Nho, vừa là Thầy, vừa là người nhà, vào những năm 40, 50. Ông kể vào năm 1945, khi cộng sản nổi lên cướp chính quyền ở trong làng, Cụ đồ Nho có gọi Ông lại và nói : “Cậu ạ ( tiếng gọi thay con và là người thân ở miền Bắc ) ! Chúng nó ( chỉ những người cộng sản cướp chính quyền ) chỉ là phường ăn cướp.” Khi cộng sản tổ chức bầu cử quốc hội, Cụ lại gọi Ba tôi lại và nói : “Hỏng rồi Cậu ạ ! Chúng là phường ăn cướp, nhưng chúng lại có chính nghĩa mất rồi !” Vì gia đình tôi ở vùng miền núi, hoàn toàn bị kiểm soát bởi cộng sản, maĩ tới cuối năm 1952 mới tìm cách trốn ra vùng tề ( tự do), cộng sản bắt đầu đấu tố sớm ngay vào những năm 1951, 1952 ở những vùng này. Trước những cảnh đấu tố, Cụ có nhận xét : “Cậu ạ ! Chúng nó không thể tồn tại lâu được đâu .” Tại sao vậy Thầy ?” Ba tôi hỏi lại. Ông Cụ trả lời : “Tôi lấy thí dụ để Cậu hiểu rõ : như vụ đấu tố địa chủ, phú nông. Chúng ( cộng sản ) mang gia tài, ruộng đất, trâu bò của địa chủ, phú nông ra canh sách, chia nhau. Một con trâu, để đó, dù nó là của địa chủ, phú nông, thì nó còn cày ruộng. Nay vì đấu tố, mang con trâu ra làm thịt, canh sách, chia chác, kẻ cái đầu, người cái đuôi, ăn uống hả hê. Con trâu chết rồi, lấy gì mà cày. Ruộng ở trong tay phú nông, địa chủ, thì họ còn cày còn làm ra thóc gạo. Nay chia ruộng cho bần cố nông, vừa lười biếng, vừa không biết làm ruộng, lấy đâu ra thóc gạo ! Cứ như thế này, sớm muộn, chúng cũng sẽ sụp đổ, đời tôi thì không chắc, nhưng đời Cậu thì chắc; vì chúng là phường chỉ biết cướp ăn chứ không biết làm ăn !”

Việt Nam cũng có những người suy nghĩ như G. Orwell. Như Cụ Đồ Nho nọ !
Chỉ tiếc là Cụ mất sớm, đã không thấy cộng sản xụp đổ ở Nga Sô và Đông Âu. Ba của tác giả thì đã có thể chứng kiến hiện tượng chính trị lịch sử quan trọng này, nhưng không ở Việt Nam. Đó là điều Ông tiếc trước khi mất.

Làm cho Việt Nam không còn là cộng sản, trở nên tự do, dân chủ, tôn trọng nhân quyền, ấm no và phồn thịnh. Đó là nguyện ước của toàn dân Việt hiện nay và ngay cả những người đă khuầt .

Paris, ngày 27 / 4 / 2006. Viết cho ngày 30 tháng 4
Chu chi Nam

March 14, 2008

Quan hệ về tổ chức giữa phong trào Việt kiều và Đảng Cộng sản Việt Nam

(1945-1990)
Nguyễn Ngọc Giao
Paris

http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai9/200609_NNGiao.htm
 

Tiếng Pháp có câu ngạn ngữ “Cho vay, người ta chỉ chọn nhà giàu mà cho vay” (On ne prête qu’aux riches) mà tục ngữ tiếng Việt “Nước chảy chỗ trũng” không lột tả hết ý nhị trong trường hợp này.  Người ta nghĩ ngay tới câu nói đó khi đọc một số bài viết về tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam ở nước ngoài, đặc biệt ở trong các phong trào Việt kiều. Đối với một số tác giả, đương nhiên là ĐCSVN phải có những “chi bộ”, “đảng bộ” để lãnh đạo những tổ chức “thân cộng”, “tay sai”. Định kiến này có thể xuất phát từ căn bệnh “nhìn đâu cũng thấy cộng sản”, nhưng mặt khác, nó được suy diễn từ một vài yếu tố không phải không có căn cứ.

Có thể đơn cử phong trào Việt kiều tại Pháp, quan hệ lâu năm và rõ ràng mật thiết với chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, với tổ chức chặt chẽ theo nguyên tắc “tập trung dân chủ” quen thuộc của các tổ chức “quần chúng” chung quanh các đảng cộng sản. Khó tưởng tượng rằng một tổ chức như vậy không có một “hạt nhân” cộng sản.

Vấn đề đặt ra là bản chất “hạt nhân” ấy là gì? quan hệ của nó với Đảng cộng sản Việt Nam như thế nào?

Phải đợi nhiều năm sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, người ta mới đọc thấy trên giấy trắng mực đen một vài thông tin liên quan tới tổ chức này. Điển hình nhất là cũng mới nhất là hồi kí của ông Võ Văn Sung (xuất bản năm 2005, nhân kỉ niệm ngày 30.4):
Ngày 25 tháng 11 năm 1974, anh Lê Đức Thọ sang Pháp công tác. Trước khi về Hà Nội, anh đã triệu tập Ban Cán sự Đảng tại Pháp cùng với mấy cán bộ chủ chốt của phong trào Việt kiều là bác sĩ Nguyễn Ngọc Hà, bí thư nhóm Việt ngữ, Huỳnh Trung Đồng phó bí thư và Lâm Bá Châu uỷ viên thường vụ, để phổ biến một số tình hình trong nước, đặc biệt là các hoạt động quân sự của ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu và việc đánh trả đũa của ta” (Võ Văn Sung, Chiến dịch Hồ Chí Minh giữa lòng Paris, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân & Công ti Phương Nam, 2005, tr. 72, những chữ đậm là do chúng tôi muốn nhấn mạnh).
Cũng trong hồi kí này, ở chú thích một tấm ảnh ở giữa sách, sau trang 40, cho biết thành phần Ban cán sự: Võ Văn Sung, bí thư; Phạm Văn Ba, phó bí thư; Nguyễn Tuấn Liêu, uỷ viên.
Hai cụm từ chủ chốt trong đoạn văn này: Ban Cán sự Đảng tại PhápNhóm Việt ngữ.
Ban Cán sự Đảng tại Pháp, trong cơ cấu tổ chức của Đảng Cộng sản, là một cơ quan do cấp trên – trong trường hợp này, có thể hiểu là Ban bí thư Trung ương hay/và Bộ chính trị, mà hiện thân ở thời điểm ấy là ông Lê Đức Thọ – bổ nhiệm để phụ trách những vấn đề “cán bộ” trong lãnh vực hoạt động của nó – ở đây là đảng viên của ĐCSVN tại Pháp. Những đảng viên này sinh hoạt tại những tổ hay chi bộ, tức là những tổ chức cơ sở của ĐCS, tầng trệt của kim tự tháp tổ chức theo nguyên tắc “tập trung dân chủ”. Theo nguyên tắc này, bộ phận lãnh đạo của chi bộ – chi uỷ – do chi bộ bầu ra, nhưng phải được “cấp trên” thông qua. Trong truyền thống nặng về “tập trung”, thành phần chi uỷ thường do “cấp trên” gợi ý trước, nhưng dầu sao, nó cũng phải được chi bộ thông qua bằng phiếu bầu. Nói cặn kẽ như vậy để làm rõ khác biệt cơ bản giữa các chi uỷ, đảng uỷ này với ban cán sự: ban cán sự hoàn toàn do “cấp trên” chỉ  định. Theo ông Võ Văn Sung, Ban cán sự của Đảng Lao động VN tại Pháp được thành lập từ năm 1961, là năm VNDCCH mở Cơ quan đại diện thương mại tại Paris,[1] “gồm một số cán bộ từ trong nước sang trong cơ quan Đại diện thương mại để giúp Đảng lao động Việt Nam lãnh đạo Nhóm Việt ngữ” (sđd, tr. 34).

Vấn đề đặt ra: ai là những đảng viên ĐCSVN ở Pháp? Suy diễn sai lầm xuất phát chính ở chỗ này: người ta tưởng rằng ĐCSVN kết nạp đảng viên ở ngoài nước, hay gửi đảng viên ra nước ngoài để tuyển mộ và tổ chức. Điều này có cơ sở thực tế trong thời kì nửa đầu thế kỉ XX và trong thực tiễn của Quốc tế Cộng sản (như sẽ nói ở đoạn sau). Nhưng trải qua cuộc chiến tranh giải phóng, thực tế tù đầy ở vùng “bị chiếm”, sự cảnh giác cần thiết đã sớm dẫn đến nguyên tắc cứng nhắc: không “tổ chức” Đảng ở nước ngoài, đảng viên mất liên lạc với tổ chức, dù chỉ sau một thời gian ngắn, phải bị “lưu đảng” để làm sáng tỏ mọi vấn đề trước khi được sinh hoạt trở lại.[2] Như vậy, tại Pháp, đảng viên ĐCSVN có sinh hoạt là những cán bộ của cơ quan đại diện ngoại giao (Tổng đại diện, rồi Đại sứ quán VNDCCH, và Phòng đại diện của MTDTGPMNVN, rồi của CPCMLTMNVN cho đến năm 1975, và từ 1976 trở đi, đại sứ quán nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Thêm vào đó, có thể kể những đảng viên cán bộ Nhà nước sang thực tập hay làm việc ở Pháp một vài năm trong khuôn khổ hợp tác khoa học Pháp-Việt. Nói khác đi, có thể và cần khẳng định: ĐCSVN không kết nạp những người gọi là “Việt kiều”. Ông Võ Văn Sung cũng xác nhận điều này khi ông viết: “Đảng Lao động Việt Nam không chủ trương lập đảng bộ ở nước ngoài” (sđd, tr. 34).

Nhóm Việt ngữ nói ở trên không phải là một tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trước khi nói rõ hơn về tổ chức này, cần đi ngược dòng quá khứ để tìm hiểu ngọn nguồn tên gọi của nó.

Trong truyền thống của phong trào cộng sản quốc tế,[3] chỉ có một tổ chức cộng sản trên toàn thế giới, tổ chức cộng sản ở mỗi nước là một “đảng bộ” (section) của Quốc tế Cộng sản (QTCS). Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập năm 1930 (ngay sau đó phải đổi thành Đảng Cộng sản Đông Dương) nhưng về danh nghĩa, phải đến năm 1935 mới được thừa nhận là một “đảng bộ” của QTCS, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của QTCS, không thông qua ĐCS Pháp hay ĐCS Trung Quốc. Tại Pháp, những người Việt Nam gia nhập đảng cộng sản đương nhiên là thành viên ĐCS Pháp, có nhiệm vụ sinh hoạt trong một chi bộ cơ sở của ĐCS Pháp (đầu thập niên 1930, ông Nguyễn Văn Tạo đã từng là uỷ viên trung ương của ĐCS Pháp). Tương tự, trong thời kì kháng chiến lần thứ nhất (1945-1954), những người cộng sản Pháp (và Tây Âu) tham gia hàng ngũ kháng chiến Việt Nam đương nhiên là đảng viên ĐCSVN (rút vào bí mật trong thời kì 1946-1951, mang tên Đảng Lao động VN từ 1951 trở đi – cho đến năm 1976).

Cũng trong thời kì này (1945-1954), tại Pháp, những đảng viên người Việt, ngoài việc tham gia sinh hoạt ở các chi bộ (xí nghiệp, trường đại học…) của ĐCSP, còn sinh hoạt trong một cơ cấu gọi là “Nhóm Việt ngữ” (đây là một thực tiễn phổ biến, đảng viên gốc các nước khác cũng có những “nhóm sinh ngữ” tương tự: “nhóm Ý ngữ”, “nhóm “Bồ ngữ”…). Trong khuôn khổ nhóm này, họ tiến hành những hoạt động ủng hộ kháng chiến Việt Nam, trên nguyên tắc, dưới “trách nhiệm tinh thần” của ĐCS Pháp – ĐCS Pháp và các tổ chức của ĐCS như Tổng công đoàn lao động, Phong trào hoà bình, Hội hữu nghị Pháp-Việt là hậu thuẫn mạnh mẽ cho phong trào Việt kiều trong những năm kháng chiến, để chống trả hay hạn chế chính sách đàn áp của chính quyền Pháp).

Sau Hiệp định Genève, một số sinh viên, trí thức Việt Nam (bất luận gốc miền Bắc hay miền Nam) đã tình nguyện về Hà Nội đóng góp vào việc tái thiết. Những người trong “Nhóm Việt ngữ” đương nhiên được “chuyển đảng”, trở thành đảng viên của Đảng Lao động Việt Nam, nhưng “tuổi đảng” được tính từ ngày gia nhập “đảng” ở Pháp.[4]
Tình trạng “bốn phương vô sản đều là anh em” này chấm dứt giữa thập niên 1950 với sự phân hoá trong phong trào cộng sản quốc tế (Đại hội XX Đảng Cộng sản Liên Xô 1956, Hội nghị các Đảng Cộng sản Moskva 1957). ĐCS Pháp nằm trong khối những Đảng Cộng sản “xét lại chủ nghĩa”, còn ĐCS VN, nếu không hoàn toàn “mao-ít” cũng dứt khoát “chống xét lại”.[5]  Sự tồn tại của “nhóm Việt ngữ” đã kết thúc, ít nhất với tư cách một cấu trúc của Đảng Cộng sản Pháp. Và do chủ trương (đã nói ở trên)  của ĐCSVN, nó không thể được thừa nhận là một bộ phận của của ĐCSVN. Nói cụ thể hơn, kể từ năm 1958,[6] “nhóm Việt ngữ” (như ông Võ Văn Sung nói tới trong hồi kí của mình) chỉ là một tổ chức của những “cảm tình viên”, tự nguyện chấp nhận sự lãnh đạo của ĐCSVN.

Chính sự tự nguyện chấp nhận này, cùng với lòng tin vào lí tưởng và hăng hái hoạt động của những người trong nhóm đã tạo ra sức mạnh cho tổ chức, và nhìn từ bên ngoài, điều này đã củng cố định kiến về “tổ chức của Đảng ở Pháp”. Thêm vào đó, thái độ vô tình hay cố ý của một số người liên quan đã gia cố huyền thoại này.[7]

Sức mạnh và khả năng “lãnh đạo” ấy tồn tại chừng nào niềm tin và sự tự nguyện còn được nuôi dưỡng. Sau thắng lợi năm 1975, sự phấn khởi, thậm chí say sưa tự kiêu đã từng bước nhường chỗ cho những thắc mắc, trăn trở. Chủ trương cải tạo xã hội chủ nghĩa trong công nghiệp, thương nghiệp, nông nghiệp, chính sách “học tập cải tạo” đã dẫn tới hai ứng xử có thể: hoặc nản lòng và lặng lẽ bỏ cuộc, hoặc co cụm, gồng mình. Thêm vào các yếu tố chung vừa kể trên, cũng phải nhấn mạnh tới một nhân tố quan trong nữa: từ sau ngày thống nhất đất nước (1976), với chủ trương “tất cả quy về một mối”, sự tự nguyện (và ưu điểm nổi bật của nó là tính sáng tạo) nhường chỗ cho việc thi hành những chủ trương càng ngày càng xa rời thực tế của cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Kết quả tất yếu là tới cuộc đổi mới (1986), những thông thoáng về tư tưởng và quan niệm chính trị sớm bị ngăn chặn, chỉ còn lại những cải tổ theo chiều hướng tư hữu hoá về kinh tế, phong trào Việt kiều ở các nước Tây phương, mỗi nước với những sắc thái riêng, hoàn cảnh cụ thể riêng, lần lượt rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng và toàn diện. Từ đầu thập niên 1990, các “Hội người Việt Nam…”, “Hội Việt kiều yêu nước…”, “Hội  đoàn kết Việt kiều…” … lần lượt giải thể, hoặc biến dạng thành những cơ cấu hữu danh vô thực, hoặc thuần tuý là những “hư cấu” vụ lợi (đối với Nhà nước, Việt Nam, thông qua các sứ quán, nó là hư danh một hội đoàn “tập hợp rộng rãi đồng bào VN ở nước ngoài một lòng hướng về tổ quốc, không phân biệt quá khứ và chính kiến”, đối với một số người phụ trách hội đoàn, nó là bình phong để kinh doanh; điều này không mâu thuẫn với lòng mong muốn giữ quan hệ bình thường với quê hương và đóng góp vào việc xây dựng đất nước, yêu cầu chính đáng của số đông những người còn ở trong hội).

Trong bối cảnh ấy, sự tiêu vong của “nhóm” là đương nhiên và tất yếu. Đó là không kể rằng những người tự nguyện và được “hồi hương” sau năm 1975 (chủ yếu trong mấy năm 1976-1979) đã vấp phải những thực tế “phức tạp”, trong đó có thực tế về ĐCS.[8]
Trên đây tập trung nói về quan hệ của bộ máy ĐCSVN với phong trào Việt kiều ở Pháp. Pháp giữ một vị trí đặc biệt, nếu không nói là tách biệt, trong khối Tây phương, vì nhiều lẽ:


-        phong trào Việt kiều ủng hộ kháng chiến tồn tại hầu như cũng thời điểm với chế độ Việt Nam dân chủ cộng hoà

-        quan hệ lịch sử lâu đời giữa ĐCS Pháp và ĐCS Việt Nam
-        Pháp là nước duy nhất ở phương Tây có quan hệ ngoại giao với VNDCCH từ sau Hiệp định Genève năm 1954.

Do điều kiện đặc biệt đó, tuy ĐCSVN không có “tổ Đảng” trong Việt kiều, nhưng giữa phong trào Việt kiều và ĐCSVN trong nhiều thập niên có quan hệ mật thiết, dựa trên một mặt là sự tin tưởng tự nguyện, mặt kia là sự tin cậy có mức độ (đây là nói về mặt tổ chức, không nói về quan hệ cá nhân, có thể là hết sức tin cậy).

Ở các nước phương Tây khác (không chỉ ở Mỹ), trước năm 1975, không có cơ quan ngoại giao thường trú của VNDCCH. Quan hệ trực tiếp với người Việt Nam ở những nước này hoặc không có, hoặc ở mức “ngoại giao”. Phải đợi đến đầu thập niên 1970, và nhất là sau ngày kí kết Hiệp định Paris (tháng 1.1973), quan hệ về mặt hội đoàn mới được thiết lập một cách tương đối chặt chẽ giữa các địa bàn Pháp, Bỉ, Thuỵ Sĩ, Cộng hoà liên bang Đức, Canada (riêng tại Mỹ, thông qua một cá nhân[9]). Từ đó, Ban Cán sự ở Pháp mới đặt quan hệ với các hội đoàn ở các nước này, và trong chừng mực có thể, khuyến khích thành lập những nhóm “nòng cốt”, ít nhiều theo mô hình của “nhóm Việt ngữ”. Song những “nhóm nòng cốt” này chỉ có thể thực sự vận hành khi đại sứ quán Việt Nam được đặt tại mỗi nước. Trong chừng mực nào, có thể nói là đã quá muộn, khi cuộc khủng hoảng toàn diện đã manh nha.

Thí dụ điển hình, về mặt này, có lẽ là phong trào ở Tây Đức. Sự tồn tại của một “hạt nhân lãnh đạo” không hề hạn chế, thậm chí có thể nói là đã có tác động ngược lại, xu thế đấu tranh cho một cuộc đổi mới thực sự, cho quá trình dân chủ hoá ở Việt Nam, mà “đỉnh điểm” là “tâm thư” mùa xuân năm 1990.[10] Ở thời điểm này, có một sự đồng bộ hiển nhiên trong tình hình các phong trào, mặc dầu những khác biệt khá lớn trong quá trình hình thành và phát triển.

Tác động hạn chế, nếu không nói là không cần thiết, của một “nhóm nòng cốt” đặt dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN thể hiện rõ ràng nhất tại Nhật Bản: tại đây, cho đến ngày chiến tranh Việt Nam chấm dứt, không hề có một mối quan hệ (dù chỉ ở mức độ gặp gỡ, thư tín) giữa hội đoàn sinh viên Việt Nam tại Nhật Bản và các cơ quan hay đoàn đại biểu của Việt Nam dân chủ cộng hoà, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam hay Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Toàn bộ các hoạt động phong phú và “có bài bản” của phong trào sinh viên Việt Nam tại Nhật Bản từ 1960 đến 1975 đều hoàn toàn có tình chất tự phát hoặc được chỉ đạo từ một hạt nhân thành lập một cách tự phát.[11]

Ở trên, danh từ “phong trào” được hiểu theo nghĩa hẹp, chỉ những hội đoàn mà lập trường hiển thị là ủng hộ VNDCCH và MTDTGPMNVN trong cuộc đấu tranh chống chính sách Việt Nam của Hoa Kỳ và chính quyền Việt Nam cộng hoà. Như đã thấy, ngay trong “phong trào” này, ĐCSVN không có và chủ trương không có đảng bộ. Dễ hiểu là trong những hội đoàn và nhóm mà lập trường có một khoảng cách nhất định với ĐCSVN – phần đông sẽ ít nhiều đồng hoá với “thành phần ba” mà Hiệp định Paris Việt Nam dành cho một vị trí nhất định, nếu nó được thi hành nghiêm chỉnh – ĐCSVN lại càng không có tổ chức. Có lẽ đó cũng là một lí do – không phải duy nhất – để ĐCSVN tìm cách “gài” người “nằm vùng”. Ở đây, câu tục ngữ Pháp “on ne prête qu’aux riches” (nói ở đầu bài) một lần nữa lại được chiêm nghiệm. Tại Tây Đức chẳng hạn, năm 1972, trong Đoàn sinh viên Phật tử Việt Nam có sự bất đồng về quân đội miền Bắc ở phía nam vĩ tuyến 17. Một bên dứt khoát không đặt vấn đề này ra, và chỉ một mực đòi Hoa Kỳ phải rút quân khỏi miền Nam. Bên kia tuy không đánh đồng quân đội miền Bắc và quân đội Mỹ, đòi Mỹ rút quân và yêu cầu “quân đội miền Bắc, nếu có, hãy rút khỏi miền Nam vì lúc ấy đã có hai chính phủ: Chính phủ Sài Gòn và Chính phủ Cách mạng”. Sự phân hoá gây căng thẳng và không ít anh em nghi ngờ người nọ người kia là do “Hội đoàn kết” đưa sang “nằm vùng”, “gây chia rẽ”. Ba mươi năm sau, có thể khẳng định không có chuyện ấy. Không phải vì “Hội đoàn kết” không chủ trương làm điều ấy, mà vì trong đầu óc anh em lãnh đạo hội, ý tưởng ấy không (chưa?) hề hiện ra.


Sự thật, qua các cuộc phỏng vấn anh chị em ở các nước Tây Âu và Bắc Mỹ, có thể khẳng định chắc chắn: việc “nằm vùng” chỉ có ở Pháp, từ mùa hè năm 1967, và tiến hành có hệ thống từ 1968 với cuộc đàm phán diễn ra từ tháng 5-1968 ở Paris. Đây tất nhiên là chủ trương (và “đặc sản”) của ĐCSVN, được thực hiện qua Nhóm Việt ngữ. Người “của ta” đã có mặt ở hầu hết các nhóm và tổ chức chính trị Việt Nam ở Paris, từ “thành phần một”, nghĩa là các hội đoàn chống Cộng (Tổng hội sinh viên Việt Nam tại Paris, Liên minh sinh viên Việt Nam tự do tai Âu châu…) qua các tổ chức “thành phần ba” (nhóm Âu Trường Thanh, Đảng xã hội, Công giáo và Dân tộc, Hội Phật tử, Đoàn sinh viên Phật tử, Hướng về Đất Việt…).[12] Không thiếu người, do khả năng và… nhiệt tình (!) đã giữ vị trí quan trọng (“cánh tay mặt”, có lẽ phải gọi là “cánh tay trái” cho phù hợp). Quy mô của kế hoạch này có thể tạo ra một hình ảnh “cường điệu” không đúng với thực tế. Thực ra, phần đông thành viên các tổ chức này cũng đủ tinh nhạy để nghi ngờ và cảnh giác. Vả lại, công tác “nằm vùng” này không có mục đích khuynh đảo, lèo lái định hướng, mà chủ yếu là để tìm hiểu thực chất và thực lực mỗi tổ chức. Mặt khác, một yếu tố ít ai ngờ là những mối quan hệ cá nhân, những tình bạn đã nảy nở và trường tồn cho đến ngày nay, vượt khỏi ranh giới chính trị và những thăng trầm sau 1975.
 

Thay lời kết

Sự hình thành và phát triển của một phong trào lớn mạnh, đa dạng mà đồng quy, của những người Việt Nam ở các nước phương Tây  – ở Pháp từ 1945, và ở Tây Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản, Úc trong thập niên 1960 – chống lại cuộc chiến tranh của Pháp rồi của Mỹ ở Việt Nam, trong bối cảnh chiến tranh lạnh, trong lòng khối các nước tư bản chủ nghĩa, với sự tham gia tích cực của thành phần sinh viên, trí thức phần đông xuất thân từ miền Nam là một hiện tượng tự nó đáng được tìm hiểu và phân tích. Cũng hết sức thú vị là sự hình thành và vai trò của nhóm Việt ngữ tại Pháp và những nhóm tương tự ở mấy nước khác, trong kích thước hiện thực và nhất là kích thước huyền thoại, ám ảnh của nó.[13]

Thực ra, quá trình này hết sức lô gích, thể hiện sức mạnh của sự nghiệp độc lập và thống nhất. Lòng yêu nước là nhân tố cơ bản và xuyên suốt, quyết định sự lựa chọn xã hội chủ nghĩa của những người tự nguyện tham gia những “nhóm nòng cốt” (khi họ có điều kiện). Nhìn lại lịch sử đầy “âm thanh và cuồng nộ” của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trong ba thập niên 50, 60, 70, thoạt tiên, người ta có thể ngạc nhiên khi thấy sự xung khắc và đối nghịch hầu như không tác động gì tới đời sống các “nhóm” nói trên. Cuộc tranh chấp Xô-Trung mệnh danh là cuộc đấu tranh giữa “chủ nghĩa xét lại” và “chủ nghĩa giáo điều” hầu như không hề phân hoá nhóm Việt ngữ ở Pháp vì đối với “Việt kiều yêu nước tiến bộ”, công cuộc giải phóng miền Nam (vũ trang kết hợp chính trị, ngoại giao) vừa là bức thiết, vừa không có chọn lựa nào khác. Mặt khác, cuộc “đại cách mạng văn hoá vô sản” cản trở vận chuyển viện trợ của Liên Xô cho Việt Nam rất nhanh chóng đã trở thành liều thuôc văc-xin cho những ai cảm thấy chủ nghĩa Mao hấp dẫn. Tóm lại, ý thức dân tộc đã quy định lựa chọn xã hội chủ nghĩa, và ngược lại, cách ứng xử khôn khéo về mặt đối ngoại của ĐCSVN đã củng cố niềm tự hào dân tộc của các “nhóm viên”. Thực chất hay ảo tưởng, họ đã sống những năm tháng của sự “hài hoà” giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế.[14]

Sự phân hoá cũng không xảy ra ngay sau năm 1975, với việc thống nhất gấp gáp, cuộc cải tạo “xã hội chủ nghĩa” thô bạo ở miền Nam và chủ trương “học tập cải tạo” cũng như những hậu quả của chính sách này là cuộc vượt biên và vượt biển của hơn một triệu đồng bào. Tất nhiên, những chính sách này gây ra thắc mắc và thất vọng ngày càng sâu sắc, song trong một chừng mực nhất định chúng được cảm nhận như hệ quả của phương cách kết thúc chiến tranh: kết thúc bằng vũ trang, không qua giải pháp chính trị. Người ta có thể suy luận và hoài nghi về “thực tâm” của ĐCS, nhưng không thể nghi ngờ: chính Mỹ đã bác bỏ ngay từ đầu một giải pháp chính trị ở miền Nam, khoá chặt mọi khả năng hoạt động của thành phần ba.

Cuối cùng, sự giải thể của các “nhóm nòng cốt” cũng như của các hội “Việt kiều yêu nước”, “người Việt Nam” tại các nước phương tây (thành lập trong những năm 76-78) đã diễn ra một cách tiệm tiến và coi như kết thúc vào đầu thập niên 1990. Nó không bắt nguồn từ một sự kiện hay một chuỗi sự kiện, mà từ một vấn đề thực chất, cốt lõi: quan niệm xơ cứng của ĐCSVN – cũng như của tất cả các đảng cộng sản xây dựng theo mô hình Stalin và Mao – về các tổ chức quần chúng, triệt tiêu xã hội dân sự, phủ nhận tính tự chủ của nó đối với tổ chức Nhà nước. Ở trong nước, sự tồn tại về hình thức của những tổ chức này còn duy trì được với một bộ máy viên chức: điển hình thê lương nhất là Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, một tổ chức trên nguyên tắc quy tụ hàng triệu “công nhân”, từ ngày “đổi mới” đến nay đã “hoàn thành xuất sắc” vai trò của một công đoàn vàng mà giai cấp tư bản thế kỉ XIX cũng chẳng dám mơ ước.[15] Ở nước ngoài, không thể, hay chỉ có thể với những thoả hiệp về quyền lợi khá nhỏ nhặt và lộ liễu, nên mất hoàn toàn tính thuyết phục.


Tất nhiên, tình trạng này chỉ có thể chấm dứt nếu như và khi nào xã hội dân sự Việt Nam tìm lại (hay tìm ra) được sức sống của mình, tồn tại tự mình và tổ chức cho mình. Bao giờ và như thế nào, điều ấy cũng gắn liền với quá trình dân chủ hoá của xã hội Việt Nam. Song đó nằm ngoài nội dung bài tham luận này.
 

Nguyễn Ngọc Giao
* Bản duyệt lại của bài phát biểu tại Hội Thảo Hè 2006 “
Dân chủ và Phát Triển“, tổ chức tại Berkeley (California, Hoa Kỳ) ngày 28-29/7/2006.
 


Chú thích
[1] Do sức ép của Mỹ, sau Hiệp định Genève 1954, Pháp triển khai quan hệ không cân đối với hai miền Nam, Bắc Việt Nam.  Ở Sài Gòn, Pháp đặt đại sứ quán; ở Hà Nội, một cơ quan Tổng đại diện (Délégation générale). Tại Paris, sau 1954, chỉ có một cơ quan bán chính thức của VNDCCH là Văn phòng Thông tấn xã Việt Nam – trong khi chế độ Việt Nam cộng hoà vẫn có đại sứ quán (kế thừa từ thời Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại.  Tới năm 1961, là cơ quan Đại diện thương mại (Délégation commerciale), đứng đầu là một nhà ngoại giao khá … xa lạ với thương mại là ông Mai Văn Bộ. Từ khi Mỹ leo thang chiến tranh (1965), tướng De Gaulle, tổng thống Pháp, lên tiếng đòi Mỹ rút quân, ủng hộ “quyền tự quyết” và “trung lập” của Đông Dương. Chính quyền “đệ nhị cộng hoà” (Nguyễn Cao Kỳ) phản ứng bằng cách rút quan hệ ngoại giao xuống hàng tổng lãnh sự.  Từ  năm 1974, quan hệ ngoại giao giữa Pháp và Việt Nam mới nâng lên hàng sứ quán. Từ đó cho đến 30-4-1975, tại Paris có 3 cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam: đại sứ quán VNCH, đại sứ quán VNDCCH, cơ quan đại diện của Chính phủ Cách mạng lâm thời CHMNVN (cơ quan này kế thừa Phòng thông tin Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam, mở ra từ năm 1968 tại Paris).
[2] Xem trường hợp những đảng viên đã bị tù ở miền Nam trong thời kì 1954-75, mà trường hợp gay go nhất là trường hợp ông Nguyễn Tài, bị biệt giam 4 năm 4 tháng 10 ngày (1970-75), đã mất 11 năm để “minh oan” (xem Nguyễn Tài: Đối mặt với CIA Mỹ, Nxb Hội nhà văn, 1999, và: Khúc khuỷu đường đời – Mười một năm liên tục đấu tranh để sự thật và lẽ phải được thừa nhận trên mạng   http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=5887&rb=08).
[3] Thật ra đây cũng không phải là “đặc sản” của phong trào cộng sản, mà của nhiều tổ chức quốc tế. Đầu tiên là Giáo hội Công giáo Roma: người Công giáo (bất luận quốc tịch) sinh sống ở nước nào thì thuộc Giáo hội Công giáo nước ấy.  Trong những năm gần đây, việc này làm nảy sinh môt số cuộc xung đột giữa giáo dân Việt Nam với giám mục và linh mục Hoa Kỳ ở các giáo xứ sở tại. Trong lĩnh vực chính trị, truyền thống “đảng bộ từng nước” có từ thời Đệ nhị quốc tế (tức là Quốc tế xã hội): trong 50 đầu thế kỉ XX, Đảng xã hội Pháp mang tên chính thức là S.F.I.O.  (Section Française de l’Internationale Ouvrière / Đảng bộ Pháp của Quốc tế Công nhân).  Khi mới thành lập (cuối năm 1920) Đảng Cộng sản Pháp cũng mang tên tắt là S.F.I.C. (Đảng bộ Pháp của Quốc tế Cộng sản). Đảng bộ Pháp không chấp nhận để cho một đảng “anh em” nào tổ chức đảng bộ của mình ở Pháp. Ngoại lệ duy nhất là tổ chức của Đảng Cộng sản Tây Ban Nha, do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt (sau cuộc nội chiến 1936-1939) và địa lý (nước Pháp là nước lân bang duy nhất mà người Tây Ban Nha cộng hoà, và cộng sản, có thể sang tị nạn). Vì vậy, trong các thập niên từ 40 đến 60, ĐCS Pháp chấp nhận để Đảng Cộng sản Tây Ban Nha hoạt động (bí mật) tại Pháp và kết nạp những người cộng sản Tây Ban Nha trên đất Pháp. Trong nhiều thập niên, Đảng Cộng sản Ý cũng yêu cầu lập đảng bộ ở Pháp (số kiều dân Ý ở Pháp lên tới nửa triệu người) song ĐCS Pháp vẫn kiên quyết từ chối.
[4] Quy tắc này áp dụng cho những người về miền Bắc từ 1954 đến 1958. Từ năm 1958 trở đi (như giải thích ở đoạn dưới của bài), không còn sự “chuyển đảng” nữa. Theo chúng tôi biết, biệt lệ duy nhất là trường hợp ông Nguyễn KhắcViện. Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện gia nhập ĐCS Pháp (và “Nhóm Việt ngữ”) năm 1949 (trước đó, ông có cảm tình với nhóm trốt kít đối lập). Sau khi các ông Phạm Huy Thông, Trần Thanh Xuân bị trục xuất, Nguyễn Khắc Viện trở thành người lãnh đạo chủ chốt của phong trào Việt kiều tại Pháp. Mùa xuân năm 1963, để chuẩn bị những “con bài” của mình ở miền Nam Việt Nam trong viễn tượng một thay đổi chính trị, chính phủ Pháp trục xuất Nguyễn Khắc Viện. Về nước, ông được đặc cách “chuyển đảng” và được tính tuổi đảng từ 1949. Đáng chú ý là thời điểm 1949: một năm sau khi ông Trần Ngọc Danh “tự ý” đóng cửa cơ quan Tổng đại diện VNDCCH tại Paris để đi Praha (xem Hoàng Văn Hoan: Giọt nước trong biển cả). Em trai của tổng bí thư Trần Phú, được đào tạo ở Moskva, uỷ viên dự khuyết trung ương, trong thời gian 1946-48 tại Pháp, ông Danh đã thẳng tay đàn áp những phần tử trốt kít lãnh đạo phong trào Việt kiều tại Pháp. Tại Praha, ông đã ít nhất hai lần gửi báo cáo cho “Phòng thông tin quốc tế”, tức là cho J. Stalin (năm 1948 và năm 1950), tố cáo “những sai lầm tai hại” của “đường lối Hồ Chí Minh” (xem Sophie Quinn-Judge: Ho Chi Minh, The Missing Years, University of California Press, 2003).
Cũng cần nêu lên trường hợp một đảng viên ở Pháp nữa là nữ bác sĩ Dương Quỳnh Hoa. Bà đã về Sài Gòn năm 1954 (sau năm 1960 đã bí mật tham gia Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, năm 1968 rời Sài Gòn ra vùng giải phóng để thành lập Liên minh các Lực lượng Dân tộc Dân chủ và Hoà bình Việt Nam). Trong thời gian học y khoa ở Pháp, Dương Quỳnh Hoa đương nhiên ở trong Nhóm Việt ngữ.
[5] Về quan hệ “tế nhị” giữa hai đảng cộng sản Việt Nam và Pháp (kéo dài ít nhất đến cuối năm 1967), có thể xem Charles Fourniau: Le Vietnam que j’ai vu, Les Indes Savantes, 2003.
[6] Việc “chuyển giao” này được thực hiện nhân chuyến đi thăm Hà Nội của Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Pháp mà trưởng đoàn là uỷ viên Bộ chính trị Jeannette Vermeersch (vợ của tổng bí thư Maurice Thorez). Lẽ ra nó có thể trở thành một “biệt lệ” thứ nhì, sau biệt lệ Tây Ban Nha, nhưng không thành, do chủ trưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam.
[7] Ông Nguyễn Ngọc Hà (bí thư NhómViệt ngữ trong thời gian 1963-1976) trong nhiều năm đã tuyên bố được ĐCSVN gửi sang Pháp để tổ chức phong trào và nhóm. Đầu tháng 5-2005, trả lời một cuộc phỏng vấn của mạng Người viễn xứ, ông khẳng định: “Tháng 7.1948, tôi được tổ chức Đảng đưa sang Pháp với hai nhiệm vụ: vận động các trí thức tương lai để góp phần xây dựng đất nước và vận động người lao động Việt Nam ở các nước góp phần cho công cuộc kháng chiến giành độc lập cho Tổ quốc.” (Xem

http://www.nguoivienxu.vietnamnet.vn/nguoivietbonphuong/2005/05/420021/). Nhưng một năm trước đó, cũng nhà báo ấy (Nguyệt Quế) lại viết khác: “Tháng 05.1948, Ngọc Hà lại bị Pháp bắt và gia đình một lần nữa tiếp tục lo lót để anh được trả tự do. Được tổ chức Đảng đồng ý, gia đình đưa chàng thanh niên trẻ tuổi đầy nhiệt huyết sang Pháp du học.” (Xem http://www.nguoivienxu.vietnamnet.vn/nguoivietbonphuong/2004/05/107904/ )
Thoại thứ nhì là trường hợp khá phổ biến mỗi lần phong trào “nội thành” ở Sài Gòn hay Hà Nội bị đàn áp, tổ chức bị phá vỡ. Nó cũng phù hợp hơn với những gì người ta biết về chủ trương của ĐCSVN (không gửi đảng viên ra “tổ chức” ở nước  ngoài).
Cuối cùng, mở đầu bài viết đề ngày 9.1.2006, mang đầu đề “Vài suy nghĩ về công tác kiều bào ở Pháp từ năm 1948 đến nay” trong cuốn sách 968 trang Kiều bào và Quê hương (Nhà xuất bản Trẻ & Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài / TP. Hồ Chí Minh, 2006), chính ông Nguyễn Ngọc Hà đã xác nhận là ông sang Pháp (tháng 7/1948) là do “được sự đồng ý của tổ chức và gia đinh” (sđd, tr. 280).
Bài viết này coi như đã kết liễu huyền thoại “Đảng cử người sang Pháp tổ chức” cũng như “tổ chức đảng tại Pháp”.
Nhân đây cũng xin mở ngoặc để kể lại lời khẳng định của ông Trần Bạch Đằng, thành uỷ viên Sài Gòn – Chợ Lớn trong thời Kháng chiến lần thứ nhất: người duy nhất được ĐCS cử sang Pháp là ông Võ Gia Phục Quốc với nhiệm vụ thi hành bản án tử hình của Toà án Nam Bộ đối với Văn Tân vì tội đào nhiệm và biển thủ quỹ kháng chiến (chứng từ của anh P., một Việt kiều đã về nước công tác từ đầu thập niên 1970, ghi lại tháng 11.2001). Sau khi chịu án tù, ông Võ Gia Phục Quốc định cư ở Pháp và trong nhiều năm lãnh đạo phong trào Việt kiều ở Marseille (miền Nam nước Pháp).
[8] Ngoại trừ một vài biệt lệ đếm trên một bàn tay, những người trong “nhóm Việt ngữ” về nước chẳng mấy ai được kết nạp vào ĐCSVN, kể cả người do trình độ chuyên môn được cử vào chức vụ cao, và do yêu cầu chính trị, được đề cử vào quốc hội. Điều này trái ngược hẳn với quyết định của Bộ Chính trị ĐCSVN, do ông Lê Đức Thọ phổ biến năm 1973 cho Ban cán sự và Ban thường vụ nhóm Việt ngữ: “Nhóm Việt ngữ là nhóm những người cảm tình của Đảng Lao động Việt Nam; sau này khi về nước, nhóm viên được xét chuyển thành đảng viên Đảng Lao động Việt Nam hoặc được ưu tiên kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam” (xem Võ Văn Sung, sđd)
[9] Ông Nguyễn Văn Lũy. Trong thời đại chiến lần thứ nhì, thuỷ thủ Nguyễn Văn Lũy đi lại ở Địa Trung Hải và nhận làm tình báo cho đồng minh (O.S.S.).  Sau đó, ông được nhập tịch Mỹ nên có thể đi lại dễ dàng giữa Hoa Kỳ và Pháp.  Quan hệ của ông với những sinh viên đi từ miền Nam sang Mỹ từ cuối thập niên 1960 do đó không đơn giản. Và trong tình hình hiện nay, rất khó tìm hiểu một cách chính xác quan hệ của một phong trào tự phát và tự tại như phong trào tại Mỹ với bộ máy chỉ đạo của ĐCSVN thông qua một cá nhân (điều gì là “chủ trương”? điều gì là diễn dịch tuỳ tiện và võ đoán của một cá nhân mà trình độ và nhiệt tình chênh lệch nhau một cách đáng kể?). Khi nói về những “nhóm tâm giao, nhóm phụ trách, nhóm nòng cốt” ở các nước ngoài Pháp, ông Võ Văn Sung nói một cách “mập mờ nghệ thuật” là “ban cán sự cũng đã chủ trương lập các nhóm gọi là những nhóm nòng cốt” (tr.36). “Đã chủ trương lập ra”, song đã “lập” ra chưa? Trong trường hợp phong trào ở Hoa Kỳ, ta cần căn cứ vào những dữ kiện sau đây:
-    Mãi đến năm 1995, quan hệ Việt-Mỹ  mới được bình thường hoá nghĩa là khi “phong trào” (theo nghĩa một tập hợp có tổ chức, có hoạt động chính trị với mục tiêu hiển minh) đã từ nhiều năm không còn tồn tại (ở Mỹ cũng như ở các nước phương Tây khác).
-    Cho đến cuối thập niên 90, Việt Nam và Hoa Kỳ mới mở sứ quán. Trong suốt 15 năm trước đó (từ 1977), Việt Nam chỉ có phái đoàn đại diện ở trụ sở Liên Hiệp Quốc đặt tại New York, các nhà ngoại giao Việt Nam chỉ có quyền di chuyển trong vòng bán kính 25 dặm chung quanh bán đảo Manhattan. Khỏi cần nói họ bị theo dõi chặt chẽ. Bản thân họ tin rằng họ bị nghe lén 24g trên 24g bằng những phương tiện hiện đại nhất và nhiều người bị bệnh nặng, kể cả bà Diệu Hương, vợ đại sứ Hà Văn Lâu (xem Trần Công Tấn: Hà Văn Lâu người đi từ bến Làng Sình, nxb Phụ Nữ, 2004, tr 573-576).
-    Người tiền nhiệm của đại sứ Hà Văn Lâu ở New York (1978-1982) là đại sứ Đinh Bá Thi (Việt Nam gia nhập LHQ vào tháng 9-1977). Đầu năm 1978, Mỹ liên minh với Bắc Kinh, viện cớ “vụ gián điệp Trương Đình Hùng” để trục xuất ông Đinh Bá Thi.
-    Khác với tình hình ở Canada và các nước Tây Âu, hội Việt kiều ở Hoa Kỳ trải qua “khủng hoảng” rất sớm, chủ yếu là do hội viên không tin vào sự lãnh đạo của một cá nhân tự nhận là người truyền đạt “quyết định của Đảng và Chính phủ”. Vì vậy, và do truyền thống độc lập hành động ở mỗi vùng (do kích thước địa lí của nước Mỹ), nên sự “lãnh đạo của trung ương”, và sự “lãnh đạo từ xa” của ĐCSVN thông qua bộ máy trung ương của hội (giả định là có chăng nữa) đã nhanh chóng bị vô hiệu hoá. Khi cuộc khủng hoảng nổ ra ở Canada, Đức, Bỉ, Pháp (cuối thập niên 80), dẫn tới sự giải thể trên thực tế, thì tại Mỹ, nó đã thuộc về quá khứ. Những hoạt động rất đa dạng, thực tế và hiệu quả vẫn tiếp tục, nhờ thoát khỏi vòng kiềm toả của mọi ràng buộc có tính chất bộ máy.
Từ những dữ kiện kể trên, và căn cứ vào một số cuộc phỏng vấn trực tiếp tiến hành trong thời gian gần đây, tôi cho rằng ở Hoa Kỳ, chưa hề có một “nhóm nòng cốt” thành lập dưới sự chỉ đạo của Ban cán sự tại Pháp và hoạt động dưới sự lãnh đạo nhất định của ĐCSVN. Tuy nhiên, tôi không loại trừ khả năng một cá nhân “báo cáo” là “đã thành lập nhóm nòng cốt”. Mong rằng một ngày kia, các nhà nghiên cứu sẽ có thể tham khảo hồ sơ lưu trữ của ĐCSVN và Công an để biết bộ máy ĐCS tin hay không vào lời “báo cáo”, và nếu tin, thì tin tới mức nào.
[10] “Tâm thư gửi các vị lãnh đạo Việt Nam cùng đồng bào trong và ngoài nước về việc cải tổ hệ thống chính trị” kêu gọi “các nhà lãnh đạo hiện nay của Việt Nam vốn đã có công lớn trong cuộc đấu tranh giành độc lập và thống nhất đất nước” hãy “vì quyền lợi tối cao của dân tộc, sớm cải tổ hệ thống chính trị” trong tinh thần “dân chủ đa nguyên, thực sự bảo đảm an toàn cá nhân và các quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội, lập đảng… “. Lá thư này được công bố ngày 22 tháng 1.1990 với chữ ký của 34 Việt kiều đã tham gia phong trào chống Mỹ cứu nước ở Tây Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản và Úc. Trong vòng 3 tháng, nó đã được sự hưởng ứng của hơn 700 người trong “phong trào Việt kiều”. Thay vì bình tĩnh tìm hiểu và đối thoại với những người đã từng góp phần vào cuộc đấu tranh chung, nhà cầm quyền đã phản ứng bằng những biện pháp trấn áp, hù doạ những người kí tên, chia rẽ hàng ngũ các hội đoàn, cô lập những người mà họ cho là “chủ mưu” (đưa tên họ vào danh sách đen ở “Viện bảo tàng tội ác Mỹ-nguỵ” trong hơn 10 năm trời!). Chủ trương này cho thấy sự lo sợ và mất phương hướng của giới lãnh đạo ĐCSVN trong những năm 1990-1991, khi khối xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, một bộ phận muốn bám chặt vào Trung Quốc (xem hồi kí của ông Trần Quang Cơ: http://zdfree.free.fr/diendan/dossiers/HoikyTQC.html). Nó cũng là hồi chuông báo tử cho các hội đoàn “thân chính quyền”.
[11] Xem H.L.T.: “Vài nét về Phong trào yêu nước tại Nhật Bản (từ 1960-1975)”, trong Kiều bào và Quê hương, đã dẫn, tr. 542-550; phỏng vấn anh Huỳnh Mùi, Hà Nội tháng 8-2005.
[12] Đồng thời, một số người đã được gửi về Sài Gòn (từ 1972 đến đầu 1975), chủ yếu để chuẩn bị khả năng có giải pháp “chính phủ liên hiệp” ở miền Nam. Trong số những anh chị em này, có thể kể Tôn Nữ Thị Ninh (về Sài Gòn dạy tại Trường cao đẳng sư phạm, sau 1975 làm việc ở Bộ ngoại giao, đại sứ Việt Nam tại Bỉ và Liên hiệp Châu Âu, hiện nay là đại biểu quốc hội, phó chủ nhiệm Uỷ ban đối ngoại Quốc hội).
[13] Huyền thoại về một “tổ chức Đảng” ở Pháp và các nước không chỉ tồn tại trong não trạng của những người chống hay không ưa cộng sản, mà có cả trong nội bộ các phong trào. Tình trạng này có thể giải thích bằng nhiều nguyên nhân: sự suy luận của các hội viên, ứng xử “nửa kín nửa hở” của chính những người mà hội viên nghĩ là “đảng viên”. Thậm chí, ở Canada, cuối thập niên 60, một Việt kiều ở Pháp qua, đã tự nhận là “phái viên” của “phong trào Việt kiều tại Pháp” và đã “hùng cứ” một thời gian. Tất nhiên, anh ta không hề do ai “phái” qua Canada cả. Cũng không phải là thành viên của “phong trào”, tuy có tham gia hội ái hữu thể thao. Tác phong “sứ quân” và cực quyền của anh cuối cùng đã giúp anh chị em ở Canada nhận ra thực chất “vấn đề”, nhưng sự việc anh ta đã tác động trên một số người trong một thời gian chứng tỏ nhiệt tâm và ước muốn của anh em, sau một quá trình tự tìm đường.
[14] Trong thập niên 1960, tất nhiên ở bên ngoài (Việt kiều cũng như CIA) hoàn toàn không biết gì về bầu không khí mao-ít ở miền Bắc và trong nội bộ Đảng Cộng sản, cũng như về cuộc đàn áp mệnh danh “chống xét lại” nhằm đánh đổ những phần tử chống chủ nghĩa Mao trong đảng. Cuộc thảo luận “học tập nghị quyết 9 (tháng 12-1963)” trong Nhóm Việt ngữ chủ yếu xoáy quanh phương thức đấu tranh “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”. Theo trí nhớ của người viết bài (có phối kiểm với hai người khác) thì trong thời kì 1963-64 này, chỉ có một người rút ra khỏi Nhóm Việt ngữ. Anh ngừng mọi sinh hoạt chính trị, song cho đến ngày mất, vẫn tích cực hoạt động thiện nguyện trong tổ chức S.P.F. (Secours Populaire Français). Tại các nước khác, các “nhóm cảm tình” hình thành sau năm 1970, do đó không chịu tác động nào của cuộc xung đột Xô-Trung (lúc đó đã rõ ràng không phải là một xung đột tư tưởng mà thực chất là xung đột quốc gia). Tại Canada, cuối năm 1972 có xảy ra một cuộc xung đột về đường lối trong nội bộ phong trào. Những từ ngữ “xét lại” và “Mác-Lê” được tung ra, nhưng không liên quan gì tới xung đột Xô-Trung. Sau cuộc hoà giải (mùa hè 1973), “nhóm cảm tình” mới được thành lập.
[15] Về vai trò thực chất hiện nay của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam chỉ cần nghe bà Cù Thị Hậu, Anh hùng Lao động, Chủ tịch TLĐ, uỷ viên trung ương ĐCSVN, nói về cuộc đình công cuối năm 2005, đầu năm 2006: “(…) chủ tịch công đoàn cơ sở dưới quyền ông chủ, cũng là làm thuê, ăn lương của ông chủ. Bây giờ đứng ra lãnh đạo đình công thì tất nhiên họ sẽ bị chủ sa thải, mất việc làm. Trong trường hợp đó, ai đứng ra bảo vệ họ? Mặt khác, ở cơ sở có Đảng bộ, công đoàn lãnh đạo công nhân đình công thì phải xin ý kiến của Đảng. Đảng liệu có đồng ý? Với ràng buộc như thế, công đoàn không thể lãnh đạo đình công đúng luật” (xem
http://vnexpress.net/Vietnam/Xa-hoi/2006/01/3B9E5CFE/).

http://www.doi-thoai.com/baimoi0308_153.html

http://www.doi-thoai.com/baimoi0308_152.html  Sử dụng trí thức  … ?

——
Nhận xét:
Quý vị nào có kinh nghiệm kính xin đóng góp ý kiến về bài này để soi sáng tuổi trẻ, nhất là phần tô màu.

January 31, 2008

Mặt trận văn hóa và những thủ tiêu ám sát trí thức miền Nam

Filed under: Lịch sử, MTGPMN, CPCMLT MNVN, Nhân vật — tudo @ 1:36 pm
 Mặt trận văn hóa và những thủ tiêu ám sát trí thức miền Nam (I)
Từ mặt trận văn hóa đến những việc thủ tiêu ám sát trí thức miền Nam của Cộng sản
Mới hôm nào, tay cắp sách…
Sáng mai này trên phố xá
Tay bom xăng, tay cầm gạch đá
Những bước chân rộn rã
Em kiêu hùng trên phố thị miền Nam…

Tôi còn nhớ những năm tháng ấy của miền Nam Việt Nam. Thân yêu mà cũng buồn, bực dọc, bất mãn, chán nản, tuyệt vọng. Những năm tháng Sài Gòn giành giật giữa quốc gia và cộng sản. Bằng đủ mọi âm mưu và thủ đoạn giữa tiếng ồn ào của hoan hô, đả đảo với khói lựu đạn cay. Chúng tôi sống một thời kỳ điên đảo bị giật giây bởi người cộng sản bằng một sự ngây thơ không tưởng, bằng những dằn vặt, dằng co giữa khát khao tự do, dân chủ, công bằng của chúng tôi.Và hơn hết tất cả là khát vọng hoà bình mong chiến tranh chóng chấm dứt.

Chúng tôi sống mất ngủ vì những khát vọng không đạt được mà thực tế trước mắt là chiến tranh, chém giết. Chúng tôi mong ước những trận mưa rào dập tắt khói lửa, nguôi ngoai hận thù. Nhưng thực tế mỗi ngày là những sự lừa phỉnh, dối gạt bằng đủ loại thuốc ngủ có tên phản chiến, nhạc phản chiến, văn chương phản chiến.
Trong khi đó thì người cộng sản với đủ loại “căn cứ lõm” trong thành phố giành giựt tim óc, tâm tư của tuổi trẻ thành phố. Và nếu không giành giựt được thì họ không ngần ngại thanh toán, ám sát giết hại.
Nhưng mỗi khi có một vụ ám sát giết người như vụ ám sát giáo sư Nguyễn Văn Bông, ám sát sinh viên Lê Khắc Sinh Nhật hay nhà báo Từ Chung, nhà báo Chu Tử thì vô số loại tin đồn được tung ra. Người ta đổ cho Mỹ sát hại cũng có, nhất là đổ cho chính quyền miền Nam Việt Nam Cộng Hòa. Đó là những dư luận dễ dãi nhất và vô căn cứ nhất. Nhưng nhiều người vẫn tin. Và chính quyền miền Nam thì không có cách gì để cải chính những tin đồn kiểu đó.
Nay thì đã có câu trả lời rõ ràng ai là thủ phạm những vụ ám sát đó.
Không ai khác là cộng sản.
Đó là Đoàn công tác của thành đoàn thanh niên sinh viên, học sinh Sài gòn, Chợ Lớn. Họ chiụ trách nhiệm về những việc ám sát ấy. Họ là những ai? Trụ sở của họ ở đâu? Nay họ làm gì?
Trong khi đó, tổ chức hệ thống mật vụ Việt Nam thời đệ nhị cộng hòa tỏ ra thiếu hữu hiệu như thể bó tay. Tất cả những vụ đốt xe Mỹ, tất cả những vụ đưa người thâm nhập cơ sở, tất cả những vụ phá rối trật tự, phá hoại an ninh, những vụ ám sát các viên chức miền Nam, nhất là các trí thức miền Nam thường không tìm ra dấu vết thủ phạm. Cộng Sản trà trộn khắp nơi, len lỏi vào trong nhiều tổ chức tôn giáo, nhất là Phật giáo. Các tổ chức này như tấm bình phong che chắn cho CS. Có nhiều tấm bình phong như thế có tên là giới sinh viên, giới trí thức, giới Phật tử và giới báo chí. Chẳng hạn, biểu tình là do sinh viên chống chính phủ. Nhưng ai thấy được CS ở đằng sau?
Cái đằng sau mới là quan trọng. Không phải chính quyền cứ đàn áp sinh viên, bắt bớ, giải tán bằng lựu đạn cay, rào kẽm gai là xong, là lấy lại được an ninh trật tự. Nhiều khi chỉ tạo ra những phản ứng ngược chiều, rất bất lợi. Những thành phần sinh viên thầm lặng vô tình bị đẩy cũng đứng vế phía sinh viên xuống đường.
Vấn đề là bắt cho bằng được những kẻ đầu não. Nào có khó khăn gì ? Họ là những Huỳnh Tấn Mẫm, Vũ Hạnh, Dương Văn Đầy. Họ đi khơi khơi ngoài đường. Họ biểu tình, họp báo, viết báo như chỗ không người. Hãy nãy nhốt họ lại. Đủ bằng cớ. Đưa họ đi Côn sơn. Cách ly bọn họ, triệt tiêu tận gốc. Chúng ta đã không làm, bắt rồi thả do áp lực sinh viên, trí thức báo giới, nhà văn.
Có lẽ, tất cả chỉ vì cái khí thế chống Cộng thời đệ nhất cộng hòa không còn nữa? Còn đâu những lời hiệu triệu của TT Ngô Đình Diệm những năm đầu thể chế đệ nhất cộng hòa: Quốc dân đồng bào, ai áp bức bóc lột và chà đạp con người Việt Nam? Thực dân, phong kliến và cộng sản. Vì vậy mà chính phủ chủ trương kháng đế, bài phong, diệt Cộng… Hỡi binh sĩ và cán bộ Quốc gia.
Chúng ta tố Cộng là để tranh thủ được lòng dân. Thông điệp đầu năm Ngô Đình Diệm, 1959.
Cảnh sát thời ông Tổng Giám Đốc cảnh sát Trang Sĩ Tấn dẹp biểu tình cũng không xong. Càng tăng cường kiểm soát an ninh, giữ gìn trật tự bằng lựu đạn cay, bằng hàng rào kẽm gai, dùi cui của Cảnh sát dã chiến. Càng gây thêm sự phẫn nộ trong dân chúng. Dư luận cũng như đông đảo quần chúng mất tin tưởng vào chính quyền.
Khi có phong trào thanh niên đốt xe Mỹ, ông Trang Sỹ Tấn đã đưa ra những lời đe dọa vu vơ như sau trong một buổi họp báo ngày 16 tháng chín, 1972: “Những kẻ nào bị bắt quả tang đang phá hoại quân cụ, kể cả những xe cộ, sẽ bị kết án tử hình”.
Ai cũng biết đó là những lời đe dọa vu vơ.
Án tử hình đâu chưa thấy, chỉ thấy thành phố Sài Gòn rơi vào tình trạng xáo trộn liên tục.
Hình ảnh Sài Gòn với rất nhiều xáo trộn chính trị đủ loại là hình ảnh một cuộc chiến tranh đặc biệt, lạ lùng mà kỳ cục. Có lựu đạn cay ngoài đường, có những bộ áo rằn ri. Nhưng cũng có những tà áo nữ sinh, cầm túi chanh, te tác trên đường phố. Có tiếng hát, tiếng hò của đám sinh viên, học sinh vào một buổi tối, tại chùa Ấn Quang. Ở đấy, hẳn không thiếu những tiếng cười. Không thiếu niềm tự hào và hăng say. Trong khi đó, nhìn xuống lề đường, ở mỗi gốc cây đều có bóng lính. Xe nhà binh, xe cảnh sát chạy rần rần, pha đèn mở sáng.
Người ta chỉ thấy một hậu phương rối loạn. Lính tráng ngoài mặt trận làm sao yên tâm cầm súng chiến đấu chống kẻ thù?
Bộ mặt thành phố Sài gòn lộ diện ra khi tôi lần dở lại tờ báo Sóng Thần ra ngày 31 tháng 10 với những hàng tít lớn trên báo: 31/10 Ngày dài vô tận. Ngày dài vô tận là ngày tranh đấu, xuống đường, khí thế bừng bừng như một cuộc tranh đấu nội thù. Ở phần đầu tờ báo Sóng Thần có đăng tâm thư của LM Thanh Lãng viết cho tờ báo Sóng Thần: Đập các anh là đập tất cả chúng tôi. Ai đập ai giữa những người Quốc gia? Bên cạnh đó là các tên tuổi lớn hỗ trợ tờ báo Sóng Thần như Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Hiến Lê, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Lam Giang, Lê Ngộ Châu. Và các nghệ sĩ như Năm Châu, Bích Thuận, Kim Chung, Khánh Ly lên tiếng để chịu chung bản án với Sóng Thần. Rồi 32 nhà văn, nhà thơ tên tuổi ký tên chung tuyên bố: Phản đối đàn áp báo chí, truy tố Sóng Thần. Cạnh đó hình ảnh diễn hành của một số luật sư ra tòa biện hộ như các luật sư Bùi Tường Chiểu, Hồ Tri Châu, Lý Văn Hiệp, Trần Ngọc Liễng, Nguyễn Lâm Sanh tại một ngã tư . Ở một góc phòng với bị can Trùng Dương, chủ nhiệm báo Sóng Thần, vây quanh có các luật sư Đỗ Văn Võ, Đặng Thị Tám, Nguyễn Văn Tấn, Nguyễn Tường Bá. Cũng cạnh đó, bà luật sư Nguyễn Phước Đại thay vì cầm tập hồ sơ biện hộ thì lại đang cắt chanh phòng hờ bị lựu đạn cay.
Và biết đâu ở một góc đường, một anh thợ vá xe đang ghi nhận tất cả những hoạt cảnh đó báo về “Trung ương” của anh. Đó là những hình ảnh hai mặt của cuộc chiến trong thành phố, giữa lòng thủ đô Sài gòn của miền Nam.
Không ai ngày nay nghĩ rằng những cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ đó là sai, nhưng điều chắc chắn là đã vẽ đường cho hươu chạy và hơn hết mọi chuyện là gián tiếp bị CS lợi dụng.
Tôi có liên lạc với nhà văn Trùng Dương, chủ nhiệm báo Sóng Thần. Chỉ khẳng định và xác nhận lại cuộc tranh đấu của báo chí qua vụ báo Sóng Thần là đúng, không làm khác được.
Chắc là như vậy.
Nhưng bên cạnh sinh hoạt đấu tranh có vẻ dân chủ đó có một thứ đấu tranh một mất một còn giữa Cộng Sản và chính quyền miền Nam thông qua những thanh niên, sinh viên, học sinh. Chính những sinh viên, học sinh này đang đấu tranh, đang hô hào phản đối chính quyền đã góp phần làm tiêu hao lực lượng cũng như tinh thần của miền Nam Việt nam.
Đó mới là bộ mặt thực của cuộc chiến tranh này. Bộ mặt được dẫn dắt và chỉ đạo từ đảng Cộng Sản miền Bắc Việt Nam.
Có một cuộc chiến tranh ngoài Sài Gòn bằng bom, bằng đạn, bằng trực thăng, bằng đại bác 105 ly, bằng hầm chông, bằng xe tăng. Bằng xác người phơi thây bên bờ kinh, bờ rạch. Bằng đô la và xác người.
Nhưng cũng có một cuộc chiến tranh thứ hai ngay giữa lòng Sài Gòn bằng biểu tình, tuyệt thực, xuống đường, bằng hô hào, đả đảo, bằng lựu đạn cay, bằng hàng rào kẽm gai.
Cuộc chiến tranh cân não này ít được ai nói tới, vì không mấy khi có người chết. Mà chỉ có nước mắt của lựu đạn cay. Nhưng nó cũng đủ làm lung lay bất cứ chế độ nào. Nó sói mòn tin tưởng, nó làm lung lay ý chí. Bởi vì bản chất của nó là một cuộc chiến tranh cân não làm hao mòn ý chí phấn đấu, làm suy sụp tinh thần kẻ địch. Biên giới cuộc chiến tranh này không rõ rệt, trộn lẫn ta và địch, địch cũng là ta.
Cuộc chiến tranh trên đường phố Sài gòn diễn ra ở hai mặt: Mặt nổi là những cuộc biểu dương lực lượng của giới sinh viên học sinh như biểu tình, xuống đường, đòi cái này, cái nọ, đòi thả người này người kia, ngay cả đòi thả những cán bộ cộng sản như Vũ Hạnh, sinh viên Huỳnh Tấn Mẫm, Dương Văn Đầy. Lý Chánh Trung trong bài viết: Rồi Hoà Bình sẽ đến ghi như sau:
Tôi đã đến đây tham dự buổi tuyệt thực của 20 giáo chức Đại, Trung và Tiểu hoc tại tòa Viện trưởng Viện Đại học Sài gòn, để yêu cầu nhà cầm quyền trả lại tự do cho các sinh viên, trong đó có anh Huỳnh Tấn Mẫm đã bị giam giữ trái phép đúng một tháng qua và đang tuyệt thực, tuyệt ẩm trong khám Chí Hòa. Trong lúc mấy em hát, tôi cảm động không dám nhìn lên, chỉ nhìn xuống…
(trích trong Một thời bom đạn, một thời Hòa Bình, Lý Chánh Trung, trang 62).
Thế nào là trái phép? Bắt giam một cán bộ CS nằm vùng là trái phép? Không ai đặt ra câu hỏi đó cả.
Bên cạnh Lý Chánh Trung còn có một số phụ nữ Đòi quyền sống, còn có các ông Nguyễn Long, Trần Ngọc Liễng, Nguyễn Văn Cước, các Thượng tọa Mãn Giác, Nhật Thường.
Thêm vào đám đông đòi đó, còn có một Thích Nhất Hạnh vu cáo về một cuộc tàn sát chỉ có trong tưởng tượng của ông ấy:
Làng tôi hôm qua vì có 6 người Cộng sản về
Nên đã bị dội bom hoàn toàn tan nát
Cả làng tôi hoàn toàn chết sạch
Lũy tre ngơ ngác
Miếu thờ ngã gục
(Thơ Thích Nhất Hạnh )
Đáng nhẽ ông ấy phải viết rõ như thế này: Chỉ còn sống có mình tôi, để viết những điều vu cáo này. Có thật như thế không? Ngôn ngữ của sự gian dối? Một nhà sư nói gian dối thì phải gọi ông ta là gì?
Và để tường thưởng cho vị thiền sư, cộng sản đã có những lời lẽ trân trọng như sau:
“Người Sài gòn, tuổi trẻ Sài Gòn biết ơn những bậc tu hành chân chính đã quên mình vì nghĩa lớn, những phật tử hy sinh trong bão lửa đấu tranh làm suy yếu kẻ thù, làm rối loạn hậu phương của chúng, tạo điều kiện thuận lợi cho Sài Gòn, tuổi trẻ Sài Gòn bung ra ào ạt giành một thế đứng công khai phất cao cờ cách mạng sau bao nhiêu năm xúc tích lực lượng chuẩn bị thời cơ”.
Đó là những lời lẽ trân trọng mà người cộng sản đã dành cho Thích Nhất Hạnh. (trích Trui rèn trong lửa đỏ, trang 349).
Phần Trần Bạch Đằng, chúng ta cần đọc mấy dòng thư này của ông ta để chúng ta nhận ra Huỳnh Tấn Mẫm là ai? Ông Trần Bạch Đằng còn giữ lại một mảnh giấy gửi cho ông ta của sinh viên Huỳnh Tấn Mẫm ghi lại như sau: Xin đoàn thể yên tâm, quyết làm tròn nhiệm vụ. L71. L.71 là mật hiệu của Huỳnh Tấn Mẫm. Mẫm viết thư này tại nhà Quốc khách, nơi được dành làm trụ sở Tổng hội sinh viên. Trớ trêu thay, trụ sở này do ông Nguyễn Cao Kỳ dành cho Tổng Hội sinh viên của Huỳnh Tấn Mẫm chỉ vì mâu thuẫn, muốn chơi ông Thiệu.
Mời đọc thêm đoạn hồi ký bị cấm xuất bản ở trong nước của cựu dân biểu đối lập Hồ Ngọc Nhuận để nắm cho rõ câu truyện này. Ông Hồ Ngọc Nhuận viết như sau về vụ này:
Nguyễn Cao Kỳ “xớt” Huỳnh Tấn Mẫm. Đó là nhan đề bài viết. Huỳnh Tấn Mẫm một lần nữa bị bao vây, truy bắt. Trung tâm sinh viên Phật tử một lần nữa dậy sóng. Một chiếc jeep nhà binh, ngay sau khi tôi “điệu” hết cảnh sát về Tân Sơn Nhứt, chúng tôi đã ập vào trung tâm Quảng Đức, bốc Huỳnh Tấn Mẫm chạy thẳng về dinh Quốc khách ở góc đường Công Lý và Hiền Vương, nay là Trung tâm văn hoá thiếu nhi, góc đường Nam Kỳ khởi nghĩa-Võ Thị Sáu. Chiếc jeep ập vào bốc Mẫm là của Phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ và dinh quốc khách lúc bấy giờ cũng thuộc quyền Phó tổng thống.”
Dinh Quốc khách, trung tâm Quảng Đức. Chùa Phổ Hiền. Ấn Quang. Những mái chùa. Tất cả những nơi ấy đã góp chung bàn tay che chở bọn người cộng sản nằm vùng để làm sụp đổ miền Nam Việt Nam.
Và Hồ Ngọc Nhuận đắc thắng viết tiếp:
Tiếp tay cho cộng sản, như vậy, không chỉ có mình tôi. Và lần này vai chánh không là tôi, mà là tướng Nguyễn Cao Kỳ.
(trích hồi ký Đời, bản thảo, Hồ Ngọc Nhuận, trang 142).
Cái đất nước mình nó như thế đấy. cái lãnh đạo mình nó như thế đấy.
Và sau đây là danh sách 16 sinh viên bị chính quyền Việt Nam Cộng Hoà bắt. Bắt đúng người, bắt đúng những kẻ đã tiếp tay với Cộng sản. Nhưng vẫn bị sinh viên biểu tình đòi tha họ. Sau này cho thấy họ đều là những cán bộ CS trà trộn vào sinh viên như: Huỳnh Tấn Mẫm, Dương Văn Đầy, Lê Thành Yến, Phùng Hữu Trân, Trần Khiêm, Đỗ Hữu Ứng, Lê Anh, Võ Ba, Đỗ Hữu Bút, Hồ Nghĩa, Cao Thị Quế Hương, Trương Hồng Liên, Truơng Thị Kim Liên, Võ Thị Tố Nga.
Chưa kể vụ án thành đoàn giải phóng gồm 21 người, trong đó có một số lãnh đạo Thành Đoàn như Ba vạn, tức Phan Chánh Tâm, Năm Nghị, tức Phạm Chánh Trực. Sau 1975, họ đều là những cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở thành phố Hồ Chí Minh.
Và danh sách những nhà văn, nhà trí thức đòi thả bọn sinh viên cộng sản hãy còn đây. Quốc gia chống Cộng mà lại có chính nhà văn, nhà trí thức người quốc gia biểu tình, đòi thả bằng được những sinh viên cộng sản nằm vùng? Nhiều tờ báo cách này cách khác trở thành phương tiện cho cộng sản lợi dụng.
Bên cạnh đó, về mặt chìm là những toán đặc công cộng sản do thành đoàn tổ chức gài bom phá hoại các công sở, các xe nhà binh Mỹ, các doanh trại Mỹ và cuối cùng là giết hại, ám toán người quốc gia đã không theo họ. Nữ tướng đốt xe Mỹ thời 1960-1970 là Võ Thị Bạch Tuyết lúc đó nay trở thành giám đốc nông trường Đỗ Hoà ở Duyên Hải.
Sau đây, tôi xin dần dần viết lại với đầy đủ tên tuổi bọn họ.
© DCVOnline
http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=4582
——————————————————————————–
(Kết)
Nguyễn Văn LụcTừ mặt trận văn hóa đến những việc thủ tiêu ám sát trí thức miền Nam của Cộng sản
1966: Mặt trận văn hóa vận qua báo chí
Nguyễn Hữu Ba, cộng tác viên tờ Tin Văn; giáo sư âm nhạc trung học Petrus Trương Vĩnh Ký
Nguồn: vietnamnet.vn

Đầu xuân 1966, Đảng ủy văn hóa khu Sài gòn Gia Định giao cho Vũ Hạnh, một nhà văn nằm vùng công tác đặc biệt là mở một mặt trận văn hóa tấn công miền Nam trong vùng đô thị mà họ gọi là “vùng tạm chiếm”. Vũ Hạnh nguỵ trang dưới chiêu bài Bảo vệ Văn hóa, chống lại văn hóa đồi trụy, chống lại văn hóa ngoại lai đầu độc thanh niên miền Nam. Họ tổ chức và xin phép cho ra tờ Tin Văn. Tờ báo trực tiếp được chỉ đạo bởi các cán bộ cộng sản. Đứng đầu là Trần Bạch Đằng. Chủ nhiệm là Nguyễn Mạnh Lương. Và một số nhà văn cộng tác như Lữ Phương, Hồng Cúc, Nguyễn Hữu Ba, Vũ Hạnh. Những nhà văn này còn viết cho tờ Hồn Trẻ với các cây viết như Trần Cảnh Thu, Trần Triệu Luật, Nguyên Hạo, Lê Uyên Nguyên, Tuyết Hữu, Cao Hoài Hà, Thích Quảng Khanh, Anh Vũ, Lê Ngọc Lê, Đinh Khắc Nhu, Lê Việt Nhân…Toà soạn tờ báo được đặt trong một ngôi chùa. Chẳng hạn tờ Hồn Trẻ do Mười Hải, bí thư khu uỷ văn hóa. Tòa soạn đặt ở ngôi chùa số 29, đường Trần Quang Khải.
Một số chùa chiền trở thành cơ sở bí mật cho các hoạt động phá hoại của cộng sản như Ấn Quang, lúc bấy giờ do TT Thích Thiện Hoa chủ trì, trung tâm Quảng Đức, Đại học Vạn Hạnh. Theo tài liệu của Thành đoàn TNSVHS trong cuốn Trui rèn trong lửa đỏ đã viết về Đại học Vạn Hạnh như sau:
Viện đại học Vạn hạnh thành lập năm 1964 là một đại học của Phật giáo.Trường ở đối diện chợ Trương Minh Giảng.Trước năm 1968, tổ chức cách mạng cũng có hoạt động ở đây. Đêm đón tết Mậu thân, tổ chức cách mạng ngay tại trường với một cuộc tập họp táo bạo, sinh động.Tuy nhiên lực lượng ta thời này chưa mạnh. Tháng 10/68, tình hình tổ chức cách mạng ở trường sau thời gian bị đánh phá, coi như trắng. Thành đoàn chỉ đạo đồng chí Sáu Tỉnh, tức Đỗ Quang Tỉnh, nay là cán bộ ban Hợp tác kinh tế của Uỷ ban nhân dân thành phố về xây dựng lại bằng tổ chức Liên đoàn sinh viên Phật tử Vạn Hạnh..Và họ đã kết luận: kể từ tháng 5/1972, một chi bộ chính thức của Vạn Hạnh được thành lập.Và một câu đánh giá quan trọng như sau: Từ những ngày đó, Vạn Hạnh trở thành một pháo đài xuất quân đốt xe Mỹ và chống bầu cử
(trích Trui rèn trong lửa đỏ, trang 96).Còn Ấn Quang được ghi lại như sau:
Những ngọn lửa bùng lên tuyệt đẹp trên đường phố. Các báo gọi những chiến sĩ đốt xe Mỹ là du kích quân sinh viên học sinh. Và chùa Ấn Quang trong những ngày ấy, là một chiến lũy của họ. Những người mẹ, người chị vượt qua những hàng rào cảnh sát, lựu đạn cay, vòi phun nước… đến với những đứa con ngoan của thành phố… “Tụi bay cứ đốt, đốt hết những quân chó đó đi…” Các mẹ, các chị căn dặn, nhắc nhủ với một lòng căm thù như vậy.
(trích Trui rèn trong lửa đỏ, trang 110).Tuy nhiên, dưới mắt người Cộng Sản, họ đã nhìn lại vai trò của
Phật giáo như sau:
Viện hoá đạo, lá cờ đấu tranh vang dội một thời đang ủ rũ và chia rẽ, phân hóa. Kẻ về Vĩnh Nghiêm với lá cờ chống Cộng rách rưới. Kẻ về Vạn hạnh dò dẫm một lối đi. Người về Ấn Quang gần gũi với quần chúng, với thanh niên. Viện hóa đạo còn lại những chiến lưực gia ủng hộ Khánh- Hương đàn áp phong trào, bắn chết học sinh Phật tử Lê Văn Ngọc.
Và kể từ nay: “Ngọn cờ Phật giáo lãnh đạo đấu tranh hạ xuống, ngay từ trong lòng Phật tử, nhường chỗ cho lá cờ cách mạng phất cao lãnh đạo phong trào đấu tranh của Sài gòn, của tuổi trẻ thành phố.”Năm 1964 đã kết thúc như vậy. Tuổi trẻ thành p[hố kết thúc 10 năm sóng gió, để bước vào cuộc chiến đấu mới 10 năm sục sôi kỳ lạ.
(trích Trui rèn trong lửa đỏ, trang 350-351).Tiếp nối một cách vô tình hay bị mua chuộc có thêm các tờ báo sinh viên như Hoa Súng của Dược Khoa, Văn Khoa với Hạ Đình Nguyên. Nhất là tờ Tin Tưởng, tiếng nói của sinh viên Phật tử. Năm 1968, tờ Tin Tưởng do Phạm Phi Long làm chủ nhiệm, Đặng Minh Chi làm thư ký tòa soạn. Sang đến năm 1970, tờ Tin Tưởng sang tay cho Nguyễn Xuân Lập làm chủ nhiệm, Trần Công Sơn chủ bút và Trịnh Thị Xuân Hồng, thư ký tòa soạn. Sự tiếp tay của những tờ báo như Tin Tưởng với nội dung các bài đòi ngưng bắn vỉnh viễn, đòi Mỹ rút quân. Tất cả đều do bàn tay CS chỉ đạo.
Trong khi đó thì phía miền Nam có Chu Tử, đứng mũi chịu sào trực tiếp tố cáo Vũ Hạnh là Cộng Sản trong nhiều số báo liên tiếp kể từ tháng 10/1966 cho đến cuối năm 1966. Cái dở khóc dở cười của văn nghệ sĩ miền Nam là đã nhiều lần hội Văn bút do Lm Thanh Lãng làm chủ tịch đã công khai bênh vực Vũ Hạnh và cứu thoát y nhiều lần khỏi cảnh tù tội.
Cộng sản đã dùng tờ Tin Văn do Nguyễn Ngọc Lương làm chủ nhiệm, nhân danh bảo vệ và phát huy văn hóa dân tộc, bài trừ văn nghệ phản động đồi truỵ. Trong tờ Tin Văn có những bài viết như:
Nhân một quyết định của bộ Văn hóa giáo dục, về việc bài trừ sách báo đồi truỵ. Tin Văn số 3, tháng 6-7/1966. Hiện tượng dâm ô đồi trụy trong Văn Học hiện nay. Tin Văn số 9, 15/10/1966. Đọc tác phẩm của Chu Tử, Lữ Phương, số 10, 30/10/1966.Sau này, trong tài liệu của Thành Đoàn, Vũ Hạnh đã có những nhận xét như sau về tờ Tin Văn:
Tuần báo Tin Văn, với các bài phê bình vạch mặt những tên xung kích chống phá cách mạng qua các tác phẩm đồi trụy, phản động..Phong trào bảo vệ phát huy văn hóa dân tộc, bài trừ văn nghệ phản động, đồi trụy sớm trở thành phong trào quần chúng sôi nổi, sâu rộng ở Sai gòn và các tỉnh miền Nam, khiến bọn tay sai văn nghệ co lại, nguỵ quyền hoang mang và dĩ nhiên chúng tìm mọi cách để phản kích lại .Sự ra đời những hoạt động văn hóa nguy dân tộc bị phong trào vạch mặt, chúng trắng trợn cho tên Chu Tử, tay sai của sở công an và Trung ương tình báo ngụy, bắt đầu một chiến dịch đả kích tôi, tố cáo tôi là việt cộng nằm vùng và liên tiếp trong nhiều số báo như vây, y đã vu khống tôi, cốt làm cho những người đã tham gia phong trào sợ hãi. Lúc nầy, Đảng uỷ văn hóa và thường vụ khu uỷ ở nội thành vẫn hằng ngày theo dõi tôi, động viên, chăm sóc về tinh thần lẫn vật chất cho tôi, thông qua vợ tôi, mở đường dây liên lạc mới, tôi trực tiếp nhận sự chỉ đạo của đảng.
(trích Từ toà án văn hóa đến Hát cho đồng bào tôi nghe. Vũ Hạnh, Trui rèn trong lửa đỏ trang 179).Vũ Hạnh hay bút hiệu cô Phương Thảo đã bị chính quyền miền Nam chính thức bắt giữ ngày 02/06/1967. Cứ mỗi lần bị bắt thì lại có những nhà văn, trí thức, sinh viên và đặc biệt Hội Văn bút do Thanh Lãng vào tù lôi ông ta ra.
Chính Vũ Hạnh đã thố lộ về việc bắt giữ ông ta như sau:
Mấy tháng sau đó, tôi bị công an nguỵ quyền bắt giữ là do hai cơ sở của ta làm lộ. Nhưng sự kiện tôi bị bắt giam bấy giờ tạo thêm một cái cớ cho các hoạt động đấu tranh hết sức nhiệt tình của giới sinh viên học sinh. tất cả đều tung ra dư luận khắp nơi rằng tôi bị giam giữ là do Chu Tử vu cáo, rằng chính quyền đã bất chấp pháp luật, chà đạp lên quyền tự do cầm bút một cách hết sức thô bạo. THSV bấy giờ một mặt vận động các giáo sư đại học có lòng yêu nước lên tiếng để ủng hộ tôi, ủng hộ gia đình tôi.
(trích Trui rèn trong lửa đỏ, trang 181).Đọc đoạn văn trên cho thấy Vũ Hạnh đã trắng trợn vu cáo cho Chu Tử dính vào việc bắt giữ ông ta, đồng thời y đã vận động trong giới trí thức để xin tha cho y. Đó là lối vừa đánh trống vừa ăn cướp.
Bên cạnh những tờ báo chính thức như Tin Văn, CS còn tổ chức rất nhiều những báo chí sinh viên hỗ trợ và tiếp tay cho Tin Văn.
Các báo sinh viên do những sinh viên như Trần Thị Ngọc Hảo, quyền chủ tịch Tổng Hội sinh viên làm “báo nói” tố cáo Mỹ Ngụy. Dương Văn Đầy (Ba Đầy biệt danh Bảy Không – DCV) làm bích báo sinh viên bên Y khoa đòi chuyển ngữ ở Đại học y khoa.. Nguyễn Trường Cổn, chủ bút báo sinh viên ca tụng quân giải phóng trong dịp tết Mậu thân, bị bắt và bị tòa án quân sự kết tù 5 năm khổ sai. Nguyễn Đăng Trừng đã trốn ra vùng giải phóng bị kết án 10 năm biệt xứ.
Đại học Khoa học có tờ Lửa Hồng, tờ Dấn Thân được ông giáo sư Trần Kim Thạch đỡ đầu. Luật Khoa có tờ Đất mới do Lê Hiếu Đằng, Nguyên Hạo. Tờ Học sinh do Lê Văn Triều làm chủ nhiệm, Nguyễn Thị Liên Hoa quản lý, xuất bản 1000 số.
Nhưng quan trọng là tờ Hồn Trẻ. Tờ Hồn Trẻ đã mượn danh tính một số người viết tên tuổi ở miền Nam lúc bấy giờ như tấm bình phong và giúp làm tăng uy tín cho tờ Hồn trẻ. Đó là các tác giả có tên tuổi như Thiên Giang, Bùi Chánh Thời, Nguyễn Văn Trung, Võ Quang Yến, Trụ Vũ, Tô Nguyệt Đình, Thiếu Sơn, Lương Phương, Vân Trang, Hồng Cúc, Song Thương, Ái Lan, Thảo Lam, Phương Khánh, Thu Quyên, Cao Ngọc Phượng, Phong Sơn, Chinh Ba, Hữu Hoàng, Nguyễn Văn Phụng, Phan Hữu Trình. Như đã nói ở trên, tòa soạn đăt trong một ngôi chùa do một cư sĩ là ông Nguyễn Văn Hoanh đứng vai chủ nhiệm. Mục xã luận là do chính những cán bô cộng sản gộc như Phạm Bá Trực, Mười Hải biên sọan.
Bên cạnh đó là những buổi sinh hoạt văn nghệ, ca nhạc nhằm cổ vũ các phong trào svhs phản chiến, đòi hòa bình. Tờ sinh viên ra mắt độc giả ngày 15/5/1967 do sinh viên Hồ Hữu Nhật làm chủ nhiệm. Tờ sinh viên được coi như biểu tượng của sinh viên tranh đấu. Ở đây, tôi xin nêu danh tánh tất cả những sinh viên thuộc các phân khoa đại họ đã hoạt động cách này cách khác cho cộng sản. Họ đã gài người vào trong các tổ chức sinh viên. Chẳng hạn như phong trào đòi Hòa Bình với chương trình “Hát Cho Đồng Bào tôi nghe, Dậy mà đi, Tiếng hát những người đi tới Đêm Văn nghệ tết Quang Trung” với sự tham gia của các sinh viên đi theo cộng sản như: Trần Thiện Tứ, bác sĩ Trương Thìn, nhạc sĩ Nguyễn Văn Sanh, nhạc sĩ sĩ Tôn Thấp Lập, Võ Thành Long, nhạc sĩ Trần Xuân Tiến, Phạm Phú Tâm, Trương Thị Hoàng và Trương Thị Anh, Phùng Hữu Trân, Nguyễn Ngọc Phương, Võ Thị Tố Nga,, Lê Thành Yến.
Và sau đây là danh sách sinh viên tranh đấu đã tình nguyện vào căn cứ ở Bắc Lộ 7, Cam pu chia gồm: Phan Công Trình, Nguyễn Đình Mai, Tôn Thất Lâp, Trần Long Ẩn, Nguyễn Văn Sanh, Lê Thành Yến, Trương Quốc Khánh, Huỳnh Ngọc Hải, Dương Văn Đầy, Trần Thị Ngọc Hảo, Huỳnh Quang Thư, Hai Nam, Năm Sao, Trần Thị Ngọc Dung, Hà Văn Hùng, Trương Quốc Khoách.
Trong khi đó như tiếp sức cho địch, các trí thức, dân biểu nhà văn đua nhau ra các bản thông cáo đủ loại. Chúng tôi cũng xin tóm tắt bản Tuyên ngôn của nhóm Quốc Gia, ngày 04/09/1974 về tình trạng đàn áp báo chí tại miền Nam do các dân biểu sau đây đồng ký tên: DB Nguyễn Văn Binh, DB Nguyễn Tuấn Anh, DB Đặng văn Tiếp, DB Nguyễn Văn Cử, DB Dương Minh Kính, DB Nguyễn Trọng Nho, DB Nguyễn Văn Kim, DB Nguyễn Đức Cung, DB Vũ Công Minh, DB Đỗ Sinh Tứ, DB Nguyễn Hữu Hiệu.
Nội dung bản Tuyên bố phủ nhận luật báo chí 007, bênh vực báo Hòa Bình bị bộ Thông tin chiêu hồi đóng cửa, bênh vực các ký giả Nguyễn Thái Lân, Ngô Đình Vận bị gọi lên cơ quan an ninh lấy lời khai. Những bản tuyên cáo, những đòi hỏi như thế chắc là đúng, chắc là hợp pháp, chắc là ngay thẳng vì các vị ấy đều là những người quốc gia chân chính, người có lòng. Nhưng cộng sản đã biết lợi dụng những hoàn cảnh như thế để châm thêm ngòi nổ phá rối trật tự, an ninh ở Sài gòn.
Trong nhiều tháng qua, Hội Văn Bút của Thanh Lãng đã nhiều lần lên tiếng cảnh cáo về tình trạng đàn áp báo chí và coi đó là một ngục tù tư tưởng quy mô nhất.
Nhà văn Nhật Tiến cũng có đọc một bản cáo trạng dài về tình trạng ngộp thở của văn nghệ sị miền Nam cũng như của ngành xuất bản sách báo dưới lưỡi kéo kiểm duyệt ác nghiệt.
Cạnh đó là tuyên cáo chống đối chính quyền một cách đương nhiên của khối dân biểu Dân tộc xã hội gồm có: DB Trần Văn Tuyên, Hồ Ngọc Nhuận, Nguyễn Ngọc Nghĩa, Nguyễn Phúc Liên Bảo, Nguyễn Công Hoan, Lý Trương Trân, Phan Thiệp, Huỳnh Ngọc Diêu, Trần Văn Thung, Trần Ngọc Giao, Trần Văn Sơn, Trần Cao Đề, Phan Xuân Huy, Tư Đồ Minh, Đinh Xuân Dũng, Lê Đình Duyên, Lý Quý Chung, Kiều Mộng Thu, Nguyễn Văn Hàm, Nguyễn Văn Phước, Nguyễn Hữu Thời, Nguyễn Mậu, Nguyễn Phước Vĩnh Tùng, Mai Ngọc Dược, Hồ Văn Minh, Đoàn Mai.
Riêng bản tuyên bố của nhóm dân biểu Xã hội-Dân tộc mà luật sư Trần Văn Tuyên làm trưởng khối thì chúng ta có quyền nghi ngờ nội dung bản tuyên cáo đó. Vì trong số dân biểu này, có một số đã làm tay sai cho cộng sản như dân biểu Hồ Ngọc Nhuận, Lý Quý Chung, Kiều Mộng Thu.
Luật sư Trần Văn Tuyên, một trí thức miền Nam, một người quốc gia chân chính mà còn có thể bị cộng sản giật giây thì còn ai khác nữa? Sau này đánh giá công tội của luật sư Trần Văn Tuyên, Hồ Ngọc Nhuận đã viết trong hồi ký “Đời” của ông như sau:
Luật sư Trần Văn Tuyên, có sách nào đó cho là lý thuyết gia của chủ nghĩa quốc gia chống Cộng, vào quốc hội nhiệm kỳ 2, năm 1971. Nhưng suốt nhiệm kỳ, anh chỉ đi với đối lập và là trưởng khối Xã hội-Dân tộc. Hôm gặp nhau khi đi trình diện với quân quản ở trụ sở Hạ viện, anh còn lạc quan nói: ‘chế độ mới không có luật sư, nhưng tôi hy vọng sẽ được làm bào chữa viên nhân dân’. Về anh cũng như một số các anh như Phan Thiệp, Nguyễn Mậu… thuộc cánh Quốc Dân Đảng miền trung, thật cũng khó mà lấy vài ba năm tham gia chính trị đối lập ở Sài Gòn để cân bằng đánh đổi mấy mươi năm chống Cộng. Nhưng nếu thời gian tham gia tranh đấu chống Mỹ của họ kéo dài thêm năm mười năm nữa thì sao? và đâu là nhựng giọt nước nhỏ nhoi muộn màng giờ chót, thay vì rơi đi nơi khác, lại góp phần làm tràn cái ly?
(trích hối ký Đời, bản thảo, Hồ Ngọc Nhuận, trang 165).Ra đến Hải ngoại, trong Văn Học miền Nam, truyện 3, trang 1771 của Võ Phiến có trích dẫn lời giới thiệu của Trần Bạch Đằng có nêu 3 “tác phẩm tốt” trong thời kỳ 1954-1975 là Vũ Hạnh, Sơn Nam và Võ Hồng và không đề cập một chữ đến vai trò cán bộ CS của Vũ Hạnh. Việc nêu danh có ba tác giả thân Cộng có tác phẩm tốt thật là khó chấp thuận được? Và thế nào là tác phẩm tốt? Và như thế gạt bỏ tất cả những nhà văn miền Nam còn lại trong đó có cả Võ Phiến? Tôi hy vọng rằng nhà văn Võ Phiến chia sẻ những suy nghĩ của tôi viết với sự trân trọng và công bình.
Cùng một tinh thần như Trần Bạch Đằng, trong bài báo của Xuân Trang nhan đề: Tuổi trẻ Việt Nam làm báo có viết như sau về hiện trạng báo chí dành cho giới trẻ miền Nam:
Trần Bạch Đằng (1926 — 2007)
Nguồn: vi.wikipedia.org

Một hôm tôi ở tòa soạn nhận được bên anh em bên tạp chí Tin văn gởi biếu cho tờ Tin Văn số 10, với lời dặn dò là tờ Hồn Trẻ rất khó chen chân với các tờ báo nhảm nhí Tuổi hoa, Thiếu nhi, Tuổi ngọc… do bọn Nhật Tiến, Duyên Anh, Bảo Sơn chủ trương. Có lần tôi, tôi giao cho nhà phát hành Độc Lập, đường Trần Hưng Đạo 5 ngàn số thì sau đó y trả về gần đủ… 5 ngàn số, nghĩa là không bán được tờ nào cả.
Báo do cộng sản chủ trương không bán được vì không ai mua, nhưng bọn họ vẫn gọi các báo Tuổi Hoa, Tuổi ngọc, Thiếu nhi là những báo nhảm nhí. Đó là cái cung cách của người Cộng Sản.Bên cạnh những tờ báo chính thức như Tin Văn, người cộng sản đã phát hành vô số báo vệ tinh như các tờ Xung kích, Suối thép, Lửa thiêng, Trung Kiên từ căn cứ đưa vào nội thành. Nhưng những báo này thực sự cũng ít được ai biết tới.
Kết luận phần 1
Nguyễn Đình Thi trong bài viết Câu chuyện gởi tới các bạn tuổi trẻ sinh viên học sinh miền Nam đã viết:
Mấy tháng nay, từng bước đấu tranh của các bạn đã được toàn thể đồng bào miền Bắc, nhất là các giới trí thức, đại học, các lứa tuổi trẻ, chăm chú theo dõi với tình thương yêu đầy tự hào. Hai mươi năm lăn lộn lửa đạn, và ngày nay đang tiếp tục chiến đấu, dân tộc ta đồng thời đã không ngừng từ đất bùn mà nhào nặn lại cuộc sống của mình, từng bước tiến lên xóa vỡ bao ngang trái bất công và quét đi những rác rưởi của chế độ cũ.
Và Lý Chánh Trung trong bài: Làm và tin cũng đã viết:
Không có mũi nhọn xung kích của thanh niên thì không thể tạo được những xáo trộn dữ dội và kéo dài trong những năm 70, gây đưiợc tiếng vagn ở nước ngoài và làm cho địch rất lúng túng… Tôi đã nhảy vào cuộc đấu tranh, phần lớn do sức lôi kéo của những người trẻ tuổi nói trên và đó là những ngày đẹp nhất mà tôi đã sống, với những lý tưởng đẹp, những tình cảm đẹp, những gương mặt đẹp mãi mãi không quên.
Hiện nay, tờ Tuổi trẻ cùng như tờ Tuổi Trẻ chủ nhật, Tuổi trẻ cười tại thành phố Hồ Chí Minh là hậu duệ của những tờ báo sinh viên, học sinh thời trước 1975. Một số bọn họ được trui rèn từ những ngày tháng tranh đấu trong mặt trận báo chí của Sài gòn trước 1975 nay đảm trách nhiệm vụ mới.Mặt trận báo chí ở đô thị trở thành mũi nhọn hàng đầu trong tất cả các phong trào chống Mỹ, chống Thiệu. Tất cả những tờ báo ấy trở thành vũ khí tư tưởng theo lệnh của đảng góp phần vào sự sụp đổ miền Nam vào năm 1975.
Viết lại những trang này như một bài học ôn lại cho những người dân ở miền Nam trước 1975 nay đã sinh sống ở nước ngoài. Như một bài học. Như một dĩ vãng cần được khơi lại để cùng nhớ những năm tháng ấy.
© DCVOnline
http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=4585

Links quanh đề tài lá cờ đỏ và xanh-đỏ / chiến tranh


Chiến tranh Việt Nam
Một phần của Chiến tranh Lạnh
Hình ảnh kết thúc cuộc chiến: Xe tăng của Quân giải phóng miền Nam tiến vào Dinh Độc L  p
Hình ảnh kết thúc cuộc chiến: Xe tăng của Quân giải phóng miền Nam tiến vào Dinh Độc Lập
(csBV ngụy trang lá cờ MTGPMN tiến vào Dinh Độc Lập, che mắt công luận.  1 năm sau cái mặt trận tay sai này bị cs cho về vườn !  Vắt chanh bỏ vỏ ! )

Thời gian: Khoảng 1954 tới 1959[1]30 tháng Tư, 1975
Địa điểm: Đông Nam Á với chiến trường chính là toàn bán đảo Đông Dương
Kết quả: Chiến thắng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Việt Nam thống nhất dưới chính quyền của
Đảng Cộng sản Việt Nam
Nguyên nhân bùng nổ: Mong muốn Việt Nam thống nhất (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam)
Chính sách kiềm chếThuyết Domino (Hoa Kỳ)

————————————————————————————————————-
Tài liệu của:
- http://www.worldstatesmen.org/China.html ,
- - http://www.worldstatesmen.org/Vietnam.html

Ghi chú:
- Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam
- Alternative Government: Provisional Revolutionary Government of Republic of South Vietnam
http://www.worldstatesmen.org/Vietnam.html#NLF
http://www.worldstatesmen.org/vn-cong.gif
Lá cờ của CPCMLTMNVN (viet cộng):
img

- Chairman of the People’s Government (at Fuzhou)
21 Nov 1933 - 21 Jan 1934 Li Jishen (b. 1884 - d. 1959) KMT
http://www.worldstatesmen.org/China.html
http://www.worldstatesmen.org/ch-fz33.gif
Lá cờ tỉnh Phúc Kiến 2008:
img

Fujian People’s Government 2008:
http://en.wikipedia.org/wiki/Fujian_People%27s_Government

- Thảo luận:Quốc kỳ Việt Nam

- Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam
- Wikipedia tiếng Việt

- Thảo luận:Việt Minh – Wikipedia tiếng Việt
- http://en.wikipedia.org/wiki/Red_flag

* Thảo luận:Chiến tranh Việt Nam/Lưu 5 – Wikipedia tiếng Việt
* 1975Chiến tranh Việt Nam: Lực lượng Quân đội Nhân dân Việt NamQuân Giải phóng miền Nam chiếm Sài Gòn, kết thúc chiến tranh Việt Nam.* Wikipedia:Thông tin kiểm chứng được

Thắc mắc: “thông tin kiểm chứng được” nghĩa là thế nào ?
Tuyên truyền ?
Sự thật ?
Đúng sai trong thực tế áp dung sau từng thời gian nhất định ?
Chỉ có giá trị tương đối !!? và cần phải tìm hiểu thêm !

Ví dụ :
- Nếu bản chất của tôi là một người nói dối, được giấu rất kỹ và đánh bóng qua một bộ máy tuyên truyền khổng lồ của nhà nước và tiền thuế của dân;
- tôi nói, sau khi lấy ý người khác: ” không gì quý hơn độc lập tự do”, ” cán bộ là đầy tớ của nhân dân”, …
Vậy thi, khi có ai viện dẫn câu nói trên là tôi có nói, ” kiểm chứng được ” thì KHÔNG THỂ nói là tôi là SỞ HỮU CHỦ, nguồn gốc của câu nói trên; cũng KHÔNG THỂ nói là câu nói trên là đúng/sai, là sự thật hoặc đã KHÔNG được thực hiện/bất khả thi trong thực tế vì nhiều lý do, trong đó có lý do là sự giả dối, hoang tưởng của hệ thống, của chính tôi.

Hành trình đi theo Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam của một số trí thức miền Nam

 (phần 2)

2006.12.21

Nguyễn An, phóng viên đài RFA

Vào ngày này năm 1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam được thành lập như một tập hợp những người miền Nam chống đối lại chính phủ hợp pháp lúc bấy giờ ở miền Nam do Tổng thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo.

Tuy nhiên, trong thực tế, Mặt Trận được thành lập theo quyết định của Hội nghị Trung ương lần thứ 15 của Đảng Lao động Việt Nam, tiền thân Đảng Cộng sản Việt Nam, và được sự yểm trợ mọi mặt của miền Bắc, lúc bấy giờ là Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Một số nhân sĩ miến Nam thời đó đã đi theo Mặt Trận, giúp họ tạo dựng được một số uy tín nhất định.

Biên tập viên Nguyễn An của Ban Việt ngữ RFA phỏng vấn Tiến sĩ Dân tộc học Lê Văn Hảo, giáo sư Đại Học Văn Khoa Huế, Đà Lạt và Sài Gòn về hành trình đi theo Mặt Trận của ông.

Ông Lê Văn Hảo từng là Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Cách mạnh Thừa Thiên – Huế hồi Tết Mậu Thân 1968. Khi được hỏi ông vào Mặt Trận từ bao giờ, Tiến sĩ Lê Văn Hảo kể tiếp:

Lê Văn Hảo: Sau khi tôi nhận chức đó rồi thì có nhiều cuộc họp và họ nói cho tôi biết thế nào là chủ nghĩa CS, thế nào là chủ nghĩa Max Lenin, thế nào là chính quyền cách mạng, thế nào là đấu tranh giai cấp. Họ cũng làm cho tôi một loạt các bài học vỡ lòng để cho tôi biết chức vụ đó thì tôi phải nên làm thế nào để cho xứng đáng với chức vụ đó

Nguyễn An: Thưa Ông, như vậy tức là Mậu Thân sau khi họ tấn công Huế thì sau đó họ đưa ông về?

Lê Văn Hảo: Không! Tôi không có về lúc đó, lúc đấy là chỉ có mấy anh CS về đánh nhau ở dưới thành phố thôi, chớ còn tôi họ đâu có dám đưa tôi về! Họ biết rằng khi tôi nhận thì tôi cũng miễn cưỡng mà nếu đưa tôi về thì tôi chắc cũng chuồn luôn thì họ đâu có dám đưa tôi về. Trong tất cả khi nổ ra Mậu Thân tức là trong 26 ngày đêm CS chiếm thành phố Huế thì tôi ngồi trên núi để nghe đài phát thanh suốt ngày, tất cả những gì xảy ra dưới Huế tôi chỉ biết qua đài phát thanh của Hà Nội và đài phát thanh giải phóng.

Nguyễn An: Tức là Ông không biết những cái gì thêm ngoài những điều mà đài phát thanh nói?

Lê Văn Hảo: Tôi không thể biết được bởi vì tôi không có mặt ở Huế mà nó đâu có dám để cho tôi về Huế vì anh biết khi nó đề nghị một chức vụ như vậy là cả một sự áp đặt. Nó nói là anh phải nhận, nếu anh không nhận thì anh cũng không còn đường về thì cả một sự đe dọa . Anh có thấy tính chất đe dọa đàng sau lời đề nghị đó không?

Nguyễn An: Đây là một chi tiết rất là mới bởi vì hồi xưa cho đến bây giờ người ta cứ tưởng rằng là những đoàn quân họ chiếm đóng Huế hai mươi mấy ngày đó là Ông về trực tiếp điều hành công việc ở đó, thì hóa ra hoàn toàn không có chuyện này!

Lê Văn Hảo: Than ôi! Đó không phải là sự thật lịch sử mà tôi chỉ là một con tin đã bị ở trong thế kẹt phải nhận lấy chức vụ để bảo tồn sự sống còn để mà mong có ngày về với vợ con thôi! Chớ tôi nói thật với anh vai trò của tôi trong Tết Mậu Thân là vai trò hoàn toàn thụ động, tôi chỉ ngồi trên núi để nghe đài, nghe tin tức. Rồi lâu lâu mấy ông như: Trần Văn Quang và các ông lãnh đạo khác ở Thừa Thiên, Huế ghé qua thăm và an ủi tôi và nói là sự việc diễn biến như vậy thì mình theo thời cuộc thôi, mình phải theo cách mạng thôi, chớ không có cách nào khác. Anh thấy như vậy đó!

Nguyễn An: Tức là cũng không có ai báo cáo với Ông tình hình như thế nào với tư cách là chủ tịch UBND hết?

Lê Văn Hảo: Có chứ! Tức là trong khi đánh nhau và chiếm thành phố Huế như vậy thì chúng có điện đài theo dõi thì cũng nắm được tình hình lắm chớ, chớ đâu có phải là không biết gì!

Nguyễn An: Sau khi rút ra khỏi Huế rồi, thì ông vẫn tiếp tục trên núi hay là ông đi theo họ?

Lê Văn Hảo: Dạ thưa tôi vẫn tiếp tục ở trên núi và lúc đấy thì quân đội Hoa Kỳ và quân đội VNCH đã phản ứng rất mạnh bằng cách ném bom rất dữ dội các vùng giải phóng chung quanh các thành phố lớn, thú thật với anh là chúng tôi sống toàn trong các hang núi, nếu ra ngoài thì cũng ăn bom như thường vì tình hình quá căng thẳng, bom đạn quá sức tưởng tượng.

Cho nên lệnh ở ngoài Hà Nội là đưa những người gọi là nhân sĩ theo cách mạng như là Hòa Thượng Thích Đôn Hậu, bà Nguyễn Đình Chi, tôi, cụ Nguyễn Đóa, Tôn Thất Dương Tiềm và một số vị khác, để đưa các vị này ra ngoài Bắc.

Như vậy chúng tôi bắt đầu lên đường,nếu tôi nhớ không lầm, vào đầu tháng 7, tôi phải đi theo đường Trường Sơn (đường mòn HCM), ngày thì ngủ trong hang, đêm thì đi và tôi đến Hà Nội vào ngày mùng 3 tháng 9 năm 1968.

Nguyễn An: Dạ thưa, đi cùng với ông có các vị trí thức mà Ông đã nêu trên?

Lê Văn Hảo: Dạ đúng, có cả phái đoàn như vậy và trong đó có nhiều vị phải ngồi võng như cụ Đôn Hậu phải ngồi võng cho 2 anh quân giải phóng khiêng, bà Nguyễn Đình Chi và cụ Nguyễn Đóa cũng ngồi võng, còn tôi lúc đó chỉ mới 32 tuổi thì tôi đi bộ như mọi người thôi

Nguyễn An: Lúc ở với nhau trên núi thì ông có nói chuyện với các vị kia không?

Lê Văn Hảo: Có chứ! Chúng tôi sống chung trong một khu vực

Nguyễn An: Hoàn cảnh đưa đẩy họ đến núi đó có tương tự như ông không?

Lê Văn Hảo: Giống hệt như tôi! Vị nào cũng được mời họp hết. Riêng cụ Thích Đôn Hậu thì cụ bị bắt cóc lúc mà quân giải phóng đã chiếm được thành phố Huế rồi thì họ mời cụ lên võng để đi họp thì nó cũng võng cụ lên trên núi luôn. Bà Nguyễn Đình Chi cũng trường hợp như vậy, tức là mời bà đị họp rồi võng Bà lên núi luôn.

Những người trẻ hơn như anh Tôn Thất Dương Tiềm thì lúc đó đi theo quân giải phóng, ông Tiềm là Việt Cộng nằm vùng mà! và một vài vị khác cũng là Việt Cộng nằm vùng thì cũng tà tà lên núi thôi và tất cả chúng tôi gặp nhau ở trên núi, và khi đi ra ngoài Bắc thì chúng tôi cũng đi cùng một lượt với nhau.

Nguyễn An: Như vậy thì ông sinh hoạt ở trong đó bao lâu thì biết rằng là MTGPMN chỉ là chi nhánh của Mặt trận Tổ quốc ở miền Nam thôi?

Lê Văn Hảo: Nói thật anh, việc ấy thì tôi biết ngay khi tôi lên trên núi thì tôi biết MTGP là một trò bịp bợm, tức là một tổ chức hữu danh vô thực, nó là tổ chức của CS thôi, gọi là Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam nhưng mà tất cả đều do Hà Nội chỉ đạo thôi . Việc đó tôi biết ngay và họ cũng không dấu anh ạ ! Lúc đó mình ở trong tay họ rồi nên họ cũng không dấu.

Nguyễn An: Ông ở đó cho đến năm 1975?

Lê Văn Hảo: Anh nói đúng, tôi đến Hà Nội tôi là khách của Trung Ương Đảng cùng với nhóm của chúng tôi như Hoà thượng Thích Đôn Hậu, v.v… Trong mấy năm từ 1968 đến năm 1975 là tôi được học trường Đảng, tôi được Đảng giáo dục cho trong bấy nhiêu năm học nhiều về chính trị như thế nào là cách mạng, giải phóng dân tộc, đấu tranh giai cấp v.v…

Học như vậy trong mấy năm liền mà cuối cùng sau khi học 5 năm thì có một cuộc kiểm tra, tôi nói thật với họ là những thứ này tôi không hấp thụ được, chủ nghĩa Max Lenin và chủ nghĩa CS đối với tôi là một cái gì quá xa lạ và tôi không chấp nhận. Anh có biết khi tôi nói như vậy là rất dại dột.

Nguyễn An: Đó, chính muốn hỏi anh ở chỗ đó…

Lê Văn Hảo: Dại dột bởi vì họ bày ra chuyện học tập, rồi bày ra cuộc thi cử như vậy để xem thái độ mình thế nào? Những ông lãnh tụ cộng sản cũng nói ra mặt: “Người như anh Lê Văn Hảo này không xài được!”

Nguyễn An: Nhưng sau đó họ có thay đổi cách đối xử với ông không?

Lê Văn Hảo: Dạ không, họ rất là ngoại giao, họ đổi xử bình thường thôi, nhưng họ biết là loại này sau 1975 sẽ cho vào giỏ rác… Nguyễn An: Và họ đã làm như thế?

Lê Văn Hảo: Và họ đã làm như thế 100%.

Thông tin trên Internet:

- Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam

- Đảng Cộng sản Việt Nam

- Sự kiện Tết Mậu Thân – Wikipedia

- Thảm sát Huế Tết Mậu Thân – Wikipedia

Các tin, bài liên quan

Nói và làm – LĐ

Xét người và nhất là xét những con người của lịch sử thì phải xét cả “Lời Nói và Việc Làm “ cuả người đó.Tục ngữ có câu : ”Ngôn dị ,hành nan”tức là : nói thì dể , mà làm thì khó. Ðôi khi còn chưa đủ,còn phải xét cả kết quả, hậu quả cuả những việc làm ấy có đem “Lợi Ích hay Thất Bại” cho Quốc Gia ,Dân Tộc nửa thì mới đủ.Chúng ta thử xét qua một số nhân vật lịch sử thế giới thì sẽ có nhiều kinh nghiệm thực tế cho việc nhận định những con người lịch sử.

http://www.avsnonline.net/library/ebooks/vn/SuKy/pn_03.htm  Tần Thủy Hoàng bản kỷ

http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%A7n_Th%E1%BB%A7y_Ho%C3%A0ng  Tần Thủy Hoàng

1-Tần Thủy Hoàng (秦始皇, 259 TCN đến 210 TCN) được xem là Hoàng đế đầu tiên của Trung Hoa, vì đã thống nhất các nước phân tán để lập nên một đế quốc rộng lớn

Tần Thuỷ Hoàng 259 TCN đến 210 TCN Vạn Lý Trường ThànhSau khi thôn tính sáu nước (lục quốc) Tần Thủy Hoàng đã canh tân ,xây dựng ,cũng cố triều đại của mình, đồng thời có công thống nhất các hệ thống văn tự,tư tưởng, đo lường , mở mang đường sá nối liền giao thông cho cả nước Trung Hoa rộng lớn.Thực hiện nhiều công trình kiến trúc đồ sộ mà hàng ngàn năm sau vẫn còn làm cho cả thế giới ngưởng phục đó là :”Vạn Lý Trường Thành”,ngoài ra Tần Thuỷ Hoàng còn có công mở rộng bờ cỏi Trung Hoa,thiết lập Trung Ương tập quyền , sửa đổi thống nhất luật pháp ,hành chánh,cải tổ nông nghiệp (làm cho Tần trở nên hùng mạnh nhất vào thời đó ). Nếu xét về công lao đóng góp cho Trung Quốc thì phải kể công lao của vị Hoàng đế nầy thuộc vào bậc nhất trong suốt lịch sử 5 ngàn năm của đất nước TQ. Ông tự cho mình có công khai sáng triều đại (Tần )và còn mong muốn triều đại của mình sẽ kéo dài hàng mấy trăm năm sau.

Nhưng nếu chỉ xét về công lao đóng góp mà không xét về các mặt tác hại của chính sách cai trị của ông (Nhà Tần chỉ tồn tại được 15 năm (221 – 206 TCN) với 3 đời vua.) thì chúng ta sẽ không hiểu tại sao với công lao ,sự nghiệp vĩ đại như thế cho nước Tàu mà triều đại của ông lại sớm suy tàn và bị nhân dân TQ xoá bỏ không thương tiếc và còn kết án gay gắt tội ác nhà Tần cho mãi hàng ngàn năm sau như 1 tấm gương cho hậu thế soi chung!

Có nhiều nguyên nhân dẩn đến sự suy tàn nhanh chóng chế độ của Tần Thuỷ Hòang:

a-Thống nhất được đất nước nhưng không không thu phục được lòng người :

Ðể thống nhất được Trung Quốc Tần Thuỷ Hoàng đã huy động sức người ,cuả cải trong suốt 35 năm chiến tranh gian khổ (từ năm 256 đến 221 TCN ),nhưng sau khi đã thống nhất đất nước rộng lớn thay vì dùng chính sách khoan dung để lấy lòng người, nhà Tần lại tăng cường pháp trị, lấy sự hà khắc để đề phòng sự chống đối của thiên hạ. “Ông vua có thể lấy thiên hạ trên lưng ngựa nhưng không thể cai trị thiên hạ trên lưng ngựa”. Câu đó rất đúng với nhà Tần. Do đó, ngoài cái thù mất nước chưa nguôi ngoai, người dân 6 nước còn lại đều căm giận nhà Tần lên gấp bội. Nhằm bẻ gẫy quyền lực của tầng lớp quý tộc, ông tịch thu đất đai của họ và phân chia chúng cho nông dân. Nhằm tạo thuận lợi cho việc thu thuế, thuế được triều đình thu trực tiếp từ những người nông dân mà không cần qua tay tầng lớp quý tộc.

b -Sự cai trị quá đổi tàn ác:

Thủy Hoàng ra lệnh đốt sách và chôn nho: đốt hết các bản Tứ thư, Ngũ kinh và bách gia chư tử trong dân gian, chỉ giữ lại một bản tàng trữ trong thư viện của triều đình. Kẻ nào không tuân lệnh mà lén lút giữ thì bị kết tội là phản quốc. Có người phải giấu sách vào trong tưởng, có người lại ráng học thuộc lòng thư và kinh để truyền miệng lại đời sau. Tần chỉ muốn nhồi nặn dân chúng thành dễ bảo, có kỷ luật. Tư do tư tưởng, tự do ngôn luận là tội nặng nhất. Người đời sau cho Tần Thủy Hoàng là một bạo chúa, có nhiều tội ác, đó là: Xây Vạn Lý Trường Thành, xây cung Lương Sơn.xây cung A Phong (hay A Phòng )và xây lăng mộ cho riêng mình.

2- Adolf Hitler:

Cuộc sống của người dân Ðức sau Ðệ Nhất Thế Chiến thật là khốn khó và tủi nhục vì phải trả nợ chiến tranh quá lớn sau khi bại trận .Là một hạ sỹ vô danh tiểu tốt , năm 1920 Adolf Hitler nhảy vào chính trường với lời hứa hẹn là ông sẽ biến nước Ðức thành hùng mạnh,không phải trả chiến phí trong Hoà Ước Versaille,tận diệt tham nhũng,mọi người dân Ðức thảy đếu có việc làm và bánh mì. Hitler đã sử dụng tài hùng biện và sự lừa gạt tinh vi để dân Ðức bầu ông làm Thủ Tướng và sau đó là thủ lĩnh của chế độ độc tài Ðức Quốc Xã năm 1934 . Sau khi nắm được niềm tin của dân Ðức,Hitler dần dần lèo lái nước Ðức vào một cuộc Ðệ Nhị Thế Chiến để thôn tính các nước khác và thực hiện cuộc diệt chũng vĩ đại dân Do Thái .

Nhưng lúc đó người dân Ðức không còn khả năng chận đứng bàn tay độc tài sắt máu của tên đồ tể Hitler mà trước kia họ đã trót bầu hắn lên địa vị lãnh tụ tối cao! Lời hứa của lãnh tụ Hitler và tên độc tài Hitler khác xa một trời một vực.Vì vậy dân Ðức phải trả một giá quá cao cho hàng chục triệu sinh mạng và tài sản cho một ý đồ ngông cuồng thôn tính thế giới .Sau lần bại trận thứ hai nầy nước Ðức còn bị 2 cường quốc là Mỹ và Liên Sô chia đôi và đạt căn cứ quân sự nhằm kiểm soát chế tài .

Xin xem phần lý lịch và sự nghiệp của Hitler dưới đây trong Bách Khoa Toàn Thư Wikipedia:

http://vi.wikipedia.org/wiki/Hitler#Vi.E1.BB.87c_l.C3.A0m_.C4.91i_.C4.91.C3.B4i_v.E1.BB.9Bi_l.E1.BB.9Di_n.C3.B3i   

Adofd Hitler(phải)và Mussolini Quân Ðội của Ðức Quốc Xả

“Adolf Hitler (sinh 20 tháng 4 năm 1889 tại Braunau am Inn – tự sát ngày 30 tháng 4 năm 1945) là chủ tịch Đảng Công nhân Đức Quốc gia Xã hội chủ nghĩa (Nationalsozialistische Deutsche Arbeiterpartei, viết tắt NSDAP) từ năm 1921, Thủ tướng Đức từ năm 1933, là “Lãnh tụ và Thủ tướng đế quốc” (Führer und Reichskanzler) kiêm nguyên thủ quốc gia nắm quyền Đế quốc Đức kể từ năm 1934.

Những thành tựu của Hitler thật là đáng kể trong các lĩnh vực ngoại giao, kinh tế và quân sự: a-Ngoại Giao khôn khéo : Hoà ước Versailles năm 1919 là hòa ước chính thức chấm dứt Thế chiến thứ Nhất (1914–1918) giữa Đức và các nước Đồng minh. Nội dung Hòa ước được soạn thảo bởi Georges Clemenceau, Thủ tướng nước Pháp, cùng với Hoa Kỳ và Vương quốc Anh – là ba nước thắng trận ;còn Ðức là nước bại trận phải chịu nhiều điều kiện nhục nhả v à bất lợi .Trong hai năm đầu, chiến thuật của Đức Quốc xã là nói chuyện hòa bình, bí mật chuẩn bị chiến tranh, thực hiện chính sách ngoại giao cẩn trọng, tái vũ trang trong bí mật nhằm tránh các nước Đồng Minh viện dẫn Hòa ước Versailles mà chống Đức bằng quân sự. Hitler hùng hục lao vào công việc tái lập Đảng Quốc xã và biến nó thành một tổ chức mà Đức chưa hề thấy từ trước đến giờ.

b-Thành tựu về kinh tế :Sự hồi phục kinh tế của Đức sau chiến tranh là thành tựu nổi bật, mà trong đảng cũng như các nhà kinh tế nước ngoài ca ngợi là phép lạ. Số người thất nghiệp từ 6 triệu năm 1932 giảm còn không đến 1 triệu bốn năm sau. Sản lượng và thu nhập quốc nội tăng gấp đôi trong thời gian 1932-37.

c- Về quân sự, từ quân đội bị Hòa ước Versailles hạn chế ở mức 100.000 người, Hitler tăng quân số lên gấp ba vào cuối năm 1934. Khi phát động tiến công Nga năm 1941, Đức huy động 3,2 triệu quân tiến theo trận tuyến dài 1.600 kilômét.

Trước đó, sau khi quân Đức tràn sang Ba Lan, chỉ trong vòng 48 giờ, Không quân Ba Lan đã bị hủy diệt, phần lớn trong số 500 máy bay hiện đại trúng bom của máy bay Đức trước khi có thể cất cánh. Quân đội Ba Lan tan nát chỉ sau một tuần. Thủ đô Warszawa thất thủ trong vòng 4 tuần.

Ngày 9 tháng 4 năm 1940, Đức đồng loạt tấn công Đan Mạch và Na Uy. Đan Mạch đầu hàng lập tức, còn Na Uy chống cự dằng dai và chỉ đầu hàng 2 tháng sau.

Ngày 10 tháng 5, Đức tấn công Pháp, Hà Lan, Bỉ và Luxembourg. Hà Lan đầu hàng 5 ngày sau và Bỉ cầm cự không tới 3 tuần. Chỉ trong vòng hơn 1 tháng từ lúc vượt biên giới Pháp, quân Đức tiến vào thủ đô Paris.

Đến giữa năm 1942, Đức đã thôn tính khoảng 90% diện tích Tây Âu, chỉ trừ Thụy Điển, Vương quốc Anh, Scotland, Ireland, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Thụy Sĩ; còn ở Bắc Phi, Đức đang chiếm đóng Tunisia, Lybia và một phần Ai Cập.”

(Xem chi tiết: Lịch sử quân sự Đức trong Đệ nhị thế chiến. )

Những thủ đoạn lừa lọc của Hitler :

1- Tạo vụ hỏa hoạn ở Tòa nhà Nghị viện:

Vào buổi tối 27 tháng 2 năm 1933, Tòa nhà Nghị viện bị cháy. Có đủ chứng cứ hợp lý cho thấy chính Quốc xã dưới sự chỉ đạo của Hermann Göring đã lên kế hoạch và tạo ra đám cháy nhằm phục vụ mưu đồ chính trị của họ. Một ngày sau vụ cháy, 28 tháng 2, Hitler yêu cầu Tổng thống ký nghị định “Cho việc Bảo vệ Nhân dân và Nhà nước” đình chỉ bảy đoạn trong hiến pháp đảm bảo quyền tự do cá nhân như là “biện pháp phòng vệ chống lại những hành động bạo lực của cộng sản phương hại đến đất nước”. Nghị định còn cho phép chính phủ Đế quốc hành xử mọi quyền hạn của các bang khi cần thiết, và áp dụng hình phạt tử hình cho một số tội danh, kể cả tội “làm mất trật tự trị an một cách nghiêm trọng” do người có vũ trang. Thế là Hitler đã có thể bịt miệng đối thủ một cách hợp pháp và bắt giữ họ tùy ý, bằng cách mang hiểm họa của cộng sản ra hù dọa.

2- Giải tán nghiệp đoàn

Để ru ngủ giới nghiệp đoàn trước khi ra tay, chính phủ Quốc xã tuyên bố Ngày Lao động năm 1933 là ngày lễ toàn quốc, được chính thức gọi là “Ngày Lao động Quốc gia”, và chuẩn bị chương trình kỷ niệm như thể chưa từng được kỷ niệm trọng thể như thế. Giới lãnh đạo nghiệp đoàn lấy làm cảm kích và hồ hởi cộng tác với chính phủ và đảng nhằm cử hành ngày lễ được thành công. Các nhà lãnh đạo nghiệp đoàn khắp địa phương được đưa về Berlin, hàng nghìn băng-rôn được giăng ra tuyên dương tình đoàn kết giữa chế độ Quốc xã và công nhân.

Hitler đích thân tiếp đón các đoàn đại biểu công nhân, tuyên bố: “Các anh sẽ thấy câu nói cách mạng chống lại công nhân Đức là sai lầm và thiếu công tâm”. Sau đấy, phát biểu trước 100.000 công nhân tụ tập ở sân bay, Hitler hô khẩu hiệu: “Tôn vinh lao động và tôn trọng công nhân!” và hứa rằng sẽ tiến hành kỷ niệm Ngày Lao động để tôn vinh lao động Đức “suốt nhiều thế kỷ”.

Ngày 2 tháng 5 năm 1933, các trụ sở nghiệp đoàn trên khắp cả nước bị chiếm đóng, ngân quỹ nghiệp đoàn bị tịch thu, các nghiệp đoàn bị giải tán, và các nhà lãnh đạo bị bắt giữ. Nhiều người bị đánh đập và đưa vào trại tập trung.

Chỉ trong ba tuần, người ta thấy rõ thêm một lời hứa rỗng tuếch của Quốc xã. Hitler ban hành một luật mới chấm dứt việc thương thuyết tập thể, trên thực tế cấm công nhân đình công.

3-Cái chết của Tổng Thống Hindenburg

Ngày 2 tháng 8 năm 1934, Tổng thống Ludwig von Hindenburg qua đời, hưởng thọ 87 tuổi. Theo một luật mới do nội các ban hành ngày hôm trước, hai chức vụ Thủ tướng và Tổng thống được nhập lại làm một, và Adolf Hitler đã nhậm chức lãnh đạo đất nước kiêm Tư lệnh Tối cao Quân lực. Chức vụ Tổng thống bị bãi bỏ; Hitler chính thức là Lãnh tụ và Thủ tướng Đế chế. Quốc xã chính thức loan báo là không thể tìm ra bản di chúc hoặc tuyên cáo nào của Hindenburg, và có thể xem như không có.

Một bản tuyên cáo chính trị của Hindenburg tỏ lộ ý muốn cuối cùng của ông là phục hồi vương triều sau khi ông qua đời, nhưng Hitler giấu đi đoạn này. Một bản văn thứ hai có nội dung đề xuất một người của vương triều Hohenzollern làm tổng thống, nhưng sau chiến tranh người ta không thể tìm lại bản văn này. Có lẽ Hitler đã nhanh chóng thiêu hủy nó. Ngày 19 tháng 8 năm 1934, khoảng 95% cử tri đi bỏ phiếu trong cuộc trưng cầu dân ý, và 90% chấp thuận cho Hitler chiếm mọi quyền lực. Chỉ có 4 triệu rưỡi người Đức có can đảm – hoặc có ước nguyện – nói “Không”.

3-Lừa dối Đồng minh:

Khi Hitler lên nắm chính quyền, một trong những việc đầu tiên của ông là gây rối các đối thủ của Đức ở Châu Âu bằng cách kêu gọi giải trừ quân bị, hô hào hòa bình, và để mắt phát hiện điểm yếu của họ. Ngày 17 tháng 5 năm 1933, Hitler đọc bài “Diễn văn Hòa bình” trước Nghị viện. Đây là một trong những bài diễn văn quan trọng nhất trong sự nghiệp của Hitler, một kiệt tác trong nghệ thuật tuyên truyền lừa dối đã khiến người Đức cảm động một cách sâu sắc. Bài diễn văn cũng khiến cho dân Đức đoàn kết sau lưng Hitler và tạo ấn tượng tốt cho thế giới bên ngoài. Hitler tuyên bố:

Đức hoàn toàn sẵn sàng từ bỏ mọi vũ khí tấn công nếu các quốc gia đã vũ trang cũng sẽ phá hủy vũ khí tấn công của họ… Đức cũng rất sẵn sàng giải tán cả quân đội và phá hủy số vũ khí ít ỏi còn lại, nếu các nước láng giềng cũng làm thế… Đức sẵn sàng ký kết bất kỳ hiệp ước bất tương xâm nào, bởi vì Đức không nghĩ đến việc tấn công mà chỉ nghĩ đến tìm kiếm an ninh.

Còn có nhiều điều khác trong bài diễn văn, với ngôn từ có chừng mực và thể hiện lòng khao khát hòa bình. Đức không muốn chiến tranh. Chiến tranh là “sự điên rồ vô bờ bến”. Chiến tranh sẽ “làm sụp đổ trật tự xã hội và chính trị hiện giờ”. Đức Quốc xã không muốn “Đức hóa” những dân tộc khác.

“Người Pháp, người Ba Lan và những dân tộc khác là láng giềng của chúng tôi, và chúng tôi biết không biến cố nào có thể thay đối thực tế này.”

Có một lời cảnh cáo. Đức đòi hỏi được đối xử bình đẳng với mọi quốc gia khác, đặc biệt là về giải trừ quân bị. Nếu điều này không đạt được, Đức sẽ rút ra khỏi Hội nghị Giải trừ quân bị và Hội Quốc liên.

Lời cảnh cáo chìm trong quên lãng giữa nỗi vui mừng khắp thế giới phương Tây đối với thái độ biết điều bất ngờ của Hitler. Báo chí Anh đăng tải những bài bình luận có thiện cảm với ý tưởng của Hitler. Lời lẽ của nhà độc tài thích bạo động của Quốc xã không phải là đe dọa dữ dằn như người ta e ngại lúc đầu, mà là ngọt ngào và dịu dàng.

Nhưng lời cảnh cáo của Hitler không phải là rỗng tuếch, mà ông làm đúng như những gì đã nói. Khi thấy rõ rằng Đồng Minh cứ khăng khăng về thời gian 8 năm để giải trừ quân bị xuống bằng với mức của Đức, ngày 14 tháng 10 năm 1933, thình lình Hitler loan báo rằng, vì không được các cường quốc ở Geneva đối xử bình đẳng, Đức lập tức rút lui khỏi Hội nghị Giải trừ quân bị và Hội Quốc liên.

Ngày 21 tháng 5 năm 1935, Hitler đọc một bài “Diễn văn Hòa bình” nữa ở Nghị viện – có lẽ là bài diễn văn hùng hồn nhất. Ông trấn an rằng tất cả những gì ông muốn chỉ là hòa bình và cảm thông dựa trên sự bình đẳng cho mọi bên. Ông bác bỏ ý tưởng chiến tranh; đấy là vô nghĩa, vô ích, cũng là điều kinh hoàng.

Những cuộc đổ máu trên lục địa Châu Âu trong ba trăm năm qua không cho thấy có sự thay đổi tương xứng. Chung cuộc Pháp vẫn là Pháp, Đức là Đức, Ba Lan là Ba Lan, Ý vẫn là Ý. Tính tự cao của vương triều, nỗi đam mê chính trị và sự mù quáng ái quốc chẳng đạt được gì nhiều qua những thay đổi chính trị sâu xa với máu chảy thành sông… Những tố chất cơ bản của họ vẫn không đổi. Nếu các quốc gia này chỉ cần mang một phần hy sinh nhỏ nhoi để phục vụ mục đích khôn ngoan hơn, thì thành công sẽ to tát hơn và trường cửu hơn.

Hitler tuyên bố là Đức không hề có ý nghĩ nào về việc thôn tính những dân tộc khác.

Nước Đức Quốc gia Xã hội Chủ nghĩa mong mỏi hòa bình… cũng vì nhận thức được sự kiện nguyên thủy đơn giản nhất là không có cuộc chiến tranh nào có thể thay đổi khổ đau ở Châu Âu… Hậu quả chủ yếu của mỗi cuộc chiến tranh là hủy hoại tinh hoa của đất nước…. Nước Đức cần hòa bình và đòi hỏi hòa bình!

Hitler luôn nhấn mạnh điểm này. Cuối cùng, ông đưa ra 13 đề xuất cụ thể nhằm duy trì hòa bình, tạo ấn tượng sâu đậm đối với nước Đức và cả Châu Âu. Ông rào đón với lời nhắc nhở:

Đức đã long trọng nhìn nhận và đảm bảo với Pháp đường biên giới… Bỏ qua quá khứ, Đức đã ký kết hiệp ước bất tương xâm với Ba Lan… Chúng tôi sẽ tôn trọng vô điều kiện hiệp ước này… Chúng tôi nhìn nhận Ba Lan là ngôi nhà của một dân tộc to tát và có lòng ái quốc cao độ.

Và đối với Áo:

Đức không có ý định và cũng không mong muốn can thiệp vào nội bộ của Áo, sáp nhập Áo vào Đức, hoặc thống nhất Áo và Đức… Nhật báo có tầm ảnh hưởng rộng nhất nước Anh, tờ Times, hoan nghênh đến mức gần như cuồng nhiệt: “Bài diễn văn hóa ra đúng lý, thẳng thắn và toàn vẹn. Những ai với óc công tâm đều tin rằng chính sách do ông Hitler đưa ra có thể tạo nên một tiền đề tốt để đạt thỏa thuận trọn vẹn với Đức – một nước Đức tự do, bình đẳng và mạnh mẽ thay vì một nước Đức kiệt quệ bị áp đặt hòa bình mười sáu năm trước… Hy vọng rằng bài diễn văn sẽ được mọi phía chấp nhận là lời phát biểu chân thành và có suy xét, thể hiện chính xác những gì đã trình bày.” Tờ báo nổi danh này, một trong những vinh quang chính trong ngành báo chí ở Anh, lại đóng vai trò giống như chính phủ Neville Chamberlain trong việc xoa dịu Hitler.

Chỉ trong vòng vài năm sau, những cam kết của Hitler trở nên vô nghĩa: Đức sáp nhập Áo vào Đức, xâm lăng Ba Lan, tấn công Pháp cùng một số nước Tây Âu. Lừa dối Ba Lan

Ba Lan là quốc gia mà người Đức có ác cảm nặng nề nhất. Trong tâm tưởng của người Đức, lỗi lầm gớm ghiếc nhất của Hòa ước Versailles là tách Đông Phổ khỏi phần còn lại của lãnh thổ Đức để sáp nhập vào Ba Lan, tạo nên Hành lang Ba Lan. Hitler thấy rằng trước khi tiêu diệt Ba Lan, cần tách nước này ra khỏi mối liên kết với Pháp. Sách lược ông đang theo đuổi có nhiều lợi điểm nhất thời. Bằng cách từ bỏ sử dụng vũ lực, ông có thể củng cố làn sóng truyên truyền cho hòa bình và xóa đi nỗi nghi ngại ở cả hai vùng Tây Âu và Đông Âu. Bằng cách mời Ba Lan đàm phán trực tiếp, ông có thể né tránh Hội Quốc liên và làm suy yếu chức năng của tổ chức này. Và ông tấn công vào ý niệm của Hội Quốc liên về “an ninh tập thể”, đồng thời lũng đoạn những mối liên minh của Pháp với Đông Âu, trong đó Ba Lan là pháo đài vững chắc. Người dân Đức vốn thù ghét Ba Lan có thể không hiểu được, nhưng đối với Hitler một trong những lợi điểm của chế độ độc tài là có thể tạm thời theo đuổi chính sách mất lòng dân để đạt mục đích trong lâu dài.

Ngày 26 tháng 1 năm 1934, hiệp ước bất tương xâm giữa Đức và Ba Lan có hiệu lực trong 10 năm được ký kết. Từ ngày này, Ba Lan dần dần rời xa khỏi Pháp, nước bảo vệ Ba Lan từ khi Ba Lan ra đời năm 1919, và trở nên thân cận hơn với Đức Quốc xã. Đấy là con đường dẫn đến sự sụp đổ của Ba Lan trước khi hiệp ước bất tương xâm hết hạn.

Hitler thôn tính Tiệp Khắc

Nhàm chuẩn bị thôn tính Tiệp Khắc, Hitler kết hợp những yếu tố lừa dối, khủng bố tinh thần, chớp thời cơ và đánh nước cờ liều. Hitler viện cớ người Đức thiểu số Sudeten ở Tiệp Khắc bị áp bức để quấy động, khuynh đảo, tung hỏa mù và gây hiểu lầm giữa những sắc dân ở nước này, và che giấu mục đích thực sự của ông: để hạ gục Tiệp Khắc và chiếm lấy lãnh thổ cùng dân cư cho Đế chế thứ Ba. Hitler phổ biến ý định này ngày 5 tháng 11 năm 1937 cho giới chỉ huy quân đội và ngoại giao cao cấp.

Vì muốn xoa dịu Hitler, Thủ tướng Anh Arthur Neville Chamberlain đi đến hội kiến với Hitler tại Berchtesgaden ngày 15 tháng 9 năm 1938. Vị khách đã 69 tuổi và chưa từng đi máy bay lại có cuộc hành trình dài 7 tiếng đồng hồ (kể cả chặng tàu lửa mất 3 tiếng) để đến địa điểm hội kiến ở phần xa nhất của nước Đức. Hitler đã không tạo thuận lợi để đề nghị nơi gặp gỡ bên sông Rhein, vốn có thể giảm đường bay còn một nửa. Đấy là chủ định khủng bố thể chất đầu tiên.

Kế tiếp là những màn hù dọa của Hitler, trong Đức không đủ mạnh để tham chiến chống lại Tiệp Khắc và Anh-Pháp, chưa kể đến Liên Xô. Nếu Đức gây hấn, Đức sẽ chiến bại một cách nhanh chóng và dễ dàng, và đây sẽ là dấu chấm hết cho Hitler và Đế chế thứ Ba. Nếu vào giờ chót chiến tranh toàn Châu Âu không thể tránh khỏi, Quân đội Đức hẳn đã lật đổ Hitler ngay sau khi ông ra lệnh tấn công Tiệp Khắc.

Trò lừa dối chủ yếu là Hitler cam kết vấn đề Tiệp Khắc là yêu cầu cuối cùng của ông ở Châu Âu về lãnh thổ. Vì thế, Chamberlain gây áp lực bắt Tiệp Khắc phải nhượng bộ. Kết quả là Hiệp ước München, theo đó Tiệp Khắc nhường cho Đức gần 30.000 kilômét vuông lãnh thổ. Trên lãnh thổ này là một hệ thống lô cốt mà từ trước đến giờ tạo nên tuyến phòng thủ vững chắc nhất Châu Âu, có lẽ chỉ kém Phòng tuyến Maginot của Pháp. Cả hệ thống đường sắt, đường bộ, điện thoại và điện tín của Tiệp Khắc đều bị xáo trộn. Theo số liệu của Đức, Tiệp Khắc mất trên dưới 80% than non, hóa chất, xi măng; trên dưới 70% than đá, sắt, thép, điện năng; và 40% gỗ. Một đất nước công nghiệp phồn thịnh trong phút chốc bị tan rã và phá sản.

Dù đã đạt thắng lợi lớn lao và làm nhục cả Tiệp Khắc lẫn các nước dân chủ phương Tây, Hitler vẫn thất vọng về kết quả của Hiệp ước München. Ông ta thán với tùy tùng khi trở về Berlin: “Cái ông ấy [chỉ Chamberlain] đã làm tôi mất cơ hội tiến vào Praha!” Đấy chính là điều Hitler mong muốn ngay từ đầu, như ông đã liên tục thổ lộ với tướng lĩnh từ lúc phát biểu với họ ngày 5 tháng 11 năm trước. Lúc ấy, ông đã giải thích rằng việc thôn tính Áo và Tiệp Khắc chỉ là bước đầu để mở rộng Lebenraum – “không gian sinh sống” – về miền Đông và tính sổ với Pháp bằng quân sự ở miền Tây. Như ông đã bảo Thủ tướng Hungary ngày 20 tháng 9, cách tốt nhất là “trừ khử Tiệp Khắc”. Ông nói đấy là “giải pháp thỏa đáng duy nhất”. Ông chỉ e ngại “nguy cơ” là người Tiệp sẽ nhận chịu mọi yêu sách của ông.

Kế tiếp, ông Chamberlain lại đến München và ép buộc người Tiệp nhận chịu mọi yêu sách của Đức và do đó đã tước đi cơ hội cho Hitler thôn tính bằng vũ lực. Đấy là tư tưởng xảo trá của Hitler. Sau này, ông thổ lộ với tướng lĩnh: “Rõ ràng là ngay từ đầu tôi không thể hài lòng với lãnh thổ Sudetenland. Đấy chỉ là giải pháp nửa vời.”

Tổng thống Tiệp Khắc Emil Hácha đến hội kiến với Hitler, và cũng chịu một trận khủng bố tinh thần. Hitler tuyên bố:

Sáu giờ sáng ngày mai Quân đội Đức sẽ tiến vào Tiệp Khắc từ mọi ngả và Không quân Đức sẽ chiếm lấy các sân bay của Tiệp Khắc. Có hai khả năng xảy ra. Thứ nhất là việc tiến quân của Đức có thể dẫn đến nổ súng. Trong trường hợp này, mọi kháng cự sẽ bị đập tan… Khả năng kia là việc tiến quân được thực hiện theo cách ôn hòa, trong trường hợp này sẽ dễ dàng cho Lãnh tụ chấp thuận Tiệp Khắc có đời sống cho riêng họ, được tự trị, và sẽ được hưởng phần nào quyền tự do cho quốc gia…

Nếu phải chiến đấu… trong hai ngày Quân đội Tiệp Khắc sẽ tan tành. Dĩ nhiên là có vài người Đức cũng bị giết và điều này sẽ kéo theo lòng hận thù vốn sẽ ngăn chặn ông chấp thuận quyền tự trị…

Lúc Hitler tạm chia tay với khách, đồng hồ chỉ 2 giờ 15 khuya, nhưng Hermann Göring và Joachim von Ribbentrop tiếp tục gây áp lực lên Tổng thống cùng Ngoại trưởng. Tổng thống Hácha ngã ra bất tỉnh, được cứu cho tỉnh lại rồi bị ép nói chuyện với chính phủ của ông ở Praha và khuyên nên nhượng bộ. Rồi ông loạng choạng trở lại gặp Hitler mà ký bản án tử hình cho Tiệp Khắc. Bây giờ là 4 giờ sáng kém 5 phút ngày 16 tháng 3 năm 1939.

Lúc 6 giờ sáng ngày 15 tháng 3 năm 1939, quân Đức tràn vào Tiệp Khắc. Họ không gặp sự kháng cự nào, và đến buổi tối Hitler có thể tiến bước như người chiến thắng vào thủ đô Praha. Trước khi rời Berlin, Hitler ra một tuyên cáo hùng hồn cho dân Đức, lặp lại lời dối trá về những hành động “quá trớn man dại” và “khủng bố” của người Tiệp mà ông bị bắt buộc phải ra tay chấm dứt, và tuyên bố một cách hãnh diện “Tiệp Khắc đã bị xóa sổ!”

Hitler thôn tính Slovakia

Với mục đích làm suy yếu Tiệp Khắc, Đức muốn tách Slovakia khỏi Tiệp Khắc. Để thực hiện việc này, Đức giúp Josef Tiso (nguyên Thủ tướng của Slovakia đã bị Tổng thống Hácha cách chức) thảo một bức điện tín mà ông này gửi cho Hitler để tuyên cáo nền độc lập của Slovakia và yêu cầu Hitler bảo vệ cho quốc gia mới này. Ngày 16 tháng 3 năm 1939, thể theo lời “yêu cầu” của Tiso, Hitler đặt Slovakia dưới sự bảo vệ của Đức. Quân đội Đức nhanh chóng tiến vào Slovakia để thực hiện sự “bảo vệ”. Đức và Slovakia ký kết “Hiệp ước Bảo vệ”. Thủ tướng Anh Chamberlain dựa trên tuyên ngôn “độc lập” của Slovakia để viện cớ Anh không cần giữ lời cam kết. Thế là, chiến lược của Hitler đã có kết quả toàn hảo. Ông đã cho Chamberlain một con đường thoát và Chamberlain đã chọn con đường này.

4-Tính hiếu chiến của Hitler:

“Trong buổi họp mật ngày 23 tháng 11 năm 1939 trước tướng lĩnh cấp cao để chuẩn bị kế hoạch tiêu diệt Hà Lan và Bỉ, Hitler phát biểu với đầu óc hoang tưởng một cách nguy hiểm:

Tôi phải nói về tôi với tất cả sự khiêm tốn: không thể thay thế. Không ai trong giới quân sự hoặc dân sự có thể thay thế tôi… Tôi tin tưởng vào năng lực trong tri thức của tôi và quyết định của tôi… Không một ai đã tạo được thành tựu như tôi… Tôi đã dẫn dắt nhân dân Đức lên một tầm cao mới, dù cho nếu bây giới thế giới ghét bỏ ta… Vận mệnh của nước Đức chỉ tùy thuộc nơi tôi. Tôi sẽ theo đấy mà hành xử..

Theo nhiều khía cạnh, ngày 23 tháng 11 năm 1939 là một điểm mốc, đánh dấu vị thế áp đảo của Hitler trong Quân đội Đức. Từ ngày này trở đi, người cựu hạ sĩ gốc Áo xem sự suy xét chính trị và quân sự của mình là vượt trội so với các tướng lĩnh, và do đó không muốn nghe họ tham mưu cho ông hoặc không cho phép họ chỉ trích ông. Kết quả chung cuộc sẽ là một thảm họa cho tất cả.

Hitler xua quân Đức tiến công Liên Xô ngày 22 tháng 6 năm 1941 với chiến thuật thần tốc đã giúp Đức hạ gục nhanh chóng Ba Lan và Tây Âu. Ngày 3 tháng 10, Hitler tuyên cáo với dân Đức:

Tôi tuyên bố ngày hôm nay, và tôi tuyên bố mà không ngần ngại, rằng kẻ thù ở miền Đông (Liên Xô) đã bị đánh gục và sẽ chẳng bao giờ vươn lên được nữa… Đó là kết luận quá sớm, vì tính hoang tưởng và ngông cuồng, tự kiêu tự đại. Các tướng lĩnh Đức chủ trương phương án tiến thẳng đến thủ đô Moskva. Các tướng lĩnh biện luận với Hitler rằng Moskva là trung tâm sản xuất vũ khí quan trọng, và quan trọng hơn, cũng là trung tâm giao thông liên lạc của nước Nga. Nếu chiếm được Moskva, Liên Xô sẽ bị cắt nguồn cung cấp vũ khí thiết yếu, và còn không thể vận chuyển binh sĩ cùng hàng hậu cần đến những trận tuyến ở xa, rồi họ sẽ yếu đi, tàn tạ và sụp đổ. Hitler thì muốn chiếm lấy Ukraina cũng như những mỏ dầu vùng Caucasus, cùng lúc chiếm lấy Leningrad và bắt tay với quân Phần Lan ở miền bắc. Để đạt được cả hai mục tiêu này, phải tách vài sư đoàn bộ binh và thiết giáp từ Tập đoàn quân Trung tâm để điều đi miền bắc và nhất là miền nam. Mũi tiến công đến Moskva phải đình lại. Đến ngày 5 tháng 9, Hitler mới ra lệnh gấp rút tiến đến Moskva.

Nhưng một lần nữa, Hitler là nạn nhân của tính ngông cuồng hoang tưởng. Chiếm Moskva trước mùa đông là không đủ. Ông ra lệnh quân Đức cùng lúc phải chiếm lấy Leningrad (hiện nay là Sankt-Peterburg, bắt tay với quân Phần Lan phía ngoài thành phố này. Kết quả là Đức không thể chiếm được mục tiêu nào cả. Đến ngày 26 tháng 11, Đức liệt kê tổng cộng thương vong trên mặt trận miền Đông (không kể người bệnh) là 743.112 sĩ quan và binh sĩ – 23 phần trăm của lực lượng với quân số tổng cộng 3,2 triệu.

Sang năm 1942, tính hoang tưởng lại làm hại Hitler. Tham mưu trưởng Lục quân Franz Ritter von Halder ghi lại trong nhật ký: “Việc liên tục đánh giá thấp khả năng của đối phương đang mang những hình thức lố bịch và trở nên nguy hiểm.” Halder cho là Hitler nhận định quá đáng về sức mạnh của chính mình và đánh giá quá thấp sức mạnh của địch thủ qua mẩu chuyện sau đây: “Có lần khi nghe trình bày một báo cáo khá khách quan, cho biết vào năm 1942 Stalin có thể điều động từ 1 triệu đến 1,25 triệu binh sĩ mới còn khỏe mạnh cho vùng bắc Stalingrad và tây sông Volga chưa kể nửa triệu quân trong vùng Caucasus, và công suất chế tạo xe tăng hàng đầu lên đến ít nhất 1.200 chiếc mỗi tháng, Hitler nhảy xổ đến người đang đọc báo cáo, hai bàn tay nắm lại thành nắm đấm, miệng sùi bọt ra hai bên mép, ra lệnh ông này không được nói năng nhảm nhí nữa.”

Vì tính hoang tưởng, Hitler không màng nghe sự tham mưu của tướng lĩnh, mà vẫn nhất quyết một cách cuồng tín chiếm lấy cả hai mục tiêu: Stalingrad cùng lúc Caucasus. Đây là một trong những động thái có tính định mệnh nhất của Hitler trong cuộc chiến. Vì lẽ, rốt cuộc Hitler không thể chiếm được mục tiêu nào, mà còn chịu một chiến bại nhục nhã nhất trong lịch sử Quân đội Đức, khi Thống chế Friedrich Paulus dẫn Đại đoàn thứ Sáu đầu hàng Liên Xô.”

Sự lường gạt của Hitler đối với các nước Châu Âu là Ðức sẽ tôn trọng hoà bình,để rồi sau đó thôn tính các nước Ba Lan ,Tiệp Khắc, Áo,Pháp đã làm cho các nước Châu Âu và Hoa Kỳ đoàn kết lại để chống Ðức và dẩn đến chế độ Quốc Xả phải bị diệt vong.

5-Nói về sự tàn ác của chế độ Phát Xít Ðức :

Khoảng 1,5 triệu người, phần lớn là người Do Thái đến từ các nước châu Âu, đã chết trong các phòng gas hoặc chết vì bệnh tật và kiệt sức ở trại Auschwitz-Birkenau bên cạnh. Hàng loạt trại tập trung địa ngục đã được Adolf Hitler xây đựng nhằm thực hiện “giải pháp cuối cùng” của mình là giết người dân Do Thái ở châu Âu.

-6 triệu người Do Thái đã chết tại các trại tập trung của Đức quốc xã. Ngoài ra, vài triệu người trong đó có các tù nhân chiến tranh người Liên Xô cũ, người Ấn Độ, những người phản đối chính sách chính trị và tình dục đồng giới của Đức quốc xã cũng bị tàn sát.

Thiệt hại nhân mạng trong Ðệ Nhị Thế chiến :Khoảng 62 triệu người đã bị chết do cuộc chiến này, kể cả các hành động tàn sát diệt chủng của Đức Quốc Xã (Holocaust). 60% người chết là thường dân, chết vì bệnh dịch, nạn đói, nạn diệt chủng và bom đạn. Thiệt hại nặng nhất là Liên Xô với 23 triệu người chết, Trung Quốc với 10 triệu người, theo phần trăm dân số thì là Ba Lan với 16% (5.6 triệu người chết so với 34.8 triêu người trước chiến tranh).

Vì tính hiếu chiến và hoang tưởng nầy ,sau cùng là cuối tháng Tư năm 1945 Hitler đã thất trận và đưa nước Ðức vào một thảm hoạ mới còn tai hại hơn sau lần thua trận ở Ðệ Nhất Thế Chiến .Lần nầy nước Ðức bị các phe Ðồng Minh chia cắt làm hai Ðông Ðức , Tây Ðức và đặt căn cứ quân sự lên lãnh thổ Ðức để kiểm soát chế tài.

3- Hồ Chí Minh :

Hồ Chí Minh (Nguyễn Ái Quốc ) Ðài TưởngNiệm Nạn Nhân của Chủ Nghĩa Cộng Sản

Trước tiên xin minh định trong phần phân tích sau đây,tôi không có ý so sánh sự nghiệp của Hồ Chí Minh với 2 người nổi danh kể trên bởi vì Hồ không thực hiện được sự nghiệp gì cho dân Việt Nam mà chúng ta chĩ tìm hiểu sự tương đồng về thủ đoạn lừa dối dân của Hồ so với 2 người nổi tiếng là độc tài sắt máu như Tần Thuỷ Hoàng và Hitler mà thôi. Trong suốt giai đoạn 30 năm từ 1945 đến 1975 Hồ Chí Minh đã 3 lần lường gạt dân Việt Nam cũng như toàn thế giới:

a-Che dấu chiêu bài Cộng Sản :

Là một cán bộ của Quốc Tế Cộng Sản chĩ biết tuân hành các quyền lợi và chủ trương của tập đoàn CSQT nhưng Hồ Chí Minh quỹ quyệt đánh lừa dân Việt vốn đang khao khát Ðộc Lập ,Tự Do sau trên 80 năm bị Thực Dân Pháp đô hộ (1862-1945) .Lợi dụng lòng yêu nước vô bờ bến của toàn dân Việt ,Hồ đem chủ thuyết Cộng sản ngoại lai áp dụng vào Việt Nam gây biết bao đau thương cho Dân Tộc .Trong khi giả vờ kêu gọi các đảng phái khác cùng hợp tác chống Pháp thì Hồ chỉ thị cho Ðảng CSVN sát hại những nhà ái quốc không CS,che dấu bộ mặt CS khát máu bằng hình thức tuyên bố tự giải tán đảng Cộng Sản Ðông Dương (11tháng 11 năm 1945) để dể dàng lôi kéo các đảng phái khác hợp tác chống Pháp nhưng thực chất họ ngấm ngầm ám hại các phần tử yêu nước không CS.

- http://www.vietnamexodus.org/vne/modules.php?name=News&file=article&sid=2263   Ho chí Minh cán bộ QTCS

Trong Kkháng chiến chống Pháp, Hồ kêu gọi Ðấu tranh Giải Phóng và dấu nhẹm phương thức “Ðấu tranh Giai Cấp” để thu phục nhân tâm vốn đã không ưa chủ trương sắt máu của CS trong phong trào Sô Viết Nghệ Tĩnh .

Năm 1945 Hồ giả vờ liên lạc với lực lượng Ðồng Minh (Mỹ) ,sau đó nhờ Hoa Kỳ huấn luyện và trang bị cho đơn vị Tuyên Truyền Giải Phóng Quân nhưng thực ra Việt Minh là công cụ của CSQT mà thôi!

Trong suốt thời gian chiến tranh chống Pháp , đảng CSVN giấu mặt để lường gạt lợi dụng những kháng chiến quân không theo Chủ Nghiã Cộng sản ,trong đó có những trí thức yêu nước cũng lầm lạc tưởng rằng Việt Minh là tập hợp của phong trào toàn dân kháng Pháp nhưng họ đâu biết đã bị đảng CSVN thao túngvà sau nầy CSVN đã lần lược giết hại những ai yêu nước mà không tôn thờ Chủ Nghiã Cộng sản .Hồ đã lợi dụng phong trào kháng chiến để phục vụ cho ý đồ thôn tính toàn cầu của CSQT bỏ mặc và chà đạp quyền lợi Dân Tộc điển hình là vụ ký hoà ước Sơ Bộ 1946 với Pháp để CSVN rảnh tay tiêu diệt các đảng phái khác. Trong cuộc bầu cử Quốc Hội lần thứ nhất với tổng số ghế đại biểu 403 ,Hồ chia cho Việt Nam Quốc Dân Ðảng và Việt Nam Cách Mệnh Ðồng Minh Hội 70 ghế,nói là để tạo phong trào đoàn kết các đảng phái để đánh đuổi thực dân Pháp,nhưng chĩ 6 tháng sau thủ lĩnh các đảng phái như cụ Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam,Vũ Hồng Khanh v.v…đã phải bỏ chạy và đào thoát sang Trung Quốc để khỏi bị CSVN sát hại.

- http://vietnam-on-line.com/hph/Suutap/30namnhinlai.htm  CSVN tiêu diệt các đảng phái

Cuộc Cải Cách Ruộng Ðất năm 1955-1956 đã giết hại trên 500.000 đồng bào vô tội bị quy là địa chủ thực chất là một cuộc cướp đoạt tài sản và đất đai một cách công khai của dân vào sở hữu toàn dân theo kiểu Cộng Sản Quốc Tế đã áp dụng.Hồ Chí Minh và đảng CSVN tung ra luận điệu tuyên truyền là sẽ lấy đất đai của địa chủ để phân phát cho dân nghèo ,người nông dân chưa được hưởng quyền sở hữu ruộng đất một mùa luá thì đã phải vào Hợp Tác Xả ,tất cả đất đai trên toàn miền Bắc thuộc về sở hữu toàn dân ,có nghĩa là CSVN cướp trắng đất đai của mọi người và bây giờ nông dân phải sống lệ thuộc vào các Hợp Tác xả nông nghiệp bằnbg hình thức chấm công.

http://www.vietnamexodus.org/vne/modules.php?name=News&file=article&sid=137  Cải Cách Ruộng Ðất.

Giửa năm 1956 CSVN lường gạt trí thức Miền Bắc qua lời kêu gọi : góp ý sửa chửa sai lầm của đảng qua hình thức “Trăm Hoa Ðua Nở”,”Nhà Nhà lên tiếng” để rồi sau đó đồng loạt thanh trừng hàng ngàn người trí thức, những ai thật lòng góp ý ,vach cái sai của đảng. Ðiển hình là các nạn nhân như nhà văn Phan Khôi ,Trần Dần ,luật sư Nguyễn Mạnh Tường….bị tù đày và trù dập hàng chục năm sau.

b- Che dấu ý đồ thôn tính Miền Nam bằng hình thức tuyên truyền xảo trá:

Kế tiếp là sau khi đình chiến năm 1954 do Hiệp Ðịnh Genève, các nước trên thế giới đã đồng ý thông qua giải pháp chia đôi Việt Nam ,Miền Nam theo chế độ Tự Do dân Chủ ,Miền Bắc theo Cộng sản không xâm lăng lẩn nhau cùng tồn tại ,cùng kiến thiết để mai sau thống nhất không đổ máu như các nước Ðông vàTây Ðức,Trung Hoa Lục Ðịa và Ðài Loan ,Nam Hàn và Bắc Hàn . Nhưng Hồ Chí Minh là một tay sai của CSQT chĩ đặt quyền lợi của Vô sản lên trên quyền lợi và sự mong mỏi Hoà Bình của toàn dân Việt hai Miền .Trước năm 1954 với âm mưu thôn tính Miền Nam VN ,Hồ đã bí mật đem ém trên 60.000 quân ở lại Miền Nam thay vì tập kết ra Bắc như hiệp định đình chiền Genève đã quy định.

- http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2004/07/printable/040719_phamcaoduong.shtml    Hoi Nghi Genève

Sau khi nhận chỉ thị của CSQT tháng 12 năm 1960 Hồ đã chỉ thị tấn công bằng võ lực ,vượt qua vỹ tuyến 17 để xâm lược Miền Nam khiến cho hàng triệu sinh linh vô tội hai miền phải chịu hy sinh vô ích, đất nước Việt là chổ thử bom đạn của quốc tế,nơi tranh dành quyền lực của các cường quốc còn sinh mạng người Việt Nam thì bị hy sinh cho mưu đồ của hai thế lực Tự Do và Cộng sản .

c-Lừa dối nhân dân Miền Nam:

Trong chiến tranh xâm lược Miền Nam ,Hồ đã hứa với nhân dân Miền Nam là sẽ cho họ tự do lựa chọn thể chế chính trị và tôn trọng ý nguyện của họ. Thực chất Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam chỉ là công cụ ,tay sai cho mưu đồ của CS Bắc Việt,lợi dụng các tổ chức chính trị tại Miền Nam ,lừa gạt các tôn giáo , đảng phái là sẽ tôn trọng ý nguyện của họ trong việc lưạ chọn thể chế chính trị sau khi thống nhất đất nước.

Những cán bộ của MTGPMN góp công không nhỏ trong cuộc chiến 1954-1975 sau đó đã bị bạc đải và giải tán không kèn không trống tháng 10/1975 .Tất cả những tổ chức thuộc MTGPMN không phải là Cộng Sản đã bị khinh rẻ và ám hại sau nầy.Sau 1975 áp dụng hình thức trả thù nhân dân Miền Nam bằng những thủ đoạn : ép dân Miền Nam đi vùng Kinh Tế Mới , đánh tư sản mại bản ,bắt giam và áp dụng cực hình gần một triệu quân cán chính Miền Nam qua hình thức tập trung Cải Tạo v.v… .Trong khi người dân Miền Nam ,gia đình nào cũng có liên hệ mật thiết cả hai phe Quốc Cộng ,gây nên thảm cảnh nồi da xáo thịt , đi ngược lại nguyện vọng Ðoàn Kết ,Hoà Giải của nhân dân Miền Nam vốn đã có từ lâu đời.

Từ đó người dân Miền Nam nói chung không còn tin tưởng nơi chính sách nói một đàng làm một nẻo của CS nửa.Thậm chí có những cán bộ CSVN gốc Miền Nam cũng bất mản và phản đối ra mặt như Nguyễn Hộ,Nguyễn Văn Trấn ,Dương Quỳnh Hoa,Nguyễn Hữu Thọ v.v…

- http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2006/02/060228_duongquynhhoa_orbit.shtml  MTGPMN bi giải thể

- http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2006/03/060327_nguyenhuutho_speech.shtml  N H Th ọ

- http://www.vietnet.no/modules.php?name=News&file=article&sid=1683   Duong Q Hoa Nguyen H ủu Th ọ

Sự lưà gạt của Hồ Chí Minh tinh vi và khéo léo đến nổi nhiều người trong nước có nhận định sai lầm về bản thân Hồ,mà ngay đến nhiều nhà báo ,trí thức phương Tây cũng bị lầm lẫn cho Hồ là người có tinh thần quốc gia Dân Tộc!.Nhưng ngày nay với phương tiện thông tinh toàn cầu ,với thời gian nhiều vụ việc đã đưọc giải mật và nhất là hàng khối tài liệu của Liên Sô và Khối CS Ðông Âu sụp đổ đã đua ra ánh sáng nhiều sự kiện lịch sử hản hữu.

Hồ Chí Minh ngày nay hiện rỏ nguyên hình là con người của CSQT,lảnh lương của CSQT từ năm 1923.Suốt đời chỉ cúc cung tận tụy cho CSQT,nhận chỉ thị và áp dụng các quyết nghị của QTCS cho dù những điều đó có phương hại đến Dân Tộc và Ðất Nước Việt Nam.

Ðảng CSVN luôn tôn thờ chủ thuyết CS, đã trót ngụy tạo Hồ chí Minh là một người yêu nước,suốt đời vì Dân Tộc cho dù ngày nay sự thật đã phơi bày,nhưng vốn dỉ chính quyền CSVN dù không còn một chút tin tưởng nơi giáo điều cổ hủ Cộng Sản, nhưng chúng luôn bảo vệ thần tượng mà toàn đảng đã bỏ công nhào nặn ,dối gạt dân Việt Nam từ lâu.Chẳng qua là vì sự sống còn của chúng nên bọn chúng phải tiếp tục lừa gạt người dân trong nước một phen nửa mà thôi.

- http://www.vietnamexodus.org/vne/modules.php?name=News&file=article&sid=2292  HCM bàicủa sử gia Trần Gia Phụng.

Cố tổng thống Việt Nam Cộng Hoà Nguyễn Văn Thiệu đã nói một câu để đời cho những ai còn nhẹ dạ ,cả tin vào lời đường mật của CS : ” Ðừng tin những gì CS nói,mà hảy nhìn kỷ những gì CS làm”.

Tượng đài nạn nhân Công Sản tại Washington DC,Hoa Kỳ vừa khánh thành đã nói lên cho sự bạo tàn của chủ nghĩa CS đã gây ra cái chết cho 100 triệu nạn nhân ,đủ nói lên sự độc ác của chủ thuyết vô nhân đạo và lạc hậu đang bị đào thải và loài người lên án.Trong đó thành tích của Hồ Chí Minh góp phần cho Cộng Sản Quốc Tế để sát hại Dân Tộc Việt Nam cũng không phải là nhỏ!

- http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=62728  Tuợng Ðài nạn nhân CS

Long Ðiền 8/2007.

Tiếc Cho Một Người Lầm Lỡ Vừa Nằm xuống

Filed under: Lịch sử, MTGPMN, CPCMLT MNVN, Quan điểm, Thủ đoạn — tudo @ 6:37 am

Cộng Đồng - Fellesskap

MAI THANH TRUYẾT

Thân tặng tất cả những người Việt còn có tấm lòng yêu quê hương.

Bà Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa (DQH) vừa nằm xuống ngày thứ bảy 25-2-2006 tại Sài Gòn, và cũng vừa được hỏa táng vào ngày thứ ba 28/2. Báo chí trong nước cho đến hôm nay, không hề loan tải tin tức trên. Đài BBC có phỏng vấn Ông Võ Nhơn Trí ở Pháp về tin nầy và phát đi ngày 28/2. …

… Sự im lặng của Việt Nam khiến cho người viết thấy có nhu cầu trang trải và chia xẻ một số suy nghĩ về cái chết của BS DQH để từ đó rút ra thêm một kinh nghiệm sống về tính chất “chuyên chính vô sản” của những người cầm quyền tại Việt Nam hiện tại.

ÔNG BÀ DQH VÀ MẶT TRẬN DTGPMN

BS DQH là một người sống trong một gia đình theo Tây học, có uy tín và thế lực trong giới giàu có ở Sài Gòn từ thập niên 40. Cha là GS Dương Minh Thới và anh là LS Dương Trung Tín; gia đình sống trong một biệt thự tại đường Hồng Thập Tự xéo góc với Bộ Y tế (VNCH). LS Tín đã bị ám sát tại Đà Lạt trong đó cái chết của ông cũng không được soi sáng, nhưng đa phần có nhiều nghi vấn là do lý do chính trị vì ông có khuynh hướng thân Pháp thời bấy giờ.

Về phần Bà Hoa, được đi du học tại Pháp vào cuối thập niên 40, đã đỗ bằng Bác sĩ Y khoa tại Paris và về lại Việt Nam vào khoảng 1957 (?). Bà có quan niệm cấp tiến và xã hội, do đó Bà đã gia nhập vào Đảng CS Pháp năm 1956 trước khi về nước.

Từ những suy nghĩ trên, Bà hoạt động trong lãnh vực y tế và lần lần được móc nối và gia nhập vào Đảng CSVN. Tháng 12/1960, Bà trở thành một thành viên sáng lập của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam VN dưới bí danh Thùy Dương, nhưng còn giữ bí mật cho đến khi Bà chạy vô “bưng” qua ngõ Ba Thu -Mõ Vẹt xuyên qua Đồng Chó Ngáp. Ngay sau biến cố Tết Mậu Thân, tin tức trên mới được loan tải qua đài phát thanh của Mặt Trận.

Khi vào trong bưng, Bà gặp GS Huỳnh Văn Nghị (HVN) và kết hôn với GS. Trở qua GS Huỳnh Văn Nghị, Ông cũng là một sinh viên du học tại Pháp, đỗ bằng Cao học (DES) Toán. Về VN năm 1957, ông dạy học tại trường Petrus Ký trong hai năm, sau đó qua làm ở Nha Ngân sách và Tài chánh.  Ông cũng có tinh thần thân Cộng, chạy vô “bưng” năm 1968 và được kết nạp vào đảng sau đó.

Do “uy tín” chính trị quốc tế của Bà Hoa thời bấy giờ rất cao, Mặt Trận, một lá bài của CS Bắc Việt, muốn tận dụng uy tín nầy để tạo sự đồng thuận với chính phủ Pháp hầu gây rối về mặt ngoại giao cho VNCH và đồng minh Hoa Kỳ. Từ những lý do trên, Bà Hoa là một người rất được lòng Bắc Việt, cũng như Ông Chồng là GS HVN cũng được nâng đở theo. Vào đầu thập niên 70, Ông được chuyển ra Bắc và được huấn luyện trong trường đảng. Tại đây, với một tinh thần thông thoáng dân tộc, cộng thêm nhiều lý luận toán học, Ông đã phân tích và chứng minh những lý thuyết giảng dạy ở trường đảng đều không có căn bản lý luận vững chắc và Ông tự quyết định rời bõ không tiếp tục theo học trường nầy  nữa.

Nhưng chính nhờ uy tín của Bà DQH trong thời gian nầy cho nên ông không bị trở ngại về an ninh. Cũng cần nên nói thêm là ông đã từng được đề cử vào chức vụ Bộ trưởng Kinh tế nhưng ông từ chối.

ÔB DQH VÀ ĐẢNG CSVN

Chỉ một thời gian ngắn sau khi CS Bắc Việt giải tán Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam, Ô Bà lúc đó mới vở lẽ ra. Về phần Ô HVN, ông hoàn toàn không hợp tác với chế độ. Năm 1976, trong một buổi ăn tối với 5 người bạn thân thiết, có tinh thần “tiến bộ”, Ông đã công khai tuyên bố với các bạn như sau: “Các “toi” muốn trốn thì trốn đi trong lúc nầy. Đừng chần chờ mà đi không kịp. Nếu ở lại, đừng nghĩ rằng mình đã có công với “cách mạng” mà “góp ý” với đảng.” Ngay sau đó, một trong người bạn thân là Nguyễn Bá Nhẫn vượt biên và hiện cư ngụ tại Pháp. Còn 4 người còn lại là Lý Chánh Trung (giáo sư văn khoa Sài Gòn), Trần Quang Diệu (TTKý Viện Đại học Đà Lạt), Nguyễn Đình Long (Nha Hàng không Dân sự), và một người nữa người viết không nhớ tên không đi. Ông Trung và Long hiện còn ở Việt Nam, còn ông Diệu đang cư ngụ ở Canada.

Trở lại BS DQH, sau khi CS chiếm đóng miền Nam tháng 4/1975, Bà Hoa được “đặt để” vào chức vụ Tổng trưởng Y tế, Xã hội, và Thương binh trong nội các chính phủ. Vào tháng 7/75, Hà Nội chính thức giải thể chính phủ Lâm thời và nắm quyền điều hành toàn quốc, chuyển Bà xuống hàng Thứ trưởng và làm bù nhìn như Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Thị Định.  Chính trong thời gian nầy Bà lần lần thấy được bộ mặt thật của đảng CS và mục tiêu của họ không phải là phục vụ đất nước Việt Nam mà chính là làm nhiệm vụ của CS quốc tế là âm mưu nhuộm đỏ vùng Đông Nam Á.

Vào khoảng cuối thập niên 70, Bà đã trao đổi cùng Ô Nguyễn Hữu Thọ: ”Anh và tôi chỉ đóng vai trò bù nhìn và chỉ là món đồ trang sức rẻ tiền cho chế độ. Chúng ta không thể phục vụ cho một chế độ thiếu dân chủ và không luật lệ. Vì vậy tôi thông báo cho anh biết là tôi sẽ trả lại thẻ Đảng và không nhận bất cứ nhiệm vụ nào trong chính phủ cả.” Đến năm 1979, Bà chính thức từ bỏ tư cách đảng viên và chức vụ Thứ trưởng. Dĩ nhiên là Đảng không hài lòng với quyết định nầy; nhưng vì để tránh những chuyện từ nhiệm tập thể của các đảng viên gốc miền Nam, họ đề nghị Bà sang Pháp. Nhưng sau cùng, họ đã lấy lại quyết định trên và yêu cầu Bà im lặng trong vòng 10 năm.

Mười năm sau đó, sau khi được “phép” nói, Bà nhận định rằng Đảng CS Việt Nam tiếp tục xuất cảng gạo trong khi dân chúng cả nước đang đi dần đến nạn đói. Và nghịch lý thay, họ lại yêu cầu thế giới giúp đỡ để giải quyết nạn nghèo đói trong nước. Trong thời gian nầy Bà tuyên bố :”Trong hiện trạng của Đất Nước hiện tại (thời bấy giờ), xuất cảng gạo tức là xuất cảng sức khỏe của người dân.” Và Bà cũng là một trong những người đầu tiên lên tiếng báo động vào năm 1989 cho thế giới biết tệ trạng bán trẻ em Việt Nam ngay từ 9, 10 tuổi cho các dịch vụ tình dục trong khách sạn và các khu giải trí dành cho người ngoại quốc do các cơ quan chính phủ và quân đội điều hành.

Sau khi rời nhiệm vụ trong chính phủ, Bà trở về vị trí của một BS nhi khoa. Qua sự quen biết với giới trí thức và y khoa Pháp, Bà đã vận động được sự giúp đở của hai giới trên để thành lập Trung Tâm Nhi Khoa chuyên khám và chữa trị trẻ em không lấy tiền và Bà cũng được viện trợ thuốc men cho trẻ em Việt Nam suy dinh dưỡng nhất là acid folic và các lọai vitamin. Nhưng tiếc thay, số thuốc trên khi về Việt Nam đã không đến tay Bà mà tất cả được chuyển về Bắc. Bà xin chấm dứt viện trợ, nhưng lại được “yêu cầu phải xin lại viện trợ vì”nhân dân (của Đảng!). Về tình trạng trẻ con suy dinh dưỡng, với tính cách thông tin, chúng tôi xin đưa ra đây báo cáo của Bà Anneke Maarse, chuyên gia tư vấn của UNICEF trong hội nghị ngày 1/12/03 tại Hà Nội : “Hiện Việt Nam có 5,1 triệu người khuyết tật chiếm 6,3% trên tổng số 81 triệu dân. Qua khảo sát tại 648 gia đình tại ba vùng Phú Thọ, Quảng Nam và Tp HCM cho thấy có tới 24% trẻ em tàn tật dạng vận động, 92,3% khuyết tật trí tuệ, và 19% khuyết tật thị giác lẫn ngôn ngữ. Trong số đó tỷ lệ trẻ em khuyết tật bẩm sinh chiếm tới 72%.”

Vào năm 1989, Bà đã được ký giả Morley Safer, phóng viên của đài truyền hình CBS phỏng vấn. Những lời phỏng vấn đã được ghi lại trong cuốn sách của ông dưới tựa đề Flashbacks on Returning to Việt Nam do Random House, Inc. NY, 1990 xuất bản. Qua đó, một sự thật càng sáng tỏ là con của Bà, Huỳng Trung Sơn bị bịnh viêm màng não mà Bà không có thuốc để chữa trị khi còn ở trong bưng và đây cũng là một sự kiện đau buồn nhất trong đời Bà. Cũng trong cuốn sách vưà kể trên, Bà cũng đã tự thú là đã sai lầm ở một khoảng thời gian nào đó. Nhưng Bà không luyến tiếc vì Bà đã đạt được mục đích là làm cho những người ngoại quốc ra khỏi đất nước Việt Nam.

Sau cùng, chúng tôi xin liệt kê ra đây hai trong những nhận định bất hủ của BS DQH là: ”Trong chiến tranh, chúng tôi sống gần nhân dân, sống trong lòng nhân dân. Ngày nay, khi quyền lực nằm an toàn trong tay rồi, đảng đã xem nhân dân như là một kẽ thù tiềm ẩn.” Và khi nhận định về bức tường Bá linh, Bà nói: “Đây là ngày tàn của một ảo tưởng vĩ đại.”

BÀ DQH VÀ VỤ KIỆN DA CAM

Theo nhiều nguồn dư luận hải ngoại, trước khi ký kết Thương ước Mỹ-Việt dưới nhiệm kỳ của Tổng thống Clinton, hai chính phủ đã đồng ý trong một cam kết riêng không phổ biến là Việt Nam sẽ không đưa vụ Chất độc màu Da cam để kiện Hoa Kỳ, và đối lại, Mỹ sẽ ký thương ước với Việt Nam và sẽ không phủ quyết để Việt Nam có thể gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

Có lẽ vì “mật ước” Mỹ-Việt vừa nêu trên, nên Việt Nam cho thành lập Hội Nạn nhân chất Độc Da cam/Dioxin Việt Nam ngày 10/1/2004 ngay sau khi có quyết định chấp thuận của Bộ Nội vụ ngày 17/12/2003. Đây là một Hội dưới danh nghĩa thiện nguyện nhưng do Nhà Nước trợ cấp tài chính và kiểm soát. Ban chấp hành tạm thời của Hội lúc ban đầu gồm:

- Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó chủ tịch nước làm Chủ tịch danh dự;

- Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị QĐND làm Chủ tịch;

- GS, BS Nguyễn Trọng Nhân, nguyên Bộ trưởng Y tế, Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Việt Nam làm Phó Chủ tịch;

- Ô Trần Văn Thụ làm Thư ký.

Trong buổi lễ ra mắt, Bà Bình đã khẳng định rõ ràng rằng:”Chính phủ Mỹ và các công ty sản xuất chất độc hoá học da cam phải thừa nhận trách nhiệm tinh thần, đạo đức và pháp lý. Những người phục vụ chính thể Việt Nam Cộng Hòa cũ ở miền Nam không được đưa vào danh sách trợ cấp.”Theo một bản tin của Thông tấn xã Việt Nam thì đây là một tổ chức của những nạn nhân chất Da cam, cũng như các cá nhân, tập thể tự nguyện đóng góp để giúp các nạn nhân khắc phục hậu quả chất độc hoá học và là đại diện pháp lý của các nạn nhân Việt Nam trong các quan hệ với các tổ chức và cơ quan trong cũng như ngoài nước. Thế nhưng, trong danh sách nạn nhân chất da cam trong cả nước được Việt Nam ước tính trên 3 triệu mà chính phủ đã thiết lập năm 2003 để cung cấp tiền trợ cấp hàng tháng, những nạn nhân đã từng phục vụ cho VNCH trước đây thì không được đưa vào danh sách nầy (Được biết năm 2001, trong Hội nghị Quốc tế tại Hà Nội, số nạn nhân được Việt Nam nêu ra là 2 triệu!). Do đó có thể nói rằng, việc thành lập Hội chỉ có mục đích duy nhất là hỗ trợ cho việc kiện tụng mà thôi.

Vào ngày 30/1/2004, Hội đã nộp đơn kiện 37 công ty hóa chất ở Hoa Kỳ tại tòa án liên bang Brooklyn, New York do luật sư đại diện cho phía Việt Nam là Constantine P. Kokkoris. (Được biết LS Kokkoris là một người Mỹ gốc Nga, đã từng phục vụ cho tòa Đại sứ Việt ở Nga Sô và có vợ là người Việt Nam họ Bùi). Hồ sơ thụ lý gồm 49 trang trong đó có 240 điều khoảng. Danh sách nguyên đơn liệt kê như sau:

- Hội Nạn nhân Chất Da cam/Dioxin Việt Nam;

- Bà Phan Thị Phi Phi, giáo sư Đại học Hà Nội;

- Ông Nguyễn Văn Quý, cựu chiến binh tham chiến ở miền Nam trước 1975, cùng với hai người con là Nguyễn Quang Trung (1988) và Nguyễn Thị Thu Nga (1989);

- Bà Dương Quỳnh Hoa, Bác sĩ, nguyên Bộ trưởng Y tế Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam, và con là Huỳnh Trung Sơn; và

- Những người cùng cảnh ngộ.

Đây là một vụ kiện tập thể (class action) và yêu cầu được xét xử có bồi thẩm đoàn.  Các đương đơn tố các công ty Hoa Kỳ đã vi phạm luật pháp quốc tế và tội ác chiến tranh, vi phạm luật an toàn sản phẩm, cẩu thả và cố ý đả thương, âm mưu phạm pháp, quấy nhiễu nơi công cộng và làm giàu bất chánh để (1) đòi bồi thường bằng tiền do thương tật cá nhân, tử vong, và dị thai và (2) yêu cầu tòa bắt buộc làm giảm ô nhiễm môi trường, và (3) để hoàn trả lại lợi nhuận mà các công ty đã kiếm được qua việc sản xuất thuốc khai quang.

Không có một bằng chứng nào được đính kèm theo để biện hộ cho các cáo buộc, mà chỉ dựa vào tin tức và niềm tin (nguyên văn là upon information and belief).  Tuy nhiên, đơn kiện có nêu đích danh một số nghiên cứu mới nhất về dioxin của Viện Y khoa thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Hoa Kỳ, công ty cố vấn Hatfield Consultants của Canada, Bác sĩ Arnold Schecter của trường Y tế Công cộng Houston thuộc trường Đại học Texas, và Tiến sĩ Jeanne Mager Stellman của trường Đại học Columbia, New York. 

Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến trường hợp của BS Dương Quỳnh Hoa cũng như  quá trình hoạt động của Bà từ những năm 50 cho đến hiện tại. Tên Bà nằm trong danh sách nguyên đơn cũng là một nghi vấn cần phải nghiên cứu cặn kẽ.

Theo nội dung của hồ sơ kiện tụng, từ năm 1964 trở đi, Bà thường xuyên đi đến thành phố Biên Hòa và Sông Bé (?) là những nơi đã bị phun xịt thuốc khai quang nặng nề. Từ năm 1968 đến 1976, nguyên đơn BS Hoa là Tổng trưởng Y tế của Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam và ngụ tại Tây Ninh. Trong thời gian nầy Bà phải che phủ trên đầu bằng bao nylon và đã đi ngang qua một thùng chứa thuốc khai quang mà máy bay Mỹ đã đánh rơi. (Cũng xin nói ở đây là chất da cam được chứa trong những thùng phuy 200L và có sơn màu da cam. Chất nầy được pha trộn với nước hay dầu theo tỷ lệ 1/20 hay hơn nữa và được bơm vào bồn chứa cố định trên máy bay trước khi được phun xịt. Như vậy làm gì có cảnh thùng phuy rơi rớt!?).

Năm 1970, Bà hạ sinh đứa con trai tên Huỳnh Trung Sơn (cũng có tên trong đơn kiện như một nguyên đơn, tuy đã mất) bị phát triển không bình thường và hay bị chứng co giật cơ thể. Sơn chết vào lúc 8 tháng tuổi.

Trong thời gian chấm dứt chiến tranh, BS Hoa bắt đần bị chứng ngứa ngáy ngoài da. Năm 1971, Bà có mang và bị sẩy thai sau 8 tuần lễ. Năm 1972, Bà lại bị sẩy thai một lần nữa, lúc 6 tuần mang thai. Năm 1985, BS Hoa đã được chẩn bịnh tiểu đường. Và sau cùng năm 1998 Bà bị ung thư vú và đã được giải phẩu. Năm 1999, Bà được thử nghiệm máu và BS Schecter (Hoa Kỳ) cho biết là lượng Dioxin trong máu của Bà có nồng độ là 20 ppt (phần ức).  Và sau cùng, kết luận trong hồ sơ kiện tụng là: Bà BS Hoa và con là nạn nhân của chất độc Da cam.

Qua những sự kiện trên chúng ta thấy có nhiều điều nghịch lý và mâu thuẫn về sự hiện diện của tên Bà trong vụ kiện ở Brooklyn?

Để tìm giải đáp cho những điều nghịch lý trên, chúng tôi xin trích dẫn những phát biểu  của Bà trong một cuộc tiếp xúc thân hữu tại Paris trung tuần tháng 5/2004. Theo lời Bà (từ miệng Bà nói, lời của một người bạn tên VNT có mặt trong buổi tiếp xúc trên) thì “người ta đã đặt tôi vào một sự đã rồi (fait accompli). Tên tôi đã được ghi vào hồ sơ kiện không có sự đồng ý của tôi cũng như hoàn toàn không thông báo cho tôi biết. Người ta chỉ đến mời tôi hợp tác khi có một ký giả người Uùc thấy tên tôi trong vụ kiện yêu cầu được phỏng vấn tôi. Tôi chấp nhận cuộc gặp gỡ với một điều kiện duy nhất là tôi có quyền nói sự thật, nghĩa là tôi không là người khởi xướng vụ kiện cũng như không có ý muốn kiện Hoa Kỳ trong vấn đề chất độc da cam.” Dĩ nhiên cuộc gặp gỡ giữa Bà Hoa và phóng viên người Úc không bao giờ xảy ra.

Bà còn thêm rằng: “Trong thời gian mà tất cả mọi người nhất là đảng CS bị ám ảnh về việc nhiễm độc dioxin, tôi cũng đã nhờ một BS Hoa Kỳ khám nghiệm (khoảng 1971) tại Pháp và kết quả cho thấy là lượng dioxin trong máu của tôi dưới mức trung bình (2ppt).”

Đến đây, chúng ta có thể hình dung được kết quả của vụ kiện. Và ngày 10 tháng 3 năm 2005, Ông chánh án Jack Weinstein đã tuyên bố hủy bỏ hoàn toàn vụ kiện tại tòa án Brooklyn, New York.

BÀI HỌC ĐƯỢC RÚT RA TỪ CÁI CHẾT CỦA BS DQH

Từ những tin tức về đời sống qua nhiều giai đoạn của Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, hôm nay Bà đã đi trọn quảng đường của cuộc đời Bà. Những bước đầu đời của Bà bắt đầu với bầu nhiệt huyết của tuổi thanh niên, lý tưởng phục vụ cho tổ quốc trong sáng. Nhưng chính vì sự trong sáng đó Bà đã không phân biệt và bị mê hoặc bởi những lý thuyết không tưởng của hệ thống cộng sản thế giới. Do đó Bà đã bị lôi cuốn vào cơn gió lốc của cuộc chiến VN. Và Bà đã đứng về phía người Cộng sản.

Khi đã nhận diện được chân tướng của họ, Bà bị vỡ mộng và có phản ứng ngược lại. Nhưng vì thế cô, Bà không thể nào đi ngược lại hay “cải sửa” chế độ. Rất may cho Bà là Bà chưa bị chế độ nghiền nát. Không phải vì họ sợ hay thương tình một người đã từng đóng góp cho chế độ (trong xã hội CS, loại tình cảm tiểu tư sản như thế không thể nào hiện hữu được), nhưng chính vì họ nghĩ còn có thể lợi dụng được Bà trong những mặc cả kinh tế – chính trị giữa các đối cực như Pháp và Hoa Kỳ, trong đó họ chiếm vị thế ngư ông đắc lợi. Vì vậy, họ không triệt tiêu Bà.

Hôm nay, chúng ta có thể tiếc cho Bà (nhưng không thương), một người Việt Nam có tấm lòng yêu nước nhưng không đặt đúng chỗ và đúng thời điểm; do đó, khi đã phản tỉnh lại bị chế độ đối xử tệ bạc. Tuy nhiên, với một cái chết trong im lặng, không kèn không trống, không một thông tin trên truyền thông về một người đã từng có công đóng góp cho sự thành tựu của chế độ như Bà đã khiến cho chúng ta phải suy nghĩ, suy nghĩ về tính vô cảm của người cộng sản, cũng như suy nghĩ về tính chuyên chính vô sản của hệ thống xã hội chủ nghĩa. Đối với chế độ hiện hành, sẽ không bao giờ có được sự đối thoại bình đẳng, trong đó tinh thần tôn trọng dân chủ dứt khoát không hề hiện hữu như các sinh hoạt chính trị của những quốc gia tôn trọng nhân quyền trên thế giới. Do đó, với cơ chế trên, hệ thống XHCN sẽ không bao giờ biết lắng nghe những tiếng nói “đóng góp” đích thực cho công cuộc xây dựng Đất và Nước cả.

Bài học DQH là một bài học lớn cho những ai còn hy vọng rằng cơ hội ngày hôm nay đã đến cho những người còn tâm huyết ở hải ngoại ngõ hầu mang hết khả năng và kỹ năng về xây dựng quê hương. Hãy hình dung một đóng góp nhỏ nhặt như việc cung cấp những thông tin về nguồn nước ở các sông ngòi ở Việt Nam đã bị kết án là vi phạm “bí mật quốc gia” theo Quyết định của Thủ tướng Việt Nam số 212/203/QĐ-TTg ký ngày 21/10/2003. Như vậy, dù là “cùng là máu đỏ Việt Nam” nhưng phải là máu đ㠓cưu mang” một chủ thuyết ngoại lai mới có thể được xem là chính danh để xây dựng quê hương Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

MAI THANH TRUYẾT
Kỷ niệm ngày Lễ Tro 3/01/2006    

Ghi chú: Ngày 3/3/2006, trên báo SGGP, GS Trần Cửu Kiếm, nguyên ủy viên Ban Quân y miềm Nam, một người bạn chiến đầu của Bà trong MTDTGPMN, có viết một bài ngắn để kỷ niệm về BS DQH.

http://www.vietnet.no/modules.php?name=News&file=article&sid=1683

‘Dân chủ không thể có bằng sự ban ơn’

Filed under: "giải phóng", MTGPMN, CPCMLT MNVN, Thủ đoạn — tudo @ 6:33 am
‘Dân chủ không thể có bằng sự ban ơn’
Luật sư Nguyễn Hữu Thọ
Luật sư Nguyễn Hữu Thọ nói phải phân tích nguyên nhân từ căn bệnh quan liêu, bảo thủ, trì trệ

Luật sư Nguyễn Hữu Thọ (1910 – 1996) là một trong những trí thức miền Nam đi theo Cách mạng và trở thành Chủ tịch đầu tiên của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.

Sau năm 1975, ông được cử làm Phó Chủ tịch Nước, đến năm 1981 là Chủ tịch Quốc hội, rồi là Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc tại đại hội năm 1988.

Trong những năm cuối đời, ông Nguyễn Hữu Thọ có nhiều phát biểu phê phán sự dân chủ hình thức trong bộ máy lãnh đạo các cấp ở Việt Nam.

Tại Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP. HCM năm 1988, ông Nguyễn Hữu Thọ có bài phát biểu gây tiếng vang, với nội dung “Dân chủ không thể có bằng sự ban ơn.”

Gần 20 năm trôi qua, đọc lại bài này, những ai quan tâm đến chính trị, xã hội Việt Nam vẫn thấy những vấn đề đặt ra trong bài phát biểu còn tiếp tục được tranh luận trong thời điểm hiện nay.

Dưới đây là trích đoạn bài phát biểu của luật sư Nguyễn Hữu Thọ đọc tại Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP. HCM năm 1988. Bài phát biểu do Võ Linh Hà ghi, và đã in trong cuốn “Luật sư Nguyễn Hữu Thọ gắn bó với dân tộc, với nhân dân, với cách mạng” – NXB Chính Trị Quốc Gia – 1996.

…Trong nhiều bài phát biểu ở Đại hội này, dưới những góc cạnh khác nhau, đều toát lên tinh thần lo toan, trăn trở trước tình hình đất nước còn quá nhiều khó khăn. Nhưng vì sao đất nước ta lại rơi vào một tình trạng khó khăn như thế? Có phải do người Việt Nam chúng ta thiếu khả năng, lười biếng, thiếu năng động, sáng tạo? Chắc là không ai nghĩ như thế, vì quá khứ của dân tộc ta, vì những thành tựu mà người Việt Nam khi ra nước ngoài đã đạt được, chứng minh là không phải như thế.

Tôi nghĩ rằng phải phân tích nguyên nhân từ căn bệnh quan liêu, bảo thủ, trì trệ còn nặng nề trong bộ máy lãnh đạo các cấp, từ sự thiếu dân chủ và chưa dám mạnh dạn đấu tranh của chúng ta.

Đừng có ảo tưởng rằng những người quan liêu, bảo thủ sẽ tự giác trao cho nhân dân quyền dân chủ, tự giác cụ thể hóa để thực hiện sự nghiệp đổi mới. Vấn đề tùy thuộc rất nhiều vào sự đấu tranh của các tổ chức đại diện cho nhân dân là Quốc hội, Hội đồng Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể…

 Đừng có ảo tưởng rằng những người quan liêu, bảo thủ sẽ tự giác trao cho nhân dân quyền dân chủ, tự giác cụ thể hóa để thực hiện sự nghiệp đổi mới.

Chúng ta phải đau lòng mà nhận thấy rằng vừa qua sự đấu tranh của những công cụ ấy của nhân dân vẫn còn rất yếu. Không phải là chúng ta không có điều kiện để đấu tranh mà là các tổ chức nói trên vẫn còn chưa dám đấu tranh và đã tỏ ra yếu ớt.

Vì sao, theo quy định, Mặt trận Tổ quốc là tổ chức có quyền giới thiệu người ra ứng cử vào cơ quan Nhà nước lại không đứng ra thật sự lựa chọn người có tài, đức để giới thiệu mà thường ngoan ngoãn làm theo danh sách được đưa xuống từ cấp trên?

Chỉ thị 17 của Ban Bí thư đã quy định những nhiệm vụ và quyền hạn của Mặt trận Tổ quốc, vì sao Mặt trận không chủ động, vận dụng và đấu tranh thực hiện?

Vì sao Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể là những tổ chức của nhân dân lại chỉ thụ động thi hành những gì đã được quyết định mà không chủ động nắm bắt, phản ánh, đấu tranh để những vấn đề bức xúc của quần chúng được giải quyết?

Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất, nhưng cũng đấu tranh yếu ớt. Những gì đạt được ở những phiên họp QH gần đây vẫn chưa phải là những điều cơ bản. Bãi miễn các chức vụ nhà nước là quyền của QH và Hội đồng nhân dân (HĐND), nhưng quyền ấy chưa bao giờ được sử dụng.

Quốc hội đã thế, HĐND còn yếu hơn. Chúng ta tốn tiền của, thì giờ để tổ chức bầu cử ra các cơ quan dân cử, để các cơ quan đó hội họp mỗi năm mấy lần, nhưng đã giải quyết được những gì phục vụ nhân dân?

Người ta chỉ thấy cơ quan thừa hành là ủy ban nhân dân là tổ chức chịu sự kiểm soát của HĐND, nhưng chủ tịch của UBND lại cũng là chủ tịch của HĐND. HĐND quyền lực như thế mà không có bộ máy đầy đủ, không có ngân sách, thậm chí còn không có cả trụ sở. Những điều khôi hài như thế vẫn chưa được đấu tranh để thay đổi.

Nhân dân ai cũng thích cái bánh thật chứ chẳng ai thích cái bánh vẽ. Chỉ có những kẻ bất tài, có quyền lợi cá nhân gắn với những cơ chế tổ chức hình thức mới thích những thứ hoạt động hình thức đó.

 Điều đau lòng là trong nhiều năm liền trôi qua, chúng ta vẫn còn duy trì những thứ hình thức, hữu danh vô thực đó. Khuyết điểm lớn của chúng ta là chưa có dân chủ thật sự.

Điều đau lòng là trong nhiều năm liền trôi qua, chúng ta vẫn còn duy trì những thứ hình thức, hữu danh vô thực đó. Khuyết điểm lớn của chúng ta là chưa có dân chủ thật sự. Nhiều nguyện vọng chính đáng của người dân chưa được đấu tranh thực hiện, người dân chưa thật sự chọn lựa được những người lãnh đạo theo sự tín nhiệm của họ.

Tất cả vấn đề là phải đấu tranh để thực hiện. Cuộc đấu tranh này không giống cuộc đấu tranh đối kháng với địch trước đây nhưng cũng phải diễn ra quyết liệt.

Nghị quyết Đại hội VI và những chủ trương đúng đắn của Đảng phải được đấu tranh để thể chế hóa thành luật. Khi đã có luật thì phải đấu tranh để luật được thi hành. Không có luật pháp thì không thể bảo đảm được quyền dân chủ.

Chức năng, nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước, các cơ quan dân cử, các tổ chức quần chúng phải được phân định rõ ràng, không thể để tình trạng giẫm chân, bao biện làm thay tiếp tục xảy ra mãi được.

Tòa án phải có tính độc lập, không thể xử án theo những lệnh lạc đã được ra sẵn. Tôi cho rằng Mặt trận Tổ quốc cũng cần có một qui chế rõ ràng về mối quan hệ của mình với các cơ quan nhà nước.

Tôi nghĩ rằng dù cho đại hội này của Mặt trận Tổ quốc TP có thành công đến đâu, vấn đề vẫn tùy thuộc ở sự dũng cảm đấu tranh trong những ngày sắp tới. Dân chủ không thể có bằng sự ban ơn mà bằng sự đấu tranh.

………………………………………………………..

Phodem, Omaha
Theo tôi nghĩ , chẳng phải biến mình thành con Tốt đen để nướng quân cho tướng lãnh nào hết. Mà người dân VN đã tự biến mình thành những con Dế đá, đá lẫn nhau, giết lẫn nhau trong bao nhiêu thập niên đã qa và chỉ làm trò tiêu khiển của những tên ngoại Bang Tàu, Nga , Pháp Mỹ……… Ôi niềm tự hào của những con Dế hay là niềm đau của Dân tộc Viêt?

Giấu tên
Thực tế như thế nào về người Việt Nam thì ai cũng rõ. Quả thật, trong một thời gian dài suốt hơn nửa thế kỷ, người dân đã bị ru ngủ trong những tư tưởng hào nhoáng đã thui chột và tiêu diệt khả năng vươn mình phát triển. Khả năng duy nhất của người VN có thể có được không phải là kinh tế, sáng tạo, phát triển, mà là khả năng biến mình thành những con tốt thí cho những cuộc nướng quân của những tướng lãnh.

Ngoài ra chẳng được cái gì. Đã nhiều năm rồi, dân vẫn nghèo, xã hội vẫn trì trệ. Và những người lập nghiệp ở những đất nước xa xôi thì kỳ lạ thay lại có những đóng góp lớn thậm chí cho nhân loại. Còn trong nước thì không thấy có một tín hiệu hy vọng nào cả. Đâu đó trên những diễn đàn ‘dân chủ’ này nọ có những tuyên bố, ra vẻ tranh luận sùi bọt mép, rồi cũng chẳng đi đến đâu, chỉ là thuốc giải nghiền cho những người ‘yêu tự do’.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2006/03/060327_nguyenhuutho_speech.shtml

Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa qua đời

Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa qua đời
Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa
Bác sĩ Hoa suốt đời tận tụy với nhi khoa

Bà Dương Quỳnh Hoa, một trong những thành viên sáng lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, vừa qua đời hôm 25-2 ở TP. HCM, hưởng thọ 76 tuổi.

Bản tin trên báo ở Việt Nam nhắc đến bà như một trong ba nạn nhân chất độc da cam Việt Nam đầu tiên đệ đơn kiện lên tòa án Hoa Kỳ.

Tuy vậy, bản tin không nói gì đến giai đoạn sau 1975, khi bà Dương Quỳnh Hoa xin ra khỏi Đảng vì bất đồng ý kiến với ban lãnh đạo ở Hà Nội.

Học y khoa ở Paris và quay về Sài Gòn năm 1954, bà bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng tại miền Nam.

Năm 1969, bà giữ chức Bộ trưởng Y tế của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam.

Sau năm 1975, bà tiếp tục giữ chức Bộ trưởng trong Chính phủ Cách mạng lâm thời. Nhưng đến tháng Bảy năm đó, bộ máy này bị giải thể.

Nhiều thành viên của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam bị vô hiệu hóa và được giao những chức vụ hình thức.

Những người như Trương Như Tảng, người sau này sống lưu vong ở Pháp, cho rằng những đóng góp và vị trí của họ đã không được thừa nhận đầy đủ sau chiến tranh.

Năm 1979, bà Dương Quỳnh Hoa xin ra khỏi Đảng.

Ông Võ Nhân Trí, một nhà kinh tế vào Đảng năm 1961 nhưng sau này rời bỏ, nói sau 1975, bà Dương Quỳnh Hoa tỏ ra thất vọng.

“Sau 1975, bác sĩ Dương Quỳnh Hoa tỏ ra bất đồng ý kiến với chính phủ Hà Nội. Bất đồng về chính sách nói chung, và nhất là về chính sách đối với miền Nam. Bà ấy không chịu đứng trong danh sách các ứng cử viên vào Quốc hội sau 1975.”

“Chính phủ Hà Nội khi ấy đề nghị bà Hoa ra Hà Nội để nhận chức vụ Thứ trưởng Bộ Y tế. Nhưng bà Hoa từ chối. Đồng thời, bà xin ra khỏi Đảng.”

Theo lời kể của ông Võ Nhân Trí, thủ tướng Việt Nam khi đó, ông Phạm Văn Đồng, đã nói chuyện với bà.

“Bà ấy trực tiếp đề nghị với Thủ tướng Phạm Văn Đồng về việc xin ra khỏi Đảng. Theo bà Hoa kể lại với tôi, ông Phạm Văn Đồng hỏi lại bà ấy: Chị suy nghĩ kỹ chưa về những hậu quả của việc này?”

Bà Hoa nói bà nghĩ kỹ, và sau khi bàn bạc với ban lãnh đạo, ông Đồng mới nói đồng ý, “Nhưng với một điều kiện rất quan trọng, là bà chỉ được nói công khai việc ra khỏi đảng 10 năm kể từ khi bà nộp đơn,” ông Võ Nhân Trí nhớ lại.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2006/02/060228_duongquynhhoa_orbit.shtml

The Silver is the New Black Theme. Blog at WordPress.com.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.