Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

October 13, 2008

audio: quê hương & Tuổi trẻ : lịch sử & bình luận thời sự

Filed under: a1 audio, Quan điểm, Tin tức - Đọc báo — tudo @ 1:53 am

* 2008 audio: quê hương & Tuổi trẻ


Vượt tường lửa:
1: audio: que huong – tuoi tre
2: audio: que huong – tuoi tre
3: audio: que huong – tuoi tre
4: audio: que huong – tuoi tre

Advertisements

July 27, 2008

Bích Liên: Vài suy nghĩ về luật trưng mua, trưng dụng tài sản

Bích Liên

Ngày 3/6/2008, Quốc hội thông qua nhanh chóng Luật trưng mua, trưng dụng tài sản. Nhưng báo chí trong nước đều im hơi lặng tiếng về sự kiện này cho đến lúc có công bố của Chủ tịch nước vào ngày 23/6/2008. Báo giới chính thống cũng chỉ giới thiệu vài dòng, không một bình luận nào. Và nếu có, thì chỉ «khen» «luật này ra đời rất đúng lúc». Thế nhưng, trái ngược với không khí «thanh bình» mà báo chí trong nước cố tạo ra, mối nguy về sự bất an dâng lên trong lòng dân lại luôn thường trực.

Ưu tư của một sinh viên ngành luật

Luật đòi hỏi ở người dân sự hi sinh quá lớn về quyền lợi kinh tế

Hi sinh quyền lợi kinh tế thể hiện không những ở loại tài sản có thể bị trưng dụng, trưng mua, mà còn cả mức giá trưng mua hoặc mức bồi thường.

Tài sản thuộc phạm vi trưng mua, trưng dụng là rộng, bao gồm : đất, nhà, các tài sản gắn với đất ; thuốc chữa bệnh, lương thực, thực phẩm, công cụ, dụng cụ và vật tư, vật dụng thiết yếu khác ; phương tiện giao thông vận tải, thông tin liên lạc và phương tiện kỹ thuật khác. (điều 13+23)

Cá nhân, tổ chức có tài sản là đối tượng trưng mua, trưng dụng hoàn toàn bị cưỡng chế, thậm chí chỉ bằng lời nói (trường hợp trưng dụng), không có pháp lí nhưng hiệu lực trưng dụng lại ngay lập tức.

Đối với giá tài sản trưng mua và mức bồi thường trưng dụng, khi không tìm được sự đồng thuận với cá nhân, tổ chức có tài sản, người có thẩm quyền «có thể thành lập hội đồng xác định giá trưng mua tài sản» (khoản 1c) điều 18 ) và «mức bồi thường» (với tài sản trưng dụng, khoản 2 điều 34). Có ai dám chắc trong một nước tham nhũng từ lâu trở thành quốc nạn như VN, hội đồng ấy sẽ đưa ra mức giá[1] chính xác, hoàn toàn dựa trên những thông số kĩ thuật, khách quan ? Và nếu thật sự có một hội đồng công minh ở VN, thì cũng không có nghĩa là người dân có được sự đảm bảo nào đó. Ngay điều 18 và 34 cho thấy người có thẩm quyền chưa chắc theo mức giá mà hội đồng đưa ra vì « quyền quyết định giá » của người có thẩm quyền tồn tại độc lập với việc thành lập hội đồng này ; hơn nữa, «thành lập» hay không hội đồng này thuộc quyền hạn của người có thẩm quyền trưng mua hay trưng dụng.

Như thế, quyền sở hữu- được Hiến pháp bảo đảm (điều 58 HP 1992) và quyền sử dụng tài sản của «tổ chức (ngoài nhà nước), cá nhân, hộ gia đình» có thể bị đưa ra hi sinh chỉ với mức giá rất thấp !

Sự hi sinh lại được bảo đảm bởi công lý…nửa vời

Trong tình trạng chiến tranh, đe dọa nguy hại đến an ninh, sự tồn tại của quốc gia, Nhà nước có quyền thâu tóm tất cả quyền lực (hay là quyền lực tuyệt đối –cho phép dùng vũ lực để cưỡng chế). Nhưng bù lại, cần phải có sự kiểm soát của tòa án để quyền lực ấy không bị lạm dụng.

Luật thông qua ngày 3/6 vừa qua đã trao một quyền lực tuyệt đối cho vài cơ quan Nhà nước khi thực hiện các biện pháp trưng mua, trưng dụng tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc sử dụng của người dân. Thế nhưng, thiếu độc lập với các cơ quan quyết định và thi hành quyết định trưng mua, trưng dụng, tòa án VN không thể nào có được «quyền kiểm soát» quyền lực ấy và như vậy, việc lạm dụng quyền lực là không thể tránh khỏi.

Sự công nhận quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện của người có tài sản tại điều 10 khoản 1c cũng vì thế không có giá trị gì trên thực tế. Thiếu đi tính độc lập, cơ quan tư pháp – đáng lý là quyền lực đối trọng với các quyền lực chính trị khác- rất khó đứng về phía người dân để bảo vệ quyền và tự do của họ, nhất lại trong mối quan hệ giữa công dân với Nhà nước. Tôn chỉ xử án quan trọng nhất của Toà án VN là bảo vệ ổn định xã hội. Sự tương thích giữa tính chất của các hoàn cảnh cho phép áp dụng luật này (xem điều 5- điều kiện trưng mua, trưng dụng) và biện pháp cần thiết để «ổn định xã hội» tạo điều kiện cho tòa án « giúp » cơ quan hành chính chà đạp lên quyền khiếu nại, tố cáo…

Công nhận trên văn bản một quyền mà không đảm bảo sự thực thi trên thực tế, việc đòi công lý là xa vời.

Công lý cũng không thể được thực thi khi một cơ quan vừa là bị cáo vừa là quan tòa. Theo luật này, Bộ tài chính vừa là cơ quan có thẩm quyền quyết định trưng mua (điều 14 khoản 2), trưng dụng (điều 24 khoản 1), lại vừa là cơ quan có «trách nhiệm… thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về trưng mua, trưng dụng tài sản», vừa đảm nhận «giải quyết khiếu nại, tố cáo» (điều 9, khoản 2d và 2đ). Có chăng công lý chỉ đến từ một Bộ tài chính liêm khiết, chính trực. Nhưng trong cơ chế hành chính ở VN hiện nay còn khó tìm thấy một viên chức liêm khiết, dám chống lại cả hệ thống bằng cách thiết lập công lý cho người bị oan, chứ đừng nói gì cả một nhóm người trong Bộ tài chính ?! Chỉ là công lý…nửa vời !

Thậm chí, giả sử tòa án là độc lập, thì với khoản 1c) của điều 10, khi được quyền «Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về trưng mua, trưng dụng tài sản theo quy định của pháp luật », người dân không biết phải tìm «quy định của pháp luật» này ở đâu để áp dụng cho đúng. Những quy định giải quyết xích mích liên quan đến quyết định và thi hành quyết định trưng mua, trưng dụng tài sản có thể nằm ở « luật đất đai », «luật đê điều», «luật bất động sản», «luật môi trường», «luật xây dựng», «luật khiếu nại, tố cáo»… Sự chồng chéo quy định như thế, có khác gì muốn làm nản lòng người khởi kiện.

Người dân đã có thể chờ đợi một cách chính đáng khả năng truy tố trách nhiệm cá nhân của người có thẩm quyền khi thực hiện sai việc trưng dụng, trưng mua như điều 48 trong dự án luật[2]. Nhưng luật thông qua ngày 3/6 không giữ lại điều luật này. Như thế có nghĩa là việc truy tố trách nhiệm chỉ còn giải quyết ở mặt hành chính. Vậy mà, theo hai điều 18 và 34, khi cá nhân, tổ chức có tài sản là đối tượng của luật không đồng ý với mức giá quyết định đơn phương bởi người có thẩm quyền thì họ chỉ có quyền khiếu nại[3]. Quyền tố cáo, quyền khởi kiện không áp dụng ở đây. Nhưng quyền khiếu nại chỉ cho phép người có tài sản bị trưng mua, trưng dụng «đề nghị» lên người có thẩm quyền [4] «xem xét lại» quyết định hoặc hành vi hành chính xâm phạm lợi ích của mình[5] . Nếu không có giải quyết thì sao ? Luật không đề cập đến.

Trong điều kiện đó, mất quyền tố cáo và quyền khởi kiện, lại thiếu khả năng truy tố trách nhiệm cá nhân, nguy cơ mất trắng tài sản (nếu mức giá ấn định là rất thấp) của người dân là rất cao. Mất trắng mà không biết kêu cứu ở đâu, đi đâu để tìm công lý !

Luật sẽ đặt đất nước vào tình trạng khó khăn bởi thất thoát vốn đầu tư và nguy cơ biểu tình cao

Nghiên cứu đồng thời điều 23 và điều 25 Hiến pháp 1992 cho thấy Hiến pháp chỉ đề cập đến vấn đề trưng mua, trưng dụng tài sản của tổ chức, cá nhân trong nước (khi thật cần thiết), mà không đề cập gì đến vấn đề này đối với người nước ngoài (ngay cả khi thật cần thiết). Hơn nữa, điều 25 «Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không bị quốc hữu hoá» có nghĩa là tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp không thể chuyển thành tài sản thuộc sở hữu của nhà nước, dù với bồi thường (trưng mua) hoặc không (tịch thu). Vậy ít nhất đối với vấn đề trưng mua tài sản, có thể hiểu rằng Hiến pháp cấm áp dụng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Cũng chính vì thế mà luật đầu tư năm 1996 (sau này bị sửa đổi bởi luật đầu tư 2005 theo hướng của luật 2008 này) quy định «Trong quá trình đầu tư vào Việt Nam, vốn và tài sản hợp pháp khác của nhà đầu tư nước ngoài không bị trưng dụng hoặc tịch thu bằng biện pháp hành chính, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không bị quốc hữu hoá»

Khi mở rộng « nạn nhân » của các biện pháp trưng mua, trưng dụng tới người nước ngoài, trong đó có Việt kiều- đối tượng mà mấy năm gần đây cung cấp khoản đầu tư lớn vào nền kinh tế VN, nền kinh tế VN có thể sẽ chịu khoản thất thoát lớn về nguồn vốn bởi sự ra đi của các nhà đầu tư này. Như thế sẽ chỉ làm nặng thêm khoản vay nước ngoài hiện nay vốn đã không có khả năng chi trả.

Tại sao lại lựa chọn một cách làm tự giết chết nền kinh tế của đất nước như thế ? Phải chăng chỉ là vì quyền lợi của bộ máy lãnh đạo khi cảm giác không đủ khả năng tháo gỡ nền kinh tế, tài chính của đất nước thoát khỏi khủng hoảng ?!

Khủng hoảng trong lòng dân cũng không thể tránh khỏi. Tài sản mà bộ luật đề cập đến bao gồm đất đai. Trước tình hình bất lực của chính quyền trong việc giải quyết các khiếu nại, tố cáo từ những cuộc thu hồi đất trong và sau hai cuộc chiến, phải chăng sự ban hành luật này nhằm mục đích hợp pháp hóa vấn đề cưỡng chế thu hồi đất ?! Luật ra đời có lẽ không phải để giải quyết các vấn đề khiếu kiện (đáp ứng lòng dân), mà trái lại cung cấp cho chính quyền một công cụ pháp lý để dễ dàng hơn trong việc thu hồi đất. Nhưng những cuộc biểu tình của bà con các tỉnh trước văn phòng QH ở HN và SG từ năm vừa qua đã cho thấy nỗi uất ức của người dân đang chuyển thành hành động. Khi luật này bắt đầu áp dụng, nạn nhân sẽ nhân lên, nguy cơ biểu tình cũng vì thế có thể lan rộng.

Lời kết : làm sao để tự bảo vệ tài sản của mình ?

Làm thế nào trước khi luật này có hiệu lực (1/9/2009 ) bảo vệ ít nhiều tài sản của mình ? Chẳng nhẽ tìm cách chuyển tài sản của mình thành những tài sản «không thuộc đối tượng trưng mua, trưng dụng» ?! Tức là bán tất cả rồi chuyển vào ngân hàng nước ngoài ?! Thế thì sẽ ở đâu, làm ăn ra sao ?! Ôi, không lẽ trong thời bình, người dân lại phải nghĩ đến chuyện di tản ?!

Bích Liên
© Tạp chí Phía Trước

[1] «Giá» ở đây, xin hiểu là giá trưng mua tài sản và mức bồi thường trưng dụng.
[2] mời xem tại http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2008/02/05/56472/
[3] «nếu người có tài sản… không đồng ý với giá này thì vẫn phải chấp hành nhưng có quyền khiếu nại.»
[4] «người có thẩm quyền» bao gồm người chịu trách nhiệm trực tiếp với quyết định, hành vi hành chính nào đó và cả người cấp trên của người đó.
[5] xem định nghĩa «khiếu nại» tại trang Hướng dẫn nghiệp vụ-BTP http://nghiepvu.moj.gov.vn/xembai.aspx?nv=295

Nguồn:
http://blog.360.yahoo.com/blog-V3M_NEolerbUJtSbv.5KMo8GAUmgg7A-?cq=1

July 6, 2008

Lê Minh: CSVN âm mưu xóa sổ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất

Lê Minh

Tin Hoà thượng Thích Huyền Quang, Ðệ tứ Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất (GHPGVNTN) qua đời hôm qua ngày 5 tháng 7 là cái tin buồn không riêng cho hàng ngũ chức sắc Phật giáo, Phật tử Việt Nam, mà còn là cái tang chung cho dân tộc Việt Nam, bởi vì ngài là lãnh tụ của một giáo hội bị CSVN liên tục trù dập, đàn áp, và ngài còn là hình ảnh của nhân từ bác ái, đối kháng với bạo quyền, không chấp nhận sự áp đặt việc chính trị hóa Giáo hội PGVNTN.

Trong thời gian gần đây, tình hình sức khỏe của ngài suy sụp. Đoán biết trước sự ra đi của ngài, cách đây mấy hôm các báo chí quốc doanh theo chỉ thị của Ban Tôn giáo và Ban Tư tưởng Trung ương đã đồng loạt “khai hỏa”, tấn công Giáo hội PGVNTN. Mở màn là Thông Tấn Xã Việt Nam (TTXVN), cái loa của chế độ, rồi kế đến là màn “hội đồng” của các tờ báo lớn như Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Quân đội Nhân dân, VietnamNet, Lao Động,… với cùng một văn phong (đương nhiên là “sao y bản chánh”), đã lần lượt tố khổ, bôi nhọ giáo hội bằng những ngôn từ lật lọng, đổi trắng thay đen không thể tưởng tượng được.

Bài viết trên các tờ báo này đã sử dụng cùng một phương châm: tâng nịnh HT. Thích Huyền Quang, trong khi nói xấu để tìm cách chia rẽ các thành viên trong hàng giáo phẩm và luôn tìm cách đánh đổ tính chính danh của Giáo hội PGVNTN.

Theo Giáo sử thì Giáo hội PGVNTN là tổ chức hợp nhất các giáo phái Phật Giáo VN, được hình thành vào tháng 1 năm 1964, với vị Đệ nhất Tăng thống (1964-1973) Hòa thượng Thích Tịnh Khiết (1890-1973), Đệ nhị Tăng thống (1973-1979) Hòa thượng Thích Giác Nhiên (1878-1979), Đệ tam Tăng thống (1979-1991) Hòa thượng Thích Đôn Hậu (1905-1991) và kế đến là Đệ tứ Tăng thống (1991-2008 ) Hòa thượng Thích Huyền Quang (1919-2008 ) vừa viên tịch.

Trong suốt quãng thời gian gần nửa thế kỷ ấy, Giáo hội PGVNTN đã trải qua nhiều thăng trầm. Sau biến cố 1975, Giáo hội đã chịu sự trù dập đàn áp cay nghiệt của chính quyền CSVN. Năm 1981, để dễ bề cai quản, nhà nước CSVN đã cho thành lập Giáo hội Phật Giáo VN, và cũng để khai tử Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, vì Giáo hội không chịu đặt mình dưới sự chỉ đạo chính trị của nhà nước CSVN thông qua Mặt trận Tổ quốc, một công cụ của Đảng CSVN.

Bản thân Hòa thượng Thích Huyền Quang cũng phải chịu nhiều trù dập bắt bớ, đặc biệt là kể từ khi ngài phải tiếp nối con đường của cố đại lão HT. Thích Đôn Hậu, gánh vác trách nhiệm của Giáo hội PGVNTN trong cương vị giáo chủ. Ngài đã nhiều lần bị chính quyền bắt bớ, giam cầm, quản chế tại gia, tại Tu viện Nguyên Thiều, ngăn cản không cho đi lại. Suốt những năm đầu của thế kỷ 21 này, chịu nhiều áp lực của dư luận, và chính khách quốc tế, thủ tướng CSVN Phan Văn Khải khi đó đã phải tiếp Ngài ở Hà Nội. Ngài đã đặt vấn đề yêu cầu nhà nước CSVN trả lại cho Giáo hội PGVNTN chính danh và quyền hợp pháp, thế nhưng Phan Văn Khải cũng chỉ ầm ừ hứa cuội cho qua chuyện.

Trở lại với việc các tờ báo và cơ quan truyền thông quốc doanh lợi dụng tình huống hiểm nghèo của Giáo hội PGVNTN để gây xáo trộn, TTXVN đã lố bịch khi cho rằng các chức sắc của Giáo hội PGVNTN toan tính “giành quyền tổ chức tang lễ” cho chính vị lãnh đạo của mình. Cái loa Thông Tấn Xã này còn nhai lại sáo ngữ quen thuộc khi cho rằng chính quyền địa phương đã “chỉ đạo” việc chăm sóc cho Hoà Thượng tại bệnh viện. Thì ra, tại Việt Nam hiện nay, chỉ khi nào có sự “chỉ đạo” đặc biệt của chính nhà nước thì bệnh nhân mới được chăm sóc đàng hoàng, chứ không như tại các nước văn minh khác, một khi bệnh nhân được đưa vào bệnh viện thì các bác sĩ y tá đều phải hết mình cứu chữa, dù đó là một tội nhân, chứ chưa nói là một vi cao tăng được trọng vọng như trường hợp của đại lão HT. Thích Huyền Quang.

Nếu sự quan tâm ưu ái này là có thật thì rõ ràng đó là một mưu mô có tính toán dưới bàn tay “chỉ đạo” đầy lông lá của nhà nước CSVN. Bản thân HT. Thích Huyền Quang đã từng bị tù đày, vu vạ, quản chế không được đi lại tự do. Nhớ lại hồi năm 1992, trưởng ban Dân vận khi đó là Phan Văn Tánh đã ra chỉ thị mật về việc “Huyền Quang và số phần tử hoạt động chống đối”, để lệnh cho Giáo hội Phật Giáo Việt Nam (quốc doanh) phải triệt hạ uy tín ngài.

Cách đây mấy năm, khi ngài và phái đoàn phật tử trên đường đến Lương Sơn gần thành phố Nha Trang, thì bị công an chận bắt. Sau đó các cán bộ Mặt trận Tổ quốc và công an thay phiên nhau khám xét thân thể và hỏi cung ngài suốt hơn 8 tiếng đồng hồ.

Thử hỏi chỉ với hai ví dụ điển hình trong một quãng thời gian gần như vậy, có lý nào nhà nước CSVN lại thay giọng đổi tánh nhanh như vậy?

Chính nhà nước CSVN đã quản thúc ngài suốt nhiều năm và ngăn cản sự đi lại của ngài, vậy mà TTXVN đã ngậm máu phun người, trân tráo lật lọng khi lập luận rằng các thị giả hầu cận của ngài là những người đã được Giáo hội PGVNTN cử ra để quản thúc ngài. Thật là nực cười không thể chịu nổi!

TTXVN còn cho rằng các chức sắc Giáo hội PGVNTN lợi dụng tình huống này để “công khai hóa một tổ chức bất hợp pháp mang tên Giáo hội PGVNTN”. Đây là một lập luận ấu trĩ, vì chưa bao giờ trong lịch sử Giáo hội của mình, Giáo hội PGVNTN phải nhờ đến một nhà nước, chính quyền nào hợp pháp hóa danh xưng tổ chức của mình. Giáo hội PGVNTN đã hiện diện và tồn tại từ trước năm 1975, và hiện nay vẫn tiếp tục tồn tại mặc dầu CSVN đã và đang ra sức thủ tiêu, xoá bỏ sự hiện diện của giáo hội.

Khi đem so sánh Giáo hội Phật giáo VN (quốc doanh) với Giáo hội PGVNTN thì tờ Quân đội Nhân dân đã hớ hênh khi nói rằng Giáo hội Phật giáo VN (quốc doanh) “tuy thụ động, nhưng vẫn tốt”. Đương nhiên, lúc nào Giáo hội Phật giáo VN cũng “thụ động” bởi vì nó là giáo hội quốc doanh, do Đảng CSVN nặn ra và chịu mọi điều khiển sai bảo của Đảng thông qua Mặt trận Tổ quốc. Một giáo hội như vậy thì không thể là một giáo hội chân chính, phục vụ giáo đồ mà đã bị chính trị hoá tận gốc để phục vụ Đảng CSVN.

Trở lại với câu chuyện cứu trợ dân oan vào năm ngoái, khi thầy Không Tánh được Giáo hội PGVNTN công cử ra tận Hà Nội để trao tiền cho dân oan tại trụ sở khiếu kiện ở 110 Cầu Giấy, thì liền bị “5,6 anh công an ở ngoài lao vào, … và giật lấy … bì thơ trên tay” (lời phỏng vấn thầy Không Tánh trên RFA ngày 25/05/2007). Thầy Không Tánh sau khi bị đích thân thứ trưởng công an Nguyễn Văn Hưởng chất vấn, liền bị giải giao về lại Sài Gòn. Ấy thế mà TTXVN lại báo cáo láo rằng thầy Không Tánh được tự do đi lại để cứu trợ dân oan. Láo đến thế là cùng!

Tu viện Nguyên Thiều, nơi Ðức Tăng thống Th�ch Huyền Quang bị quản thúc

Tu viện Nguyên Thiều, nơi Ðức Tăng thống Thích Huyền Quang bị quản thúc

Tu viện Nguyên Thiều, nơi Ðức Tăng thống Thích Huyền Quang bị quản thúc

Với tư cách là vị giáo chủ Giáo hội PGVNTN, và cũng là người sáng lập ra Tu viện Nguyên Thiều (Bình Định), Hoà thượng Thích Huyền Quang chắc hẳn phải có rất nhiều đệ tử, học trò, không riêng gì số tăng ni phật tử của Giáo hội PGVNTN, mà còn cả một số tăng ni hiện đang sinh hoạt trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam (giáo hội quốc doanh). Nhất định ảnh hưởng của ngài đến phật tử và các tăng ni của cả hai giáo hội rất lớn. Lễ tang của HT. Thích Huyền Quang chắc chắn sẽ thu hút đông đảo chư tăng và phật tử tham dự. Do đó, nếu đám tang này do Giáo hội PGVNTN đứng ra tổ chức thì sẽ là mối lo cho nhà nước CSVN.

Nhưng nếu không phải Giáo hội PGVNTN đứng ra tổ chức thì ai có thể tổ chức đây? Không lẽ Giáo hội quốc doanh hay nhà nước đứng ra tổ chức sao? Một ông cụ vừa qua đời thì đám tang của ông cụ sẽ phải do chính con cháu mình tổ chức, chứ không lẽ là do hàng xóm tổ chức? Sao lại có chuyện vô duyên thế!

Nếu giành giật không được thì chắc chắn nhà nước sẽ quan tâm “chỉ đạo” cho công an đủ loại màu sắc, trùng trùng điệp điệp hiện diện tại tang lễ của Hòa Thượng vào ngày 11 tháng 7 này. Đó là điều mà nhiều người đã nghĩ đến.

Với sự ra đi của HT. Thích Huyền Quang, CSVN đang một lần nữa âm mưu xóa sổ dứt điểm Giáo hội PGVNTN. Do đó, việc CSVN mới đây đã ra lệnh cho báo chí quốc doanh tung chiến dịch vu khống HT. Thích Quảng Độ, chia rẽ nội tình giáo hội là điều dễ hiểu. Bởi vì Hòa thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hoá Đạo, vị lãnh đạo tinh thần hàng thứ hai của giáo hội sẽ là vị kế thừa công việc dang dở của Ðệ tứ Tăng thống Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang.

Xin nguyện cầu cho Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, vị Ðệ ngũ Tăng thống của Giáo hội, tiếp tục cầm lái con thuyền Giáo hội PGVNTN vượt qua cơn giáo nạn.

Lê Minh
Sydney ngày 6 tháng 7 năm 2008

(TNTD DC)

July 4, 2008

Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn với Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ VNCH

Filed under: Công giáo, Chính trị, xã hội, Quan điểm — tudo @ 7:15 pm

Bùi Lộc

Khi đọc bức thư mới đây của Đức Hồng Y Phạm minh Mẫn phê phán về lá cờ “Vàng Ba Sọc Đỏ” sẽ làm tắc nghẽn hiệp thông trong giới trẻ Việt nam tại Đại hội Giới trẻ thế giới được tổ chức năm nay tại Úc châu làm tôi liên tưởng đến Đức Hồng Y Giáo chủ Balan Glemp vào những năm đầu thập niên 90 khi Ban lan trong tình trạng thiết quân luật do đảng cộng sản Ba lan ban hành.

Năm 1981, khi lệnh thiêt quân luật được ban hành, Công đoàn Đoàn kết bị kiểm soát nghiêm nhặt khiến nhiều hoạt động của công đoàn bị giới hạn, nhiều người bị bắt, thì sự xuất hiện của Linh mục Jerzy Popieluszko như một vị cứu tinh đã mang lại một luồng sinh khi mới cho công đoàn, một hy vọng và chỗ dựa tinh thần cho những gia đình có thân nhàn đang bị giam giữ. Cha là một mối nguy, một đe doạ cho chế độ, một cái gai nên bằng bất cứ giá nào đảng và nhà nuớc cộng sản Ba lan cần phải nhổ cho bằng được.

Họ đã tìm cách thủ tiêu Cha, có lần nhờ bị bệnh không đi dâng Thánh lễ được mà Cha đã thoát chết vì trái bom đã phát nổ trên đường đến thánh đường.. Tất cả các ngả đường Cha đi, tất cả những nơi Cha đến đều có công an theo dõi.

Thấy tính mạng của Cha luôn bị đe doạ, rất nhiều công nhân của Công đoàn đã tình nguyện bám sát bên Cha để tìm cách bảo vệ ngài.

Cộng sản Ba lan đã liên lạc với vị Giáo chủ Giáo hội Công giáo Ba lan, Đức Hồng Y Glemp và họ đã trao cho Ngài một danh sách gồm 69 giáo sĩ có liên quan tới hoạt động dân chủ và nhân quyền, chống phá xã hội chủ nghĩa. Vị Hồng Y này quan niệm cần phải giữ đối thoại với chính quyền nên có nhiều giáo sĩ đã phải thuyên chuyển tới những nơi xa xôi hẻo lánh để cô lập các ngài. Riêng phần Cha Jerzy có tên trong danh sách chuẩn bị thuyên chuyên.

Giữa lúc tuyệt vọng thì hai văn thư do Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II từ Vatican gửi tời:

1/ Cho Cha Jerzy Đức Giáo Hoàng viết: “Cha Jerzy, tâm hồn ta luôn ở bên Cha.” Và Ngài tặng cha một chuỗi tràng hạt.
2/ Thư khác gửi Đức Hồng Y Giáo chủ Glemp Ngài viết: “Hãy bảo vệ Cha Jerzy Popieluszko. Nếu không, có ngày họ sẽ tìm thấy vũ khí ngay tại bàn giấy mỗi giám mũc Balan.” (1)

Là một người sinh ra và trưởng thành trong đau khổ do sự cai trị nghiệt ngã của Đức quốc xã, tiếp theo là chế độ cộng sản vô thần, Đức Giáo Hoàng đầy đủ kinh nghiệm về sự vô luân, những mánh khoé tàn độc của cả hai chế độ đó. Ngài hiểu rõ những đau khổ cùng khốn của con chiên nói riêng và của toàn dân tộc Balan của ngài và Ngài muốn chia sẻ với họ.

Nên khi hay biết những toan tính của cs Balan với sự chấp thuận của Hồng Y Giáo chủ Glemp nhằm cô lập những linh mục cùng những công nhân tranh đấu cho tự do dân chủ là Ngài có phản ứng tức thời để kịp cứu vãn Cha Jerzy cũng là cứu vãn Công đoàn Đoàn Kết. Sau cùng họ cũng giết được Cha Jerzy, nhưng những thủ đoạn bẩn thỉu trong vụ giết Cha đã được công khai hoá do người tài xế can đảm và cũng là người bảo vệ Cha trốn thoát được. Công an đã đánh nát thân xác Cha, bỏ vào bao, cột đá vào và liệng xuống nước.

Khi về thăm quê hương lần thứ hai, Đức Thánh Cha đã đến viếng và quỳ gối trước ngôi mộ của Cha Jerzy để chứng tỏ cho mọi người thấy rằng Ngài luôn đứng về phía những người tranh đầu cho tự do và nhân quyền. Sau cùng Balan đã được giải phóng khỏi ách cộng sản. Ngài cũng hiểu rất rõ những nỗi bất hạnh của dân tộc Việt nam. Việt nam lúc nào cũng trong trài tim Ngài. Vì thế chính quyền cs đã từ khước lời yêu cầu của Ngái muốn sang viếng thăm Việt nam nhân dịp lễ kỷ niện 200 năm Đức Mẹ hiện ra tại Lavang.

Chúng ta không có được cái may mắn như Balan. Việt nam không thiếu những người ưu tú, can đảm và giám hy sinh. Trường hợp Cha Lý tha thiết với tự do và quyền sống của con người. Ngài đã dấn thân tranh đấu và đã bị cs bắt, bị giam cầm, bị bịt miẽng trước toà, Đức Hồng Y Giáo chủ Phạm minh Mẫn không có một phản ứng nào, đến khi được hỏi ngài mới nói không biết đến “những nghịch lý đang xầy ra tại đó. Ngài lấy lý do không được giây vào chính trị.

Nhưng qua bức thư phê phán lá quốc kỳ VNCH nền vàng với ba sọc đỏ vừa qua, ngài không thể chối cãi được là mính đã lún quá sâu vào chính trị.. Nhưng không phải là một hành động chính trị bênh vực những người cùng khốn, những người thường xuyên bị đè nén và bóc lột, nhưng lại tiếp tay với cường quyền. Ngài không đi theo con đường của Cố Hồng Y Trinh Văn Căn, Cố Hồng Y Trịnh Như Khuê, Cố Giám Mục Nguyễn Văn Trụ, hay ngay sau 1975, là Cố Giám Mục Nguyễn Kim Điền. Các ngài luôn trung thành với sứ vụ Fatima. Những ai thích mặc áo thụng, thích đứng ngoài các ngã đường chờ người ta chào kính không phải là môn đệ của Chúa Kitô, nhưng phải biết đáp lại nguyện vọng bức thiết của đàn chiên mình dầu phải hy sinh.

Sau khi bức thư phản đối lá cờ vàng ba sọc đỏ của ngài được phổ biến thì csvn là kẻ thủ lợi nhất. Những gì mà họ đã phải mất bao công sức tiền bạc và thời gian mà họ vẫn khồng có được thì ngày nay ngài đã giúp họ có được tất cả: Đó là một Giáo hội Vietnam rách nát.

Ngài tiếp tay chế độ cố tình chà đạp lên nguyện vọng chính đáng của toàn dân Việtnam, chỉ trừ những kẻ có đặc quyền đặc lợi do chế độ mà thôi.

Đối với cs như lời Cựu Tổng thống Yersin nói chỉ có đạp nó xuống chứ không có thoả hiệp. Và là Hồng Y, chắc hẳn ngài còn nhớ rõ Cách mạng vô sản xẩy ra vào tháng 10 năm 1917 tại Nga, thì cùng năm Đức Mẹ đã hiện ra tại Fatima tuyên bố “Chế độ cs sẽ phải sụp đổ, nhưng trước khi sụp đổ nó gây ra cho nhiều nguời và nhiều quốc gia phải huỷ diệt”.

Tin vào lời tuyên bố này của Đức Mẹ, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolò II đã tìm đủ cách, không bỏ lỡ một cơ hội để trước nhất để cứu Balan, quê hương của ngài khỏi ách thống trị của cs. Thấy ngài là một mối nguy cho chủ nghĩa cs, Điện Cẩm lình đã phối trí tìm cách giết Ngài và tên Mlmet Ali đã được họ thuê mướn để ám sát Ngài. Tên này đã bắn Ngài trọng thương tại Quảng trường Thánh Phêrô ngày 13.05.1981. Ngài đã phó dâng mạng sống mình trong tay Mẹ Maria. Ngay sau khi bình phục, Ngài đã sang viếng Đức Mẹ Fatima, và đã dâng lên Mẹ viên đạn mà kẻ sát nhân bắn vào Ngài.

Lời tiên tri của Đức Mẹ tại Fatima đã ứng nghiệm, ngày hôm nay chỉ còn bốn nước cs là Trung cộng, Bắc hàn, Cuba và Việtnam, nhưng cs bây giờ cũng nửa nạc nửa mỡ: Chính trị vẫn tàn bạo, vẫn cai trị bằng nhà tù, lưỡi lê và súng đạn, người dân vẫn bị kìm kẹp bịt mồm bịt miệng; nhưng kinh tế lại phải nhờ tới tư bản vực dậy. Mọi người đều biết sớm muộn gì rồi chế độ cs cũng sẽ bị hoàn toàn đào thải và mọi người sau cùng sẽ được giải phóng.

Nhưng bất hạnh thay! Dân tộc VN chúng ta, ngày đó không đến sớm như sự mong đợi của mọi người, vì một nhóm người vì đặc quyền, đặc lợi tiếp tay cho chế độ tàn nhẫn này kéo dài thêm sự đau khổ của người dân. Đau khổ nhất là trong những kẻ cộng tác với chế độ độc ác này lại có những giáo sĩ với quyền cao chức trọng mà lời nói của họ lại có những ảnh hướng lớn lao. Những người này lẽ ra phải suy gẫm những lời tuyên bố của Đức Mẹ tai Fatima để cứu vớt dân tộc lầm than của mình ra khỏi nanh vuốt của cs thì lại đi cộng tác với kẻ thống trị để kéo dài sự đau khổ của mọi người.

Sau này khi xem lại lịch sử đấu tranh của dân tộc, người ta sẽ mang ngài ra để so sánh với từng nhân vật lịch sử cùng thời. Trong số không biết bao nhiêu nhân vật lịch sử trong giai đoạn này chắc hẳn người ta sẽ mang ngài ra so sánh với Linh mục Nguyễn văn Lý, và họ sẽ có ngay những nhận xét và kết luận không mấy khó khăn. Rồi người ta cũng không quên so sánh ngài với người nữ Luật sư bé nhỏ Lê Thị Công Nhân đầy can đảm và sáng suốt, và họ cũng sẽ có những nhận xét và đánh giá như thế nào chắc hẳn ngài biết rất rõ câu trả lời. Càng có địa vị cao, càng phải sống theo lời cổ nhân nói: “Cọp chết để da, người chết để tiếng.”

Hẳn mọi người chúng ta vẫn còn nghe những lời kinh vang vọng khi quỳ dưới chân Mẹ Hiền Maria, thì thầm trên những bước đường chạy loạn hay tỵ nạn: “Gia đình chúng con quyết không theo thuyết cộng sản vô thần” và chúng ta vẫn luôn tin tưởng: “Sau Cùng Trái Tim Mẹ Sẽ Thắng.”

Bùi Lộc
CƯỚC CHÚ:
(1) “Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Vĩ Nhàn Thời Đại” do Trần Phong Vũ, trang 441

June 29, 2008

Bí ẩn về cái chết của Võ Văn Kiệt

Filed under: Chính trị, xã hội, Nhân vật, Quan điểm, VNCS — tudo @ 10:41 pm

Võ Văn Kiệt bị Nông Đức Mạnh (theo TC) ám sát

NGUYEN THU TUONG VO VAN KIET BI AM SAT

PHÓNG SỰ ÁN MẠNG:NHÁT DAO THỦNG PHỔI TRÁI VÕ VĂN KIỆT ĐƯỢC PHÁT HIỆN !! 26/06/2008

Bí mật lịch sử chính trị , có thể mang tính đột phá và làm thay đổi cán cân quyền lực tại Việt Nam đã bật ra .
Theo nguồn tin đặc biệt ở Hà Nội , Võ văn Kiệt đã bị ám sát tại tư gia , sau đó được âm thầm đưa sang Singapore điều trị nhưng không qua khỏi . Chứ không phải dịch tràn phổi như khám nghiệm tử thi láo tai Sai Gòn buổi trưa đưa xác ông ta về từ Sin .

Người ta cũng thấy sự ngụy tạo hớ hênh của ngày đưa xác ông ta về . Giấy ghi xác định tim đã ngừng đập thì ghi tại Singapore , nhưng về đến Việt Nam thì vẫn có dịch truyền lũng lẳng bên cái xác ướp .

Không cần nói , không hề và chẳng “ma” nào dám mổ xẻ tử thi thi của ông ta để kết luận chính thức về nguyên nhân cái chết của ông ta .

Như vậy , các nhà sử thi của chúng ta sẽ bớt phần gian nan vất vả , nếu có trong tương lai , chỉ cần xác định lại tử thi hay phẩn khung xương là biết chính xác vết dao đó đâm thế nào , thời gian nào và kết luận kẻ nào từ chính trị bộ chủ mưu .

Nhận định từ các diễn đàn trong nước cho biết , thời điểm Việt Nam chuyển đổi dân chủ sẽ là từ năm 2014 . Ngay từ bây giờ , làn sóng yêu cầu Nông Đức Mạnh từ bỏ cơn mơ : “là con không chính thức của Hồ” nên sẽ được tại vị đến chết đang dâng rất cao , âm thầm trong nước nhưng dữ dội .

Liệu ai và khi nào sẽ khai quật tử thi, bị tử nạn chứ không chết lão của Võ văn Kiệt ? Lời giải đáp từ phong trào dân chủ của nhân dân ta .
——————————————————————————-
Nguyệt San Việt Nam


Sau Cái Chết Của Võ Văn Kiệt

http://www.sbtn.net/default.aspx?LangID=38&tabId=170&ArticleID=27686

Thứ Ba, Ngày 24 tháng 6-2008
Tin Saigon – Thông tín viên SB-TN từ trong nước gởi ra bản tin về những tin đồn sau cái chết của cựu Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt, và những tranh chấp nội bộ của các lãnh tụ Cộng sản Việt Nam. Mời quý vị cùng theo dõi trong bản tin đặc biệt từ trong nước sau đây (video 3 phút).

Download DamTangVoVanKiet.wmv

June 27, 2008

Blacky bàn về đảng cộng sản

Filed under: Chính trị, xã hội, Quan điểm — tudo @ 1:26 am

 

” Trái Tim Việt Nam ”

Trước cảnh nhân dân đi biểu tình chống quân xâm lược bị đàn áp , nhạc sỹ nhà thơ bị quản thúc , nhà báo bị khủng bố và nhà văn bị bị họ xúc phạm nhân phẩm một cách quá thô thiển , tôi thực sự đã hết kiên nhẫn và vô cùng phẫn nộ khi phần đông bà con ta không biết gì , thậm chí trong đó có rất nhiều bạn bè của tôi ở ở Việt Nam ngay trên mảnh đất quận 1 Sài Gòn cũng không hề biết chuyện gì đang xãy ra xung quanh cái giường họ đang ngủ .

Độc Đảng và Đa Đảng mặt nào có lợi và mặt nào gây hại cho Quốc gia ?

Đã có rất nhiều người bàn luận và tốn rất nhiều tài nguyên mạng cho vấn đề này, nay tôi xin được nói thêm về cái hại của chế độ độc đảng mà một đất nước như Việt Nam phải gánh chịu.

Trước hết xin lấy một số dẫn chứng cụ thể, khách quan để chứng minh cho nhận định của mình:

1. Phàm là cái gì tốt thì sẽ nhiều người làm, cái gì xấu, dở thì sẽ ít người theo (tôi nói trong tổng thế, khái quát, vì nếu không sẽ có người trách tôi ăn nói hồ đồ, vơ đũa cả nắm). Như vậy có thể thấy, trên thế giới hơn 200 quốc gia này, ngoại trừ một thiểu số rất nhỏ các quốc gia theo thể chế chính trị độc tài đảng trị (bao gồm đảng cộng sản, và một số đảng phái khác tại Việt Nam, Trung Quốc, Myanmar v..v…), các quốc gia khác đều thiết lập một nhà nước dân chủ đa đảng, đặc biệt có thể thấy rõ tại Mỹ, Nhật, tây âu và các quốc văn minh khác.

Và hệ quả của nó là gì? Các bạn có thể thấy là tại các quốc gia văn minh, dân chủ này (tất nhiên không thể nói là văn minh, dân chủ 100% được, vì chả có cái gì là tuyệt đối) thì có thể thấy đa số đời sống nhân dân sung túc, khá giả, có thể tóm gọn các thành tựu trong xã hội của họ bằng cụm từ: Nhà nước pháp quyền, dân chủ tự do và nhân quyền hạnh phúc.

Như vậy có thể thấy, trào lưu phát triển của xã hội loài người là xu hướng tôn trọng xã hội dân chủ, đa nguyên đa đảng, cho dù đó là xã hội phương tây hay phương đông; châu Á, châu Âu hay các châu khác thì giá trị muôn đời hay cái đích của con người hướng đến là một nhà nước đa đảng, đa nguyên, như vậy quyền con người mới được tôn trọng đảm bảo.

Đó là thực tế thứ nhất không thể phủ nhận.

2. Nói Xã hội chủ nghĩa là tốt đẹp, xin trả lời là hoàn toàn đúng ( nhưng các bạn phải học lại thế nào là xã hội chủ nghĩa và so sánh xem nó có giống với những gì đang diễn ra ở Việt Nam không ? ),

Vậy vẫn biết XHCN là tốt, là đẹp đấy nhưng trong tình hình hiện tại có làm được hay không là chuyện khác. Bởi vậy Đảng cộng sản Việt Nam trong các kỳ Đại hội đảng luôn có câu nói thế này:chúng ta đang trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH, còn khi nào lên được chắc cả tôi, bạn và những người khác đều đã đi gặp Bác Hồ rồi. Họ nói uyển chuyển, khéo léo quá phải không bạn, vô thưởng, vô phạt, ai muốn tin thì tin, không tin thì thôi, chẳng mất xu thuế đánh vào lời phát biểu đó. Giỏi thật !!!!

Còn nếu ai nói Xã hội Tư bản là xấu xa thì có lẽ cũng nên học lại thế nào Xã Hội tư Bản . Thực tiễn đã chỉ ra rằng, không có con đường nào là ngắn nhất mà nhân loại có thể đi tắt đón đầu, bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN để tiến thẳng lên CNXH như ở Việt Nam vẫn hay thường nói. Đó chỉ là cách nói của nhóm giai cấp lãnh đạo lên cầm quyền, phục vụ cho mục đích thống trị của họ mà thôi,

Rồi nếu cứ theo cái gọi là CNXH của Mark- Lênin như họ nói trước đây thì làm gì có chuyện bóc lột nhỉ, ấy là tôi nói đến cái chuyện tạo ra giá trị thặng dư. Họ coi nếu để cho tư nhân được mở nhà máy, làm ông chủ thì sẽ thuê lao động để sản xuất và tạo ra giá trị thặng dư, và cái giá trị này sẽ rơi vào túi ông chủ, điều này tạo nên phân hóa giàu nghèo trong xã hội, dẫn tới đấu tranh giai cấp. Do vậy để triệt tiêu điều này, Đảng cộng sản chỉ cho phép các cơ sở kinh doanh của nhà nước được tồn tại thôi, rồi vì cái quan niệm này mà Việt Nam suýt nữa gặp tai họa như Liên Xô trước đây, và để Đảng cộng sản tiếp tục tồn tại thì họ buộc phải tiến hành công cuộc “Đổi mới”, cho phép doanh nghiệp tư nhân thành lập, cho phép đầu tư nước ngoài, cho phép ông chủ tư bản vào bóc lột giai cấp công nhân, nông dân (những thành phần ưu tú nhất của Đảng cộng sản Việt Nam), đến khi giai cấp này không chịu nổi nữa đứng lên biểu tình đòi hỏi quyền lợi chính đáng thì Đảng cộng sản quay ngoắt 180 độ, quay lưng lại với họ mà hùa với ông chủ tư bản ngăn cản họ biểu tình. Vậy đấy, giữa nói và làm là hai chuyện khác nhau. Như vậy có những cái rất tốt được nhiều người cho là đúng (giống như XHCN vậy đó) nhưng rất khó làm, bởi vì nó không khả thi, và không có tính thực tiễn. Mong muốn của con người phải phù hợp với quy luật vận động xã hội và tự nhiên nữa,

“ mặt trời đứng bóng thì xế ,

mặt trăng khi tròn thì khuyết ,

vật gì thịnh lắm thì suy .”

Có người đã từng bao biện rằng: Đường lối của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn tuy nhiên việc thi hành các đường lối đó của các cán bộ cấp dưới lại không hoàn toàn đúng đắn thì đó là lỗi của cá nhân chứ không phải lỗi của Đảng” thì tôi không hiểu người đó có phải là người nắm được vấn đề hay không, Mà ở đây người đó lại bảo là lỗi của cá nhân chứ không phải lỗi của Đảng, có ngụy biện một cách thô thiển quá không, hay người đó là một Đảng viên cộng sản nên muốn nói gì thì nói ? Cái quan trọng là biết nhìn nhận lỗi về mình chứ? Đảng cầm quyền là lực lượng chính lãnh đạo một quốc gia, một nhà nước, bây giờ nếu bảo ở trên làm đúng, lỗi tại cấp dưới thì hóa ra ở trên chẳng có lỗi gì sao. Một đảng cầm quyền là phải vạch ra được đường lối phát triển đất nước và giám sát được các khuyết tật của bộ máy mình tạo dựng ra, chứ cứ đổ lỗi lẫn nhau như vậy thì bao giờ đi lên được. Như vậy đây cũng chính là câu trả lời cho cái hại của một quốc gia chỉ có một đảng .

Có người bảo tôi là thằng phản động và nói với tôi rằng :

Đảng ta bao giờ cũng lấy ý kiến của nhân dân để giải quyết các vấn đề của quốc gia.
Còn Đa đảng gây mất ổn định về chính trị trong nước do tranh giành quyền lực, đấu đá lẫn nhau. Không có lợi cho sự phát triển của đât nước!

Chúng ta cứ sợ đa đảng rối mù lên thì đến bao giờ mới tốt đẹp được. Nếu ai đó lo sợ nó xảy ra thì cứ nhìn vào mấy quốc gia như Mỹ, Nhật, Tây Âu xem có loạn không? Hay đó là thiên đường mà ai cũng mơ tới, con cái lãnh đạo nào của Việt Nam cũng đều đang du học ở đó, để mong tiếp thu được nhiều tri thức bổ ích hơn là đi học ở mấy nước XHCN trước đây?

Đó là thực tế thứ hai không thể phủ nhận.

3. Nói tới thành tựu của Đảng cộng sản Việt Nam, chúng ta không phủ nhận tất cả mọi điều (cả xấu lẫn tốt) mà Đảng này đã làm trong quá khứ và đang cố gắng thể hiện trong hiện tại. Nhưng chúng ta cũng cần phải là những con người duy lý và thực tiễn một chút, không nên có thái độ quá tôn sùng một điều gì đó (thường thì dân châu Á, trong đó có dân Việt Nam hay có tâm lý này). Chúng ta cần nhìn nhận vấn đề dưới góc độ khách quan để đánh giá sự vật, hiện tượng đúng bản chất của mình. Xin cho phép tôi được trình bày như sau:

– Trong chiến tranh Đảng cộng sản có vai trò lãnh đạo quần chúng nhân dân đứng lên đấu tranh giành độc lập (đó là công lao?), nhưng nếu không có quần chúng nhân dân thì Đảng này có thành công hay không?. Tôi lại đặt một câu hỏi như thế này (có thể các bạn sẽ cho là tôi bị điên) rằng: nếu không có Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản thì Việt Nam liệu có giành được độc lập không? Tôi xin đưa ra các tình huống sau, bao gồm các yếu tố nội tại của dân tộc và yếu tố khách quan của tình hình thế giới để trả lời:

– Nếu không có Hồ Chí Minh thì lại sẽ có một nhân vật xuất chúng khác của Việt Nam lãnh đạo dân tộc đứng lên giành chính quyền, trong trường hợp không có được một cá nhân xuất chúng đó thì sẽ có nhiều nhân vật không xuất chúng bằng tập hợp nhau lại để cùng lãnh đạo nhân dân Việt Nam .

– Nếu không có Đảng cộng sản Việt Nam thì sẽ có các đảng phái khác biết kêu gọi, đoàn kết nhân dân Việt Nam hợp thành một sức mạnh chung, ví dụ Đảng Dân chủ, Đảng Lao động v…vv đã từng tồn tại trong lịch sử.

Trong trường hợp không xuất hiện hai tình huống trên, tức là không có Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản thì liệu dân tộc Việt Nam có thoát được ách nô lệ hay không. Điều này thật khó trả lời cụ thể, nhưng có thể căn cứ vào thực tiễn hiện nay trên thế giới: không còn nước nào trên thế giới là thuộc địa đô hộ của các nước khác nữa, điều này có được hoặc là do dân tộc đó tự đứng lên đấu tranh, hoặc là do các nước đế quốc buộc phải trao trả thuộc địa (nếu không trao trả cũng không được). Như vậy là đã có câu trả lời cho vấn đề này.

Vậy thì sau khi giành được độc lập, hòa bình thống nhất thì Đảng cộng sản cũng không nên ưỡn ngực khoe khoang mình có công lao nhất, tự cho mình là ưu việt nhất rồi quay ra coi thường nhân dân, mọi việc đều tự cho mình quyết mà không thèm hỏi ý kiến nhân dân (cụ thể Việt Nam chưa có Luật trưng cầu dân ý, mà tôi biết rằng, Quốc hội Việt Nam đang trong quá trình xây dựng luật này, tuy nhiên mọi vấn đề liên quan tới việc trưng cầu dân ý về thể chế chính trị, vai trò cầm quyền của Đảng cộng sản tuyệt nhiên sẽ bị loại bỏ, mà đây mới chính là những vấn đề quan trọng cần phải trưng cầu). Như vậy một Đảng không trung thực, sòng phẳng liệu có dám đổi mới bản thân hy sinh vì quyền lợi dân tộc hay không? (rất khó).

Điều đơn giản mà chúng ta có thể thấy sự cao ngạo của Đảng cộng sản Việt Nam, đó là khi mỗi ai trong chúng ta bước chân vào bất kỳ phòng họp hay hội trường nào của cơ quan nhà nước, hay trụ sở làm việc của chính quyền thì đều thấy cờ Đảng và cờ Tổ quốc được treo cao ngang nhau, đây chẳng phải là sự cao ngạo đặt mình ngang hàng với Tổ quốc sao?

Có một nhận định như thế này trong đầu óc các bạn trẻ học tập dưới mái trường XHCN ( trong đó có cả tôi ):”

Đảng cộng sản Việt nam đã phạm phải tội ác không thể nào dung thứ , đó là biết bao nhiêu thế hệ học sinh từ khi họ như 1 tờ giấy trắng thì đã bị Đảng Cộng Sản đem 2 khái niệm Yêu Nước và yêu Đảng vốn chẳng liên quan gì đến nhau lại được khéo léo chắp vá lại thành 1 .

Tôi cũng xin được giải thích lại cho chính xác, vì các bạn đó không hiểu vấn đề, hoặc bị ngộ nhận bởi các phát biểu của Đảng cộng sản hoặc cố tình lái vấn đề theo hướng tuyên truyền lâu nay của Đảng này.

Trước hết, chúng ta cần phải thống nhất với nhau một điểm rằng: Nhà nước được xây dựng bởi một giai cấp thống trị, hay theo như Ông Mark đã định nghĩa Nhà nước như một công cụ thống trị giai cấp. Nhà nước sinh ra để thực hiện nhiệm vụ quản lý xã hội đại diện cho lợi ích và nguyện vọng của giai cấp ấy. Như vậy, ở Việt Nam rõ ràng Nhà nước này là đại diện cho giai cấp thống trị của Đảng cộng sản (bởi như đã nói Đảng cầm quyền chính là cha đẻ của Nhà nước). Để có thể hiểu vấn đề rõ ràng hơn thì chúng ta tham khảo lại Hiến pháp 1992 của Việt Nam để rõ hơn về hệ thống chính trị của nhà nước này (cả những đặc thù mà những nước dân chủ trên thế giới không hề có).

Tại điều 4 của Hiến pháp 1992 qui định: Đảng CSVN là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”, do vậy Đảng này từ trước đến nay có quyền bố trí nhân sự của mình vào bộ máy Nhà nước, bao gồm Chính phủ, Quốc hội, Viện Kiểm sát và Tòa án Nhân dân. Cái đặc trưng nhất trong thể chế chính trị nước ta hiện nay là không có tam quyền phân lập, quan hệ giữa 3 cơ quan Hành pháp, Lập pháp, Tư pháp chỉ là cơ chế điều hòa, phối hợp. Do vậy, chúng ta có thể nhận thấy dễ dàng là trong Quốc hội (cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân- theo Hiến pháp) có thể tìm thấy hơn 90% đại biểu Quốc hội là các đảng viên cộng sản, tiếp đến trong số này phần lớn lại là hoạt động bên hành pháp (tức Chính phủ), bên Tư pháp (Viện kiểm sát, Tòa án) và cũng là người của bên Đảng (các Bí thư tỉnh ủy). Như vậy thử hỏi, đại biểu dân cử ngoài đảng còn chưa đến 9% của tổng số 493 đại biểu , vậy thì hoạt động ra sao, chưa kể nói đến họ hoàn toàn là những người không hề có một chút quyền lực gì trong Bộ máy chính quyền ở Trung ương và địa phương. Do đó khi họ phát biểu tại các kỳ họp Quốc hội thì không hề được tiếp thu ý kiến. Còn các vị khác thì không bao giờ phát biểu ý kiến, hoặc có phát biểu thì cũng chỉ là chung chung vô thưởng, vô phạt, không đụng chạm đến ai, và cũng chẳng thể hiện được gì cho quyền lợi của nhân dân (tức là những cử tri buộc phải bỏ phiếu bầu cho họ).

Vì sao tôi lại lấy Quốc hội ra để dẫn chứng, vì Quốc hội theo Hiến pháp VN qui định là cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân. Nhưng có thực là cơ quan quyền lực cao nhất không thì tôi e không phải, đó chỉ là cách nói giả hiệu nghe có vẻ mỹ miều như vậy thôi. Vì phải nhìn vào bản chất của vấn đề là Việt Nam chỉ có một đảng (mà tai họa lại là đảng cộng sản) bởi vậy Bộ chính trị của Ban chấp hành Đảng cộng sản khóa X gồm 14 vị mới thật sự là những người có quyền sinh quyền sát ở cái đất nước này. Quốc hội chỉ là nghị gật mà thôi, người ta quả không sai khi nói rằng Quốc hội là cơ quan thể chế hóa các nghị quyết của Đảng. Quốc hội với tư cách là cơ quan bầu ra Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ (sau khi có sự giới thiệu của Chủ tịch nước) và nội các Chính phủ (theo giới thiệu của Thủ tướng) quan trọng như vậy mà cũng chỉ là nghị gật thôi, thì thử hỏi quyền lực làm sao về tay nhân dân được. Chẳng phải mỗi kỳ họp Quốc hội ở Việt Nam người ta thường có câu Đảng cử – Dân bầu hay sao? Mọi thứ đều được sắp xếp hết từ trước rồi, không có tự do dân chủ gì đâu.

Đó là thực tế thứ 3 không thể phủ nhận. Đừng ảo tưởng !

Tôi nghĩ rằng nếu cứ tranh luận thì sẽ còn rất nhiều vấn đề ai đúng, ai sai. Nhưng ở đây tôi chỉ muốn nêu lên một điều, tất cả những điều trên chúng ta nói ra chỉ nhằm mục đích thấy được bản chất của một Đảng cầm quyền là như thế nào. Liệu Đảng đó có thực sự xứng đáng với sự cầm quyền của mình trong tình hình mới hay không? Cách thức tổ chức của một nhà nước như thế nào để có thể mang lại đời sống ấm no thật sự cho người dân mình, hạn chế sự lạm quyền của đảng, tạo thế cạnh tranh quyền lực công khai minh bạch có lợi cho quốc dân đồng bào, và điều này càng cấp thiết hơn nữa khi mà Đảng cộng sản Việt Nam đã quá hèn và nhu nhược trước quân xâm lược Trung quốc đến nỗi phải đàn áp người dân yêu nước .

Tôi chỉ xin nếu mấy ý kiến nhỏ sau:

– Không có gì là tồn tại mãi mãi cả. Đảng phái nào ra đời thì cũng phải phục vụ cho đông đảo nhân dân, ngày hôm qua Đảng có thể tốt, nhưng hôm nay có thể lụi tàn vì không đáp ứng được yêu cầu thời đại. Đất nước Liên Xô hùng mạnh là thế nhưng vẫn phải xụp đổ vì đảng cộng sản cầm quyền đã không đủ sức lèo lái đất nước.

– Mọi vật trong tự nhiên đều phải trải qua quá trình đấu tranh mới tồn tại được, Đảng cầm quyền cũng vậy, nếu không có đảng phái khác cạnh tranh, thì sao có thể hoàn thiện mình. Nếu đảng cứ cho mình quyền độc tôn mãi mãi thì có thể một ngày nào đó chính đảng đó sẽ mục ruỗng từ bên trong và kết thúc một đế chế lụi tàn. Bạn hãy tưởng tượng tới một rừng cây, trong đó cây nào cũng vươn lên hướng về ánh sáng mặt trời, cây nào khỏe sẽ vươn lên mạnh mẽ để che bớt cây kia đi, đó chính là qui luật sinh tồn và phát triển của tự nhiên. Con người cùng với cách thức tổ chức xã hội của mình cũng phải tuân theo qui luật tự nhiên mới sống sót được. Tự mình đứng tách ra, thiếu sự cạnh tranh tất sẽ tự hủy diệt. Bạn thấy chăng vào cuối đông người ta đều phải cưa thân cây táo sát gốc để sang mùa xuân tạo một sức sống mới cho cây phát triển. Nếu cứ như ĐCS Việt Nam hiện nay không chấp nhận có lực lượng chính trị khác cạnh tranh, một mình một cõi, đàn áp các nhà đấu tranh cho dân chủ, đi ngược lại xu thế phát triển nhân loại thì phải chăng đó chính tự mình hủy diệt mình?

Một so sánh đơn giản mà người viết muốn nêu ra trước khi kết thúc bài viết ở đây đó là:

Bạn là người thanh niên việt nam , bạn tự hào vì đang được sống trong giai đoạn phát triển của dân tộc vậy có khi nào bạn đặt câu hỏi :

Một nước Nhật điêu tàn thảm bại sau khi kết thúc chiến tranh 30 năm, đã vươn mình trở thành cường quốc số 2 trên thế giới về sức mạnh kinh tế. Một Đài Loan thua kém Việt Nam về tài nguyên thiên nhiên và cả nguồn nhân lực vậy mà bây giờ GDP của họ là 16.000 USD (2006) tôi viết là 16 ngàn chứ ko phải là 1 ngàn 6 , các bạn đừng nghĩ tôi đánh máy sai . Trong khi đó các bạn hãy nghe Đảng ta tuyên bố rất chi là tự hào nhé : Trong bản báo cáo mới công bố, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) nhận định triển vọng kinh tế Việt Nam từ nay đến hết năm 2006 rất khả quan. Đầu tư công sẽ hồi phục, môi trường bên ngoài thuận lợi, GDP tăng 7,8% và thu nhập bình quân đầu người đạt 715 USD, tăng 80 USD so với năm ngoái.

Hãy nhìn Việt Nam 30 năm sau khi giành chiến thắng Mỹ vẫn nằm trong số 10 nước đói nghèo nhất thế giới. Hãy nhìn vào thành tựu mà Đảng cộng sản tự nhận mình giành được nhé:

– Hàng triệu người Việt Nam vượt biên tìm cuộc sống hạnh phúc ở xứ người

– Hàng chục ngàn cô gái Việt Nam bị bán sang nước ngoài để bán thân

– Hàng trăm ngàn lao động chạy ra ngước ngoài bán sức

– Bao cảnh đời khó khăn khổ sở đói nghèo trong nước phải làm những nghề mạt hạng ăn xin, bán thân, trộm cắp…( nói đến đây tôi nhớ lại khi được 1 nhà báo Mỹ hỏi rằng : theo ông cuộc cách mạng của VN có thành công không ? .Phạm Xuân Ẩn nhìn ra người ăn xin trên vĩa hè ví von rằng : chừng nào còn những mảnh đời như thế thì cuộc cách mạng chưa thành công . )

– Tham nhũng tràn lan, quan sống phè phỡn, đạo đức xã hội suy đồi, giao thông cơ sở hạ tầng , giáo dục xuống cấp, tụt hậu thê thảm so với thế giới .

– Tình trạng dân oan khiếu kiện kéo dài, oán hận không được giải quyết

Công An nhân dân thì mãi lộ , múa kiếm , bóp cổ, nhũng nhiễu nhân dân …

– Nghiêm trọng đến nỗi người dân yêu nước biểu tình chống quân xâm lược cũng bị đàn áp .

– Đâu là bản sắc văn hóa dân tộc của Việt Nam anh hùng nữa

Hỡi ơi, lỗi này thuộc về nhân dân ư? Lỗi tại thanh niên việt nam bất tài ư ? Lỗi tại thiên tai ư? Lỗi tại chiến tranh ư?

Nếu càng tìm lỗi ngụy biện cho vai trò cầm quyền của Đảng thì e rằng Việt Nam ta vẫn cứ đói nghèo 100 năm tới.

Mỗi đêm tôi vẫn thường mơ thấy một nước Việt đại hùng mạnh, khi đi đến đâu nói tôi là người Việt Nam thì đều nhận được những cái nhìn trọng thị của những người Mỹ , người Nhật … tôi đã khóc thật hồn nhiên khi cầu thủ số 10 ấn định chiến thắng 5-0 trước Brazil để đưa Việt Nam đoạt chức vô địch World Cup …. và học sinh các nước Châu Âu Châu Mỹ …thì đua nhau đến Việt Nam du học .

Nếu bạn đến mơ cũng không mơ được như tôi thì có lẽ vận mệnh của nước Việt đã đến hồi kết thúc, chúng ta đang sống trong màn đêm của nhân loại và đảng cộng sản đã ru ngủ bạn rằng :

” Đảng đã cho ta một mùa xuân và ước vọng ,

Bóng tối lui dần tiếng chim vui hót vang
Và rồi từ đây ánh dương soi đời mới
Tiến theo cờ Đảng đã thấy tương lai sáng tươi

Đảng đã cho ta cả mùa xuân của cuộc đời
Đảng truyền cho ta một niềm tin ở tương lai”

(1 bằng chứng nho nhỏ là sự kiện Trường Sa Hoàng Sa vừa qua mấy trăm cơ quan truyền thông phát thanh từ đài tiếng nói cộng sản đã mở những bản nhạc slow dịu dàng ru ngủ luôn tri thức – ý chí tiến thủ của cả 1 dân tộc )

Bịt mắt -bịt tai -bịt miệng người khác là 1 hành động không thể tha thứ .

Huống hồ chi dám bịt luôn đường sống tự do của cả toàn dân tộc

Hãy tỉnh dậy đi hỡi những con người Việt Nam xin đừng thờ ơ và do dự khi vận mệnh để xây dựng 1 nước Việt tự do dân chủ đã đến rất gần . Cơ hội nằm trong nhận thức của mỗi người dân chúng ta

Còn nhiều khối u nữa trong ca đại phẩu nàysức tôi không thể trình bày hết, mấy lời tâm huyết, xin cảm ơn bạn đọc quan tâm, theo dõi.

 

Taiwan_2007-12-24 Blacky Prison Break.

(cảm ơn anh MB-CP đã giúp em hoàn thành bài viết )

 

Tags: 2_blacky_trai_tim_viet_nam_07.12.24

Monday December 24, 2007 – 04:00am (ICT) Permanent Link | 32 Comments

June 14, 2008

Xin hãy giúp Ông Võ văn Kiệt ngủ yên

Filed under: Chính trị, xã hội, Quan điểm — tudo @ 12:16 am

Chúng tôi hoàn toàn phản đối “quốc tang” Ông Võ văn Kiệt

Việc Ông Võ văn Kiệt chết là việc bình thường. Đảng CSVN đã làm cho sự việc trở nên không bình thường. Ông Kiệt đi chửa bệnh(bí mật), Ông Kiệt chết (bí mật). Không cơ quan truyền thông nào trong nước được loan báo. Theo nguồn tin chưa được kiểm chứng, Ông Kiệt đã chết trước đó ít nhất 3 ngày, nhưng vì một lý do đặcbiệt (mê tín chăng?) tin chỉ cho biết Ông Kiệt chết vào 6:40 sáng ngày 11 tháng 6 (VN).Đó là văn hóa CS, miễn bàn.

Sự việc đảng CSVN quyết định “quốc tang” Ông Kiệt mới là điều đáng nói.

Để tỏ lòng tưởng nhớ và biết ơn nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam(CS), Quốc hội(CS), Chủ tịch nước(CS), Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam(CS), Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam(CS) quyết định tổ chức tang lễ ông với nghi thức Quốc tang trong hai ngày: 14 và 15-6-2008.”

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=262625&ChannelID=3

Tại sao quốc tang ? Ông Kiệt đã làm gì ? (1) Kiến trúc sư đổi mới. (2)Tác giả nghị định 31CP để bỏ tù các cá nhân có tư tưởng dân chủ hay hoạt động hổ trợ dân chủ. (3) Một số ý kiến cứu đảng và xây dựng đảng

Về kiến trúc sư đổi mới : Cái gọi là “đổi mới” để che dâu một con đường sai lầm nhưng vì thiếu lương thiện, không chịu trách nhiệm, vẫn “nó” ngồi đó, vẫn quyền lực đó …Như vậy đổi mới để cứu dân hay cứu đảng,. Câu trả lời là để cứu đảng, Đảng CSVN nhớ ơn Ông là đúng. Quyết định toàn đảng để tang Ông là đúng. Nhưng việc toàn đảng để tang Ông hoàn toàn khác với “quốc tang”.

Về nghị định 31CP : Cũng chỉ nhằm mục đích giữ vững đảng trước các yêu sách về dân chủ. Lại một lần nữa, đảng CSVN nhớ ơn Ông đời đời là đúng. Nhưng việc toàn đảng để tang Ông hoàn toàn khác với “Quốc tang”

Một số ý kiến phê bình để củng cố đảng : 2 ý kiến trội yếu nhất là “. . . có một cách nhìn méo mó từ phía một số người cộng sản rằng yêu nước và yêu chủ nghĩa xã hội là đúng, còn những người yêu nước khác mà không yêu chủ nghĩa xã hội thì không yêu nước đủ như mình”. hoặc “có triệu người vui,và cũng có triệu người buồn bã”(nói đúng hơn có triệu người vui và cũng có triệu gia đình tan nát). Những ý tưởng trên đã có hàng triệu triệu người nói hơn nửa thế kỷ nay, từ khi những người CS tham gia vào việc đánh đuổi thực dân Pháp. Về ý tưởng “triệu vui-triệu tan nát” đâu phải đến bây giờ mới có , chính Ông Võ văn Kiệt đã tham dự vào việc làm triệu gia đình tan nát mà!. Những đợt cải tạo, những đợt tàn sát đánh phá tư sản miền Nam, đặc biệt là Sài Gòn, lúc đó Ông Kiệt ở đâu?. Vụ án Hoà Thượng Thiện Minh Ông Kiệt và Ông Mai Chí Thọ là 2 thủ phạm chính mà! Người CS quay súng bắn lại hàng ngàn đồng bào cuả mình tại Huế từ Mậu Thân (1968 ) đến nay có bao giờ Ông Kiệt tỏ ra hối tiếc về việc này đâu! Đây là một tội ác sẽ hiện diện trong lịch sử VN cùng với dòng sống cuả dân tộc Độc giả dấu tên cuả Đối Thoại đã thổ lộ, “Ông Kiệt, Ông Thọ. . . còn sống chúng tôi không làm gì được, nhưng khi chết chúng tôi sẽ đào mồ, bôi bẩn mồ các vị …”Những ý tưởng cuả Ông Kiệt, thật giả nào ai biết. May ra đây là những ý tưởng phát xuất từ thực tế cuộc sống cuả một người đã tham dự vào nhiều tội ác thì cũng chỉ được đối xử như một người biết “quy y lẽ thật” mà thôi! Đâu có gì mà quốc tang !

Tóm lại, đảng CSVN muốn nâng cao , hạ bệ Ông Kiệt thế nào cũng được, vì đây là chuyện nội bộ cuả đảng. Nhưng đảng CSVN với quyết định cuả cái gọi là “Ban chấp hành Trung ương đảng CSVN(CS), Quốc hội(CS), Chủ tịch nước(CS), Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam(CS), Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam(CS)” buộc ngân sách nhà nước chi tiền để làm quốc tang là một điều cưỡng chế, như đã cưỡng chế cả nước trong điều 4 hiến pháp.Có ai trong các cơ cấu trên  không là đảng viên đảng CS không? bất cứ một người nào cũng đều biết là “Không”. Vậy bày đặt để làm gì ? Để gọi là quyết định cuả nhà nước và đảng!

Với những điều trình bày trên, chúng tôi hoàn toàn và quyết liệt phản đối “quốc tang” Ông Võ văn Kiệt. Xin giúp Ông Kiệt ngủ yên trong lòng đảng CSVN như ý nguyện của Ông

________________________________________________________________

Quốc tang cho ông Võ Văn Kiệt

 http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/06/080612_vovankietfuneral.shtml

 

 

Truyền thông nhà nước đợi khá lâu mới đưa tin cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt qua đời

Báo điện tử VnExpress của Việt Nam và Tuổi Trẻ Online chạy tin nói sẽ có lễ quốc tang cho cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt.

Sau hơn một ngày đợi chỉ thị theo thủ tục kiểu Liên Xô trước đây, báo chí Việt Nam cuối cùng cũng đã có tin về cái chết của ông Kiệt.

Bản tin trên mạng của báo lúc 18:30 giờ Việt Nam, được cho là đúng 30 phút trước tin chính thức của đài truyền hình viết rằng “do tuổi cao, bệnh nặng, nguyên thủ tướng Võ Văn Kiệt đã từ trần hồi 7h40 ngày 11/6/2008, thọ 86 tuổi.”

Báo Lao Động nêu tên các nhân vật lãnh đạo cao cấp nhất trong ban tang lễ 33 người, đứng đầu là TBT Nông Đức Mạnh, sau đến Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết rồi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Báo này đưa tin lễ quàn và viếng được tổ chức tại Hội trường Thống Nhất, TPHCM.

Báo Tuổi Trẻ có bài của Huỳnh Sơn Phước gọi ông Kiệt là vị thuyền trưởng “đã chèo lái con thuyền Việt Nam ra khỏi bãi cạn của cơ chế bao cấp.”

‘Một tổn thất’

Thông cáo của chính quyền viết: “Đồng chí mất đi là một tổn thất đối với Đảng, nhà nước và nhân dân ta,”

So với một số cáo phó của các nhân vật lãnh đạo trước tại Việt Nam, người ta không thấy có cụm từ “tổn thất vô cùng to lớn”, có thể là vì ông Võ Văn Kiệt đã nghỉ hưu lâu.

 

 [Ông là] vị thuyền trưởng đã chèo lái con thuyền Việt Nam ra khỏi bãi cạn của cơ chế bao cấp

 

Báo Tuổi Trẻ

Bản thông cáo cũng viết: “Để tỏ lòng tưởng nhớ và biết ơn đồng chí Võ Văn Kiệt, Ban chấp hành trung ương Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Ủy ban trung ương mặt trận tổ quốc Việt Nam quyết định tổ chức tang lễ đồng chí Võ Văn Kiệt với nghi thức quốc tang.”

Trước đó ngay hôm thứ Tư, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki-moon, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và Thủ tướng Singapore ông Lý Hiển Long đã gửi lời chia buồn tới gia đình ông Kiệt và nhân dân Việt Nam.

Ông Ban cũng nói ông cựu thủ tướng ‘đã đóng vai trò tối quan trọng trong cải thiện quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và các nước trên thế giới’.

Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ra thông cáo viết: “Các nỗ lực của ông đã giúp mở đường cho bình thường hóa quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam”.

Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long đã gửi thư chia buồn tới thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng với đoạn: “Ông Võ Văn Kiệt là bạn lâu năm của Singapore, người đặt nền móng cho quan hệ thân cận giữa hai nước”.

 

 

Cuộc gặp Võ Văn Kiệt và Thủ tướng Mitterand năm 1993 mở đường cho Việt nam quay lại với Phương Tây

Thông cáo của chính phủ Việt Nam, qua bài trên VnExpress viết rằng “nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã qua đời tại một bệnh viện ở Singapore vì bệnh tuổi già” nhưng không nói rõ nguyên nhân của bệnh.

Các bản tin của các hãng thông tấn và báo chí nước ngoài đưa các chi tiết khác nhau về việc ông Kiệt qua đời ở Singapore.

Reuters hôm 11/06 nói là ông bị viêm phổi cấp, bản tin của AP lại trích lời quan chức Việt Nam nói ông bị tai biến mạch máu não hôm thứ Bảy, trong khi AFP trích một nguồn từ bệnh viện Mount Elizabeth ở Singapore nói ông nhập viện “với bệnh không xác định rõ” (unspecified ailments).

———————–

Một đánh giá về ông Võ Văn Kiệt

12 Tháng 6 2008 – Cập nhật 20h04 GMT

 http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/06/080612_pomonti_vovankiet.shtml

 

Điếu Kiệt

Filed under: Chính trị, xã hội, Quan điểm — tudo @ 12:09 am

Đinh Tấn Lực

 

Trời cao đất dầy! Người nước ngoài điện về báo tin “anh Sáu đã vĩnh viễn ra đi”, nhưng, bực lắm thay, tin tức ở đây cứ cà giựt mãi. Các trang mạng cà tàng đăng bài rồi gỡ xuống mỗi ngày hai ba bận. Lại có trang, nhân lúc nhận được hung tin mà hồ hởi đăng lại bài mừng sinh nhật anh. Khóc cười nhập nhằng. Buồn vui lẫn lộn. Rõ là lệnh Trên chẳng thông, như thường lệ xưa nay: Lề bên phải chỗ nào chưa vạch, nên chẳng có tên ký giả nào dám giả ký tên mà đặt bút đề tin. Nay thì mọi sự ba bảy hăm mốt, giấy tiền vàng mã đang nghi ngút cháy, thông tấn xã Ba Đình trân trọng báo tin: anh Sáu đã chính thức đăng nhập vào danh sách friends của blog maidịch chấm com.

Nhớ linh xưa: Văn Hòa là tên, Phan là họ, thuộc dòng dõi tá điền trung nông, sau đổi tính thành Võ, đổi danh thành Văn Kiệt. Nửa võ nửa văn, cả hai vốn chẳng bao nhiêu, lại đồng khánh kiệt từ thời thoát ly gia đình ở Vĩnh Liêm, Vĩnh Long, căm hận cuộc tình mandolin không đoạn đầu đoạn kết với cô con gái cháu nội quan tri phủ ở vùng biển nhãn Bạc Liêu, mà quyết định đoạn trường cuốn mùng xách nóp vô bưng, quyết lòng đi theo tiếng gọi của đệ tam quốc tế, để “đánh Tây, chống Mỹ”, và quyết chí lập (nhiều) gia thất rửa hờn. Lòng hận càng cao khi được Trên báo tin người vợ đầu và đám con thơ đã vùi thây dưới làn bom giặc Mỹ. Bèn phải nhờ hai ông Nguyễn Hộ – Chín Cần coi sóc đỡ đầu cho mấy đứa con rơi còn lại đó đây từ thời chống càn đánh Pháp, và càng quyết chí dốc lòng đấu tranh làm cách mạng vô sản. Hoạn lộ bắt đầu khai thông từ đó.

Vẫn chưa quên: Lúc đất nước thống nhất, trở thành đầu tàu của đảng bộ Thành Phố, quyền uy nửa nước, anh rình rang áo gấm xe con trở về Sóc Trăng-Bạc Liêu tìm lại người thiếu nữ con vị điền chủ có ruộng vườn cò bay thẳng cánh từng lắc đầu ngày trước, gọi là “cho nó mở con mắt ra”, mới hay nàng đã đeo kính râm, bưng cơi trầu đựng hột xoàn lên máy bay sang Mỹ từ lâu. Bèn chỉ thị cho đảng bộ địa phương bắc loa rủa xả ba đời gia đình quan tri phủ. Và… đành phải một lần nữa chí thú chăm lo việc nước, nhưng nhất định không quên chú mục vào những bậc thềm Bắc Bộ Phủ.

Vẻ vang thay! Anh nắm lấy Quyền Chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng năm 1988, khi Phạm Hùng đột xuất chuyển sang từ trần trên bụng một người đẹp có giấc mơ trải ga giường làm bộ trưởng. Rồi chẳng bao lâu sau, anh chính thức trở thành Thừa Tướng thực thụ từ năm 1991 đến năm 1997, dưới trướng hai anh Mười Cúc và Mười Hoạn. Lắm kẻ xấu dạ bảo thừa tướng là tướng không dùng. Thực chất không hẳn vậy, khi anh mất chức rồi mọi người mới vỡ lẽ rằng đó chỉ là thứ quyền rơm vạ đá, trong một cỗ máy chẳng đào đâu ra một ai dám lấy quyết định, bởi chẳng đứa nào dám nhận trách nhiệm về sau. Lại lắm kẻ xấu mồm bảo rằng anh có còn nguyên cả hai mắt cũng chẳng trông thấy gì rõ hơn lão lòa 40 năm làm đệ nhất Thừa Tướng từng ký công hàm dâng đảo Trường Sa cho Tàu khựa. Thực tiễn thì đúng vậy, nhưng nói thế cũng có đôi phần thiếu công bằng, nếu không rõ bản điều lệ đảng (rất đáng bịt mũi) đã từng bịt mắt, bịt tai, và bịt mồm toàn đảng.

Lại nhớ: Cuộc tranh luận bất phân thắng bại giữa nhiều trường phái khi bình bầu một tác phẩm để đời của anh. Có kẻ bảo rằng đó là đường dây 500KV Bắc-Nam chiếu rọi gia phong cực sáng, khiến quan viên hai họ cả gia tộc nội ngoại của anh đều phải mỏi tay mờ mắt đếm tiền đô, với không biết bao nhiêu gói thầu trúng mánh. Thời này, mọi dự án đều là …án làm sẵn. Ngay cả đứa tham nhũng cực to trong đợt 500KV này bị đi tù thì cũng là loại tù vua, và vẫn được anh khẳng khái tuyên dương công trạng hay quà cáp thăm nuôi những ngày lễ, Tết. Nghĩa là vẫn không khác: Trên chỉ cho đánh tham nhũng từ đầu gối trở xuống, còn lủng lẳng phía trên thì …vẫn có chỗ đứng.

Lại có kẻ chứng minh rằng tác phẩm để đời đó nhất định phải là Nghị Định 31-CP mà anh từng ký ngày 14/4/1997, vào lúc gần cuối quảng đời cực thịnh làm Thừa Tướng nước Nam. Quả thật đó là một công cụ cực độc, gọi là “quản chế hành chính”, gồm 4 chương 28 điều, dùng để bắt giam mọi đối tượng manh nha có ý tưởng đi ngược lại đường lối đảng, mà không cần lệnh bắt hay tạm giam, cũng không cần chứng cứ hay quy trình xét xử. Và chính thực đó mới là bộ phận ổn áp chính trị mà đảng ta cần có bằng mọi giá trên bình diện cả nước vốn đã gia tăng quá nhiều điểm nóng rập rình nối kết với nhau. Có thể xiển dương rằng đó mới chính là tuyệt tác của anh, và là công trạng lớn nhất mà anh đã cống hiến cho đảng.

Đáng hận thay! Mười Cúc và anh đã cật lực xoay sở trong một giai đoạn xuống cấp trầm trọng khủng khiếp của quốc tế cộng sản, đã phải dồn hết tâm hết sức vào việc “đảng hóa” các ý niệm đổi mới của nhân dân, từ chính sách khoán ruộng tới mở gút ngăn sông cấm chợ, tận diệt tem phiếu, đưa vị trí nước nhà lên hàng thứ ba xuất cảng gạo trên thế giới. Vậy mà bọn bảo thủ vẫn nhơn nhơn cho rằng đảng ta chưa đổ là nhờ những cuộc công du khấu tấu của chúng ở Nam Ninh với Bắc Kinh, và cứ thế, cứ mở miệng ra là lấy 16 chữ vàng làm sao bắc đẩu, không khác chi lời cụ nội nó trối trăn. Còn bao nhiêu tâm trí và công sức của anh thì cứ như đáy biển chìm kim. Đôi khi lại trở thành chứng cớ cho tòa án kết tội những người đọc và bàn về chúng. Trường hợp ông Hà Sĩ Phu vào tháng 12/1995, đi tù về tội đọc lá thư của anh gửi cho bộ chính trị, há chẳng phải là một điển hình tiêu biểu đó sao?

Đáng tiếc thay! Bọn cặp-rằng chột mắt đã cấu kết với đám hoạn lợn Bắc Bộ để loại anh ra khỏi vòng quyền lực, chính vì những công sức và tâm trí về xây dựng đảng nói trên. May nhờ những phản đòn kịp lúc của anh mà cả ba đều cấp tốc nắm tay nhau chuyển sang quy chế cố vấn đại ương (tức ở hạng ngạch trên trung ương). Rồi, cho tới đầu năm 2006, khi chuẩn bị tiếp đón tổng thống đế quốc Mỹ sang dự hội nghị APEC, quần thần của triều đại con rớt con rơi này đã đồng tâm hiệp lực tạm “vô hiệu hóa” tác phẩm để đời 31-CP của anh, ngay vào lúc tác giả còn hiện tiền, để lót đường cho bọn tư bản cho phép Việt Nam chường mặt vào WTO, và được Mỹ đặc phong cho quy chế mậu dịch bình thường vĩnh viễn PNTR. Thôi, thế cũng tạm gọi là tốt, ít ra Nghị Định 31 Xê Bê cũng   một tí giá trị kinh tế biểu kiến, đàng sau hàng hà sa số những giá trị chà đạp nhân quyền cực thảm.

Chỉ tiếc nhất cho giấc mơ suốt đời của anh là một chuyến công du sang Mỹ đến nay vẫn chưa thực hiện được, mà hóa ra công lao hãn mã suốt đời của anh chỉ là những viên gạch tiểu, gạch tàu lót đường cho bọn đàn em có bề dày cách mạng mỏng tựa giá mùa đông ở Hà Nội, bở như giấy lau …tay ở Sài Gòn, tức là chỉ ngang bằng lương tâm và trí tuệ lãnh đạo của ta, lại lần lượt chen chân nhau qua Mỹ. Dù gì thì những cà chua trứng thối ở Mỹ vẫn sáng giá và bõ công hơn mớ sơn đặc mắm tôm mà anh từng đón nhận trong các chuyến công du Âu châu và Úc châu hồi cuối thế kỷ trước chăng?

Đáng mừng thay! Sau đận phục viên, anh vẫn theo sát tình hình chính sự, và tiếp tục góp ý góp công xây dựng đảng, qua các bài viết, thư ngỏ hay trả lời phỏng vấn (của cả báo đài nước ngoài), với hai đặc điểm đáng ngẫm so với thời tại chức: Ý tưởng sắc hơn và Lời nói thẳng hơn.

Anh xác nhận “nguy cơ lớn nhất là đất nước tụt hậu”, cùng lúc lại đòi hỏi “lãnh đạo phải có bản lãnh”. Nhưng, có phải đất nước mình mới tụt hậu mấy năm gần đây; có phải đến thời này lãnh đạo mình mới thiếu bản lãnh? Hay cả hai đã phát huy theo gia tốc rơi tự do từ đận lãnh đạo ta đòi đốt rụi Trường Sơn đi cứu nước, anh nhỉ?

Anh bảo: “Đất nước VN không phải của riêng ai Việt Nam là của mình, chứ không phải là của riêng của người cộng sản hay của bất cứ tôn giáo hay phe phái nào cả”. Quá đúng đi chứ, không thể ngờ vực được chút nào về nhận định này. Chỉ có mỗi thắc mắc: Cả từ thời anh nắm quyền thủ tướng, qua cố vấn đại ương, cho tới thời phục viên, không ai nghe anh nói lời phản biện nào đối với chủ trương “yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội!”? Cũng không ai thấy anh có ý kiến gì về sự áp đặt vô lý các chương trình học tập chính trị Mác-Lê rác rưởi  các cấp trung học và đại học?

Anh nhật xét rằng: “hiện nay người nghèo, những hộ thu nhập thấp những người phải chạy ăn từng bữa, trên thực tế, chỉ được thụ hưởng rất ít các kết quả tăng trưởng trong khi chính họ gần như phải lãnh trọn những hậu quả do lạm phát đang diễn ra… Việt Nam cần có những chính sách cốt lõi để giải quyết căn cơ vấn đề dân nghèo”. Anh chỉ không nhận rằng những chính sách cốt lõi đó cần phải bắt đầu từ thời… cải cách ruộng đất, hay chí ít là từ thời anh làm Thủ Tướng. Thời đó, anh không làm gì khi anh nắm quyền điều động cả một chính phủ, cũng không dám nói gì khi anh còn là UV/TW và bộ chính trị. Nay anh lớn tiếng nhận định về tình trạng “thiếu chính sách” khi trong tay của anh và gia tộc hai họ nội ngoại, cả bên chồng lẫn nhiều bên vợ, là những gia sản kếch xù, thì liệu có ai dám nghĩ là anh thực sự quan tâm đến dân nghèo dân oan không anh?

Anh hỏi: “Nhà nước đã làm gì cho dân nghèo khi việc chăm lo cho người nghèo là cam kết lịch sử của cách mạng?”. Anh có từng tự hỏi như vậy trong các năm tại chức? Và đến bây giờ anh vẫn một lòng tin rằng bọn tư bản đỏ vẫn tôn trọng một cam kết lịch sử với dân nghèo, dân oan?

Nhìn lại quốc hội, anh nhận định: “Cả động lực để đại diện, cả trình độ và năng lực để đại diện đều đang có vấn đề”. Vấn đề này không mới, và cũng không chỉ nằm ở quốc hội. Cốt lõi của nó là quan niệm điều hành quốc hội, và cả ngành tư pháp, từ đảng.  

Đó là một vài nhận định của anh ở tầm tổng thể. Anh còn một số phát biểu “nức lòng” khác ở tầm thấp hơn, không đáng kể. Nhìn chung, cái cốt lõi của mọi nhận định rất sắc và khá thẳng bên trên mà anh không hề dám chạm tới, đau đớn thay, lại chính là điều 4 hiến pháp và tự do báo chí. Nói cách khác, về đặc điểm những phát biểu gần đây của anh, thì: Ý tưởng sắc hơn nhưng không nhất thiết là đúng hay đủ; và Lời nói thẳng hơn cũng chưa nhất thiết là thật hay thông. Tiếc thay! Tiếc thay!

Ai tai! Ý tưởng như nước trôi. Lời nói như gió thoảng. Giờ thì anh đã về đến nhà, bằng  chuyên cơ Tô-Bia của Thái. Trắng tay vẫn hoàn tay trắng, ngoại trừ tấm vé cho chuyến khác, một đi không trở lại. Hy vọng là những cuộc tình dâu bộc trong bưng ngoài thành đã giúp anh quên hẳn người thiếu nữ làng Thạnh Quới, trước khi về cõi. Hy vọng là anh đã chuyển tên các trương mục Thụy Sĩ cho các chị và các cháu xong xuôi. Cũng mong là nhà nước đối xử lần cuối với anh đàng hoàng, có học, văn minh, tử tế hơn các bạn lão thành Bảy Trấn, Trần Độ và Hoàng Minh Chính trước đây. Càng mong hơn nữa là khi nhắc tới tên anh, đừng ai nghĩ ngay tới cái 31-CP là cái duy nhất anh để lại cho đời. Cũng đừng ai nghĩ rằng anh là tấm gương phản ánh cực sáng cho một trào lưu chỉ nói thẳng một khi đã mất hết quyền hành.

Có mấy câu điếu lượm được trên Net, xin chép lại để gửi theo anh:

Khá thương thay!
Giận cho lão Trời xanh;
Căm thay ông thầy thuốc.
Già tám sáu cật dai bụng dẻo, thú trần ai sao vội buông xuôi;
Non một tá vợ dại con thơ, mắt lợn luộc thôi đành trợn ngược.

Tôi nay:
Giận thì giận mà tha thì vẫn tha;
Cười chẳng cười mà khóc không ra  khóc.
Bó hành đưa lợn xa chơi;
Nắm nhang tiễn anh thẳng bước.

Đừng tính thiệt ra hơn, bước chân đi cấm kỳ trở lại, nẻo âm dương quay lộn tới lui;
Chớ nghĩ khôn hóa dại, vụng nước cờ hạ thủ bất hườn, thế chiếu bí phản hồi sau trước.
Khổ cho tôi mà cũng nhục cho anh;
Tủi thằng dân mà cũng đau cho nước.

Thôi thì:

Chun rượu rưới xuống, khôn thì nên sám hối nghiệp ma vương bá đạo, kiếp sau khó được làm người; Hũ mắm xông lên, linh thì phải ăn năn kiếp nghiệt súc dã man, nghiệp lai dễ thành giống vượn!

Ai tai!

Thượng hưởng!

12/06/08 – Gửi bạn Điếu Cày trong tù mấy dòng Điếu Kiệt, để giải khuây.

Đinh Tấn Lực. Chung cư Nguyễn Thiện Thuật – Q3 – TPHCM.

June 11, 2008

1. MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH THỰC TẾ VỀ VẤN ĐỀ NHẬN DIỆN CÁC TRƯỜNG HỢP HOẠT ĐỘNG CHO CS

MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH THỰC TẾ VỀ VẤN ĐỀ NHẬN DIỆN CÁC TRƯỜNG HỢP HOẠT ĐỘNG CHO CS HOẶC LÀM LỢI CHO CS TRONG THỰC TIỂN TRANH ĐẤU HÔM NAY TẠI HẢI NGOẠI

Diễn Đàn Quốc Tế Của Các Phong Trào Dân Chủ VN

Có ba nhận xét mà người viết muốn đưa ra ngay:

1. Những người thường về VN mà ra ứng cử vào các chức vụ công quyền hoặc Dân Biểu, Nghị Sĩ tại các nước hoặc địa phương trú ngụ

Điển hình một người rất quen thuộc ở Bắc Cali là Madison Nguyễn, từng về VN. Bên Canada cũng có những người về VN mà có tham vọng ứng cử Nghị Viên Thành Phố, Dân Biểu tỉnh bang hoặc liên bang v.v Bên Úc và các tiểu bang khác tại Hoa Kỳ đều có tình trạng này.

Một quy luật chung: không nên bầu cho những người về VN nhiều lần, vì chắc chắn VC không tha những người đó trong mục tiêu chính trị. Tốt nhất là chỉ bầu cho những người đang sống ở hải ngoại mà không từng về VN; vì những người về VN mà có ý hướng ứng cử vào các chức vụ dân cử ở các quốc gia đang trú ngụ, chắc chắn VC sẽ liên hệ, và khó tránh được những điều ngoài ý muốn cộng đồng nếu có những người liên hệ với VN mật thiết mà đắc cử; vì họ khó tránh khỏi được công an mời lên cộng tác. Có nhiều người còn muốn và cố ý cộng tác với VC để thủ lợi nữa!
Tại Canada, người ta đã đưa ra trường hợp một người từng liên hệ với thủ tướng CSVN và đắc cử; khiến cho thay vì người này là một “asset” thì lại trở thành là một “liability” của cộng đồng, và cộng đồng phải có đối sách ứng phó, và không ai mong muốn cả.

Vậy thì phải làm thế nào đối với những trường hợp này. Các cơ quan đoàn thể chống Cộng cần nghiên cứu để biết rõ những vị đang ứng cử ở địa phương có phải là những người từng về VN hay không? Nếu vị nào đó thường về VN, tốt hơn nên cảnh giác đồng bào để sau này khỏi hối hận! Hiện nhiều địa phương ở Bắc Mỹ đang có bầu cử, và có nhiều người VN ra ứng cử, trong nhiều vị thế khác nhau. Vấn đề của các đoàn thể tranh đấu và truyền thông chống Cộng là cần tìm hiểu về các ứng cử viên để xác định cho đúng và cảnh giác đồng bào về những ƯCV thường về VN. Tránh trường hợp sau này cộng đồng phải chống lại những kẻ cộng tác với VC mà đã trở thành Nghị Viên, Dân Biểu, Giám Sát Viên v.v.

2. Trường hợp báo thân Cộng hoặc phục vụ cho VC

Có hai trường hợp căn bản:

– Tờ báo thường xuyên đăng bài có lợi cho VC. Cái này gọi là công khai theo VC hoặc hoạt động theo chỉ thị của VC. Một trường hợp điển hình là tờ Viet Weekly ở Nam Cali. Dưới một chế độ tự do báo chí như ở Hoa Kỳ thì trừ khi anh hoạt động Cộng Sản hoặc khủng bố là sẽ bị trừng trị; còn anh viết bài bày tỏ tư tưởng xã hộiû hoặc bênh vực cho CSVN v.v., người ta không làm gì anh. Nhưng người ta có quyền biểu tình phản đối lập trường của anh. Đó là lý do Viet Weekly đã bị đồng bào Nam Cali biểu tình phản đối liên tục cả năm nay. Ngày nào Viet Weekly còn chịu đựng nổi thì nó sống, ngày nào nó không còn khả năng tài chánh vì không ai mua hoặc quảng cáo thì nó có thể dẹp tiê.m. Hiện tại nó chưa quyết định như thế nào vì mong rằng đoàn biểu tình sẽ tự dẹp trước khi nó bị sụp đổ, vì lý do cư dân ở đó bị ảnh hưởng làm ăn đã phản đối. Vậy vấn đề ai chịu đựng trường kỳ được người đó thắng. Đây là một thử thách khá lớn đối với cộng đồng người Việt ở Nam Cali.

– Trường hợp thứ hai là những tờ báo đúng vào những lúc quan trọng nhất, quyết định nhất của tình hình (critical period, critical point of time) như là Đại Hội Đảng Cộng Sản, các dịp Lễ hoặc Tết đặc biệt phải thông báo một “thông điệp” gì đặc biệt, nó mới đánh một đòn bất ngờ mà nó biện bạch là vì vô tình sơ ý (do lâu lâu mới hành động một lần vào đúng lúc — chắc chắn là được chỉ đạo — nên nó làm xong liền biện bạch là sơ ý và có một vài đòn gió để trấn an bà con); sau đó nó lại trở về đời thường với bài vở tin tức vô thưởng vô phạt, có khi chống Cộng; nhưng chờ đúng lúc có chỉ đạo phải thi hành Nghị Quyết 36 thì nó lại ra tay bất ngờ rồi trở lại bình thường. Nó sẽ tiếp tục làm như vậy hoài vào đúng những lúc quan trọng nhất cho chế độ CS. Bà con biết tờ báo có vấn đề do nhiều yếu tố tổng hợp lại:

* CS Hà Nội mua chuộc hệ thống truyền thông hải ngoại khắp nơi, nhiều báo đài đã nghiêng ngã vì lơ.i. Chắc chắn CSVN không bỏ qua các hệ thống có nhiều ảnh hưởng đối với quần chúng VN như báo Người Việt ở Quận Cam chẳng ha.n. Nó giữ được là cơ quan truyền thông chống Cộng hay không và giữ được đến mức nào là do ý thức của nhóm chủ trương và những lợi lộc hay hứa hẹn do CS đem lại; mặt khác còn do hệ thống đó có để lọt vào các kẻ nằm vùng cho CS hay không? Sự nghiên cứu về nhóm chủ trương và nhân sự cùng hoạt động tái đi tái lại của tòa báo vào những thời điểm nhạy cảm cho người ta thấy rằng những hoạt động có lợi cho VC hoặc phỉ báng VNCH vào đúng lúc là cố tình thực hiện Nghị Quyết 36 chứ không phải vô ý. Lần vẽ Cờ VNCH vào chậu rữa chân của tiệm nail là nghiêm trọng nhất nên bị phản đối dữ dội và tòa báo thấy tình hình cũng biết là nghiêm trọng nên đã sa thải chủ bút và nhân viên liên hệ. Nhưng vấn đề là người ta đã nắm bắt được giữa hai biện chứng: “THẬT” và “VÔ TÌNH”, nên công cuộc biểu tình phản đối lại được tiếp tục trong dài ha.n.

Theo tình hình thực tế và con đường mà CSVN đang xiển dương ở hải ngoại (dùng tiền và lợi lộc chính trị hoặc vật chất, hứa hẹn v.v.), thì sẽ còn rất nhiều con nhạn bị ná VC bắn trúng và bị mua chuộc phục vụ cho ý đồ của VC ở hải ngoại; và các tòa báo hoặc cơ quan tái đi tái lại các hoạt động, hành vi hoặc hình ảnh làm lợi cho VC, cần phải được cảnh giác luôn luôn và có hành động đáp ứng đúng mức. Không dễ gì một tòa báo lớn như NV dám công khai cổ võ hoặc hoạt động cho CSVN, nhưng làm lợi cho CS vì nhiều lý do khác nhau vào đúng những lúc nhất định có chỉ đạo (chứ không phải vô tình) là điều mà chúng ta hãy nghĩ về tờ báo này đã hơn một lần “vô tình” kiểu như thế. Sự thi hành Nghị Quyết 36 tại hải ngoại giờ đây thiên hình vạn trạng, thì mong rằng chúng ta nắm vững được chiến tuyến Thủ Đô Tị Nạn để những nơi khác làm gương.

Chúng tôi không nghĩ những vị như Ngô Kỹ, Đoàn Trọng và Lực Lượng Chống CS và Tay Sai đứng ra biểu tình chống báo NV là bị CS giựt dây hoặc mua chuộc để làm như thế, mà chúng tôi tin rằng họ chống Cộng thực sự và muốn bảo vệ chiến tuyến Thủ Đô Tị Nạn không để bị bỏ ngõ. Còn lại những đoàn thể và cá nhân đã ký Bản Lên Tiếng phản đối báo NV (trên 200), thì những đoàn thể và cá nhân khởi xướng (như Khối Lập Trường Chung, VNQĐD v.v. là những tổ chức và cá nhân lãnh đạo dày kinh nghiệm CS và đấu tranh, chắc chắn những nhận xét của qúy vị đó là đáng tin tưởng). Hiện tại đang ở thế giằng co; nhưng chúng tôi tin tưởng những việc làm đã qua của những cá nhân và đoàn thể liên hệ trong vụ việc là những việc làm có lợi cho chính nghiã và đáng tuyên dương, chứ không phải là bị VC giật dây hoặc mua chuô.c. Con “CÁ LỚN” lúc nào cũng khó bắt, đó là điều qúy vị và đồng bào Nam Cali nên nắm vững: đấu tranh với những cơ sở như NV khó lắm!. Sư can trường tranh đấu với một thế lực lớn như thế của những người thực sự chống Cộng đã và sẽ được đồng bào hiểu biết khắp nơi ủng hộ.

3. Trường hợp gián điệp hoặc hoạt động cho CS trên Internet

Có ba hạng người hoạt động cho CS trên Internet:

– Những người ra mặt hoạt động cho CS, như Chế Trung Hiếu, Bernard Chang v.v. Những người này hoàn toàn dễ biết vì họ bênh vực thẳng VC và nhục mạ VNCH.

– Những người đi đường ngầm để hướng dẫn dư luận, nhưng không ra mặt là CS. Đó là những văn nghệ sĩ hoặc những kẻ đã ngã theo VC và đang làm công tác chiêu dụ người cho VC; cũng như bênh vực và hỗ trợ dư luận cho VC vào đúng lúc; ví dụ như vào dịp Lễ VESAK chẳng ha.n. Những người này rồi cũng “lòi đuôi” qua thời gian; khi mà lập trường của họ đã lộ rõ ra là làm lợi cho VC. Ta đã thấy những thành phần chống phá GHCGVN, GHPGVNTN v.v. trong Nhóm Giao Điểm và các trang mạng đang làm lợi cho VC là những điển hình. Cho nên nhóm thứ hai này cũng có thể nhận biết đươ.c.

– Còn một nhóm thứ ba mang sứ mạng là ngăn chận hoặc cản phá những hoạt động chống Cộng thực chất trên Internet. Những kẻ này có thể giả danh chống Cộng; nhưng người ta biết được là do thái độ thù hằn và luôn luôn cản phá các hoạt động chống lại CS hữu hiệu trên mạng lưới bằng cách làm giảm đi sự hữu hiệu của hoạt động chống Cộng với những posts thù hằn hoặc chửi bới dơ dáy; mục đích không cho hoạt động chống CS trên mạng được phát đi rộng rãi. Tìm các posts thiên Cộng của những người này thì hiếm thấy nhưng người ta biết được là do thái độ không thân thiện, chửi bới hạ tiện, mà người quốc gia không có; rõ ràng những người này không cùng chiến tuyến, dù họ không ra mặt hẳn để bênh vực VC. Sứ mạng chính của những người này là cản phá hoạt động chống Cộng trên Internet chứ không phải bênh vực CS (dù họ đôi khi làm lợi cho CS một cách kín đáo). Bởi vậy bà con cần phải lưu ý đối với những người mang sứ mạng này, và hãy luân lưu cho các nhóm làm việc chung được biết về những người mang sứ mạng này để có đối sách thích hơ.p. Các trường hợp của qúy vị như là Ngô Phủ, Matthew, GS TS Nguyễn Phúc Liên, Phạm Hoài Việt, Viet Marketing v.v. là những thí dụ điển hình trọng điểm đánh phá của kẻ mang sứ mạng này.

Trong các kỳ tới chúng tôi sẽ nghiên cứu thêm về các vấn đề nằm vùng và CS trên mạng lưới để hầu chuyện bạn đo.c.

Diễn Đàn Quốc Tế Của Các Phong Trào Dân Chủ VN

June 9, 2008

Bỏ của chạy lấy người

Filed under: Chính trị, xã hội, khủng hoảng, Quan điểm — tudo @ 12:02 am

Nguyễn Xuân Nghĩa

6/8/2008

Khi đồng đôminô Việt Nam bắt đầu lật

Tháng Ba năm 2007, thị trường chứng khoán Việt Nam bốc lên cõi ảo, với chỉ số VNIndex tại Sàigòn chờn vờn đỉnh cao 1.170 điểm. Vì sống trong bong bóng, nhiều người không thấy rằng trái bóng đầu tư đó sẽ bể – và mình sẽ rớt xuống đất.

Ngày mùng bốn tháng Sáu vừa qua, chỉ số VNIndex tuột dưới 400 điểm – sau khi sụt trong 21 phiên giao dịch liên tiếp. Con số chẵn 400 vừa bị tuột là mức nâng tâm lý có ý nghĩa lịch sử.

Từ đỉnh cao 1.170 điểm tới 395 thì coi như mất gần 66%; tính từ đầu năm 2008 thì trong năm tháng đã mất 57%. Nghĩa là sau khi đã sụt từ cuối năm ngoái, qua năm nay còn sụt mạnh hơn dù chính quyền Việt Nam thu hẹp biên độ giao dịch, không được cao hay thấp hơn giá hôm trước 1%. Biến cố ấy khiến nhiều người tự hỏi rằng mình đã rớt xuống đến đất hay chưa.

Một công trình xây dựng tại Cầu Giấy, Hà Nội do Nam Hàn đầu tư. Hoàng Đình Nam/Getty Images

Tức là cố định nghĩa lại thế nào là đất, thế nào là đáy, và thị trường chứng khoán sẽ còn tuột giá tới đâu mới ngừng. Một câu hỏi phù phiếm!

Sống trong cõi ảo của một trái bóng đầu tư, người ta không hề tự hỏi rằng vì sao hơn 150 công ty được yết giá trên thị trường chứng khoán Sàigòn lại có “kết giá tài sản” cao hơn 40% tổng sản lượng của cả nước (“kết giá tài sản” là giá cổ phiếu trên thị trường nhân với số cổ phiếu lưu hành). Với sản lượng toàn quốc chưa tới 70 tỷ Mỹ kim một năm, làm sao các công ty ấy có thể đáng giá 28 tỷ – và tạo ra doanh lợi một năm trung bình chừng bốn tỷ, theo tiêu chuẩn thông thường của thế giới?

Người ta cũng không hề tự hỏi vì sao thị trường địa ốc tại Việt Nam còn đắt hơn các thị trường Đông Nam Á khác. Một mét vuông phòng ốc tại Sàigòn hay Hà Nội làm sao đem lại lợi nhuận cao gấp ba gấp bốn cùng một diện tích đó tại Hong Kong, Bangkok hay Kualar Lumpur?

Vì vậy, các trái bóng chứng khoán và địa ốc tất nhiên sẽ bể, là chuyện đang xảy ra.
Thật ra, đây chỉ là vấn đề cho các nhà đầu tư – Việt Nam và ngoại quốc – và cho một thiểu số vài trăm ngàn người Việt Nam có tiền hay có quyền để chơi stock và lao vào thị trường bất động sản trong tinh thần đầu cơ hơn là đầu tư. Đấy là vấn đề của những người khá giả nhất ở trên ngọn, ở mặt nổi bên ngoài. Nhưng, nó cũng là biểu hiện của sự suy sụp bên dưới và sẽ ảnh hưởng đến đại đa số người dân ở dưới, thành phần chỉ có đủ lợi tức vặt mũi bỏ mồm.

Cái bên dưới đó mới là sự kinh hoàng.

Đầu tháng Năm, công ty lượng giá kinh doanh Standard & Poor’s đã lần đầu tiên đánh sụt giá quốc trái (trái phiếu do một chính quyền phát hành để vay tiền thiên hạ) của Việt Nam từ loại “ổn định” xuống loại “tiêu cực”: không đáng là khí cụ đầu tư. Chuyện ấy, dân Việt Nam không biết vì báo chí không được phép loan tải.

Đến cuối tháng Năm, đến lượt công ty Fitch cũng hạ thấp giá trị trái phiếu của Việt Nam – tức là niềm tin của giới đầu tư quốc tế. Và chưa đầy một tuần, họ điều chỉnh lại theo hướng còn tiêu cực hơn nữa. Giữa hai lần định giá của Fitch là hàng loạt báo cáo của các tổ hợp đầu tư quốc tế cho khách hàng của họ như Morgan Stanley, Goldman Sachs, Deustche Bank, Macquarie, rằng kinh tế Việt Nam có vấn đề. Văn phòng Hong Kong của Macquarie – tổ hợp đầu tư số một của úc Đại Lợi – còn nêu ý kiến như trời giáng, rằng Việt Nam có thể là đồng đômino đầu tiên sẽ đổ trong một chuỗi khủng hoảng tương tự như cuộc khủng hoảng kinh tế Đông Á năm 1997.

Nối tiếp có thể là Philippines, Nam Hàn và Ấn Độ.

Năm 1997, giữa không khí lạc quan của giới đầu tư và các định chế tài chánh quốc tế về phép lạ kinh tế Đông Á, khủng hoảng hối đoái bỗng bùng nổ tại Thái Lan vào mùng hai tháng Bảy, một ngày sau khi Hong Kong “hồi quy cố quốc” để trở thành lãnh thổ của Trung Quốc. Khủng hoảng hối đoái bùng nổ khi tiền Thái mất giá, chính quyền Thái phải tung ra 30 tỷ Mỹ kim mua lại đồng Bath của mình hầu vực giá đồng bạc mà không nổi. Số tiền cấp cứu bị tan trong sóng dữ và khủng hoảng hối đoái lan qua tài chánh, lan qua kinh tế, tràn qua các nước lân bang như Malaysia, Indonesia, Philippines và cả Nam Hàn, trở thành khủng hoảng kinh tế Đông Á.

Khủng hoảng kinh tế Đông Á tiếp tục lây lan qua Hong Kong, Nhật Bản, dội mạnh vào Liên bang Nga – khiến nước Nga của Boris Yelstin vỡ nợ – rồi thổi qua Brazil và quay về Hoa Kỳ đánh sập một quỹ đầu tứ đối xung thuộc hàng “đại gia” của Mỹ! Đó là chuyện của 1997-1998.

Bây giờ, bỗng dưng mấy nhà đầu tư lại báo động một chuyện tương tự, khởi đi từ Việt Nam!

Lịch sử không khi nào tái diễn y hệt như xưa. Nói cho văn vẻ, ta không khi nào uống cùng một hụm nước trên một dòng sông. Mỗi cuộc khủng hoảng lại thể hiện một cách trong cả ngàn cách khác nhau.

Thái Lan của mười năm trước đã khác Việt Nam ngày nay tới cả trăm năm ánh sáng. Nhục lắm mà vẫn phải nói ra!

Xứ Thái thời ấy có nền móng kỹ nghệ đã vượt xa Việt Nam, trong một thể chế dù bất toàn cũng còn dân chủ hơn gấp bội. Hệ thống ngân hàng Thái Lan của 10 năm trước đã vượt qua hệ thống ngân hàng non yếu của Việt Nam. Năm đó, dự trữ ngoại tệ của Thái đã cao gấp rưỡi số dự trữ ngoại tệ ngày nay của Việt Nam, và tính theo thời giá 2008 thì tất nhiên còn lớn hơn con số gần 24 tỷ của Hà Nội.

Vậy mà Thái Lan đã đổ, cho nên Việt Nam có đổ thì cũng không là chuyện bất thường, dù có đổ kiểu khác… Theo định hướng xã hội chủ nghĩa chẳng hạn.

Năm 2007, thế giới bắt đầu nói đến nạn suy trầm của một đầu máy kinh tế số một của địa cầu là Hoa Kỳ. Sau sáu năm tăng trưởng liên tục, kinh tế Mỹ có bị đình đọng trong một chu kỳ kinh doanh thì cũng là chuyện bình thường. Huống hồ thị trường gia cư Mỹ bị sụt, khủng hoảng tín dụng loại thứ cấp sub-prime đã bùng nổ và dẫn tới nạn khan hiếm tín dụng vào mùa Thu .

Đã thế, 2008 lại là năm tranh cử tại Mỹ và các chính trị gia đều phải báo động về nguy cơ suy thoái hay khủng hoảng để dọa nạt cử tri và tự khoe khả năng kinh bang tế thế của mình. Chuyện Tăng Sâm giết người và sự hốt hoảng của bà mẹ Tăng Sâm là chuyện có thật trong kinh tế Mỹ! Cho nên, nếu Mỹ có bị suy trầm thì chẳng ai ngạc nhiên. Và các nước bán hàng cho Mỹ vì vậy sẽ bị điêu đứng.

Từ đấy, ai ai cũng có thể nói rằng kinh tế xứ mình sẽ bị lao đao vì kinh tế Mỹ, một lý luận tiện dụng. Nhưng ngược với luận cứ a dua theo kiểu bày đàn của người Hà Nội, chuyện ấy chưa xảy ra.

Chuyện xảy ra là giá thương phẩm – nguyên nhiên vật liệu, khoáng sản và lương thực – đã tăng vọt. Nổi cộm nhất là giá dầu thô và mễ cốc. Xảy ra chủ yếu mà không duy nhất là vì số cầu gia tăng quá cao so với khả năng cung ứng. Trong hoàn cảnh chung của thế giới – và nhất là của thế giới Á châu với các nền kinh tế đang phát triển như Trung Quốc và Ấn Độ cùng khát dầu và đói ăn tới mức trầm trọng – lạm phát vì phí tổn là mối nguy có thật.

Trong hoàn cảnh ấy, Việt Nam lại góp phần đáng kể cho việc thổi bùng lạm phát như một đứa trẻ dại khờ châm lửa đốt nhà.

Hệ thống ngân hàng Việt Nam bơm thêm tín dụng như người say khiến dư nợ tín dụng tăng 50% một năm, so với chừng 35% của các năm trước 2007. Và bơm vào những nơi sẽ thành các khoản nợ thối, khó đòi, không sinh lời và sẽ mất. Lý do là vì lãi suất ngân hàng quá thấp, là số thực âm (thấp hơn tỷ lệ lạm phát). Tiền rẻ nên ai ai cũng học thói phóng tay áo sô để đốt nhà táng giấy và đẩy lên trái bóng đầu cơ chứng khoán và địa ốc. Trong khi ấy, lãnh đạo kinh tế Việt Nam còn bơm thêm tiền vào nền kinh tế để mua Mỹ kim về làm kho dự trữ: trong tháng Năm năm ngoái họ đòi hút về chín tỷ Mỹ kim cho kho dự trữ và thổi lên nạn lạm phát tiền tệ.

Qua năm 2008, khi lạm phát đã thành vấn đề khó chối cãi, các giới chức hữu trách về kinh tế tài chánh của Hà Nội cãi nhau: nên ngăn ngừa lạm phát hay nên cứu vớt thị trường chứng khoán đang bể, nên giữ vững hệ thống ngân hàng bị lung lay, hay bảo vệ các doanh nghiệp nhà nước và các dự án công chi trong danh mục ăn hại đái nát mà là đặc quyền đặc lợi của một số đảng viên? Họ quyết định theo định hướng xã hội chủ – là cùng nhắm vào ngần ấy mục tiêu đầy mâu thuẫn.

Như một đứa trẻ thiếu trưởng thành cái gì cũng muốn mà không chịu trả giá, tất nhiên họ không đạt mục tiêu nào!

Lạm phát gia tăng vùn vụt, mỗi tháng một nặng hơn. Quy ra toàn năm thì tháng Năm vừa qua đã vượt 25%. Tính nhẩm cho dễ: mỗi tháng, vật giá tại Việt Nam tăng chừng 3%, trong số đó nặng nhất là giá lương thực, nhu yếu phẩm của đại đa số dân chúng. Đã thế, hàng loạt chương trình chống lạm phát đều được ban hành quá trễ, chấp hành tùy tiện

Trong khi ấy, vì chiến lược rập khuôn theo kiểu Đông Á – với màu sắc đậm mùi Trung Quốc là nạn tham nhũng – Việt Nam đòi làm gia công cho thiên hạ bằng cách nhập cảng nguyên nhiên vật liệu và máy móc kỹ thuật để chế biến cho rẻ hầu bán ra ngoài. Xuất khẩu là trên hết! Và lương bổng thấp là ưu thế cạnh tranh tuyệt vời!

Trong hoàn cảnh Mỹ kim đắt và thương phẩm rẻ, chiến lược đó còn có kết quả, nhờ hối suất thấp của đồng bạc, lợi tức thấp của công nhân. Nhưng tình hình đã thay đổi từ 2005 mà Hà Nội không biết. Mỹ kim tuột giá, thương phẩm lên giá và hối suất quá rẻ của đồng bạc vẫn không đảo ngược nổi tình hình: Việt Nam bị nhập siêu nặng, mỗi tháng bị thất thâu một tỷ Mỹ kim. Khiếm hụt ngoại thương của Việt Nam nay đã gấp ba năm ngoái, và cùng với nạn lạn phát, đời sống cơ cực của người dân khiến công nhân biểu tình và đình công hàng loạt!

Để chặn đà lạm phát, các biện pháp hành chánh cửa quyền cũng đã được ban hành, kể cả kiểm soát hoặc trợ cấp giá cả. Ngân sách quốc gia bị bội chi và sẽ còn bội chi nặng.

Tổng kết lại, tệ hại hơn Thái Lan 10 năm trước, Việt Nam bị lạm phát, nhập siêu, khiếm hụt chi phó và bị bội chi ngân sách. Trong khi ấy, nông dân đói ăn và công nhân bất mãn.

Đó là bối cảnh chung khiến các nhà đầu tư hết tin tưởng vào trị trường Việt Nam và bắt đầu gióng chuông báo động.

Khi thị trường sụt giá, ta hiểu là các nhà đầu tư phải rút tiền bỏ chạy, và nếu bỏ từ chỗ này qua chổ khác mà đều thấy lỗ thì đành.. vượt biên. Thuật ngữ kinh tế gọi đó là tẩu tán tư bản. Sau thành phần con ông cháu cha có quan hệ tốt đến chính quyền, các nhà đầu tư nước ngoài cũng bắt đầu ngó ra ngoài. Quy luật bỏ của chạy lấy người là như vậy.

Nhưng, trong khi chờ đợi xem đồng đôminô Việt Nam sẽ sụp đổ ra sao, ta còn có thể hiểu quy luật trên trong nghĩa đen: sau các đợt di tản, tỵ nạn hay đoàn tụ gia đình, chưa khi nào người Việt lại muốn ở lại Mỹ đông đảo như ngày nay. Đấy là thành phần khá giả từ các gia đình có quyền hay có tiền được qua Mỹ du học. Tốt nghiệp rồi, họ không muốn con em hồi hương xây dựng xã hội chủ nghĩa nữa! Hãy ở lại Mỹ làm đầu cầu tiếp nhận tài sản và xây dựng cuộc sống mới.

Cùng với nạn tẩu tán tư bản, ta đang thấy nạn thất thoát chất xám!

Kinh tế Việt Nam có bị khủng hoảng hay không? Chưa ai có thể biết chắc.

Nhưng một hy vọng sinh tử cho Việt Nam là dầu thô đừng tiếp tục lên giá và người Việt hải ngoại tiếp tục gửi tiền về trong nước. Năm ngoái, con số thực tế của loại “kiều hối” ấy được Hà Nội ước lượng là 10 tỷ Mỹ kim, bằng 70% số nhập siêu của Việt Nam và gần phân nửa dự trữ ngoại tệ của Hà Nội.

Khi bỏ của chạy lấy người như vậy, đảng viên cán bộ của Hà Nội có thể dốt chứ không ngu. Những người ở bên ngoài đang muốn rót tiền về trong nước thuộc trường hợp trái ngược. [NXN]

Older Posts »

Blog at WordPress.com.