Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

September 3, 2008

Video: Cộng Sản Vu Khống Giáo Sứ Thái Hà

Video: Truyền Thông Cộng Sản Xuyên Tạc Giáo Xứ Thái Hà!!!!

Truyền Thông cs thi nhau lập công dâng đảng … Lương tâm không bằng lương tháng !

Xin mời quý bạn đọc vào trang trong để xem video đài truyền hình cộng sản Việt Nam xuyên tạc tin tức về giáo xứ Thái Hà, và những video ghi nhận về sự kiện lập biên bản người xịt hơi cay tại giáo xứ Thái Hà.

Đài truyền hình cộng sản đua tin xuyên tạc giáo xứ Thái Hà

Lập biên bản với công an vụ xịt hơi cay



Nhóm thanh niên quấy rối

Phản ứng của người bị xịt hơi cay:

Sự Suy Đồi Lương Tâm, Đạo Đức Xã Hội

CL Tu do Video: Cộng Sản Vu Khống Giáo Sứ Thái Hà

Advertisements

July 13, 2008

Thư ngỏ : “Liên Minh các lực lượng đấu tranh vì Tự Do Dân Chủ cho Việt Nam”.

Filed under: Chính trị, xã hội, Tự do Dân chủ, Công lý — tudo @ 12:35 am

Thư ngỏ : Kêu gọi cùng nhau thảo luận về việc thành lập 

“Liên Minh các lực lượng đấu tranh vì Tự Do Dân Chủ cho Việt Nam”.

&&&& 

Kính thưa tất cả quí vị đang ưu tư đến vận mệnh đất nước, quí vị lảnh đạo tinh thần các Tôn Giáo, quí vị đại diện các Cộng Đồng, quí vị đại diện các tổ chức Chính trị cùng các vị nhân sĩ trong và ngoài nước. 

Kính thưa quí vị 

Kể từ sau biến cố đau thương 30/04/1975, chúng ta đã liên tục đấu tranh 33 năm miệt mài, khởi đi từ những tấm lòng tự phát của vài cá nhân, của vài nhóm nhỏ, nay chúng ta đã có đưọc nhiều Cộng Đồng vững mạnh trãi dài trên khắp năm châu, nhiều tổ chức Chính trị vững chắc qui động được nhiều nhân tài, với sự đóng góp của biết bao nhiêu công sức, tài lực, kể cả những sinh mạng của những người đã nằm xuống vì đại cuộc đấu tranh giành lại Tự Do Dân Chủ cho cả nước. 

Hiện nay cuộc đấu tranh cho Tự Do Dân Chủ của chúng ta không còn được coi là nhiệm vụ riêng của một vài tổ chức hay của một vài nhân sĩ, hay của những người lính trong QLVNCH, mà cuộc đấu tranh này đã lan rộng trên ba miền đất nước và trãi dài trên khắp năm châu, với sự tham dự càng lúc càng đông của mọi tầng lớp khác nhau trong xã hội, không phân biệt quá khứ, tuổi tác. 

Chiến tranh sẽ kết thúc bằng sự thắng bại quân sự trên chiến trường giữa hai phe đối nghịch, trong khi đấu tranh không dựa vào sức mạnh của vũ khí, đấu tranh dựa vào sức mạnh tất thắng của chính nghĩa và sự nhận thức chính nghĩa của quần chúng. Phe nào có chính nghĩa sẽ được lòng dân và sẽ chiến thắng.

Cuộc đấu tranh của chúng ta hay nói khác đi là của dân tộc Việt Nam ngày nay hoàn toàn có Chính Nghĩa, vì đây là khát vọng Tự Do của toàn dân Việt Nam sau gần một phần ba thế kỷ rên xiết trong bộ máy độc tài toàn trị của đãng CSVN, kẻ đã áp đặt thuyết Mác-Lê lên đầu dân tộc VN, một chủ nghĩa tội ác của nhân loại. Tự Do là bản năng tự nhiên của Thượng Đế ban cho, mọi người sinh ra đều phải được bình đẳng và tự do, không ai có quyền cướp đoạt lấy nó.   

Từ bấy lâu nay, mọi người chúng ta đều mặc nhiên công nhận : Cuộc đấu tranh của chúng ta là cuộc đấu tranh bất bạo động, lấy Tự Do Dân Chủ làm Chính Nghĩa, lấy sức mạnh Dân tộc làm căn bản, vận động sự hổ trợ của thế giới làm đòn bẩy, dùng truyền thông làm vũ khí vận động toàn dân đứng lên làm cuộc Cách Mạng lịch sử, mà internet đã đóng góp hữu hiệu trong gần một thập niên qua. 

Chúng ta có chính nghĩa, chúng ta đã đi đúng đường, tuy nhiên chúng ta cũng phải bình tâm nhìn thẳng vào thực trạng ở quốc nội và hải ngoại để tìm ra một giãi pháp hữu hiệu, rút ngắn ngày quang phục lại quê hương. 

Thống kê cho thấy 80% dân số VN ngày nay đều sinh sau 1975, thành phần này không hiểu chính xác lịch sử về cuộc chiến chống Thực Dân Pháp và cuộc chiến bảo vệ Tự Do (1954 – 1975), mơ hồ về khái niệm Tự Do Dân Chủ, bởi họ lớn lên trong sự nhồi nhét giáo điều, bị bưng bít sự thật do bộ máy tuyên truyền xuyên tạc của chế độ độc tài CSVN. Tuy nhiên bằng sự cai trị ngu dốt hà khắc, bóp nghẹt tự do, cán bộ tham nhũng thối nát, phản bội tiền nhân, dâng đất nhượng biển cho bọn ngoại bang Trung Cộng, đã làm lòng dân oán hận ngút trời. Nhiều bậc sĩ phu đã đứng lên đấu tranh đều bị đàn áp và giam nhốt.

Trong khi ở hải ngoại, sau nhiều thập niên định cư hội nhập trên đất khách, người Việt hải ngoại đã thành công trên nhiều lảnh vực khoa học kỹ thuật, nhưng vẫn không bỏ quên nhiệm vụ giữ gìn và phát huy văn hóa dân tộc. Thế hệ trẻ ở hải ngoại thừa hưởng được nền giáo dục tự do và nền gíáo dục mang bản sắc dân tộc từ gia đình và Cộng Đồng, họ đã tham gia vào nhiều tổ chức chính trị và các sinh hoạt Cộng Đồng. Điển hình là trong các cuộc biểu tình đòi tự do dân chủ, trên 60% là thành phần tuổi trẻ tham gia. 

Một điều mà chúng ta phải công nhận là các tổ chức Chính Trị và các Cộng Đồng dân sự từ trong nước ra hải ngoại, vẫn chưa có một sự kết họp đồng loạt và chặt chẻ trong các kế hoạch đấu tranh. Việc này đã làm cho một số người vội vả kết luận : người Việt chúng ta thiếu đoàn kết !. Nhưng đa số thì nhận định : chúng ta có đoàn kết nhưng chúng ta thiếu tổ chức. 

Do đó, chúng tôi những người ký tên dưới đây, đến từ các nơi trên thế giới, từ trong nước ra hải ngoại ước mong được lắng nghe ý kiến của tất cả quí vị lảnh đạo tinh thần các Tôn Giáo, quí vị lảnh đạo các tổ chức Chính trị, quí vị đại diện các Cộng Đồng, quí vị trí thức nhân sĩ quốc nội cũng như hải ngoại, bàn về việc thành lập « Liên Minh các lực lượng đấu tranh vì Tự Do Dân Chủ cho Việt Nam ». Các buổi thảo luận sẽ được lần lượt tổ chức tại  Diễn đàn Paltalk: TiengNoi TuDo cua NguoiDan VietNam.

Cần lưu ý : 

         Liên Minh các lực lượng đấu tranh không có nhu cầu thay thế vai trò đãng phái (đãng phái vẫn độc lập trong việc phát triễn nhân sự và kế hoạch).

         Liên minh không phải là một chính phủ lâm thời, mà là tập họp những người có khả năng và tâm huyết đến từ các tổ chức, các Cộng Đồng, các nhân sĩ : nghiên cứu kế hoạch vận động quốc tế, vận động phương tiện truyền thông về trong nước (radio 24/24 hay tổ chức các buổi trao đổi ý kiến của người dân trong nước và hải ngoại).

         Liên minh phải được coi như nơi qui động các lực lượng đấu tranh của toàn dân, để đối đầu với đãng CSVN, một nhóm người thiểu số đang cai trị bằng một chính sách độc tài.

 

Kính xin quí Ông Bà Anh Chị vào link dưới đây, đóng góp ý kiến cho những bước đầu kêu gọi thành lập Liên Minh các lực lượng đấu tranh cho Tự Do Dân Chủ. Mọi ý kiến ghi nhận đều được lưu trữ làm tài liệu, xin quí Ông Bà Anh Chị đóng góp một cách chân tình và nghiêm túc.   

 

Thay mặt tất cả quí vị thân hữu trên khắp thế giới thường xuyên tham gia sinh hoạt trên diễn đàn 

Paltalk: TiengNoi TuDo cua NguoiDan VietNam

Ban Điều Hành 

 

*** Xin Quí Vị vào đây: Góp ý kiến

***  

 

Vài đề nghị : Góp ý là thể hiện tính Dân Chủ, hãy sử dụng quyền Dân Chủ của mình 

1) Ý kiến tán đồng hoặc không tán đồng, tại sao ? 

2) Những trở ngại nào có thể xảy ra ? xin góp ý để tìm hiểu và kiện toàn 

3) Quí vị nào mà chúng ta thấy có thể mời đến diễn đàn thảo luận được ? tên gì ? ở quốc gia nào ? người đó là ai ? (xin quí anh chị không cần cho số phone hay địa chỉ)

4) Mục góp ý này cũng được coi là nơi để liên lạc : quí vị muốn liên lạc có thể vào đây Góp ý kiến

Các giai đoạn tiến đến việc thành lập “Liên Minh các lực lượng đấu tranh vì Tư Do Dân Chủ cho VN” như thế nào ? 

1) Thu nhận ý kiến, đề nghị từ các nơi về việc kêu gọi thành lập “Liên Minh các lực lượng đấu tranh vì Tư Do Dân Chủ cho VN”

2) Chúng ta sẽ thành lập danh sách quí vị lảnh đạo tinh thần các Tôn Giáo, quí vị đại diện các Cộng Đồng, quí vị đại diện các tổ chức Chính trị cùng các vị nhân sĩ trong và ngoài nước.

3) Lên chương trình thảo luận và thảo luận đề tài nào ? 

4) Soạn lá thư mời từng đợt quí vị lảnh đạo tinh thần các Tôn Giáo, quí vị đại diện các Cộng Đồng, quí vị đại diện các tổ chức Chính trị cùng các vị nhân sĩ trong và ngoài nước, đến Diễn dàn Paltalk: TiengNoi TuDo cua NguoiDan VietNam để thảo luận.

.

5) Sau các buổi thảo luận : đề nghị bầu chọn Ban Chấp Hành tạm thời, để tổ chức ĐẠI HỘI TOÀN THẾ GIỚI. 

6) ĐẠI HỘI TOÀN THẾ GIỚI sẽ bầu Ban Chấp Hành thực thụ, soạn điều lệ, hình thành các ban ngành (vài thí dụ : Ban Quốc tế vận, Ban Dân vận, Ban truyền thông v.v.)

7) “Liên Minh các lực lượng đấu tranh vì Tư Do Dân Chủ cho VN” bắt đầu hoạt động.     

 — 

NB: Cần phổ biến

– Đề nghị quí anh chị cố gắng phổ biến lời kêu gọi này đi các websites hoặc gởi qua các BLOGS hay các Groups (Yahoo, MSN v.v.v)

Hướng dẫn vào Paltalk :  http://lthvsg.neuf.fr/chidanpaltalk.htm ( coi chỉ dẫn ở mục số 2 )

– Download Paltalk : www.paltalk.com

June 26, 2008

Bai 11: Trần Minh Hoàng: Hoa Kỳ sẽ làm việc với chính phủ phi pháp CSVN như thế nào?

Bài 11: Khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng chính trị ở Việt Nam
CHÍNH PHỦ HOA KỲ SẼ LÀM VIỆC VỚI CHÍNH PHỦ CSVN PHI PHÁP NHƯ THẾ NÀO?
TS. Trần Minh Hoàng tstranminhhoang@gmail.com

Tư cách của chính phủ cộng sản Việt Nam đến Hoa Kỳ lần này là gì ?

Chính phủ là người đại diện cho chính thể của một quốc gia một dân tộc, nhưng chính thể đó nhất quyết phải do chính nhân dân nước đó lựa chọn bầu lên một cách tự do dân chủ chiếu theo Hiến Pháp của quốc gia có giá trị theo sự lựa chọn của toàn dân

Chính phủ CHXHCNVN thuộc loại “vô” lệ trên đây…

Và chính phủ CHXHCNVN thực chất là một chính phủ phi pháp :

http://webwarper.net/ww/~av/www.tapchidanchu.org/modules.php?name=News&file=article&sid=2396 .

Do bản chất phi pháp đó chính phủ CSVN ngày càng đã trở thành chính phủ mỵ dân lừa đảo thế giới và phản bội lại với nhân dân của mình.

Đó là loại chính phủ bán nước, hại dân.

Sự phản bội đó ngày càng nguy hiểm hơn và chuyển sang “phản động” đối với nhân dân VN bằng các hành vi tàn bạo cả trong dân chủ nhân quyền, kinh tế chính trị xã hội đạo đức giáo dục… và còn mưu đồ tạo phản quốc tế theo chân đàn anh trực tiếp là chính phủ CS Trung quốc.

Chính phủ của nước Việt Nam cộng sản hoàn toàn không do nhân dân Việt Nam bầu lên mà chỉ do nội bộ đảng cộng sản tàn ác với đất nước và nhân dân Việt Nam cử ra để vơ vét tài nguyên tham nhũng và cai trị nhân dân theo kiểu phát xít.

http://webwarper.net/ww/~av/tiengnoitudodanchu.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=5960

Chính phủ CSVN phi pháp đã từng trình diễn với các màn diễn rất tồi :

http://www.tapchidanchu.org/modules.php?name=News&file=article&sid=2251

Chính phủ CSVN bán nước hại dân chưa xong lại tiếp tục tìm cách chui sâu lòn cao vào LHQ để lừa đảo tiếp thế giới.

Chính phủ phi pháp này sau khi vào được WTO, được hưởng PNTR và ra khỏi CPC thì đã quay quắc lại bản chất cộng sản tàn ác tham tàn. Bất kể sự kỳ vọng của nhiều chính phủ, trước tiên là chính phủ Hoa Kỳ. Thực hiện ngay nhiều điều trái khoái, ví dụ như :

http://webwarper.net/ww/~av/tiengnoitudodanchu.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=5754

Chính chính phủ phi pháp này đã nói láo với thế giới về nền khinh tế CS là kinh tế thị trường.

Chính chính phủ CS này là thủ phạm chính làm cho kinh tế đất nước khủng hoảng hiện nay mà toàn dân VN phải gánh chịu nặng nề nhất trong hơn 20 năm đổi mới một cách nữa vời của CSVN.

Chính vì những lẽ trên làm sao người dân Việt Nam có thể tin được chính phủ. Và chắc chắn rằng nếu người dân không còn lòng tin thì tương lai của chính phủ phi nháp CSVN sẽ đến lúc cáo chung theo từng tháng từng ngày.

Bài 1 : http://webwarper.net/ww/~av/www.tapchidanchu.org/modules.php?name=News&file=article&sid=2189

Bài 2 : http://webwarper.net/ww/~av/www.tapchidanchu.org/modules.php?name=News&file=article&sid=2290

Bài 3 : http://webwarper.net/ww/~av/www.tapchidanchu.org/modules.php?name=News&file=article&sid=2291

Bài 4 : http://webwarper.net/ww/~av/www.tapchidanchu.org/modules.php?name=News&file=article&sid=2460

Bài 5 : http://webwarper.net/ww/~av/www.tapchidanchu.org/modules.php?name=News&file=article&sid=2493

Bài 6 : http://webwarper.net/ww/~av/www.tapchidanchu.org/modules.php?name=News&file=article&sid=2503

Bài 7 : http://webwarper.net/ww/~av/www.tapchidanchu.org/modules.php?name=News&file=article&sid=2512
http://tiengnoitudodanchu.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=6010

Bài 8 http://webwarper.net/ww/~av/www.tapchidanchu.org/modules.php?name=News&file=article&sid=2518
http://webwarper.net/ww/~av/tiengnoitudodanchu.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=6020

Bài 9 http://webwarper.net/ww/~av/tiengnoitudodanchu.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=6032
http://webwarper.net/ww/~av/www.tapchidanchu.org/modules.php?name=News&file=article&sid=2531

Bài 10
http://webwarper.net/ww/~av/tiengnoitudodanchu.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=6045

Và “ tức nước ắt sẽ vỡ bờ “ bất kể bờ đó là thành trì chuyên chính kiên cố đến mức nào của CSVN.

Trong cơn “hồng thủy” đó nhân dân Việt Nam sẽ biết phải làm gì và bằng các phương thức nào để lật đổ chính phủ phi pháp một cách phù hợp, nhanh chóng và hiện đại nhất để giữ được ổn định đất nước trong quá trình chuyển tiếp dân chủ sau khi chính phủ CSVN và đảng CSVN bị loại ra khỏi chính trường thậm chí sẽ bị đặt ngoài vòng pháp luật của Dân chủ Việt Nam

Chính phủ Hoa Kỳ còn tin và kỳ vọng gì vào chính phủ phi pháp CSVN lúc này.

Những chuyện làm ăn kinh tế thương mại hiện ngay theo kỳ vọng và mong muốn của chính phủ , tư bản và nhân dân Hoa Kỳ thực chất chỉ làm cho đảng và chính phủ CSVN phi pháp duy trì sự tồn tại vốn phi pháp và tiếp tục gieo bao tai ương cho dân tộc Việt Nam và nhân loại ?

Hậu quả trước tiên là tuyệt đại đa số người dân Việt Nam phải gánh chịu cùng khổ thêm và đau đớn hơn với đời sống khó khăn tột cùng và sự đàn áp dân chủ nhân quyền hết sức dã man của CSVN diễn ra hàng ngày.

Chúng ta hãy chờ xem chính phủ Hoa Kỳ sẽ nói gì , làm gì với chính phủ phi pháp CSVN trong chuyến đi của ngài Nguyễn Tần Dũng đến Hoa Kỳ trong tuần này.

Có một điều chắc chắn rằng :

Ngài G.W. BUSH thay mặt chính phủ Hoa Kỳ sẽ có những động thái rất quyết liệt và cần thiết lúc này để giữ lời hứa về bảo vệ dân chủ tự do nhân quyền cho các dân tộc trên toàn thế giới không riêng gì dân tộc VN lúc ngài nhậm chức Tổng Thống Hoa Kỳ.

Và Đảng Cộng hòa của ông sẽ có thêm hay sẽ mất thêm hàng triệu phiếu bầu của người VN định cư và là công dân của Hoa Kỳ trong kỳ bầu cử tháng 11 sắp tới.

Điều này tùy thộc rất nhiều vào sự làm việc của ông với chính phủ phi pháp VNCS do Nguyễn Tấn Dũng cầm đầu đến Hoa Kỳ lần này.

Chúng ta có quyền kỳ vọng và hãy chờ xem…

TS. Trần Minh Hoàng
tstranminhhoang@gmail.com
Sài Gòn, ngày 23.06.2008

June 23, 2008

Luật sư Lê Thị Công Nhân được trả tự do !?

Filed under: Chính trị, xã hội, Tự do Dân chủ, Công lý — tudo @ 10:53 pm

Luật sư Lê Thị Công Nhân được trả tự do
Tem Lê Thị Công Nhân được vinh danh ở Úc

Tôi đón Công Nhân trong cái nắng tóe khói.

Tôi nói té khói cho nó lãng mạn như mùi thịt nướng khét một chiều trong công viên để thõa mãn cái đói của bao tử và thõa mãn cái khao khát đầm ấm, yêu thương của gia đình…

Tôi không còn nhận ra Công Nhân một hình ảnh xuân sắc, hiện thân của nét đẹp mà tôi hằng tôn thờ của 1 cô gái tuổi đôi mươi… Tôi nhớ cách đây mấy tháng…khi hình ảnh Công Nhân còn đầy trong ký ức tôi…trước ngày lễ tình yêu Valentine 14/2/08 …tôi đã viết thật nhiều cảm xúc của mình… mặc dù lúc đó tôi thật sợ và hèn nhát….

Sau một thời gian khi tôi bắt đầu chuyển hướng viết blog, để có cái nhìn trực diện, không né tránh , không còn nỗi ám ảnh của những sợ sệt, lo sợ bị chụp mũ…thì tâm hồn tôi cũng bắt đầu “chuyển động” dần dần…

Tôi không còn yêu thương Công Nhân với một tình yêu xưa cũ, ngây thơ, lén lút, nông cạn, sợ sệt…Công Nhân không còn là nét đẹp của tuổi 20…mà là hiện thân của cái đẹp của cõi vĩnh hằng…nơi tinh thần đạt đỉnh cao tuyệt đối và được trân trọng…ngưỡng mộ…

Nơi ánh mắt làm tôi đắm chìm… vầng trán cao với trí thức và lý tưởng đấu tranh hy sinh bản thân cho tự do, nhân quyền đến với thường dân VN của cô làm tôi kính phục…


Tôi đứng đây để chờ đón thần tượng của mình…

Liệu có nên cho thiên thần biết rằng tôi ngưỡng mộ nàng?

Liệu tôi có nên giữ nàng cho riêng tôi?

…trong một phút giây bối rối tôi đưa tay nắm níu tay nàng…

Nàng nhìn tôi, nở nụ cười mãn nguyện, độ lượng…

Tâm hồn tôi tan chảy lên mây xanh, thể xác tôi bay …rã rời, bay bổng như chuyện thần tiên và thế giới thơ mộng nào đó, tôi bay và bay mãi …đẫm chìm trong tia sáng long lanh luôn ngời hy vọng phát ra từ nơi mắt của nàng…

và khi tôi tỉnh dậy… tôi viết lại chuyện tình mình cho các bạn xem

VangAnh

Vì Đó Là Em…Lê Thị Công Nhân

Thiên Thần trong bóng tối

Em Một Vì Sao Sáng – Lê Thị Công Nhân

http://blog.360.yahoo.com/blog-fkTaeFY2dbKNOic32.Yv?p=18459


VN đặt điều kiện trả tự do cho Luật sư Lê Thị Công Nhân

Gia Minh, phóng viên đài RFA
2008-06-25

Những công cụ trợ giúp

Phần âm thanh

Tải xuống âm thanh

Do nhiều áp lực từ công luận, công an Việt Nam mới đây cho biết sẽ trả tự do cho Nữ Luật Lê Thị Công Nhân nếu cô chấp nhận phải sang Hoa Kỳ sinh sống.

Nữ luật sư Lê Thị Công Nhân tại phiên tòa phúc thẩm ở Hà Nội hôm 27-11-2007. AFP PHOTO Vừa qua theo yêu cầu từ phía Hoa Kỳ cũng như áp lực của cộng đồng quốc tế, một số tù nhân lương tâm tại Việt Nam đã được trả tự do. Gần đây nhất là trường nữ luật sư Bùi Thị Kim Thành được cho ra khỏi bệnh viện tâm thần và được tiến hành thủ tục đưa đi Mỹ định cư.

Một Nữ Luật sư khác là cô Lê Thị Công Nhân hiện cũng được phía cơ quan công an đến cho biết sẽ được tự do với điều kiện phải sang Hoa Kỳ sinh sống.
Tin này do chính thân mẫu của luật sư Lê thị Công Nhân xác nhận với biên tập viên Gia Minh của Đài chúng tôi sau chuyến đi thăm con trong tù vào ngày 21 tháng 6 vừa qua.

Khi công an không thuyết phục được Công Nhân về điều đó thì Công Nhân nói lại với tôi là họ nói như thế trại giam này là địa chỉ quen thuộc của Công Nhân rồi đó.

Bà Trần Thị Lệ

Bà Trần Thị Lệ: Tôi đến thì được gặp con một tiếng đồng hồ, sức khỏe cũng bình thường. Công Nhân có kể cho tôi nghe là ngày 11 vừa rồi có những người trên Bộ Công An xuống làm việc với Công Nhân, họ hỏi Công Nhân có đồng ý đi Mỹ thì chính quyền đồng ý trả tự do cho Công Nhân đi sang bên đó. Công Nhân trả lời là không đi với tính cách tỵ nạn, tức nhà nước trục xuất.

Công Nhân cũng có nói là sinh ra ở Việt Nam thì cũng có ý nghĩa nào đó và muốn đấu tranh cho dân chủ của Việt Nam. Còn đối với một đất nước dân chủ như Mỹ thì Công Nhân cũng yêu quí và muốn đến nhưng với tính cách là du khách hay học hỏi để mở mang kiến thức; chứ nếu phải đi qua luôn bên đó thì Công Nhân không đi.

Khi công an không thuyết phục được Công Nhân về điều đó thì Công Nhân nói lại với tôi là họ nói như thế trại giam này là địa chỉ quen thuộc của Công Nhân rồi đó.

Gia Minh: Khi nghe quyết định như thế của cô Công Nhân, thì là thân mẫu bà có suy nghĩ như thế nào?
Bà Trần Thị Lệ: Tôi thấy đó là tính cách của Công Nhân. Từ khi đi vào con đường đấu tranh thì Công Nhân có xác quyết phải chung vai sát cánh với những nhà đấu tranh trong nước. Tôi không ngạc nhiên về quyết định của Công Nhân.

Gia Minh: Vừa qua bà cũng được sang Pháp, vậy bà nhận định nếu được ra nước ngòai để đấu tranh và phải ở trong nứơc để chịu tù tội như Công Nhân thì thế nào để cho hữu hiệu?

Bà Trần Thị Lệ: Tôi nghĩ ở vị trí nào nếu có lòng yêu nước đấu tranh cho dân chủ – nhân quyền ở Việt Nam thì đều có thể đóng góp cho công cuộc đấu tranh chung. Nhưng khi có quốc tịch ở nước ngoài rồi thì sự đấu tranh của họ cũng ở mức độ giới hạn nào đó thôi.
Những người ở trong nước thì thực sự sống dưới chế độ này thì họ cảm nhận sâu sắc về bất công, thiếu tự do dân chủ. Đấu tranh của họ xuất phát từ thực tiễn trong nước thì từ góc độ đó sẽ có những hiệu quả nhất định.

Bà Trần Thị Lệ
Còn những người ở trong nước thì thực sự sống dưới chế độ này thì họ cảm nhận sâu sắc về bất công, thiếu tự do dân chủ. Đấu tranh của họ xuất phát từ thực tiễn trong nước thì từ góc độ đó sẽ có những hiệu quả nhất định.

Tôi không nói là ở trong nước thì đấu tranh có hiệu quả cao hơn hoặc ở ngoài thì hiệu quả cao hơn mà đó tùy thuộc vào lòng nhiệt huyết cũng như khả năng của một con người.

Gia Minh: Vừa rồi có tin một số luật sư tham gia bào chữa trong phiên tòa xử Lê Thị Công Nhân và Nguyễn Văn Đài có tiến hành nộp hồ sơ xin giám đốc thẩm, bà có thể cho biết thêm thông tin về việc này?

Bà Trần Thị Lệ: Các luật sư của chúng tôi ở miền Nam đã có đơn xin giám đốc thẩm và nộp chính thức cách đây nửa tháng; còn đơn chỉ ra những sai sót trong phiên tòa trước đây cũng đã nộp rồi. Vợ Luật sư Đài cũng có nộp đơn giám đốc thẩm; bản thân tôi cũng có nộp, với hy vọng là nhiều nguời cùng nộp đơn như thế thì họ sẽ có trả lời; bởi vì những sai sót trong phiên tòa thì quá rõ ràng mà mọi nguời đều thấy cả.

Gia Minh: Cám ơn bà Trần Thi Lệ về những chia sẻ vừa rồi

RFA

June 9, 2008

Giữ Vững Lằn Ranh Quốc Cộng, Phân Biệt Rõ Bạn Thù

Filed under: Chính trị, xã hội, Tự do Dân chủ, Công lý — tudo @ 12:06 am

Nguyễn Quốc Đống

GIỮ VỮNG LẰN RANH QUỐC CỘNG, PHÂN BIỆT RÕ BẠN THÙ ĐỂ ĐẨY MẠNH CÔNG CUỘC TRANH ĐẤU CHO TỰ DO, DÂN CHỦ TẠI QUÊ NHÀ

Tranh đấu cho 1 nước Việt Nam tự do dân chủ hầu mang lại hạnh phúc cho người dân là niềm mơ ước của mọi người dân Viê.t. Khi tình nguyện vào trường Võ Bị đại đa số chúng ta cũng mang niềm mơ ước này và chọn binh nghiệp làm phương tiện để thực hiện hoài bão to lớn đó.

Trách nhiệm của người trai thời loạn cũng góp phần vào sự chọn lựa đầy ý nghĩa này của chúng ta. Chúng ta muốn trực diện cùng kẻ thù trên các trận địa, chặn đứng làn sóng tấn công của chúng trên chiến trường để bảo vệ nếp sống tự do và an bình cho người dân trên mảnh đất cuối cùng của chúng ta là miền Nam Việt Nam. Kẻ thù của chúng ta không phải là bọn ngoại xâm mà chính là những người cùng chung một huyết thống, cùng dòng giống Việt, cùng nói một ngôn ngữ, từng có chung 1 nền văn hóa.

Nhưng những người anh em này chọn lựa chủ nghĩa ngoại lai Mác- Lênin, mơ ước xây dựng 1 chế độ xã hội chủ nghĩa để tiến đến chế độ Cộng sản mà họ từng mơ ước. Lãnh tụ của những người Cộng sản này là Hồ Chí Minh, người đem học thuyết Mác- Lê áp đặt lên dân tộc Việt và kể từ đó đất nước ta chìm đắm trong chiến tranh và nhân dân phải chịu muôn ngàn thống khổ. Vì vậy tuy cùng là dân 1 nước nhưng người Việt đã chia thành 2 phe rõ rệt: 1 phe “Cộng sản” quyết thực hiện “3 dòng thác cách mạng” tại quê nhà bằng mọi giá: cách mạng giải phóng dân tộc (nói là để giành độc lập khỏi sự thống trị của ngoại bang), cách mạng dân chủ, nhân dân (giành lại quyền làm chủ về chính trị cho người dân) và cách mạng vô sản (tiêu diệt giai cấp tư sản bóc lột). Giấc mơ của người Cộng sản là 1 thế giới đại đồng với tất cả các quốc gia đều là anh em cùng tin tưởng ở chủ thuyết Mác- Lênin.

Ranh giới các quốc gia sẽ không còn, gia đình phải lùi bước trước xã hội và tôn giáo cũng sẽ không còn chỗ đứng vì đã có “ánh sáng Mác- Lê“thay thế. Ý thức được chủ thuyết ngoại lai này một khi được hình thành sẽ tiêu diệt toàn bộ nếp sống tự do, dân chủ của người dân và tiêu diệt toàn bộ nền văn hóa dân tộc đã hình thành trong nhiều ngàn năm qua, cả triệu dân miền Bắc đã di cư vào miền Nam và cùng nhân dân miền Nam góp công xây dựng 1 quốc gia không Cộng sản là Việt Nam Cộng Hòa.

Chế độ VNCH tuy chỉ đứng vững được 21 năm nhưng đã tỏ rõ là 1 chế độ nhân bản tôn trọng các quyền tự do căn bản của con người, đem lại cơm no, áo ấm cho người dân dù phải đương đầu với thù trong, giặc ngoài. Trong cuộc chiến chống Cộng sản miền Bắc xâm lược, 1 số chúng ta đã không giữ được lằn ranh Quốc- Cộng nên đã để cho kẻ thù xâm nhập được vào phòng tuyến của chúng ta, lung lạc ý chí chiến đấu của chúng ta và sau cùng lũng đoạn hàng ngũ của chúng ta.

Cùng với một số yếu tố bất lợi khác của hoàn cảnh lịch sử, chúng ta đã bị bắt buộc phải buông súng, chấm dứt cuộc chiến khi trách nhiệm chưa hoàn thành, ước mơ chưa thực hiê.n. Đó chính là nguyên nhân thúc đẩy người cựu SVSQVB tỵ nạn Cộng Sản hiện đang định cư ở các nước từ hơn 30 năm qua vẫn tiếp nối công cuộc chống Cộng còn dở dang.

Cuộc chiến Quốc- Cộng chỉ chấm dứt trên các trận địa nhưng hòa bình thực sự thì không có và sự hòa giải dân tộc chưa bao giờ xảy ra. Cộng Sản VN trong tư thế của kẻ thắng trận đã thi hành 1 chính sách trả thù vô cùng tàn độc đối với những người mà chúng rêu rao là “được giải phóng”.

Chúng ta là 1 trong các đối tượng chịu những đòn thù thâm độc nhất. Nhiều người trong chúng ta đã phải trải qua tuổi thanh xuân trong các trại lao cải ở khắp các vùng xa xôi từ Nam chí Bắc. Nhiều người bị thủ tiêu, tra tấn, đánh đập dã man hoặc chết vì đói rét, bệnh tật. Nhưng nhiều người trong chúng ta cũng còn may mắn trở về được từ những địa ngục trần gian này.

Nhờ bàn tay bao dung của thế giới tự do chúng ta tìm được 1 mái ấm gia đình mới cho bản thân và gia đình. Chúng ta được hít thở không khí tự do và được sống với phẩm giá của 1 con người. Những điều này vẫn chỉ là 1 ước mơ đối với đa số người dân Việt tại quê nhà hiện nay. Vậy chúng ta có thể nào tự bằng lòng với những gì mình đang được thụ huởng, cho rằng mình chiến đấu đã quá đủ và trả giá cũng đã quá đủ hay không?

Chúng ta có thể thờ ơ với những gì đang xảy ra cho đồng bào tại quê nhà và dửng dưng với những nỗ lực của đồng hương tỵ nạn Cộng Sản đang tranh đấu chống sự xâm nhập của Cộng Sản ngay tại mảnh đất trú thân cuối cùng của chúng ta và con cháu hay không? Đã hơn 30 năm sau khi miền Nam Việt Nam rơi vào tay quân Cộng Sản miền Bắc xâm lược, lằn ranh Quốc-Cộng vẫn còn đậm nét trong lòng những người Việt quốc gia yêu nước, yêu tự do, dân chủ. Họ không thể nào chấp nhận hòa hợp, hòa giải với Cộng Sản vì những người này chưa bao giờ thực lòng chấp nhận những ai đi ngược lại đường lối, chính sách của họ. Có thể nói Quốc gia và Cộng Sản là 2 phe đối nghịch nhau như nước và lửa.

Một số người cho rằng Cộng Sản đã thay đổi rồi nên đâu cần phải chống chúng. Họ chỉ nhìn thấy sự thay đổi ở cái bề mặt hào nhoáng, các tụ điểm ăn chơi tấp nập, các khách sạn 5 sao sang trọng, các số tiền đầu tư to lớn được đổ vào thị trường kinh tế VN để rồi thấy phấn khởi cho tương lai của đất nước và dân tô.c. Họ không ý thức được rằng chỉ có 1 thiểu số cán bộ cầm quyền và bè lũ tay sai được hưởng phúc lợi của những món tiền đầu tư to lớn này, còn đại đa số dân thường vẫn sống trong lầm than, nghèo đói và đất nước đang dần dần mất đi sự độc lập và chủ quyền quốc gia vì CSVN lợi dụng vị thế độc tôn của mình để cắt đất, dâng biển cho đàn anh Trung Cô.ng.

Họ không thấy được đằng sau nếp sống xa hoa kia là cả 1 thế giới tối tăm vô vọng của những gia đình phải để con gái bán thân và để con trai bán sức lao động tại nước ngoài. Cộng Sản Việt Nam có thể thù chúng ta là những kẻ bỏ nước ra đi nhưng chúng cũng chẳng đem lại cuộc sống ấm no gì cho người dân trong nước, chẳng độc lập, không tự do và tất nhiên cũng không có hạnh phúc nữa. Cuộc chiến Quốc- Cộng giờ đây là cuộc chiến của những người yêu chuộng tự do, dân chủ và những tội đồ của dân tộc: những kẻ buôn dân, bán nước với lòng tham vô đáy: tham quyền, tham tiền, tham danh, tham lợi….

Chúng ta có đủ tư cách tham gia cuộc chiến Quốc-Cộng này hay không? Thứ nhất đây vẫn là trách nhiệm của chúng ta, những người trai tự nguyện đem tuổi trẻ và nhiệt huyết cống hiến cho đất nước và dân tộc, quyết tâm xây dựng 1 nước Việt Nam tự do, dân chủ, những lý tưởng cao cả của con người. Thứ hai, chúng ta được hoàn cảnh tạo cho mình những điều kiện thuận lợi để tôi luyện ý chí, rèn luyện kỹ năng. Thời gian quả đã khiến nhiều anh em trong chúng ta nhụt mất ý chí và mất định hướng tranh đấu nhưng số anh em chúng ta còn nuôi dưỡng được nhiệt huyết với quốc gia, dân tộc không phải là nhỏ.

Một số bạn tương đối còn trẻ còn có cơ hội trở lại trường học tiếp bậïc đại học và học lên đến cao học hay tiến sĩ. Đây là những thành phần chất xám rất đáng quý của chúng ta. Nếu chúng ta biết sử dụng những tri thức thu nhập được tại xứ sở tạm dung này vào công cuộc tranh đấu cho tự do, dân chủ tại quê nhà, cuộc tranh đấu này sẽ có 1 luồng gió mới và chắc chắn sẽ đạt được nhiều thành quả hơn trong tương lai. Điều quan trọng là tổ chức của chúng ta biết xây dựng cho tập thể chúng ta 1 ý thức trách nhiệm đúng đắn, 1 lý tưởng vững mạnh để chống lại sự tuyên truyền nguy hiểm của kẻ thù. Còn nếu chúng ta không còn trẻ nữa thì mình vẫn còn có thể đóng góp cho công cuộc tranh đấu chung bằng các kinh nghiệm quý giá của bản thân. Sự hướng dẫn đứng đắn của các bậc đàn anh luôn luôn là những bài học quý báu đem lại niềm tin cho thế hệ đàn em và cho các cháu Thanh Thiếu Niên Đa Hiệu.

1 điều nữa chúng ta không thể quên được là dù chúng ta có dễ dãi với kẻ thù và muốn quên đi quá khứ để yên thân với hiện tại, chúng cũng không để chúng ta yên thân.

Chắc chúng ta chưa quên những lời nói miệt thị mà CSVN dành cho những người bỏ trốn khỏi chế độ của chúng. Chúng coi những người di tản khỏi đất nước khi miền Nam rơi vào tay CS tháng 4 năm 1975 hay những người vượt biên sau này là “thành phần cặn bã của xã hội, chạy theo đế quốc để hưởng bơ thừa, sữa cặn”. Ngày nay, chứng kiến sự thành công của họ tại hải ngoại, chúng lại muốn khống chế người Việt hải ngoại để họ đem tiền bạc về cho chúng hưởng lợi.

Cuộc tranh đấu của chúng ta bước sang 1 trang mới, với những khó khăn mới. Kẻ thù của chúng ta bây giờ dùng những thủ đoạn gian manh, tinh vi hơn để mong đánh lừa chúng ta 1 lần nữa. Chúng ta còn gặp nhiều khó khăn hơn xưa vì ngoài kẻ thù rõ mặt là bọn cán bộ CS, chúng ta còn phải đối phó với “nội thù”. Bọn này còn nguy hiểm và khó thắng hơn cả bọn cán bộ CS vì chúng nằm ngay trong hàng ngũ của chúng ta. Chúng biết ta mà có khi ta không biết được những âm mưu của chúng. Chúng phá ta mà đôi khi ta cứ tưởng chúng là bạn nên không đối phó được. Đến khi chuyện xảy ra và biết được kẻ thù là ai thì mọi chuyện đã quá trễ: tác hại đã xảy ra, lực lượng bị tiêu hao và sự đoàn kết đã mất đi nhiều.

Nhìn vào tình trạng của cộng đồng người Việt tỵ nạn CS tại hải ngoại hiện nay chúng ta phải công nhận 1 trong những nhược điểm của chúng ta là quá dễ dãi trong vấn đề phân biệt bạn-thù, không giữ vững lằn ranh Quốc- Cộng nên đã để mất định hướng, không tập họp đúng lực lượng và để kẻ thù len lỏi quá sâu vào hàng ngũ chống Cộng.

Trong nhiều năm chúng ta còn nuôi dưỡng cho kẻ thù của chúng ta lớn mạnh để sau này khi có điều kiện thuận lợi chúng không ngần ngại phá hoại hàng ngũ của chúng ta. Hãy nhìn vào các hiện tượng như tuần báo Việt Weekly công khai ca tụng CSVN, nhật báo Người Việt tại Nam California ca tụng lãnh tụ CS và nhục mạ quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ, ca sĩ hải ngoại tổ chức chương trình ca nhạc để tưởng niệm Trịnh Công Sơn, tên Cộng Sản nằm vùng nguy hiểm, kẻ đã dùng những dòng nhạc ủy mị, phản chiến để lung lạc ý chí tranh đấu chống Cộng của quân dân miền Nam, các tăng sĩ chủ trương cộng tác với bạo quyền để được an thân hành đạo, làm việc thiện, làm văn hóa và công khai chống lại các tăng sĩ chủ trương phải tranh đấu để có tự do tôn giáo đích thực.

Hãy nhìn vào các thương gia sống và làm giàu nhờ vào đồng hương tỵ nạn CS nay quay sang bắt tay với kẻ thù để thủ lợi nhiều hơn. Hãy nhìn quanh ta để thấy không thiếu gì những ca sĩ về nước ca hát đánh bóng cho bạo quyền CS và nói xấu đồng bào hải ngoại… Những kẻ đón gió, trở cờ loại này càng ngày càng nhiều.

Chúng ta có nên thất vọng và buông tay đầu hàng hay không khi hoàn cảnh cho thấy chúng ta gặp rất nhiều bất lợi trong 1 cuộc chiến không cân sức như hiện nay? Kẻ thù của chúng ta nắm trọn quyền hành trong 1 đất nước thống nhất nên tài nguyên, nhân lực đều quy về 1 mối. Kẻ thù của chúng ta lại gian ác và sẵn sàng thi hành mọi thủ đoạn hiểm độc để lũng đoạn hàng ngũ của chúng ta. Chúng dùng hết nghị quyết này đến nghị quyết khác để khống chế hơn 3 triệu người Việt tỵ nạn CS tại hải ngoại tuy chỉ là thiểu số so với hơn 80 triệu dân trong nước nhưng có 1 ý chí kiên cường và 1 tấm lòng tha thiết với tiền đồ của đất nước.

Thực tế cho chúng ta thấy dù phải đối phó với mọi âm mưu thâm độc của CS và tay sai (bọn Việt gian sẵn sàng thi hành kế sách của CS để phá hoại sự đoàn kết và làm tiêu hao lực lượng của chúng ta), chúng ta vẫn kiên quyết không lùi bước trước sự tấn công và phá hoại của chúng. Sự kiện Trần Trường năm 1999 tại Nam California là 1 tập họp ngoạn mục của những người dân không chấp nhận sự hiện diện của các biểu tượng CS tại thủ đô của người Việt tỵ nạn CS tại Hoa Kỳ.

Chiến dịch vinh danh cờ VNCH tại nhiều tiểu bang, các quận hạt và thành phố tại Hoa Kỳ cho thấy ý chí cương quyết bảo vệ căn cước tỵ nạn của chúng ta. Các công trình xây dựng các đài tưởng niệm chiến sĩ để nêu cao chính nghĩa quốc gia và vinh danh các anh hùng tử sĩ vị quốc vong thân tại các cộng đồng có đông dân Việt tỵ nạn CS chứng tỏ chúng ta không quên lịch sử tỵ nạn CS của cộng đồng người Việt. Và mới đây nhất cuộc tranh đấu trường kỳ của đồng hương San Jose để bảo vệ danh xưng Little Saigon cho 1 khu thương mại của người Việt, đồng thời cũng là để bảo vệ căn cước tỵ nạn chính trị chống lại sự lạm quyền của 1 số chức sắc dân cử có hành động phản dân chủ và có biểu hiện phục vụ cho những kẻ làm hại cho công cuộc chống Cộng của chúng ta. Đây là những thành quả đáng trân trọng trrong cuộc chiến Quốc –Cộng hiện nay.

Lý tưởng mà chúng ta chọn lựa là 1 lý tưởng đúng đắn. Tranh đấu cho Việt Nam có tự do, dân chủ thực sự là trách nhiệm của tất cả mọi công dân yêu nước. Muốn thế chúng ta phải có ý chí vững mạnh, có quyết tâm cao độ và phải chịu hy sinh. Không có thành quả nào có thể đạt được mà không tốn mồ hôi, nước mắt và có khi cả xương máu nữa. Nhưng có những sự hy sinh chúng ta không thể từ chối được nếu đó là giá phải trả cho một cuộc sống có phẩm giá, cho sự trường tồn của 1 nền văn hóa và sự sống còn của 1 dân tộc.

Trong cuộc tranh đấu trường kỳ Quốc- Cộng này, chúng ta cần khắc phục 1 nhược điểm lớn: đừng coi thường kẻ nội thù, phải biết nhận diện và cô lập bọn người này để thanh lọc hàng ngũ và giữ vững sự đoàn kết. Chúng ta hẳn còn nhớ chuyện An Dương Vương ngày xưa mất cả vươngï nghiệp không vì kẻ ngoại xâm mà chính vì kẻ nội thù. Chính con gái của nhà vua đã vô tình giúp kẻ thù làm sụp đổ cơ nghiệp của phụ vương khiến đất nước rơi vào sự thống trị của ngoại bang. Biết được kẻ nộâi thù là ai, nhà vua đã can đảm vung gươm giết ngay, dù đó là con gái của chính mình. Trong hàng ngũ các cựu SVSQ Võ Bị, chúng ta không thiếu các tấm gương sáng sẵn sàng hy sinh vì cuộc tranh đấu cho tự do, dân chủ tại quê nhà.

Nhưng nếu các hoạt động của các cá nhân hay các hội địa phương được nhân lên thành 1 phong trào và Tổng Hội mạnh dạn hỗ trợ cho các hoạt động đúng đắn phù hợp với tôn chỉ của TH thì kết quả đạt được sẽ nhiều hơn và có ý nghĩa hơn. Chúng ta cần đoàn kết các thành phần cùng chung ý chí nhưng cương quyết loại trừ các thành phần có tư tưởng yếm thế, chủ bại, có hành động gây hại cho công cuộc tranh đấu chống Cộng của chúng ta.

Nhìn vào thực trạng xã hội Việt Nam hiện nay sau hơn 30 năm Đảng Cộng Sản Việt Nam thống trị đất nước, tôi thiết nghĩ tập thể cựu SVSQVB cần tạo 1 sự đoàn kết lớn mạnh, thống nhất ý chí để cùng nhau hành động hữu hiệu trong cuộc chiến Quốc-Cộng đang tiếp diễn gay gắt hiện nay tại hải ngoa.i.

Ban Chấp Hành Tổng Hội cần sáng suốt và chủ động trong việc lãnh đạo các hội địa phương để các cựu SVSQVB được tập họp thành 1 khối vững chắc biết hành động đúng đắn để có thể đạt được những mục tiêu cao đẹp do Tổng Hội đề ra. Lịch sử đã chứng minh Hồ Chí Minh và tay sai của ông ta là các tội đồ của dân tộc, quá trình hoạt động của Đảng CSVN là 1 quá trình dối trá, lường gạt nên chúng ta không thể để bị chúng lừa thêm 1 lần nữa. Chúng ta dứt khoát không chấp nhận hòa hợp, hòa giải với Cộng Sản như bè lũ tay sai của CS đang nỗ lực tuyên truyền, vận động mà phải dứt khoát tư tưởng và kiên trì trong cuộc chiến Quốc-Cộng hiện nay. Góp 1 phần trong cuộc chiến này, chúng ta có thể hãnh diện mình đã tiếp tục sống theo lý tưởng của người cựu SVSQ/TVBQGVN.

Nguyễn Quốc Đống, K.13

June 5, 2008

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CHẾT ĐỨT ĐUÔI CON NÒNG NỌC

LÝ ĐẠI NGUYÊN

Chỉ mới vừa đây, giới đầu tư quốc tế đã không tiếc lời ca tụng Việtnam là một thị trường năng động, sẽ thành rồng, thành cọp ở Á châu, mức phát triển chỉ đứng sau Trung Hoa. Nhưng nay tỷ lệ lạm phát tại Việtnam bỗng lên tới 25% ở tháng 05/08, cao nhất trong 13 năm qua. Trị giá 1 USD đã vượt quá 17.000 đồng VN, trong khi đó tập đoàn tài chánh Golman Sachs ước tính tiền đồng VN sẽ lên giá 22.150 đến 23.150 ăn một USD. Thị trường chứng khoán Sàigòn, Hànội rớt xuống sàn, rồi chui tuột xuống gầm. Năm ngoái, tập đoàn tài chánh quốc tế khổng lồ, Merrill Lynch, quyết định rút khỏi thị trường chứng khoán Việtnam đã đưa ra lời kêu gọi; “Chúng tôi khuyến cáo giảm mức phân bổ đầu tư xuống mức tối đa – Zero – tại một trong những thị trường nổi trôi nhất tại Á Châu, đó là Việtnam”.  

 Nhờ vậy mà Chứng Khoán Việtnam hôm nay có chết thì chết một mình, không làm quốc tế chết theo. Giá cả xăng dầu, hàng hóa, thực phẩm tăng khủng khiếp, khiến dân nghèo càng nghèo thêm. Công nhân không đủ nuôi gia đình. Nạn đình công lan tràn Việtnam, kéo các nhà sản xuất nước ngoài vào cuộc khủng hoảng lạm phát, càng ngày càng trâm trọng. Ngân hàng đầu tư Morgan Stanley đánh giá rằng, có nhiều khả năng xẩy ra khủng hoảng tiền tệ tại Việtnam.

Trong khi đó, lời phát biểu tại Diễn Đàn Doanh Nghiệp Việt Nam của Phòng Thương Mại Mỹ ở Việtnam cho rằng; “Môi trường kinh doanh tại Việtnam đang phải đương đầu với những mối đe dọa của tình trạng đầu cơ bất động sản giả tạo. lạm phát lương bổng, lao động bất ổn và tham nhũng”. Nhân đây Phòng Thương Mại Mỹ không quên nêu ra vụ bắt giữ 2 nhà báo Nguyển Việt Chiến và Nguyễn Văn Hải là những nhà báo từng mạnh dạn điều tra vụ tham nhũng PMU 18 tại bộ Giao Thông Vận Tải trong năm 2006. Lời phát biểu đó còn nhấn mạnh rằng: “Điều quan trọng là không thể trừng phạt những người dân và các viên chức hành động có trách nhiệm trong việc bài trừ tham nhũng”. Cùng trong diễn đàn này, Võ Hồng Phúc, bộ trưởng Kế Hoạch và Đầu Tư đã đọc bài học thuộc lòng do đảng dậy, rằng: “Hai nhà báo vừa kể bị bắt vì phạm luật, và rằng, phòng Thương Mại Mỹ tại Việtnam đã không nhận được những tin tức đúng đắn về vụ này.”

Dư luận quốc tế và Việtnam trong, ngoài nước thừa biết, ngay cả những tên cầm đầu Việtcộng cũng đã ngầm hiểu: Chính cơ chế cộng sản đã tạo ra tham nhũng, và cái gọi là Luật, mà chúng tạo ra chỉ nhằm bảo vệ địa vị, quyền lực, tham nhũng của cộng đảng, và diệt những người chống tham nhũng, đòi tự do dân chủ. Thế rồi hậu quả là đẩy nền kinh tế chập chững của Việtnam vào tử điạ. Dân chúng hoàn toàn không tin vào khả năng điều hành nền kinh tế của những chiếc đầu đần độn tham quyền, tham nhũng của cộng đảng. Nhân tài bỏ cơ quan nhà nước và quốc doanh để làm cho công ty ngoại quốc. Tuy Việtnam vào WTO, mà chương trình giải tư các công ty quốc doanh đảng quản, vẫn đứng ỳ một chỗ. Việc hứa cho thành lập các công ty 100% vốn quốc tế vẫn chưa đi tới đâu, khiến cho ngoại quốc cũng hứa rất nhiều, nhưng thực tế chưa có là bao. Việtnam vẫn chì là một nền kinh tế gia công, suất cảng nông phẩm, và dầu thô, trong khi nông dân lại là thành phần nghèo mạt rệp. Việtnam vẫn phải nhập cảng xăng dầu và nguyên liệu kỹ nghệ dài dài. Thế nên Việtnam cũng phải chiụ chung số phận với giá dầu tăng vọt hiện nay trên thế giới, kéo theo giá thực phẩm gia tăng, thâm hụt mậu dịch, lạm phát phi mã, giá vàng, ngoại tệ giao động mạnh.

Để đối phó với tình trạng trên, nhà nước Việtcộng chỉ đưa ra những biện pháp vá víu, như quy định trần của lãi suất là 12%. Nhưng lạm phát vẫn tăng, mà không có tiền chạy vào Ngân Hàng. Sau 2 tuần lễ nhà nước Việtcộng đành cho phá trần lãi. Các ngân hàng được dịp thi nhau mời kéo thân chủ với lãi suất cao từ 18% đến 20%. Hiện nay ở Việtnam có 5 ngân hàng Thương Mại Nhà Nước, 6 ngân hàng Liên Doanh, 36 ngân hàng Thương Mại Cổ Phần, 44 chi nhánh ngân hàng Nước Ngoài, 10 công ty Tài Chánh, 13 công ty tài chánh phụ và gần 1000 quỹ tín dụng. Thử hỏi, bằng từng ngần ấy cái vòi hút tiền của dân vào, hút tiền của nhà nước ra, mà không thể đầu tư vào đâu để có lời trên 20%, thì chỉ có cách đổi từ tiền đồng VN ra dollars Mỹ, rồi ù té chạy, chứ biết làm sao hơn? Đứa chạy được thì phải là đảng viên có thần, có thế. Đứa không chạy được thì như Nguyễn Văn Mười Hai năm xưa đi tù mọt gông. Nhưng tiền của dân, vốn của nước vẫn thành mây, thành khói.

Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng Việtcộng, hôm 03/06/08 cho biết: “Chính phủ sẽ nghiêm trị những kẻ đầu cơ và những người tung tin thất thiệt để tăng giá và gây xáo trộn thị trường.” Nguyên tắc “đục nước, béo cò” là kinh nhật tụng của những tên cộng sản tham nhũng lưu manh làm kinh tế hiện nay. Chính chúng là những đứa đầu cơ, trục lợi bằng bất cứ thủ đoạn nào, chỉ có Báo Chí Tự Do và Tòa Án Độc Lập mới làm chúng chùn bước. Nhưng hiện nay cộng đảng nắm luôn Báo Chí lẫn Tòa Án, mà Dũng định nghiêm trị chúng sao nổi. Nhất là 2 ký giả, 2 viên chức năng nổ chống tham vừa bị đi tù, thì ai ngu gì mà nghe Dũng xúi dại. Trong khi phe cánh thân Trungcộng đang khai thác tình thế suy sụp của kinh tế Việtnam để bắt Nguyễn Tấn Dũng và bộ sậu của hắn làm “con dê tế thần”. Chẳng thế mà Nông Đức Mạnh phải vội sang Tầu để nhận mật kế của quan thầy, nhằm ăn thua đủ vào kỳ họp đảng tháng 07/08 này đó sao?

Trả lời phỏng vấn BBC Việt ngữ, kinh tế gia trưởng UNDP tại Hànội, Jonathan Pincus nói: “Kinh tế vĩ mô thì uy tín hay lòng tin là 90%.”. Ông thêm rằng: “Nếu chính phủ không rõ ràng trong chính sách, và các biện pháp, để cho những lời đồn đoán đóng vai trò lấn át thì những người không có được thông tin đầy đủ sẽ làm những việc có tính cách bảo vệ cho chính họ một cách rất quyết liệt.”. Đúng vậy, người dân Việtnam và cà quốc tế, đã không còn tin tưởng vào cái cơ chế quái đản “Kinh Tế Thị Trường theo Định Hướng Xã Hội Chủ Nghiã” và khả năng lãnh đạo của Cộng Đảng nữa. Làm sao họ có uy tín để vận hành nổi nền Kinh Tế Vĩ Mô của Việtnam, trong hoàn cảnh khắc nghiệt vừa phải tranh thủ được nhân tâm, huy động nổi nội lực quốc dân và ngoại lực của quốc tế, nhằm giảm lạm phát, đẩy nền kinh tế đi lên. Trái lại chỉ thấy hình ảnh cuộc khủng hoảng 1997 tại Á Châu, phát xuất từ Thái Lan, khiến chỉ trong 2 tuần lễ nước này mất 30 tỷ USD dự trữ. Việtnam hiện nay có thể đã mất đến 10 tỷ USD. Nhưng không vì vậy mà gây ảnh hường dây chuyền ra Á Châu như hồi 1997, vì các nước trong vùng đã biết dùng Dân Chủ Hoá chế độ để thủ thân. Có chăng, Việtnam sẽ là cái trớn của một chiếc kim, chích lủng quả bóng kinh tế khổng lồ đang căng phồng Trungcộng. Vì hai nước này cùng chung chính sách Độc Tài Toàn Trị để vận hành một nền Kinh Tế Thị Trường Tự Do Toàn Cầu Hóa, mà vẫn kéo lê cái duôi “con nòng nọc” là cơ chế Xã Hội Chủ Nghiã lỗi thời. Đã tới lúc do nhu cầu thực tế buộc Việtnam vào cái thế phải chặt đứt cái đuôi quái gở, chẳng giống ai đó đi rồi!

Little Saigon ngày 03/06/2008.

Tại sao cuộc chiến dân chủ tại Việt nam chưa ngã ngũ???

Trong bài viết này, chúng tôi không có ý định phân tích dài dòng, mà chỉ là chia sẻ những quan điểm ngắn gọn, rõ ràng của chúng tôi, nhằm đóng góp một chút công sức vô cùng nhỏ mọn của chúng tôi cho công cuộc đấu tranh đòi tự do, dân chủ, nhân quyền của người dân Việt nam tiến bộ.

 

Trước hết hãy nói về bối cảnh tình hình xã hội hiện tại ở Việt nam:

 

Hỏi rằng người dân tại Việt nam có thái độ chính trị hay không, câu trả lời là có, nhưng số người công khai bày tỏ thái độ chính trị rõ ràng đối lập với chế độ độc tài cộng sản toàn trị ở Việt nam là không nhiều, số còn lại chiếm đa phần là bị độc tài cộng sản toàn trị ”đoảng và bác” xỏ mũi dắt đi những con cừu ngốc nghếch, trong số bị xỏ mũi dắt đi như thế có nhiều trí thức, có cả đám đoàn thanh niên cộng sản ngu ngục hcm mù quáng…

  

Theo chiều dài lịch sử của Việt nam, thì người dân có đủ dũng cảm, dũng khí, rất khí phách anh hùng để đánh đuổi giặc ngoại xâm, thế nhưng hiện nay thì người dân không có đủ dũng cảm lẫn anh hùng để có can đảm đứng lên lật đổ chế độ độc tài toàn trị đã cưỡi lên đầu lên cổ họ suốt hơn 60 năm qua và trắng trợn cướp đi các quyền lợi căn bản của người dân.

  

Hơn 80% dân số Việt nam có xuất thân từ nông dân, nên mặc dù số đông có thể đã không còn là nông dân nữa, nhưng vẫn mang nặng tư tưởng nông dân. Thêm vào đó là bị ảnh hưởng văn hoá Khổng giáo của Tàu cộng, là thứ văn hoá nhang khói từ ngàn đời nay, nên người dân Việt nam sẽ còn tiếp tục bị u mê trong thứ bùa mê nhang khói này, u mê đến mức độ thậm chí là có rất nhiều người Việt nam mặc dù đã đi theo đạo công giáo (đạo công giáo nguyên bản là không có thắp hương hay nhang khói gì cả) vẫn cứ tiếp tục thắp nhang khói thì quả là một điều lạ lùng! Việt cộng hiện đang cho xây dựng, tu bổ thêm vô số các chùa chiền trên khắp cả nước để tiếp tục u mê dân chúng Việt nam, thậm chí còn đưa cả cái gọi là ”cha già dân tộc” vào ngồi chễm trệ trong các chùa chiền, sánh vai cùng với các tượng Phật để ép buộc dân chúng phải thờ phượng! Quả là mưu mô thuộc loại ”đỉnh cao trí tuệ” của cộng sản và cũng chỉ có cộng sản mới nghĩ ra được.

  

Một thực tế không thể phủ nhận đó là đa phần những người tham gia tranh đấu dân chủ hiện đang phải chấp nhận sự ”cô đơn” trong một trào lưu xô bồ chạy theo đồng tiền của xã hội. Ngoài ra khả năng tài chính của những người tham dân chủ phần lớn là rất eo hẹp, sự yểm trợ từ bên ngoài là có và đã giúp đỡ rất hiệu quả cho dân chủ quốc nội, nhưng chưa đủ và không thường xuyên, mà là lúc có lúc không, không có kế hoạch dài hạn, cho nên người dân chủ quốc nội sẽ như những cánh bèo trôi dạt trên sóng, khi mà mọi khả năng kinh tế của họ bị độc tài cộng sản toàn trị gây khó dễ đủ đường, thậm chí là cắt đứt nguồn kiếm sống sinh nhai của họ. Phe dân chủ quốc nội với một khả năng tài năng tài chính èo uột như vậy thì thử hỏi rằng liệu có khả năng hạ bệ một phe độc tài toàn trị cộng sản (hiện đang chiếm đoạt toàn bộ tài nguyên quốc gia, và có hàng chục tỉ dollars nằm trong các quỹ đen, tài khoản nhà băng, và có khả năng in ra tiền) hay không??? Thêm vào đó nữa là hàng năm, nhiều ”vịt kìu yêu nước” gửi thêm về khoảng hơn 5 tỷ dollars, vô hình chung là ”nuôi béo” thêm cho đám độc tài cộng sản toàn trị có khẩu hiệu quen thuộc là ”đoảng và bác”, hàng năm các tổ chức tín dụng quốc tế cũng bơm thêm vào cho cộng sản vay mượn từ 5-10 tỷ dollars, như vậy là phe độc tài toàn trị cộng sản khoẻ re, có dư thừa tiền bạc để đầu tư cho đội quân có tên gọi là ”chống khủng bố”, nuôi đám nô bộc ngu trung, mua sắm các phương tiện thiết bị kỹ thuật tân tiến, nghe trộm điện thoại, cản phá sóng điện thoại di động, cản trở các hoạt động của phe dân chủ, như vậy thì phe dân chủ chỉ có đi từ thua đến thua mà thôi.

 

  

So sánh tương quan lực lượng giữa phe dân chủ và phe độc tài toàn trị cộng sản:

  

Trước hết nói về phe dân chủ: phe dân chủ là gì, phe dân chủ là bao gồm những người Việt nam tiến bộ, cầu thị, muốn tranh đấu đòi hòi một nền dân chủ, tự do cho mọi người dân, đòi hỏi các quyền căn bản của con người phải được thực thi nghiêm túc. Vũ khí của phe dân chủ là gì, vũ khí của phe dân chủ là đấu tranh ôn hoà bất bạo động, là ngòi bút, là lương tri, là phơi bày sự thật, và công cụ sắc bén là mạng lưới internet toàn cầu, là sự yểm trợ của cộng đồng người Việt tự do hải ngoại, là sự ủng hộ của toàn thể dư luận văn minh tiến bộ trên thế giới.

  

Phe độc tài toàn trị cộng sản là gì, phe độc tài toàn trị cộng sản là bao gồm hơn một chục con cá tra hiện đang ngồi chễm trệ trong cái gọi là ”bộ chính trị” lưu manh, quái thai của đảng việt gian cộng sản, được chỉ đạo từ đám trung ương Tàu cộng Hán triều phương Bắc. Vũ khí của phe độc tài toàn trị cộng sản là gì, đó là những thủ đoạn lưu manh chính trị, là lừa đảo, bịp bợm mị dân, là đám công an quái thai, là đám quân đội ”anh hùng nhe răng”, là luật rừng cộng sản, là những phiên toà trá hình bất công phi pháp, là nhà tù, là đám vô số những tên tay sai nô bộc phục vụ cho chế độ cộng sản rải khắp từ trong nước ra đến nằm vùng tại hải ngoại, là khả năng tài chính dồi dào nhờ chiếm đoạt trắng trợn và trọn vẹn mọi nguồn tài nguyên của quốc gia…

 

Một vài ý kiến đóng góp chủ quan:

  

Hiện nay trên sân nhà, phe dân chủ đang bị yếu thế và thua phe độc tài cộng sản về vấn đề tuyên truyền, phe độc tài toàn trị cộng sản nắm gọn trong tay ưu thế bộ máy thông tin tuyên truyền khổng lồ nhưng với tính chất là lừa đảo, mị dân, bịp bợm dân chúng.

   Lý thuyết sẽ mãi mãi là lý thuyết suông, nếu không có những hành động cụ thể trong thực tiễn. Hiện phe độc tài cộng sản đang khuếch trương thanh thế bộ máy tuyên truyền độc thoại, nhằm tăng cường sức chiến đấu cho ”đoảng và bác” bằng cách mua hẳn một vệ tinh riêng có xuất xứ từ HK để tiếp tục mở rộng tuyên truyền nhồi sọ nhân dân. Thiết nghĩ phải chăng phe dân chủ cũng nên có một vệ tinh riêng của mình để có thể phủ sóng truyền thanh truyền hình trên toàn bộ lãnh thổ VN, phát đi những kênh truyền hình tuyên truyền về tự do dân chủ nhân quyền tới toàn thể người dân VN, hiệu quả sẽ gấp bội so với internet, vì hầu hết dân chúng VN ưa chuộng xem truyền hình hơn là internet, và hiệu quả lan toả của truyền hình thì rõ ràng là hơn hẳn internet. Nếu được như vậy thì may ra mới cân bằng được về mặt tuyên truyền, mới hy vọng đưa phần thắng cuộc chiến dân chủ tại VN ngả về phe dân chủ tiến bộ. Mặt khác, đáng nhẽ ra tư bản HK không nên bán những kỹ thuật hiện đại tiên tiến cho phe độc tài toàn trị cộng sản VN, để rồi họ tiếp tục duy trì nền cai trị độc tài toàn trị, tiếp tục hủ hoá tư tưởng nhân dân VN. Như vậy xem ra thực tế nó khác hẳn với câu nói hùng hồn trước đó: “nếu các bạn đứng lên đòi tự do, thì HK sẽ luôn luôn ở bên cạnh các bạn” chỉ hoàn toàn là một câu nói mang tính chất xã giao không hơn không kém, không có ý nghĩa gì trong thực tế, mà thậm chí họ còn tiếp tay cho phe độc tài toàn trị có thêm sức mạnh.

  

Muốn giành được chiến thắng trong cuộc chiến dân chủ tại VN, ngoài việc cân bằng về mặt tuyên truyền quảng bá nền dân chủ tốt đẹp đến cho người dân, thì phe dân chủ cần phải chiếm được tình cảm của nhân dân, cần phải có được những ”ngôi sao” dân chủ, hay là những con người thực sự tài năng, đức độ, hay nói một cách khác là những người có ”thiên tài” làm chính trị thu hút được quần chúng nhân dân, phe dân chủ VN rất cần những con người tài năng như vậy.

   Hiện tại thì phe dân chủ VN còn quá nhỏ bé, thiếu và yếu toàn lực, đáng nhẽ cần phải đoàn kết là vấn đề hàng đầu, thì ngay trong nội bộ của phe dân chủ cũng đã có những xung đột, chia rẽ nghiêm trọng. Điều này thì không hề có lợi gì cho cuộc chiến dân chủ, mà trái lại, đó là cơ hội tốt cho phe độc tài toàn trị cộng sản vốn là thuộc loại lưu manh chính trị hàng đầu, dựa vào đó để ra đòn tấn công nhằm triệt hạ phe dân chủ là phe đòi đối lập công khai, nhưng lại bất bạo động với phe độc tài toàn trị cộng sản vốn có đầy đủ vũ khí súng ống đạn dược, xe tăng, thiết giáp, gậy gộc, dùi cui điện, luật rừng và các phiên toà thực sự là rừng rú nhưng vẫn được gắn tên gọi mỹ miều là ”toà án nhân dân”…

 

   Lời kết nho nhỏ:

  

Cuộc chiến dành dân chủ tại VN quả là một cuộc chiến hoàn toàn không cân sức chút nào, và phần thắng sẽ thuộc về kẻ mạnh hiện là phe độc tài cộng sản toàn trị, phe dân chủ tiến bộ muốn giành được phần thắng trong cuộc chiến không cân sức này không có cách nào khác là phải có đường đi đúng đắn và dựa vào sức mạnh của toàn dân tộc VN cả trong và ngoài nước, tranh thủ tình cảm của dư luận tiến bộ văn minh trên thế giới, thì may ra ánh hào quang dân chủ mới có cơ hội ló dạng và soi rọi trên đất nước VN.

 

Nhóm Phóng Viên Dân Chủ-Nhân Quyền Việt

VNam tại Hải Ngoại.

Stockholm, Sweden (Trung Tâm Dân Chủ Nhân Quyền Số 1 Thế Giới)

website: http://nhomphongviendanchunhanquyen.blogspot.com

Date: June 05th, 2008

June 4, 2008

Luật sư biện hộ gửi kháng thư và đơn yêu cầu giám đốc thẩm bản án của hai luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân

Filed under: Luật pháp, Tự do Dân chủ, Công lý — tudo @ 1:09 pm

LTS .- Luật sư Lê Công Định, một trong ba luật sư biện hộ cho hai luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị công Nhân, vừa gửi cho Tòa án Tối Cao CSVN văn thư phản bác về việc ông khiếu nại sự vi phạm thủ tục và luật lệ xét xử tại tòa án của viên chức tòa án CSVN nhưng lại được trả lời một chuyện khác hẳn. Đồng thời ông cũng gửi đơn yêu cầu giám đốc thẩm cho bản án phúc thẩm của hai luật sư Đài và Nhân ngày 27-11-2007 mà ông cho là đã vi phạm nghiêm tọng luật lệ tố tụng và cả hiến pháp CSVN.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

___________________

Kính gửi:

Ông Chánh án Tòa án nhân dân tối cao

Trích yếu:

Đề nghị hủy bỏ Văn bản số 286/TA-HS ngày 8/4/2008 của Tòa án nhân dân tối cao và xem xét lại hành vi tố tụng của Hội đồng xét xử phúc thẩm trong vụ án Luật sư Nguyễn Văn Đài và Luật sư Lê Thị Công Nhân.

Kính thưa ông Chánh án,

Tôi là luật sư biện hộ cho Luật sư Nguyễn Văn Đài và Luật sư Lê Thị Công Nhân trong vụ án hình sự “tuyên truyền chống Nhà nuớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” đã được xét xử phúc thẩm theo Bản án phúc thẩm số 1037/2007/HSPT ngày 27/11/2007. 

Ngày 8/4/2008, chúng tôi nhận được Văn bản số 286/TA-HS do Phó Chánh tòa Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao Trần Quốc Tú ký tên thừa ủy quyền của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, trong đó nêu rằng “không có căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án hình sự phúc thẩm nêu trên” mà quý Tòa cho rằng chúng tôi đã đề nghị trong Đơn khiếu nại ngày 7/12/2007.

Thật ra, trong Đơn Khiếu Nại ngày 7/12/2007 gửi đến ông Chánh án, chúng tôi tuyệt nhiên không viết bất kỳ câu, đoạn, dòng hay từ nào có nội dung đề nghị xem xét lại bản án hình sự phúc thẩm số 1037/2007/HSPT ngày 7/12/2007 theo thủ tục giám đốc thẩm. Trong Đơn Khiếu Nại nói trên, chúng tôi chỉ khiếu nại hành vi vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng của Hội đồng xét xử phúc thẩm, cụ thể không triệu tập nhân chứng, không xem xét tài liệu mới và cản trở luật sư tranh luận. Khiếu nại của chúng tôi căn cứ vào quy định tại Chương 35 của Bộ Luật tố tụng hình sự, chứ không phải Chương 30 về xem xét lại bản án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm.

Chúng tôi rất bất ngờ khi nhận được văn bản trả lời của ông Trần Quốc Tú bác khiếu nại của chúng tôi vì cho rằng chúng tôi đã đề nghị xem xét lại bản án hình sự phúc thẩm số 1037/2007/HSPT ngày 27/11/2007 theo thủ tục giám đốc thẩm.  Chúng tôi nhận định rằng quý Tòa, thông qua ông Trần Quốc Tú, đã nhầm lẫn nghiêm trọng khi giải quyết Đơn Khiếu Nại ngày 7/12/2007, theo đó điều chúng tôi yêu cầu xem xét thì không trả lời, trong khi điều chúng tôi chưa yêu cầu thì đã vội vã bác bỏ. Lý do nào lại có sự nhầm lẫn như vậy?

Do đó, bằng văn bản này, chúng tôi đề nghị ông Chánh án xem xét những việc sau đây:

1. Hủy bỏ Văn bản số 286/TA-HS ngày 8/4/2008 của Tòa án nhân dân tối cao do ông Trần Quốc Tú ký tên thừa ủy quyền của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; và

2. Xem xét và giải quyết nội dung nêu trong Đơn Khiếu Nại ngày 7/12/2007 của chúng tôi trên co sở luật pháp Việt Nam hiện hành.

Chúng tôi rất mong nhận sự quan tâm của ông Chánh án.  Xin chân thành cảm on và trân trọng kính chào.

Ngày 28 tháng 5 năm 2008

Đại diện các Luật sư biện hộ cho Luật sư Nguyễn Văn Đài và Luật sư Lê Thị Công Nhân

Kính đơn,

Luật sư Lê Công Định

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

ĐƠN YÊU CẦU GIÁM ĐỐC THẨM

Kính gửi:

Ông Chánh án Tòa án nhân dân tối cao

Trích yếu:

Xem xét lại và Kháng nghị Bản án hình sự sơ thẩm số 153/2007/HSST ngày 11/5/2007 và Bản án hình sự phúc thẩm ngày 27/11/2007 trong vụ án “tuyên truyền chống Nhà nuớc Cộng hòa xã hội chủ nghia Việt Nam” theo thủ tục giám đốc thẩm.

Kính thưa ông Chánh án,

Tôi, đồng ký tên dưới đây, là Lê Công Định, đại diện các luật sư biện hộ cho Luật sư Nguyễn Văn Đài và Luật sư Lê Thị Công Nhân trong vụ án hình sự “tuyên truyền chống Nhà nuớc Cộng hòa xã hội chủ nghia Việt Nam” đã được xét xử sơ thẩm và phúc thẩm theo hai Bản án nêu trên. 

A. Tóm tắt hai bản án sơ thẩm và phúc thẩm

Bản án hình sự sơ thẩm số 153/2007/HSST ngày 11/5/2007 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội đã tuyên xử hai Luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân tội “tuyên truyền chống Nhà nuớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” trên cơ sở áp dụng Điểm a và c Khoản 1 của Điều 88 Bộ luật hình sự, theo đó xử phạt:

Luật sư Nguyễn Văn Đài, năm (5) năm tù, tính từ ngày 6/3/2007, và quản chế bốn (4) năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù; và

Luật sư Lê Thị Công Nhân, bốn (4) năm tù, tính từ ngày 6/3/2007, và quản chế ba (3) năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

Ngoài ra, Tòa so thẩm còn tuyên tịch thu một số tài sản cá nhân của các hai Luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân.

Bản án hình sự phúc thẩm số 1037/2007/HSPT ngày 27/11/2007 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã tuyên xử hai Luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân tội “tuyên truyền chống Nhà nuớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” trên cơ sở áp dụng Điểm a và c Khoản 1 của Điều 88 Bộ luật hình sự, theo đó xử phạt:

Luật sư Nguyễn Văn Đài, bốn (4) năm tù, tính từ ngày 6/3/2007, và quản chế bốn (4) năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù; và

Luật sư Lê Thị Công Nhân, ba (3) năm tù, tính từ ngày 6/3/2007, và quản chế ba (3) năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

B. Thỉnh cầu

Bằng văn thư này, chúng tôi đề nghị Ông Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét lại và kháng nghị hai Bản án sơ thẩm và phúc thẩm của vụ án nêu trên theo thủ tục giám đốc thẩm, bởi những lý do nhu sau:

1. Việc điều tra xét hỏi tại phiên tòa phiến diện, không đầy đủ;

2. Kết luận trong bản án sơ thẩm và phúc thẩm không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; và

3. Thủ tục tố tụng vi phạm nghiêm trọng pháp luật tố tụng hình sự liên quan đến việc điều tra, truy tố và xét xử.

Bản án sơ thẩm và Bản án phúc thẩm được tuyên trên cơ sở các chứng cứ như sau: (a) tài liệu thu thập tại Văn phòng luật sư Thiên Ân và nhà riêng của hai Luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân, và (b) việc tổ chức những buổi thảo luận tại Văn phòng luật sư Thiên Ân.

Tòa án sơ thẩm và phúc thẩm đã nhận định nội dung các chứng cứ nêu trên là “chống Nhà nuớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Nội dung các chứng cứ mà Bản án sơ thẩm và phúc thẩm đã nêu được liệt kê như sau:

(a) Hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, bôi nhọ Hồ Chủ tịch và các vị lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản và nhà nước;

(b) Xuyên tạc lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc duới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản;

(c) Xuyên tạc tình hình thực tế tại Việt Nam;

(d) Tiếp xúc và trao đổi thông tin về dân chủ và nhân quyền;

(e) Ủng hộ đa nguyên, đa đảng, kêu gọi thay thế Đảng Cộng sản;

(f) Tham gia và ủng hộ tích cực các tổ chức hoạt động bất hợp pháp, bao gồm “Tuyên ngôn tự do dân chủ cho Việt Nam”, “Khối 8406”, “Đảng Thăng tiến Việt Nam”, “Hội dân oan” và “Công đoàn độc lập”; và

(g) Có ý thức muốn thành lập một số tổ chức, đảng phái chống lại Đảng Cộng sản Việt Nam.

C. Nhận định về chứng cứ và nhân chứng

1. Các chứng cứ nêu tại Bản án sơ thẩm và phúc thẩm không xác định được hành vi phạm tội dựa vào yếu tố cấu thành tội phạm như quy định tại Điều 88 của Bộ luật hình sự.

2. Vì chứng cứ không rõ ràng nên lập luận của Tòa sơ thẩm và Tòa phúc thẩm chủ yếu dựa trên sự sưy đoán và áp đặt, nhưng lại là sưy đoán theo hướng có tội.  Điều này vi phạm nghiêm trọng luật pháp Việt Nam và nền tảng của tất cả luật hình sự trên thế giới, theo đó nếu phải sử dụng chứng cứ gián tiếp nhằm sưy đoán hành vi thì chỉ có thể là sưy đoán theo hướng vô tội.

3. Ngày 19/11/2007 các luật sư biện hộ đã gửi đơn thỉnh cầu triệu tập mười bảy (17) nhân chứng dự phiên tòa phúc thẩm, nhưng Tòa thông báo chỉ gửi giấy triệu tập chín (9) nhân chứng, và thực tế chỉ năm (5) nhân chứng dự phiên tòa sơ và phúc thẩm. Lưu ý, 17 nhân chứng mà các luật sư biện hộ thỉnh cầu triệu tập bao gồm:

(1) Phạm Sỹ Nguyên (vắng mặt)

(2) Nguyễn Xuân Đệ (vắng mặt)

(3) Trần Thanh (có mặt)

(4) Nguyễn Thị Hương Lan (vắng mặt)

(5) Trần Văn Hòa (vắng mặt)

(6) Đồng Thị Giang (có mặt)

(7) Khổng Văn Thành (có mặt)

(8) Nguyễn Bá Trực (có mặt)

(9) Giáp Văn Hiếu (có mặt)

(10) Nguyễn Thanh Giang (vắng mặt)

(11) Dương Thu Hương (vắng mặt)

(12) Vũ Quốc Dụng (vắng mặt)

(13) Nguyễn Đinh Thắng (vắng mặt)

(14) Trần Ngọc Thành (vắng mặt)

(15) Nguyễn Văn Lý (vắng mặt)

(16) Đỗ Nam Hải (vắng mặt)

(17) Hoàng Minh Chính (vắng mặt)

Đối với những nhân chứng không có mặt tại phiên tòa phúc thẩm, các luật sư biện hộ không thể trực tiếp lắng nghe lời khai của họ để đánh giá các chứng cứ khác.

Do vậy chúng tôi đã đề nghị Hội đồng xét xử không được sử dụng các tài liệu mà họ là tác giả hoặc các công việc mà họ làm như những chứng cứ để buộc tội hai Luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân, theo nguyên tắc, không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do nhân chứng trình bày nếu họ không thể nói rõ vì sao mình biết được tình tiết đó, theo Điều 67 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự; nếu không thì phải hoãn phiên tòa để ra quyết định dẫn giải người làm chứng khi họ vắng mặt theo Điều 192 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự. 

Tuy nhiên bản án phúc thẩm vẫn được tuyên bất chấp những kiến nghị này của các Luật sư biện hộ.

D. Kết luận và đề nghị

Thưa ông Chánh án, vì những lý lẽ nêu trên, chúng tôi với tư cách là luật sư biện hộ cho hai đồng nghiệp của tôi là Luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân, kết luận rằng không một điều luật hiện hành nào của Việt Nam tạo ra hoặc hội đủ cơ sở pháp lý để kết tội và kết án họ. Họ vô tội một cách đương nhiên.

Do vậy, tôi đề nghị ông Chánh án với quyền hạn của mình xem xét lại toàn bộ nội dung vụ án mà không chỉ giới hạn trong bản đề nghị này:

1. Đưa ra quyết định kháng nghị Bản án phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật nêu trên, theo thẩm quyền được trao tại Điều 275 của Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự, theo hướng như sau:

(a) Hủy toàn bộ Bản án so thẩm và Bản án phúc thẩm;

(b) Đình chỉ vụ án do hành vi không cấu thành tội phạm theo Điều 88 của Bộ Luật Hình sự; và

(c) Đề nghị cấp giám đốc thẩm tuyên trả tự do cho hai Luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân, đồng thời trả lại tài sản của họ.

2. Đưa ra quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án hình sự phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật nêu trên cho đến khi có kết quả giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm, theo thẩm quyền được trao tại Điều 276 của Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự.

Rất mong sự xem xét và kháng nghị của ông Chánh án trong thời gian sớm nhất.

Trong truờng hợp ông Chánh án không ra quyết định kháng nghị thì trong văn bản trả lời cho chúng tôi đề nghị giải quyết thỏa đáng những kiến nghị nêu trên của chúng tôi.

Ngày 28 tháng 5 năm 2008

Đại diện các Luật sư biện hộ cho Luật sư Nguyễn Văn Đài và Luật sư Lê Thị Công Nhân

Kính đơn,

Luật sư Lê Công Định

ĐƠN KIẾN NGHỊ

v/v: mở phiên toà giám đốc thẩm vụ án Nguyễn Văn Đài

Bản án phúc thẩm mang số 1037/2007/HSPT

Chồng tôi bị kết án oan vì các toà sơ thẩm vào ngày 11/05/2007 và toà phúc thẩm vào ngày 27/11/2007 đã không có đủ cơ sở lý luận để kết tội chồng tôi tội “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam“. Các phiên toà đã vi phạm nghiêm trọng các thủ tục tố tụng khiến cho việc xử án thiếu công bằng.

@@@@@@

 

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

ĐỘC LẬP – TỰ DO – HẠNH PHÚC.

ĐƠN KIẾN NGHỊ

v/v: mở phiên toà giám đốc thẩm vụ án Nguyễn Văn Đài

Bản án phúc thẩm mang số 1037/2007/HSPT

Kính gửi:        – Ông Chánh án Toà án nhân dân tối cao

– Ông Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Tôi là: Vũ Minh Khánh, sinh năm 1974.

Nơi thường trú: P302, Z8, Bách Khoa, Hai Bà Trưng, Hà Nội.

Chồng tôi là luật sư Nguyễn Văn Đài, sinh năm 1969, bị bắt ngày 06/03/2007, đã qua 2 phiên toà xét xử cấp sơ thẩm và phúc thẩm với lời buộc tội theo điều 88 BLHS là  “tuyên truyền chống nhà nước CHXHCN VN”. Chồng tôi bị tuyên án 4 năm tù giam và 4 năm quản chế sau thời gian bị tù. Hiện nay chồng tôi đang bị giam giữ tại trại giam Nam Hà.

Chồng tôi bị kết án oan vì các toà sơ thẩm vào ngày 11/05/2007 và toà phúc thẩm vào ngày 27/11/2007 đã không có đủ cơ sở lý luận để kết tội chồng tôi tội “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam“. Các phiên toà đã vi phạm nghiêm trọng các thủ tục tố tụng khiến cho việc xử án thiếu công bằng.

1) Sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng bộ luật Hình sự

Như tôi trình bày trong bài bênh vực cho chồng tôi mang tựa đề “Chồng tôi yêu nước, Chồng tôi vô tội”được tôi đã gửi đến các cơ quan thẩm quyền nhà nước trước phiên toà phúc thẩm hồi giữa tháng 11/2007, những lý lẽ mà toà sơ thẩm dùng để buộc tội chồng tôi đã không đủ vững. Đối với cá nhân chồng tôi, phiên toà phúc thẩm vào ngày 27/11/2007 đã không xem xét đầy đủ các yếu tố khách quan, chủ quan, chủ thể và khách thể của hành vi phạm tội khi kết tội chồng tôi theo điểm a, c khoản 1 Điều 88 Bộ luật Hình sự. Cách kết tội gộp chung cho “các bị cáo” rất tai hại khi các bị cáo không có hành vi giống nhau. Toà phúc thẩm đã không giải quyết được những vấn đề quan trọng sau đây:

a)      Chồng tôi có hoạt động nhằm mục đích chống Nhà nước XHCNVN không?

Như thế nào là chống? Chồng tôi đã hoạt động chống cơ quan nhà nước hiến định nào? Giống như toà sơ thẩm, mặc dù không đưa ra được chứng cứ nhưng toà phúc thẩm vẫn tiếp tục kết luận sai lầm rằng chồng tôi “tẩy chay cuộc bầu cử đại biểu quốc hội năm 2007 và trực tiếp chống lại Nhà nước ta tổ chức bầu cử theo quy định của Hiến pháp”. Trên thực tế, ai cũng biết chồng tôi là người công khai tuyên bố không tẩy chay bầu cử và còn khuyến khích công dân ra ứng cử độc lập nữa. Tương tự, lời buộc tội chồng tôi “tuyên truyền, xuyên tạc, bôi nhọ, đòi xóa bỏ vị trí lãnh đạo Nhà nước và xã hội của Đảng Cộng sản Việt nam” (BAPT, tr. 6) để cho rằng như thế là vi phạm hiến pháp đã là những suy diễn hoàn toàn chủ quan và không có cơ sở vật chứng vững chắc. Cần khẳng định rằng toà phúc thẩm đã không nêu ra được bất cứ tương quan nào giữa những điều chồng tôi viết trong 2 bài “Quyền tự do thành lập đảng” và “Dân trí Việt Nam có đủ khả năng xây dựng chế độ đa đảng” với cáo buộc vừa nêu.

b)      Chồng tôi có “tuyên truyền xuyên tạc”, có “làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hoá phẩm có nội dung chống Nhà nước” không?

Trong phiên xử phúc thẩm toà đã không cho tranh luận về khái niệm tuyên truyền. Toà đã không chịu xét rằng một hành vi phải có một số đặc điểm về nội dung, hình thức, qui mô và ảnh hưởng nhất định nào đó thì mới được gọi là tuyên truyền. Toà đã không đưa ra được chứng cứ cụ thể cho lời cáo buộc rằng “nội dung mà các bị cáo tuyên truyền tại lớp học, nội dung các bị cáo trả lời phỏng vấn về vấn đề dân chủ, nhân quyền… đều là các vấn đề đã bị bóp méo, bôi nhọ, xuyên tạc, không đúng với thực tế tại Việt Nam” (BAPT, tr. 6).  Thế nào là dân chủ, nhân quyền? Dùng tiêu chuẩn nào để đánh giá thực tế? Nội dung nào bị xem là không đúng với thực tế Việt nam? Nói chuyện về dân chủ và nhân quyền có phạm tội không? Đã không cho tranh luận về những chứng cứ thì không thể xác định được rằng thực tế Việt Nam đã có bị bóp méo, xuyên tạc hay bôi nhọ hay không và nếu có, thì ở mức độ nào. Việc áp dụng luật hình sự ở đây đã hoàn toàn bị sai lệch.

2) Kết luận trong bản án không phù hợp với tình tiết khách quan

Bản án phúc thẩm mang số 1037/2007/HSPT đã tiếp tục chấp nhận những sơ xuất nghiêm trọng của công an điều tra mặc dù tôi đã phê bình điều này trong bài bênh vực cho chồng tôi (tài liệu đã dẫn). Những kết luận điều tra cẩu thả được thấy ghi trong phần “Nhận thấy” của bản án phúc thẩm đã tạo cảm tưởng sai lầm về hành vi phạm tội của các bị cáo. Ngoài ra bản án phúc thẩm cũng ghi sai cả những diễn biến xảy ra tại phiên toà.

a)      Sai sự thật một cách vô lý

Như tôi đã trình bày trước đây, vào sáng ngày 03/02/2007, luật sư Lê Thị Công Nhân mới chỉ tiếp xúc chào hỏi 3 sinh viên được 5 phút thì công an đã ập vào bắt. Tất cả các nhân chứng đều xác nhận việc này. Bất cứ người nào có chút đầu óc suy luận cũng nhận ra rằng thời gian 5 phút không đủ để luật sư Công Nhân làm công việc “tuyên truyền xuyên tạc chủ trương chính sách cùa Nhà nước” như cáo trạng và các bản án đã ghi một cách sai lầm. Cả tài liệu “Nhân phẩm, nền tảng của nhân quyền” bắt được hôm ấy cũng không có có tính chất “tuyên truyền xuyên tạc”.

b)      Sai với thực tế khách quan

Bản án phúc thẩm viết rằng: “các nhân viên văn phòng luật sư Thiên Ân là: Phạm Văn Trội, Phạm Sỹ Nguyên, Nguyễn Xuân Đệ, Trần Thanh và Nguyễn Thị Hương Lan cũng khai nhận Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân đã tuyên truyền, xuyên tạc, phỉ báng chính quyền, thậm chí còn lôi kéo họ vào các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc chống nhà nước” (BAPT, tr. 3). Ở đoạn này bản án phúc thẩm đã phạm sai sót hơn bản án sơ thẩm nữa. Trước hết ông Phạm Văn Trội không phải là nhân viên của chồng tôi, và 4 nhân viên nói trên đã làm việc trong 2 cơ sở khác nhau chứ không phải đều làm trong văn phòng luật sư của chồng tôi.


Nghiêm trọng hơn nữa bản án phúc thẩm đã thay đổi chứng cứ.  Nếu bản án sơ thẩm chỉ mới ghi lại ý kiến chủ quan của cơ quan an ninh (“cơ quan an ninh điều tra xác định … Trội và 4 nhân viên văn phòng luật sư Thiên Ân … do bị Nguyễn Văn Đài … tuyên truyền lôi kéo nên đã tham gia vào cáo hoạt động tuyền truyền xuyên tạc…” , BAST, tr. 3) thì bản án phúc thẩm đã biến ý kiến này thành lời khai của nhân chứng. Ở đây, bản án phúc thẩm đã bịa đặt ra việc 5 người nói trên cáo buộc chồng tôi “tuyên truyền, xuyên tạc, phỉ báng”, và cường điệu rằng họ đã khai nhận rằng chồng tôi “thậm chí còn lôi kéo họ vào các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc chống nhà nước” (BAPT, tr. 3). Luật sư của chúng tôi đã có lời khai của ông Trội và các nhân viên của chồng tôi. Những người này đồng loạt khai rằng họ không có hoạt động tuyên truyền xuyên tạc chống Nhà nước và do đó cũng không bị ai lôi kéo cả.

c)      Sai với lời khai bị cáo ở toà

Nhiều lời khai được ghi trong bản án phúc thẩm hoàn toàn sai sự thực vì đã ghi lại không đúng lời khai của nhân chứng tại phiên xử phúc thẩm.

Tại toà chồng tôi chỉ thừa nhận viết duy nhất 2 bài là “Quyền tự do thành lập đảng” và “Dân trí Việt Nam có đủ khả năng xây dựng chế độ đa đảng” là 2 bài mà toà không chứng minh được tính chất vi phạm luật pháp Việt nam.

Việc bản án phúc thẩm ghi rằng chồng tôi “thừa nhận đã tự soạn thảo một số tài liệu trong số tài liệu bị thu giữ”(BAPT, tr. 5) là không chính xác. Đáng lẽ phải ghi là chỉ có 2 tài liệu đó mà thôi.

Tại toà, chồng tôi có thừa nhận đã đọc MỘT tài liệu tên “Vu cáo là nghề cộng sản” chứ không hề thừa nhận có đọc các tài liệu nào khác hoặc có hành vi “phát tán và tuyên truyền nhiều tài liệu và thông tin nêu trên” như được ghi trong bản án phúc thẩm (BAPT, tr. 5).

Tương tự, chồng tôi chỉ thừa nhận trả lời phỏng vấn của 3 đài BBC, VOA và RFA chứ không hề “thừa nhận trả lời trực tuyền với các tổ chức phản động” (BAPT, tr. 5).
Tại toà, cô Lê Thị Công Nhân không hề khai là “hoạt động dưới sự chỉ đạo, ủng hộ tích cực của Nguyễn Văn Đài” như trong bản án phúc thẩm đã ghi ở trang 5.

Tại toà, cô Trần Thanh khai rằng cô làm việc cho công ty Việt Luật trong giờ hành chính với công việc chính là trực văn phòng và tư vấn khách hàng và không biết cũng như không tham gia lớp học nào cả. Luật sư Bùi Quang Nghiêm đã nhấn mạnh đến điều này trong bài bào chữa của ông. Vậy mà bản án phúc thẩm vẫn ghi rằng cô Thanh là nhân viên văn phòng luật sư Thiên Ân và chính cô đã khai nhận rằng chồng tôi có hành vi tuyên truyền xuyên tạc chính quyền và thậm chí còn lôi kéo cô vào các hành động này nữa.


Những sai sót như vậy được tìm thấy rất nhiều trong bản án phúc thẩm và tạo nên một ấn tượng hoàn toàn sai lạc về các hành vi của chồng tôi.

3) Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng

Tôi không nhắc lại những vi phạm nghiêm trọng xảy ra trong thời gian điều tra, truy tố và trong phiên xử sơ thẩm như tôi đã ghi trong tài liệu đính kèm. Ở đây tôi chỉ trình bày những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong phiên xử phúc thẩm.

a)      Không mời đủ nhân chứng và cản trở nhân chứng

Luật sư của chồng tôi có đề nghị toà mời tổng cộng 17 nhân chứng, trong đó có những người bị cáo buộc nhiều lần trong bản án sơ thẩm như các ông Trần Văn Hoà, Vũ Quốc Dụng, Nguyễn Đình Thắng, Trần Ngọc Thành, Nguyễn Văn Lý. Nhưng tại phiên toà chỉ có mặt khoảng 1/3 các nhân chứng. Toà không cho biết lý do tại sao Toà không mời những người còn lại. Một số nhân chứng cho chúng tôi biết rằng họ đã bị đe doạ nên sợ không dám đến toà nữa.

Một nhân chứng quan trọng là ông Phạm Văn Trội đã bị công an bắt giữ ngay khi ông vừa đến cổng toà án tối cao Hà Nội vào sáng ngày xử phúc thẩm 27/11/2007. Đây là hành vi vi phạm pháp luật của công an. Ông Trội đã bị bắt về đồn công an phường Trần Hưng Đạo, Hà Nội. Trên đường đi và tại trụ sở công an, ông đã bị công an hành hung dã man. Sau 3 tiếng câu lưu, ông Trội bị đưa về quản chế tại địa phương cư trú. Ông Trội cho biết trong những ngày trước đó công an tỉnh Hà Tây đã liên tiếp đến nhà đe doạ để ông bỏ ý định đi lên Hà Nội làm nhân chứng. Ở đây rõ ràng công an đã ngăn trở một nhân chứng có giấy mời của toà án. Nghiêm trọng hơn nữa, trong phiên xử, thẩm phán chủ toạ Nguyễn Minh Mắn đã có hành vi ứng xử không thích hợp. Khi luật sư Lê Công Định xin đọc đơn tố cáo của nhân chứng Trội, thẩm phán Mắn đã không cho đọc với lý do là toà đã có nhận được đơn của nhân chứng Phạm Văn Trội xin vắng mặt với cam kết là lời khai tại cơ quan an ninh điều tra là đúng. Điều này mâu thuẫn với lời báo cáo của thư ký toà án Nguyễn Hải Bằng vào ngay 5 phút trước đó rằng „Ông Phạm Văn Trội vắng mặt không lý do“. Ông Trội là một nhân chứng vô cùng quan trọng vì ông là người chứng kiến từ đầu những giao tiếp của chồng tôi với các sinh viên Hà Nam và có thể đối chứng với họ ngõ hầu tìm ra sự thật trước toà.

b)      Không xem xét đầy đủ những chứng cứ và tài liệu mới

Một trong những tài liệu mới được các luật sư đệ nạp vào hồ sơ vụ án là bài viết “Chồng tôi yêu nước, Chồng tôi vô tội” trong đó tôi đã thu thập rất nhiều chứng cứ để chứng minh sự vô tội của chồng tôi. Như đã nêu trên, việc bản án phúc thẩm tiếp tục sử dụng những kết luận sai lầm của bản án Sơ Thẩm cho thấy toà phúc thẩm đã không xem xét chứng cứ mới này theo qui định tại điểm 2, Điều 246 BLTTHS.

Chồng tôi là một luật sư có ý thức nên đã có hành động dựa trên pháp luật hiện hành. Cũng như các luật sư, tôi cho rằng Toà phúc thẩm phải xử chồng tôi chiếu theo tất cả những luật pháp hiện hành ở Việt nam, chứ không thể chỉ xử chồng tôi riêng theo bộ luật hình sự được. Tôi cho rằng rằng bên cạnh Điều 88 của Bộ luật Hình sự, toà cần phải xem xét đến những điều luật quốc tế và Việt Nam sau đây:

·        Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị của Liên Hiệp Quốc mà  Việt nam đã gia nhập vào năm 1982, cụ thể là Điều 19 về quyền tự do ngôn luận được  hướng dẫn thêm bởi văn bản mang số CCPR/C/21/Rev. 1 (19.05.1989) của Uỷ ban Nhân quyền LHQ (Human Rights Committee);

·        Luật Ký kết, Gia nhập và Thực hiện Điều ước Quốc tế (2005), cụ thể là Điều 6 của luật này qui định về việc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế trong trường hợp luật Việt nam mâu thuẫn với điều ước quốc tế mà Việt nam gia nhập;

·        Luật Luật sư (2006), cụ thể là Điều 3 của luật này về chức năng xã hội của luật sư là “góp phần bảo vệ công lý, phát triển kinh tế và xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.


Đây là những chứng cứ hoàn toàn mới vì chưa được sử dụng trong phiên xử Sơ thẩm và đã được các luật sư nộp bổ sung vào hồ sơ phúc thẩm. Tuy nhiên toà phúc thẩm đã không cho luật sư trình bày về những điều luật này. Các thẩm phán Nguyễn Minh Mắn và Cù Đình Thắng đã nhiều lần ngăn cản không cho luật sư của chồng tôi nói về các điều ước quốc tế và thẩm phán Thắng đã tuyên bố rằng toà chỉ xét hành vi bị cáo theo luật hình sự Việt nam mà thôi. Toà đã không xem xét đến các chứng cứ mới vì cuối cùng bản án phúc thẩm cũng không đề cập đến chúng.

4) Điều tra và xét hỏi phiến diện 

Như tôi đã trình bày ở phần 1 và 2 ở trên, các cơ quan công an và viện kiểm sát đã dựa trên những điều tra cẩu thả để đưa ra những kết luận hàm hồ. Trong bài bênh vực cho chồng, tôi đã ghi ra những sai phạm điều tra này. Theo dõi phiên xử phúc thẩm, tôi có cảm tưởng rằng bản án đã được định sẵn và việc cho phép tranh luận chỉ mang tính hình thức. Có những lúc công tố viên đã lấn quyền chủ toạ để giành quyền điều khiển phiên xử hoặc để ngăn cản luật sư xét hỏi nhân chứng.

Tất cả luật sư của chồng tôi đã bị các thẩm phán cản trở phát biểu. Khi đọc bản luận cứ, cá nhân luật sư Đặng Trọng Dũng đã bị các thẩm phán cắt lời tổng cộng 15 lần. Nhiều lần luật sư Dũng đã không thể trình bày hết một ý của bài luận cứ khiến cho ý tưởng bào chữa không còn mạch lạc nữa. Đặc biệt một nhóm cử toạ đông đảo đã la ó ồn ào để uy hiếp tinh thần của luật sư – có lúc còn la ó đòi đuổi luật sư ra ngoài – mà thẩm phán chủ toạ không có hành động nào để can thiệp.

Một vụ án với nhiều tình tiết phức tạp mà toà phúc thẩm chỉ cho tranh luận trong hơn 30 phút nên không thể tránh khỏi các kết luận sai lầm. Toà và các công tố viên đã không cho luật sư tranh luận về từng nội dung. Kiểm sát viên đã không trả lời những câu hỏi cụ thể của luật sư mà không bị chủ toạ nhắc nhở. Việc chồng tôi yêu cầu toà cho tranh luận về bài “Quyền tự do thành lập đảng” để xem nội dung nào mang tính chống lại nhà nước XHCNVN đã không được toà đáp ứng. Tóm lại chồng tôi và các luật sư đã không thể tranh luận với công tố viên để tìm ra rằng chồng tôi (chủ thể) đã có hành vi phạm tội cụ thể nào (mặt khách quan của tội phạm), với động cơ nào (mặt chủ quan) để chống nhà nước Việt nam (khách thể) trong tương quan với quyền dân sự chiếu theo Hiến pháp 1992, điều ước quốc tế và các luật khác của Việt nam.

Vào ngày 07/12/2007 ba luật sư Lê Công Định, Đặng Trọng Dũng và Bùi Quang Nghiêm đã gửi đơn khiếu nại về những vi phạm luật pháp trong phiên xử phúc thẩm đến Chánh án Toà án Nhân dân Tối cao. Tuy nhiên đến nay các luật sư cho biết rằng họ chưa nhận được bất cứ sự trả lời nào của toà án nhân dân tối cao.

Bởi các lẽ trên, theo điều 273 BLTTHS thì những sai phạm nghiêm trọng trên thừa đủ căn cứ để kháng nghị theo thủ tục Giám đốc thẩm.

ĐIỀU 273: Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm:

Bản án hoặc quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, khi có một trong những căn cứ sau đây:

a.      Việc điều tra xét hỏi tại phiên toà phiến diện hoặc không đầy đủ;

b.      Kết luận trong bản án hoặc quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án;

c.       Có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong khi điều tra, truy tố hoặc xét xử;

d.      Có những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng Bộ luật hình sự.

Xin lưu ý rằng chỉ cần sai phạm 1 trong 4 yếu tố trên là đủ căn cứ để kháng nghị Giám đốc thẩm. NHƯNG vụ án của chồng tôi bị sai phạm cả 4 yếu tố trong điều luật này là điều tra và xét hỏi phiến diện; kết luận trong bản án không phù hợp với tình tiết khách quan; vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng bộ luật Hình sự.

VÌ VẬY, theo điều 274 BLTTHS, bằng đơn thư này, tôi kiến nghị tới ông Chánh án Toà án nhân dân tối cao và ông Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao giúp chồng tôi kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Với tính chất sai phạm nghiêm trọng nêu trên nên chồng tôi đã bị kết án oan và đã bị giam hơn 14 tháng , cho nên tôi kiến nghị phải mở phiên toà giám đốc thẩm thật sớm và  đồng thời, tôi cũng đề nghị Toà giám đốc thẩm ghi rõ trong bản án những chứng cứ và lý luận cụ thể đối với trường hợp của chồng tôi để tránh những kết tội mơ hồ như đã xảy ra trong những lần xử trước.

Trân trọng cảm ơn.

Hà Nội, ngày 12 tháng 5 năm 2008.

Vợ luật sư Nguyễn Văn Đài

Vũ Minh Khánh.

Đính kèm: “Chồng tôi yêu nước, Chồng tôi vô tội” (bài bênh vực cho chồng nhân phiên xử phúc thẩm)


———— ——— ——— ——— ——— ——— ——— ——— ——— ———

Socialist Republic of Vietnam

Independence – Freedom – Happiness

PETITION LETTER

To

– Chief Justice, Supreme People’s Court

– Procurator-General, Supreme People’s Procuracy

Re. Petitioning to the Court of Cassation for a Cassation of Nguyen Van Dai’s Case

(Appellate sentence, No. 1037/2007/HSPT)

My name is Vu Minh Khanh, born 1974; my permanent home residence is P302, Z8, Bach Khoa, Hai Ba Trung, Hanoi. My husband is lawyer Nguyen Van Dai, born 1969, arrested March 6, 2007, and has been tried by the Court of First Instance and the Court of Appeal for the charges of

“spreading propaganda against the Socialist Republic of Vietnam” (Article 88, Criminal Code). He was sentenced to 4 years of imprisonment to be followed by four years of house arrest. He is currently held at the Nam Ha prison.

He has been unjustly sentenced because both the preliminary trial of May 11, 2007 and the appel-late trial of November 27, 2007 failed to present conclusive evidences that support the charges of

“spreading propaganda against the Socialist Republic of Vietnam”. The fact that both courts gravely violated the Code of Criminal Procedure has resulted in such unjust decisions.

1) Grave mistakes in the application of the Criminal Code

As argued in my plea titled “My husband is a patriot. My husband is innocent” that had been submitted to various levels of authority prior to the appellate trial in mid November 2007, the reasons the Court of First Instance cited for my husband’s sentence were groundless. As far as the sentencing of my husband is concerned, the appellate trial of November 27, 2007 did not consider such factors as the subject and object, as well as the subjectivity and objectivity of criminal acts, according to Paragraphs 1.a and 1.c of Article 88, Criminal Code. The wholesale sentencing of defendants was unjustly detrimental whereas they did not commit the same acts. The Court of Appeal has failed to make a satisfactory resolution of the following matters:

a) Has my husband acted with the intent of being opposed to the Socialist Republic of Viet-nam?

What defines “opposition” ? Which constitutional institutions did he act in opposition to? The Court of Appeal has reached the same erroneous judgments as the Court of First Instance did, that my husband

“boycotted the National Assembly Election of 2007 and is directly opposed to the State that is charged with holding elections as stipulated by the Constitution. ” In actu-ality, it is widely known that my husband publicly advocated not to boycott the elections and encouraged the running of independent candidates. By the same token, the accusations that my husband has “spread propaganda, distortions and slanders aimed at removing the Com-

munist Party of Vietnam from the role of leading the State and society,”

(Appellate Sentence, p. 6) and has, therefore, acted in violation of the Constitution, are merely subjective and groundless speculations. It’s worth emphasizing that the Court of Appeal could not link these accusations with any of my husband’s assertions in his two articles titled “The Right to Form Political Parties” and “Vietnamese People Are Able to Build a Multi-Party System.”

b) Has my husband “spread propaganda and distortions of the truth” and “produced, illegally stored, and circulated anti-State materials”?

During the appellate trial no defense was allowed to discuss the concepts of “propaganda” . The Court of Appeal did not consider the characteristics of a criminal act that constitute a “propaganda, ” e.g. the content and form, as well as the scope and impact. The Court failed to present concrete evidences that support its charges that

“the information that the defendants provided in the [democracy and human rights] course, and the statements they made during their interviews on democracy and human rights are slanders, smears, misinformations and distortions of the realities in Vietnam.” (Appellate Sentence, p. 6). But what is democracy and human rights? What standards are to apply in the evaluation of the realities? Does it con-stitute a criminal act by simply discussing democracy and human rights? Unless a debate was allowed in respect of admissible evidences no assertion could be made whether or not the re-alities in Vietnam were slandered, misinformed, and distorted. If they were, to what extent were they? The application of criminal procedures has been totally skewed.

2) The appellate sentence is not consistent with the objectivity of circumstances

The appellate sentence, No. 1037/2007/HSPT nevertheless accepts the Investigative Police’s se-rious mistakes which I took issue with, as a matter-of-fact, in my above-referenced plea.

The discoveries of their investigation, inserted in the “Observations” section of the appellate sen-tence have created a wrong impression of the defendants’ acts. In addition, the sentence has in-correctly recorded the proceedings of the trial.

a

) Illogical account of the truth

As I have presented before, on the morning of February 3, 2007 as soon as attorney Le Thi Cong Nhan greeted three of her students, roughly for five minutes, the police raided my hus-band’s law office. All the witnesses confirmed this very fact. Anyone with common sense must realize that it’s impossible for her, within five minutes, to

“spread propaganda that dis-torts State positions and policies,” recorded as such in the Indictment and the resultant Sen-tences. Even the document titled “Human Dignity: A Foundation for Human Rights,” confis-cated during the raid, is not at all “slanderous propaganda”.

b) Wrong account of the facts

The appellate sentence states:

“the staffers of the Thien An Law Office, including Pham Van Troi, Pham Sy Nguyen, Nguyen Xuan De, Tran Thanh, Nguyen Thi Huong Lan, all testified that both Nguyen Van Dai and Le Thi Cong Nhan not only spread propaganda, distortions, and slanders against the government, but also incited them to spread slanderous anti-State propaganda.” (Appellate Sentence, p. 3). This paragraph contains a much more serious mis-take, compared with the preliminary sentence, in that Mr. Pham Van Troi is not my husband’s staff and that the above-mentioned four witnesses worked in two different offices –not all in

my husband’s law office.

More seriously,

the appellate sentence has doctored admissible evidences. Whereas the preliminary sentence has gone as far as recording the subjective opinions of investigative agencies (“Troi and four other staffers of the Thien An Law Office were determined by inves-tigative agencies to be instigated by Nguyen Van Dai to engage in slanderous anti-State propaganda activities … ” (Preliminary Sentence, p. 3) the appellate sentence obviously con-verted these admissions into testimonies. The appellate sentence even includes fabrications that the above-referenced five witnesses had accused my husband of committing “acts of propaganda, misinformation and slander” with a pitch that my husband “had incited them to engage in anti-State propaganda activities.” (Appellate Sentence, p. 3). My husband’s de-fense lawyers have secured the statements from Mr. Troi and my husband’s staffers, who have unanimously declared that they were not engaged in slanderous anti-State propaganda nor they were instigated by anyone.

c) Contradictions with defendants’ statements at the trial

Many statements recorded in the appellate sentence are entirely contrary to the truth as it in-correctly records the declarations of the witnesses during the appellate trial. Before the Court of Appeal my husband admitted to penning only two articles titled “The Right to Form Politi-cal Parties” and “Vietnamese People Are Able to Build a Multi-Party System” –these two documents being proven not in violation of Vietnamese laws before the court. The recorded paragraph that my husband has

“admitted to authoring a number of articles among confis-cated materials” (Appellate Sentence, p. 5) is absolutely inaccurate. Only these two articles should have been recorded.

Before the court my husband admitted to having read only ONE document titled “Slandering Is Communists’ Occupation”. Also, he did not admit to reading other documents or commit-ting the act of “

disseminating propaganda and above-cited materials,” as indicated in the ap-pellate sentence (Appellate Sentence, p.5).

In the same manner, he confirmed his interviews with the three radio broadcasting stations BBC, VOA and RFA, but he had never

“admitted to responding online to reactionary or-ganizations” (Appellate Sentence, p. 5) .

Before the court of law Ms. Le Thi Cong Nhan did not state that she

“acted under the guid-ance and with the active support of Nguyen Van Dai,” as recorded on page 5 of the appellate sentence.

Also, before the court Ms. Tran Thanh testified that she worked regular office hours at the Viet Luat Company as an on-duty office assistant and consultant and that she did not know of nor participate in any courses. Defense lawyer Bui Quang Nghiem emphasized this point in his defense whereas in the appellate sentence Ms. Thanh is recorded to be the Thien An Law Office staff and to have confirmed my husband’s acts of spreading slanderous anti-State propaganda, as well as inciting her to engage in these propaganda activities.

Such errors exist in many sections of the appellate sentence, creating an absolutely false por-trayal of my husband’s behaviors.

3) Serious violations of criminal procedures

I am not repeating the serious violations that took place during the police investigation and the prosecution, as well as the preliminary court trial that I have already referred to in the attached plea. I will only present serious violations of the Code of Criminal Procedure during the Court of Appeal trial.

a)

Lack of witnesses and obstruction of witnesses

My husband’s lawyers suggested that the Court of Appeal summon a total of 17 witnesses, among whom there were the people who had been accused many times in the preliminary sentence such as Tran Van Hoa, Vu Quoc Dung, Nguyen Dinh Thang, Tran Ngoc Thanh, and Nguyen Van Ly. Only one third of the suggested witness list was summoned to testify. The court gave no reasons as to why the remaining list was not called forth. Some witnesses on the suggested list informed us that they dared not, having been intimidated, go to the court.

One important witness, Mr. Pham Van Troi, was arrested by the police immediately after he arrived at the gate of the Hanoi Supreme People’s Court for the appellate trial in the morning of November 27, 2007. This was a violation of the law on the part of the police. Mr. Troi was taken to the police station of Tran Hung Dao ward, Hanoi, and both on the way to and at the police station, he was brutally beaten up. After a 3-hour detention he was brought back to his residence and placed under local administrative supervision. Mr. Troi reported that prior to the appellate trial the Ha Tay province police had repeatedly visited his residence, threatening him out of his plan to go to Hanoi to serve as a witness. Obviously, the police obstructed a court-summoned witness. More seriously, judge Nguyen Minh Man did not act appropriately while presiding over the trial. He did not allow defense lawyer Le Cong Dinh to read witness Troi’s charge. [Troi filed a charge against the police’s harassment intended to prevent him from testifying before the Court of Appeal.] Judge Man claimed that the court had already re-ceived Troi’s request for absence with the assurances that his declarations with the investiga-tive police were still holding true. This clearly contradicted with the fact that just five minutes earlier court clerk Nguyen Hai Bang had reported that Mr. Troi was a “No Show”. As an ex-tremely important witness, Mr. Troi is the one who has witnessed, from start to finish, the re-lationships between my husband and college students from Ha Nam, and will be able to con-front, if need be, the students in search of the truth before the court of law.

b) Lack of consideration of evidences and new documents

One of the new documents my husband’s defense lawyers submitted to his dossier is my plea titled “My husband is a patriot. My husband is innocent,” in which I have presented many evidences to support my husband’s innocence. As mentioned above, the fact that the appellate sentence retains wrong decisions of the preliminary sentence shows the Court of Appeal dis-regarded the responsibility to examine new evidences, as provided for in Paragraph 2, Article 246, Code of Criminal Procedure.

My husband is a judicious lawyer who acts only on the basis of current laws. I share the views of my husband’s lawyers that the Court of Appeal should have applied all current laws, not just the Criminal Code, with respect to the trial of my husband’s case. It is my belief that in addition to Article 88 of the Criminal Code, the court should have applied the following Vietnamese and international laws:

• The International Covenant on Civil and Political Rights that Vietnam accessed in 1982, specifically Article 19 regarding the right to freedom of speech, which is further

interpreted in the General Comments of the United Nations Human Rights Committee, No. CCPR/C/21/Rev 1, issued May 19, 1989.

• The 2005 Law on the Signing, Accession, and Implementation of International Trea-ties, specifically Article 6 stipulating the precedence of international treaties over Vietnamese laws in the event of the latter contradicting with Vietnam-accessed inter-national treaties.

• The 2006 Law on Lawyers, specifically Article 3 regulating that the lawyer’s social responsibilities are to

“contribute to the protection of justice and development of eco-nomic issues, as well as to build a just, advanced, and democratic society.”

The above are totally new evidences as they were not provided at the preliminary court trial but later submitted as supplementary evidences by my husband’s defense lawyers to the Court of Appeal. During the appellate trial, both Judges Nguyen Minh Man and Cu Dinh Thang re-peatedly prohibited my husband’s defense lawyers from arguing the merits of international treaties. Judge Thang even declared that defendants’ acts would be judged guilty according to Vietnam’s Criminal Code only. No reference was made in the appellate to these new evi-dences and documents.

4) Shallow inquiries and interrogations

As discussed in Parts 1 and 2 above, the police and the People’s Procuracy have reached ambigu-ous judgments based on their sloppy investigations. My plea has pointed to these investigative mistakes. Judging from the developments of the appellate trial, I had an impression that my hus-band’s appellate sentence had been predetermined and that allowed debates were simply a for-mality. Many times, the prosecutor overrode the presiding judge when directing the course of the trial or preventing defense lawyers from questioning the witnesses.

The judges obstructed all my husband’s lawyers from defending his case. Lawyer Dang Trong Dung was interrupted for a total of 15 times while reading his defense. Many times, his argu-ments sounded fragmentary as he was not allowed to finish his points of defense. Most noticea-bly, a rowdy audience was allowed to intimidate the defending lawyers, even shouting for kick-ing them out, in which the presiding judge showed no interest to intervene.

The Court of Appeal allowed only over 30 minutes to argue for such a complicated case, thus making unavoidably erroneous judgments. The presiding judge and the prosecutor did not let the lawyers argue for the contents of the case while the presiding judge did not caution the procurator to respond directly to the lawyers’ questions. During the trial my husband appealed, to no avail, for an argument over his article titled “The Right to Form Political Parties” to determine which part of the article is of anti-State content. In brief, considering the civil rights provided for under the [Vietnamese] Constitution of 1992 and Vietnamese laws, as well as international treaties. My husband and his lawyers were not able to argue with the prosecutor for whether or not my hus-band (the subject) has committed a specific act (the objectivity of criminal acts), for a specific motive (the subjectivity) , against the State (the object),

On December 7, 2007, defense lawyers Le Cong Dinh, Dang Trong Dung and Bui Quang Nghiem submitted an appeal to the Chief Justice of the Supreme People’s Court with regard to violations of the law during the Court of Appeal trial, but they have yet received any responses.

For the above reasons, as well as according to Article 273, Code of Criminal Procedure, these grave violations are solid grounds for me to lodge a protest according to cassation procedures.

ARTICLE 273

: Grounds for lodging a protest according to cassation procedures:

Legally valid judgments or decisions shall be protested according to cassation procedures if one of the following grounds exists:

a Inquiries and interrogations at the court trial are shallow or insufficient.

b Court judgments or decisions are not consistent with the objectivity of circum-        stances.

c Grave violations of criminal procedures are committed during the investiga-tion, persecution, and trial.

d Grave mistakes are made in the application of the Criminal Code.

It’s worth noting that only ONE of the four grounds is required for cassation whereas all FOUR grounds of this article are violated in my husband’s case. They are: shallow inquiries and interro-gations; inconsistency of court decisions with the objectivity of circumstances; grave violations of criminal procedures; grave mistakes in the application of the Criminal Code.

It is, THEREFORE, by virtue of Article 274, Code of Criminal Procedure, that I am petitioning to the Chief Justice of the Supreme People’s Court and the Procurator-General of the Supreme People’s Procuracy for a protest according to cassation procedures. Considering the above grave violations,

my husband has been unjustly sentenced. In view of the fact that my husband has been imprisoned for more than 14 months, I hereby petition to the Court of Cassation for a speedy review of my husband’s case. I also suggest that the Court of Cassation record in my hus-band’s sentences specific evidences and arguments to avoid ambiguous decisions that had been reached at previous trials.

Respectfully yours,

Hanoi, May 12, 2008

Wife of Lawyer Nguyen Van Dai

Vũ Minh Khánh

Attachment: “My husband is a patriot. My husband is innocent” (My plea submitted to the Court of Appeal)
(ĐT)

June 2, 2008

LVX: BÀI PHÁT BIỂU 06-01-08 : tình hình thế giới và khu vực ĐN Á châu

BÀI PHÁT BIỂU 06-01-08.

1 – BÀN VỀ TÌNH HÌNH.

Dưới thời TT Clinton khi mối quan hệ Mỹ-Hoa đang ở đỉnh cao của lòng tin cậy giữa hai phía thì trên làn sóng này tôi phát biểu là cần đánh Hán , nhiều thính giả coi là mộng tưởng hoàn toàn không thể sảy ra được và trước sau gì thì Hoa-Kỳ vẫn cần nước Hán để bảo đảm cho nền kinh tế Mỹ được phát triển đều đặn và Hoa-Kỳ phải nhượng bộ Hán về các vấn đề liên quan đến an ninh của Á-Châu cũng như thế giới . Tất cả quý vị đều không mảy may tự hỏi xem tại sao tôi lại sớm đi đến kết luận mạnh bạo như vậy , ý thực của tôi là gì ?

Khi nhiều học giả thế giới nói về trật tự thế giới mới , tuy tôi nhắc đến nhiều lần nhưng luôn nhấn mạnh đến khái niệm về nền văn minh mới . Khi đặt ra vấn đề như vậy hẳn nhiên tôi tự hiểu rằng “ từ ngữ trật tự thế giới mới không đủ hàm súc để thể hiện những gì mà nhân loại cần làm cũng như hướng đi trong tương lai mà nhân loại cần theo “

Khi đặt ra các vấn đề liên quan đến chính quyền toàn cầu , luật pháp toàn cầu thậm chí cả tiền tệ toàn cầu , môi sinh toàn cầu …thì tôi hiểu rằng : “rất nhiều quốc gia sẽ chống đối quyết liệt chỉ vì các quốc gia ấy vẫn đắm chìm trong các giá trị cũ , khi mỗi quốc gia đều có quyền nhân danh quyền lợi của quốc gia mình để chiếm đoạt tài nguyên đem về làm giầu cho quốc gia mình mà không thèm đếm xỉa gì đến sự tồn tại của quốc gia khác “ Như thế tình trạng cá lớn nuốt cá bé cứ tiếp tục như lịch sử đã qua của lòai người vậy và rồi trong điều kiện vũ khí giết người hàng loạt hiện nay đang được phổ biến rộng rãi mà chẳng có luật pháp nào ngăn chặn được thì rồi ra thế giới này sẽ đi về đâu ? Chiến tranh trên quy mô toàn cầu là điều không thể tránh khỏi và sự hủy diệt của nền văn minh này là chắc chắn . Khi ấy hối cũng chả kịp.

Chúng ta hiểu rằng : “vấn đề của thế giới hôm nay không đơn giản chỉ là vấn đề của Mỹ với Hán ,với Nga hay với thế giới Hồi-Giáo ,hoặc giữa phương Tây với phương Đông nói chung ; Vấn đề của thế giới bây giờ là vấn đề bất quân bình giữa văn minh vật chất với trách nhiệm của con người trong việc đáp ứng với sự ngự trị tuyệt đối của vật chất và sự tồn vong của nhân loại này thuộc nền văn minh này “ nên việc giải quyết phải là toàn diện chứ không thể giải quyết lụn vụn được. Giải quyết lụn vụn tức là không giải quyết gì cả , như vậy thà rằng đừng giải quyết gì cả có thể lại hay hơn , vì ít nhất cái giá trị cũ vẫn còn cơ hội tồn tại trong một khoảnh khắc nào đó của lịch sử loài người . Đó là suy nghĩ của tuyệt đại đa số người thường hiểu biết rất ít về thế giới , thậm chí cả trong ban lãnh đạo của nhiều quốc gia vẫn còn đắm chìm trong các suy nghĩ lỗi thời do lịch sử của các quốc gia ấy để lại .

Đành rằng cuộc đấu tranh giữa con người với nhau và với thiên nhiên là liên tục không bao giờ ngơi nghỉ , nhưng cách thức đấu tranh cũng phải tiến bộ hơn song song với các tiến bộ mà con người đã đạt dược mới phải lẽ . Trong quá khứ sai lầm của con người , các cơ hội để trao đổi,tranh luận giữa con người với nhau là hiếm hoi nên mâu thuẫn được giải quyết thông qua chiến tranh ,chém giết,tước đoạt sự sống của người khác . Ngày nay , mọi sự đã đảo lộn hoàn toàn so với cái cung cách cổ điển ấy . Chiến tranh bây giờ – theo cách vận dụng kiểu cổ điển – là tự hủy đối với mọi phía , nhưng không làm gì cả cũng dẫn đến tự hủy.

Cho nên , chiến tranh theo cái nhìn hiện đại phải khác hẳn với bất cứ hình thức chiến tranh nào khác mà loài người đã từng biết đến . Chiến tranh bây giờ được quan niệm như là “ phương tiện thuyết phục tối hậu về một hướng đi mới mà loài người nhất thiết cần đi theo “ Như thế , khi nói đến chiến tranh , chúng ta đừng vội nghĩ chỉ là chiến tranh vũ trang như kiểu thế chiến trước đây khi hai phía dàn quân nơi trận tuyến được phân định rõ ràng và cũng chiến đấu trong tinh thần thượng võ – tức là có kẻ thắng người thua – để rồi cả hai phía có thể phải ngồi lại trong bàn hội nghị với sự trung gian của một ai đó để đi đến một thỏa hiệp thường có lợi cho phía chiến thắng .

Quá trình thuyết phục đối với các phía hiện nay thường là rất bí mật nên người ngoài cuộc thật không thể hiểu được những gì sảy ra trong hậu trường chính trị toàn cầu ,chỉ đến khi vào một lúc nào đó trong tiến trình thương thuyết – bên này hoặc phía kia muốn gây áp lực để dành lấy sự nhượng bộ của đối phương – thì một vài sự kiện mới được để hé lộ ra bên ngoài . Dĩ nhiên , đối với nhiều người quan sát không chuyên nghiệp thì dễ coi các biểu hiện ấy là hướng chính trong cách thức giải quyết vấn đề toàn cầu hiện nay ,nhưng đối với những người có sự hiểu biết sâu rộng hơn về các vấn đề của thế giới thì hướng chính được định bởi nhiều yếu tố tiềm ẩn khác thuộc về hướng đi của toàn cầu dựa vào lịch sử từng vùng cũng như nhu cầu ổn định của nền kinh tế toàn cầu khi cho biến cố này nổ ra ở chỗ này trong khi vẫn tìm cách ngăn chặn việc nổ ra các biến cố ở chỗ khác , thâm chí cả các vấn đề liên quan đến tâm lý chính trị cũng được xet đến để đi đến một quyết định như vậy.

Điều đó đòi hỏi chúng ta cần có các hiểu biết sâu rộng về thế giới để có thể đoán được là ở trong phòng kín họ bàn vấn đề gì liên quan đến thế giới và đặc biệt là vấn đề gì liên quan thiết thân đến ta để ta dự liêu các đáp ứng thích hợp.

Đó chính là mục tiêu của các chương trình phát thanh như thế này cũng như trên diễn đàn.Điều vừa nêu giải thích lý do tại sao tôi sớm đi đến kết luận về nhiều vấn đề của thế giới và thường là khẳng định chứ ít nói theo kiểu văn chương chữ nghĩa suông . Tôi thực lòng nghĩ rằng : văn chương chữ nghĩa suông không giúp ích gì nhiều trước các đòi hỏi cấp bách của tình hình cấp bách của đất nước ta vào lúc này . Thực ra mà nói thì các khẳng định ấy đều dựa trên một tầm nhìn thấu về nhiều vấn đề của thế giới như các mâu thuẫn về văn hóa,chủng tộc , về lịch sử …để đi đến các dự kiến về một kế hoạch toàn cầu mà nhân loại cần gấp rút thực hiện trước khi quá trễ.

Trên làn sóng này,tôi luôn khẳng định về vai trò lãnh đạo thế giới của Mỹ trong việc dẫn nhân loại đi vào văn minh mới ; Nhiều người không tin như vậy khi nghĩ rằng thế giới này đâu chỉ có Mỹ không thôi mà còn nhiều quốc gia khác nữa,rằng nước Mỹ như những gì đã xác nhận trong hơn nửa thế kỷ qua cho thấy họ đâu có thực tốt đến như vậy , họ vì quyền lợi của họ là trước tiên nên sẵng sàng hy sinh các quốc gia khác cho quyền lợi của nước Mỹ là trước tiên và trên hết.

Tôi không phản bác các suy nghĩ như vậy nhưng xin hãy nhớ mấy điều sau đây :

Thứ nhất – Nước Mỹ không có chủng (tộc) , họ là tổng hợp của tất cả các tộc khác trên đất nước này trên căn bản Hiến-Pháp.

Thứ hai – Tuy lịch sử của họ chỉ mới hơn 200 năm , nhưng họ lại là tổng hợp dến trên 5,000 năm lịch sử phương Tây có nguồn gốc từ vùng Lưỡng-Hà mà là lịch sử thành văn hẳn hòi chứ không phải chỉ là huyền sử.

Thứ ba – Nhìn lịch sử một quốc gia không thể lấy mốc thời gian 50 hay 100 năm để khẳng định rằng quốc gia ấy sẽ thế này thế kia được , mà phải đánh giá quốc gia ấy về những việc họ đã làm,họ đã và đang nghĩ và họ sẽ làm , cũng như điều kiện của thế giới mới được.

Thứ tư – Trong điều kiện của thế giới hiện nay , liệu người Mỹ có thể giữ thái độ “ cháy nhà hàng xóm bình chân như vại được không ? “ hẳn nhiên là không và thậm chí : “ khi đám cháy chưa phát khởi thì các kế hoạch dập tắt đã phải được dự liệu rồi mới phải “ . Có điều trớ trêu là cả thế giới này vì không nhìn thấy các đám cháy đang âm ỉ ở dưới nên khi thấy Mỹ cảnh báo hoặc khi cần ra tay dẹp đám cháy trước khi lan rộng thì cứ dựa vào đó để lên tiếng nói rằng Mỹ muốn thiết lập trật tự thế giới theo cách của Mỹ.

Thứ năm – Người Mỹ rất mực tin ở tinh thần Hiến Pháp và bản tuyên ngôn độc lập Mỹ , họ coi đó là sứ mệnh mà thượng đế đặt lên vai họ , cho nên họ mong muốn tinh thần của Hiến Pháp Mỹ sớm được phổ biến rộng rãi trên quy mô toàn cầu như một bảo đảm vững chắc cho sự ổn định lâu dài của thế giới trong đó có nước Mỹ.

Bây giờ xin trở lại với tình hình thế giới . Hơn 10 năm trước khi đặt ra vấn đề phải đánh gục nước Hán trước khi quá trễ,tôi âm thầm ngồi chờ một biến cố trọng đại sẽ sảy ra như là khởi đầu cho cuộc chiến tối hậu này . Khi biến cố 9-11 nổ ra tiếp theo sau là cuộc chiến lật đổ chế độ Taliban ở Afghanistan cũng như chế độ Sadam Hussein ở Irak cùng với hàng loạt các vấn đề sảy ra sau đó liên quan đến việc ổn định Irak sau Sadam Hussein mà các phương tiện truyền thông Mỹ và cả thế giới đều lên tiếng chỉ trích Hành-Pháp Mỹ là đã phạm quá nhiều sai lầm ở cả hai nơi ấy ; Tôi vẫn lên tiếng phát biểu quan điểm là “Hoa-Kỳ chẳng sai lầm gì ở cả hai nơi ấy đâu” , nhiều vị thính giả thắc mắc về nhận định này lắm . Sự thắc mắc như vậy cũng đúng thôi vì các vị nhìn vấn đề trên bình diện quân sự thuần túy mà quên rằng “ tự hậu mọi cuộc chiến đều là các cuộc chiến về mặt chính trị , nên yếu tố chính trị mới là chính yếu chi phối mọi quyết định trên chiến trường cũng như nơi Quốc-Hội hoặc Bộ Ngoại-Giao “

Vấn đề là chúng ta không thực sự hiểu được mục tiêu tối hậu của sách lược toàn cầu là gì thì không thể luận bàn được . Trên làn sóng này , đã nhiều lần tôi nói đến việc cần giải quyết nguyên ủy của bất ổn toàn cầu : “ đó là nước Hán “. Nước Hán nuôi một tham vọng rất lớn là muốn thống trị toàn cầu – điều này các bài viết sau đó đã được phân tích khá kỹ lưỡng rồi- hà tất phải trở lại “. Nhưng muốn giải quyết vấn đề Hán thì vòng vây phải xiết lại từ từ để Hán không hiểu rằng mình đang bị bủa vây nghiêm ngặt. Hai chiến dịch ở Afghanistan và Irak chính là nhằm các mục tiêu này ; Cho nên nhiều người khi nhìn cục diện Irak cũng chỉ thấy là vấn đề dầu hỏa như là việc Hoa-Kỳ muốn nắm lấy kho dự trữ này để thao túng thế giới mà quên hẳn rằng : “ việc chiếm lấy kho dầu này là nhằm đánh vào công lương đối với Hán “, với Afghanistan ngoài vấn đề nhất thiết phải lật đổ chế độ Taliban ở đấy – vì tất cả các sự tồi tệ mà chế độ này gây ra cho người Afghanistan cũng như đối với sự bất ổn trong toàn vùng Nam-Á – còn một ý đồ chiến lược khác rất mực quan trọng “ là chặn đường không cho Hán xâm nhập vùng dầu khí Trung-Đông.

Kế sách để đẩy Afghanistan rơi vào tay của Taliban và sự hình thành nhóm Al Queda cũng là một kế sách rất thần sầu vừa để thử nghiệm ý đồ thực của Hán đối với vùng dầu khí Trung-Đông vừa để nhóm cực đoan Hồi-Giáo quy tụ lại đấy để gây bất ổn cho thế giới để tạo cớ hủy diệt các nhóm cực đoan Hồi-Giáo nói chung. Cho nên đã từ lâu lắm rồi,tôi vẫn thưa với quý vị rằng : “ tình hình Trung-Đông đã giải quyết xong về mặt chiến lược “, trong thời gian qua tôi không giải thích thêm về nhận định ấy để làm sáng tỏ vấn đề vì chưa phải lúc chín mùi để làm việc ấy. Hôm nay đây , tình hình đủ chín mùi để giải thích thêm đôi điều để quý bạn hiểu thêm về tình hình phức tạp hiện nay.

Khi các vấn đề liên quan đến Đài-Loan hay Bắc Triều-Tiên nổi lên như các đe dọa cho sự ổn định trong vùng Thái Bình-Dương ,chả thiếu người nghĩ rằng cuộc chiến với Đài-Loan là không tránh khỏi . Tôi im lặng và vẫn khẳng định rằng “ Đông- nam-Á mới là hướng tấn công chính của Hán và tôi đã không ngừng cảnh báo về hiểm họa của Hán đối với nước ta , với toàn vùng Đông-Nam-Á cũng như Úc xét về lâu về dài “

Dưới thời TT Bill Clinton nước Hán cả tin ở sự thành công trong sách lược của mình trong việc đẩy Mỹ ra khỏi Á-Châu để về lâu về dài chiếm cả thế giới . Nhưng khi biến cố 9-11 nổ ra , Hán đi vào một cuộc hoảng loạn về mặt chiến lược thật sự khi không biết là rồi ra Ông Bush sẽ làm gì ? Khi Mỹ tấn công Afghanistan và Irak , lúc đó nước Hán mới biết rằng : “ đường bộ đi đến vùng dầu khí Trung-Đông nay bị khóa chặt rồi “ nên họ cần mở đường máu bằng cách mở rộng vai trò của hải quân cũng như không quân chiến lược để phá vỡ vòng vây đang từ từ xiết lại ,đồng thời tiến hành trên quy mô lớn nhằm tiến chiếm Đông-Dương cũng như Miến-Điện để đặt các vị trí tiền tiêu nhằm bảo vệ cho đường vận chuyển hàng hải . Các mũi dùi tấn công này phải được thực hiện âm thầm thông qua kinh tế , di dân và nắm thật chặt các đảng cầm quyền trong vùng Đông-Nam-Á để không tạo cớ để Mỹ có thể tiến đánh công khai được .Đó là điều mà báo chí thế giới gọi là “soft power” khi mô tả chiến lược hiện nay của Hán.

Hán lệ thuộc rất nhiều về dầu và lương thực để nuôi 1,3 tỷ miệng ăn , Hán không chọn giải pháp hợp tác với thế giới để cùng tồn tại trong hòa bình nên phải đối diện với sự tan rã trong chiến tranh.như một quy luật tất yếu.

Chỉ trong không đầy tháng qua , khi quân Hán tập trận ở vùng trung bộ nước Hán dựa trên giả định rằng : “Hán có thể phải chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh nguyên tử với Mỹ vào một lúc nào đó không xa “- sau khi đã rút ra vài kết quả của cuộc tập trận với Nga vào năm rồi – thì hai biến cố lớn sảy ra . Đó là cơn bão đánh ngay vào kho lúa gạo mà Hán cố chiếm lấy ở Miến-Điện với nước mặn tràn ngập vùng đồng bằng làm cho khả năng hồi phục của nguồn cung cấp này còn rất lâu mới hồi phục được ; Kế đến là trận động đất rất lớn sảy ra ở Tứ-Xuyên . Quả thực đó là trận động đất đầy nghi vấn vì mọi bí mật của Hán đều được chôn dấu ở vùng đất Ba-Thục này và cuộc tập trận cũng sảy ra ở vùng chẳng xa mấy với vùng bị động đất . Khi biến cố thiên tai ấy sảy ra ( mà có nhiều chắc chắn rằng do quân Hán đã vấp phải một sai lầm gì đó về mặt kỹ thuật nguyên tử ở trong lòng đất ) thì Hán nghĩ rằng : “ họ bị tấn công bằng vũ khí nguyên tử ; Cho nên trong 72 giờ đầu tiên khi trận động đất sảy ra,hầu như toàn bộ ban lãnh đạo ĐCS Hán bị tê liệt đến đỗi không hề dám điều động quân đội đến tiếp cứu (vì phóng xạ là chính yếu ) và bây giờ đây,Hán cũng chẳng cho ai tới các vùng nhạy bén ấy . Như vậy thiệt hại là vô cùng lớn lao, có thể làm mất đến hơn một nửa tiềm năng nguyên tử của Hán chứ đâu phải chơi.Dĩ nhiên , các cơ quan tình báo thế giới tiếp tục theo dõi và đánh giá mức thiệt hại này và chúng ta cũng phải mở to đôi mắt để đánh giá theo cách của ta .

Kể ra thì chỉ trong hơn một tuần lễ mà Hán bị thiệt hại như vậy thì cũng đau thật , vậy nước Hán sẽ làm gì trong những tháng ngày tới đây? Ta cứ chờ xem sẽ rõ. Nhưng có điều là Hán không còn dám dương dương tự đắc nữa đâu và theo lẽ tự nhiên , trong chiến tranh : “ khi đối phương yếu đi thì những người tướng thiếu trí tuệ mới không dám tung ra một đòn chí tử khác để quật ngã đối phương toàn diện “. Ta cũng chờ xem việc này rồi sẽ ra sao ?”

Tại sao chúng ta lại quá ưu tư về tình hình thế giới đến như vậy ? Xin thưa ngay rằng khi thế giới chưa biến thì vô phương thay đổi ở nhiều vùng trên thế giới được , vấn đề là phải giải quyết trọn gói một lần chứ không thể giải quyết từng vụ việc lẻ tẻ được . Một nước Hán đi vào xáo trộn từ bên trong thì mới là cơ hội để các quốc gia khác hồi sinh ; Khi ấy các vấn đề như Dafur,Miến-Điện hay VN sẽ được giải quyết ngay thôi ,các vấn đề về nguyên tử của Bắc Triều-Tiên hay Iran sẽ tự nó giải quyết mà không cần phải động binh .Nhưng cũng cần lưu ý rằng : “con thú khi dãy chết chắc chắn sẽ gây ra cảnh đổ vỡ đấy” ta cần cảnh giác về điều này mới được.

Với Mỹ thì không ai có thể trách cứ họ về bất cứ điều gì đã và đang sảy ra ở chỗ này hay chỗ kia , tuy vậy có một số dấu hiệu khả tín để có thể tiên liệu rằng : “ Hoa-Kỳ đang xúc tiến ráo riết việc chuẩn bị cho một thế cờ mới mà trong đó Hoa-Kỳ và đồng minh sẽ làm trụ cột cho kế hoạch bình định toàn cầu như một kế hoạch “ GRAND MARSHALL “ cũng như chuẩn bị việc tái cấu trúc toàn cầu trong tương lai .

Xin nêu vài điều liên quan : Thứ nhất là Nam Mỹ đang xúc tiến gấp rút hình thành một kiểu dáng của Liên-Hiệp Nam-Mỹ dựa trên mô thức của Cộng-Đồng chung Âu-Châu với chức vụ chủ tịch luân phiên cứ hai năm một lần . Tương lai của một tổ chức như vậy báo hiệu rằng rồi ra liên-hiệp các quốc-gia Nam-Mỹ sẽ trở thành một liên bang cũng chẳng xa.

Kế đến là việc Ứng cử viên TT của Đảng Cộng-Hòa John Mc Cain đang thúc đẩy tiến trình sớm hình thành Liên-Minh 100 quốc-gia Dân-Chủ để hoạt động ở bất cứ nơi nào mà LHQ thất bại . Dự án này đã được Ông Mc Cain nói tới trong bài diễn văn đọc tai viện đại-học Stanford hồi tháng 7 năm rồi và toàn bản văn đã được tôi dịch lai và có đăng trên web site . Như vậy liên minh 100 nước dân chủ rõ ràng là một bước chuyển tiếp để hình thành chính quyền toàn cầu để từ từ thay thế LHQ sau này . Như vậy sự song hành hai tổ chức chỉ có tính cách ngắn hạn vì còn phải chờ cho tình hình ở nhiều nơi khác chín mùi chẳng hạn như ở Đông-Nam-Á , Trung-Đông Hồi-Giáo,Châu Phi…Nhưng suy rộng ra thì Liên minh 100 nước dân chủ cũng hình thành bên cạnh nó một lực lượng quân sự thường trực có thể coi là lực lượng quân sự toàn cầu , cũng như nhiều tổ chức khác mang tính toàn cầu mà ta có thể mường tượng ra được .

Nhắc đến Ông Mc Cain , nhiều người lại nêu lên thắc mắc là tại sao tôi sớm đi đến nhận định là Ông Mc Cain chắc chắn sẽ là TT Mỹ sắp tới ; Dĩ nhiên , tôi đã dựa vào sự đánh giá mọi mặt của tình hình thế giới và nước Mỹ trước khi đi đến một nhận định như thế , bây giờ đây các ứng cử viên của Đảng Dân-Chủ có còn mảy may cơ hội nào để đánh bại Ông Mc Cain hay không ? Rõ ràng là không và thậm chí Đảng Dân-Chủ mất luôn cả thế đa số ở Thượng-Viện nữa là khác , vì bây giờ đây nước Mỹ cần gửi một thông điệp rất mạnh đến cho thế giới về quyết tâm của mình và Ông Mc Cain là người ở vị trí tối hảo để chuyển thông điệp như vậy đến cho thế giới và Ông Obama là người ở vị trí tối hảo để chuyển đến cho Châu-Phi cũng như Hồi-Giáo trên khắp thế giới về giá trị của dân chủ và tự do.

Nhưng không quên rằng : thế giới đang trong giai đoạn rất mực tế nhị và Hán chắc chắn sẽ thông qua Al Queda để làm một cái gì đó để phá vỡ thế bế tắc hiện nay của cả Hán lẫn Al Queda , thời điểm chuyển giao quyền hành sẽ là lúc được coi là nguy hiểm nhất nên vị Đô-Đốc Chủ Tịch Ủy-Ban Tham-Mưu Liên-Quân đã lên tiếng cho biết rằng Ông đã cho lập một nhóm chuyển tiếp nhằm chuẩn bị cho việc bàn giao . Các vấn đề như vậy từ trước đến nay chưa bao giờ được đặt ra trong chỗ công khai , hiển nhiên trong chỗ riêng tư thì chắc phải có , do thế tình hình thế giới trong những tháng tới đây báo hiệu nhiễu xáo trộn.

2 – BÀN VỀ VIỆT-NAM

Bất ổn ở trong nước đang ngày càng gia tăng đến hồi không thể giải quyết được nữa vì các nguyên nhân quốc tế cũng như quốc nội . Hẳn Hà-Nội nhìn biến cố ở Miến-Điện cũng như ở Tứ xuyên với đầy âu lo , hẳn Hà-Nội đọc và phân tích kỹ những gì mà chúng tôi đã phát biểu trên làn sóng này cũng như trên diễn đàn , họ càng lo hơn . Họ cảm nhận được rằng vận mệnh nước Hán đang đi vào thế bí không thể gỡ được nữa , nhưng Hà-Nội thực sự không hiểu được là điều gì sẽ sảy ra cụ thể cho họ. và rồi họ cần hành động ra sao cho hợp với chiều hướng mới hoàn toàn khác hẳn với tất cả các mưu tính của họ từ trước đến giờ .

Lấy kinh tế ra mà xét thì khi đôla mất giá 40% trong trận chiến kinh tế với Hán thì đồng bạc VN cũng mất giá 40% so với giá trước đây ,tiền tệ của Hán tự nhiên nâng giá lên 40% ,điều đó làm cho hàng của Hán bán tại Mỹ tăng giá 40% và dự trữ ngoại tệ bằng đồng đôla cũng mất 40% giá trị thực . Đó là đòn kinh tế đánh vào Hán nhưng VN bị trúng đạn lây (cố tình) vì CSVN đã trở thành tay sai cho Hán và vì kinh tế VN lấy đôla làm chỉ tệ giao hoán căn bản . Điều này thực ra trước đây gần năm tôi đã báo động rồi nhưng Hà-Nội đâu đủ khôn ngoan để mà thấy chiều hướng ấy , Bắc Kinh cũng chả thấy nói gì đến Hà-Nội . Thực ra thì nếu muốn chuyển hướng cũng chả được vì tránh chiêu này sẽ gặp chiêu khác dữ dội hơn , cho nên chiến tranh kinh tế mới thực sự thần sầu . Bây giờ có lẽ một số vị nếu tinh ý sẽ thấy tại sao Hoa-Kỳ cố tình làm ngơ trước sự thao túng của Bắc-Kinh đối với kinh tế Mỹ cũng như Hà-Nội với cộng đồng người Việt ở đây trong suốt hơn 30 năm qua .

Trong điều kiện của xã hội đầy bệnh hoạn như hiện nay thì liệu Hà-Nội có cơ may thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế hay không ? Câu trả lời rất rõ là không thể và cuộc khủng hoảng kinh tế ở VN là chắc chắn và ngày càng đến gần kề ,có thể chỉ trong các tháng sắp tới đây thôi . Nếu một biến cố thiên tai lớn sảy ra trong vùng thì sao ? điều này phải coi là rất hiện thực vì chấn động tuy di chuyển chậm trong lòng đất nhưng vụ động đất ở Tứ-Xuyên mới đây chắc chắn sẽ gây ra chấn động lớn ở nhiều nơi khác (đã có đến hơn 50,000 chấn động nhỏ sau trận động đất ở Tứ-Xuyên mới đây) . Điều này gây ra nhiều hiện tượng rất lạ lùng là : sau chấn động lớn thì các hậu chấn không nhiều đến như vậy, khi nó đã sảy ra nhiều đến như vậy thì ta phải tự hỏi là : “bên dưới lòng đất quân Hán để cái gì ở đấy “. Dù để cái gì ở đấy thì sóng chấn động chắc chắn sẽ giao thoa với các sóng khác để dẫn đến cú lớn hơn nữa là chắc chắn , nhưng ở đâu thì ta chưa thể biết rõ ràng được .

Thiên tai kết hợp với nhân tai sẽ xô ngã mọi chế độ chính trị đi ngược với đạo lý làm người như Hán,CSVN , hoặc Miến-Điện . Có điều ta cần đặc biệt quan tâm là : đối với Hán một vài cú như vậy chưa đủ để xô ngã Hán ngay được nên cần nhiều cú khác nữa mới vĩnh viễn chôn vùi chủ nghĩa bành trướng Hán được , để các quốc gia láng diềng của Hán có cơ hội hồi sinh đúng như điều mà cụ Lý-Đông-A đã nói hơn 60 năm trước.

Đó là bối cảnh chung đang chi phối tình hình trong vùng Á-Châu , chính bối cảnh này đã đưa nước Nhật cũng như Đài-Loan có hai chính phủ tỏ ra rất ôn hòa với Hán . Nhưng với ĐCSVN thì lại khác hẳn khi các phương tiện truyền thông quốc tế bắt đầu tỏ các dấu hiệu không còn dành cho Hà-Nội các cảm tình như trước đây nữa và tất cả đều lên tiếng cảnh báo về cuộc đại khủng hoảng toàn diện sẽ sảy ra trong tương lai gần . Khi dùng từ ngữ đại khủng hoảng thì điều đó có nghĩa là vừa kinh tế,chính trị đến xã hội để dẫn đến sự tan rã của chính quyền CSVN ở trong nước .

Khi Ông Phó Đại-Sứ Mỹ ở Hà-Nội mới đây tuyên bố rằng : “ tất cả các cấp lãnh đạo ĐCSVN đều có dính líu đến hệ thống tham nhũng có tổ chức “ Điều đó có nghĩa gì ? khi nó đi ngược hẳn lại với cung cách ngoại giao chuyên nghiệp là tuyệt đối không tuyên bố kiểu thẳng thừng như vậy . Khi đã tuyên bố như vậy thì điều đó có nghĩa là : “ Hoa-Kỳ chả còn tôn trọng nhóm cầm quyền ở Hà-Nội nữa” . Ta cần nhớ rằng lời tuyên bố ấy cũng chỉ được đưa ra sau khi Tứ-Xuyên bị động đất mà thôi .

Dĩ nhiên còn rất nhiều điều có thể luận bàn về các vấn đề liên quan , nhưng cứ tĩnh tâm quan sát cục diện vì các thay đổi nhiều khi sảy ra rất mau chóng nên cũng khó lường được được một cách chính xác .

Vấn đề thiết thân với đất nước ta cũng như cộng đồng người Việt hải ngoại vào thời điểm này trở nên cực kỳ cấp bách hơn lúc nào hết . Khi mới xuất hiện trên làn sóng này cách nay có lẽ cũng khoảng 11 năm , tôi có thưa với quý vị rằng : “ chúng ta cần chuẩn bị tinh thần cho những cuộc xuống đường hàng trăm ngàn người để biểu dương sức mạnh của ta và chuyển một thông điệp rất rõ ràng đến với bằng hữu của ta trên khắp thế giới “ . Tôi hiểu rõ rằng : “ lúc này đây tình hình thế giới là chín mùi cho các chuẩn bị như vậy và thế giới đang muốn nhìn ta để đánh giá cụ thể về ta .”

Bây giờ chẳng phải lúc để nói chuyên xuông nữa mà phải hành động quyết liệt , triệu người như một cùng sát cánh để đập tan kẻ thù truyền kiếp của ta là Hán và bè lũ tay sai của chúng là Hán-Ngụy (nói theo Stephen Young).

Có nhiều việc đã sảy ra mà nhiều khi ngay cả Ban Giám-Đốc Đài cũng không hay biết nói gì đến quý vị thính giả ít quan tâm đến thời sự . Tôi chỉ xin nêu ra một vấn đề thôi : “đó là tại sao nhiều đài phát thanh ở Cali cũng đã từng lấn sang địa bàn phía đông mà không thành công,và tại sao tất cả các tổ chức chính trị hải ngoại luôn lấy Cali làm địa bàn hoạt động chính . Phải chăng vì Cali đông dân,trình độ thấp nên dễ thao túng “ Tôi nghĩ rằng đằng sau đó có những bí ẩn của nó mà người ngoài khó lòng hiểu được cặn kẽ Những tổ chức ấy đều hiểu rằng : nếu muốn hoạt động hữu hiệu và nghiêm chỉnh thì họ phải có mặt ở thủ đô là Hoa-Thịnh-Đốn , ở Cali dù có mạnh cách mấy cũng chả có nghĩa gì . Với các đài phát thanh Cali nếu đến vùng phía đông cũng chỉ được ít tháng là phải dẹp tiệm , đâu phải là vì họ không đủ tiền để điều hành chi nhánh ở phía đông của họ , như vậy ta phải đi đến một kết luận rằng : “ họ phải rời phía đông vì một áp lực ngấm ngầm nào đó mà họ cảm nhận được chứ chẳng biết cụ thể ra sao.”

Điều này lại đặt ra một vấn đề khác phức tạp hơn rất nhiều đó là : “ trách nhiệm mà đồng bào ở phía đông phải nhận lãnh trong việc làm tiên phong cho cao trào thống nhất người Việt hải ngoại “ Điều vừa trình bày là rất chính xác và ngay cả với bản thân tôi đã từ lâu rồi nếu muốn hợp tác ở Cali là điều chả có vấn đề gì , nhưng tôi đánh giá là phía đông mới là lực lãnh đạo chính yếu đối với công cuộc xây dựng lại nước nhà sau này.

Bây giờ chính là giai đoạn thật sự chín mùi cho dự án lớn mà tôi đã thiết tha đề nghị các bạn thuộc thế hên 50 hãy can đảm đứng ra nhận lãnh lấy trách nhiệm trước đồng bào hải ngoại . Tôi cũng cần thưa với đồng bào ta ở Âu-Châu nơi đài tiếng nói Hải ngoại phủ sóng là nếu đồng bào ta ở Mỹ đứng lên làm một cái gì đó đúng đắn,nghiêm chỉnh đàng hoàng thì xin đồng bào ta ở Âu-Châu cũng đáp ứng hết mình. Về phần mình , một lần nữa tôi nhắc lại là sẵn sàng đặt dưới sự điều động của thế hệ 50 và sẵn sàng đóng góp tiền bác đúng mức cho công cuộc ấy . Chúng ta cần 10 triệu để mọi hoạt động đi vào chuyên nghiệp và hữu hiệu ngay từ phút đầu và tuyệt đối không để bất cứ tổ chức nào xâm nhặp để thao túng . Cả cộng đồng người Việt hải ngoại tại Mỹ này là gần 1,5 triệu người mà không đóng góp được 10 triệu thì làm sao làm việc lớn được.

Xin nhớ làm lòng rằng đây là trận đánh Hán quyết liệt đồng thời đặt nền tảng cho việc xây dựng lại đất nước trong tương lai chứ không phải chỉ là lập đảng này đảng nọ như đã từng sảy ra trong quá khứ.  Xin hãy cứ xem sự kiện mới sảy ra cách nay vài ngày ở Phú-Quốc , khi một tổ chức Phục-Quốc gồm nhiều chuyên viên kỹ thuật đã tự nhận là đã phóng một bom bay cho nổ ngay trên doanh trại quân đội CSVN ở Phú-Quốc . Sự kiện này được hầu hết các hãng thông tấn quốc tế nói tới một cách mau chóng thì ta phải coi đó là một tín hiệu rất mạnh gửi đến cho Hà- nội và cả Bắc-Kinh nữa .  Việc ấy càng xác quyết rằng : thời điểm hiện nay là rất chín mùi cho các chuẩn bị toàn diện cua chúng ta.

Lê-Văn-Xương

Chúng ta có thể rút ra được bài học gì từ biến cố 30 tháng 4 năm 1975

 

Báo Việt Luận, Úc châu,  phỏng vấn Ls Trần Thanh Hiệp, nguyên Luật sư các Toà Thượng Thẩm Saigon và Paris, cựu Giáo sư trường Đại Học Chính Trị Kinh Doanh Đà Lạt. Hiện định cư tại Pháp và là đương kim Chủ Tịch Trung Tâm Việt Nam về nhân quyền, trụ sở đặt tại Paris.

VL :Thưa, chúng ta ngày nay có thể rút ra đưọc bài học gì từ biến cố 30/04/75  .

TTH. :Hơn ba mươi năm đã trôi qua. Chúng ta đã rút ra nhiều bài học về biến cố 1975 sau khi miền Nam bị miền Bắc đánh chiếm rồi. Tuy vậy theo tôi mỗi năm vẫn học hỏi thêm được những bài học mới, nhờ những nguồn thông tin mới và nhất là những suy nghĩ, những phán đoán mới.

Tôi xin bàn về hai trong những bài học mới này

Thứ nhất là bài học về quá khứ. Thật ra bài học này không còn mới nữa vì năm nào vào ngày 30 tháng Tư chúng ta cũng lục lọi trong trí nhớ, trong tình cảm và nhất là trong sử liệu mong tìm cho ra được sự thật. Nhiều câu hỏi vẫn còn đè nặng trên lương tâm chúng ta. Đó là tại sao miền Nam thất thủ? Lỗi tại ai? Liệu với thời gian biến cố này có bị xóa nhòa đi không? Hay nếu còn ai nhắc nhở đến nó thì cũng chỉ như là một chi tiết nhỏ của lịch sử? Nhưng vì sao phải nhớ? Phải chăng ôm hận để phục hận, bên này bên kia, người ta đã chẳng ồn ào kêu gọi xóa bỏ hận thù đó sao? Đã có nhiều giải đáp rồi nhưng biến cố 30/04/1945 dường như vẫn “trơ gan cùng tuế nguyệt”. Vì còn những vùng tối đang che phủ sự thật. Cần làm mới lại bài học cũ về quá khứ để có thể đi gần hơn nữa tới sự thật. Bằng cách thay đổi góc độ nhìn vấn đề, mở ra những chân trời mới.

Trước hết để nhận định lại cho chính xác chuyện thắng bại. Trong biến cố “Tháng Tư đen” ai thắng, ai thua? Dĩ nhiên bề ngoài thì quả thật hai nhân vật cầm quyền lúc đó, Tướng Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu có những ứng xử của kẻ bại trận đã đầu hàng. Nhưng trong trường hợp nào Tướng Minh đã trở thành Tổng Thống? Phiên họp chợ chiều của cái gọi là Quốc hội miền Nam trao quyền Tổng thống cho tướng Minh đã chẳng ra thể thống gì cả vì nó bị nhiều hà tì cả về pháp lý lẫn chính trị. Đó là chưa kể sự lật lọng của phe miền Bắc đang trong vòng thương lượng với miền Nam, lại trở mặt để chuyển sang đánh chiếm bằng vũ lực. Dĩ nhiên, xét bề ngoài thì miền Nam đã thua. Theo lô gích cũ thời quân chủ thì “đuợc làm vua thua làm giặc”. Nhưng bề trong thì không thể hoàn toàn theo lô gích cũ này được. Kể từ năm 1945, phải theo lô gích mới là lô gích dân chủ. Quân và dân miền Nam không thua hay cũng có thể nói “chưa thua” vì đã được đánh đâu mà khẳng định ai thắng ai thua! Quân và dân miền Nam đã chỉ bị bố trí để “thua”. Cộng sản Bắc Việt huyênh hoang đã đánh cho Mỹ cút, cho Ngụy nhào. Phe quốc gia cũng có người nói “Đồng minh tháo chạy”. Sự thật, Đồng minh không chạy vì thua mà chỉ “chạy làng” trong cuộc chơi với miền Nam thôi. Ông Kissinger trong cuộc mật đàm với Hà Nội đã thỏa thuận với Hà Nội nhiều điều khoản không cho Saigon biết trong đó có việc bộ đội cộng sản miền Bắc không buộc phải rút khỏi miền Nam, còn người Mỹ thì nhất định sẽ rút hết ra khỏi miền này. Mới đây người ta tìm ra được những yếu tố để, qua Kissinger, kết luận về lập trường của Mỹ là từ năm 1972, Hoa Kỳ đã âm thầm xác nhận chuyện sẵn sàng chấp nhận cho quân đội Cộng Sản Bắc Việt chiến thắng, nếu điều này xảy ra sau khi quân đội Mỹ rút khỏi miền Nam. Kissinger có mói với Chu Ân Lai rằng “Chúng tôi không tính đến chuyện tiêu diệt Hà Nội, và ngay cả chuyện thắng Hà Nội cũng không được chúng tôi tính đến nữa. Nếu có thể sống với một Chính Phủ Cộng Sản ở Trung Quốc, thì chúng tôi cũng có thể chấp nhận Chính Phủ Cộng Sản ở Ðông Dương”. Nhiều người vẫn hay tưởng rằng đó là đường lối riêng của Kissinger. Kỳ thực từ đầu thế kỷ trước, nhiều nhà ngoại giao Mỹ cùng thời với Lenin, Stalin như Bullit, Kennan, Bohlen đều có những lúc chủ trương sống chung với cộng sản. Nhưng người đã để lại dấu ấn đậm nhất về đường lối sống chung này là Tổng thống Frankling Roosevelt. Cựu Thủ tướng Anh, Anthony Eden, năm 1943 sau một buổi tối làm việc với Tổng thổng F.Roosevelt đã nói đại ý rằng mối quan tâm lớn đang ám ảnh Tổng thống Mỹ là tìm hiểu xem có thể làm việc với Nga ngay trong lúc này và cả sau chiến tranh nữa. Hội nghị Yalta gồm Nga, Anh và Mỹ chia đôi thiên hạ đã không thể chào đời nếu không có Tổng Thống F. Roosevelt bởi lẽ Tổngt Thống Roosevelt mơ ước một trật tự hậu chiến do 4 cường quốc Anh, Mỹ, Nga và Trung Hoa thiết lập và bảo vệ….Những dân tộc nạn nhân của độc tài cộng sản bản địa cứ tưởng rằng tư bản Mỹ không bao giờ tính chuyện sống chung với cộng sản.

Người ta tự hỏi những nhà lãnh đạo miền Nam Việt Nam cho đến năm 1975 khi hợp tác, đúng hơn, khi dựa vào Mỹ để theo đuổi cuộc chiến tranh chống cộng sản, có tưởng lầm như vậy về đường lối chống cộng của Mỹ hay không. Nếu thấu triệt được tiền lệ lịch sử về chống cộng của Mỹ thì lỗi để mất miền Nam không phải chỉ do Đồng minh đã bỏ rơi mà là do  miền Nam không nêu lên một cách nghiêm chỉnh câu hỏi mình có gì để Mỹ tính chuyện “cùng làm việc” như Mỹ đã tính với cộng sản. Ôn lại bài học 1975 không phải để oán Mỹ, thậm chí để chống Mỹ, mà là để hiểu rõ người Mỹ hơn nữa và nếu muốn có Mỹ làm chỗ dựa để đánh bại độc tài, xây dựng dân chủ.

Sau nữa, cũng phải nói rằng chẳng có gì bắt buộc cộng sản miền Bắc phải cưỡng chiến miền Nam nếu họ thực tâm muốn dân chủ hóa đất nước. Hiệp định Paris 1973 đã trù liệu một giải pháp lập lại hòa bình mở đường cho dân chủ với những bảo đảm quốc tế chưa từng thấy. Sử liệu cũng như tình hình chính trị thực tế trên 30 năm qua đã chứng tỏ rằng Hà Nội đã không quan tâm gì tới dân chủ đích thực mà chỉ nuôi ý đồ thôn tính miền Nam để thực hiện giấc mộng tiểu bá quyền bằng chuyên chính trong vùng Đông Dương cũ. Đó là lý do nòng cốt của biến cố 1975 chôn vùi chế độ chính trị dân chủ non trẻ ở miền Nam. Ghi nhớ biến cố ấy không phải để ôm ấp thù hận mà để quyết tâm đưa dân chủ thay thế độc tài.

Bài học thứ hai là bài học về tương lai. Cuộc xung đột với độc tài miền Bắc năm 1975 đã chấm dứt với ưu thế tuyệt đối nghiêng về phía Hà Nội. Chế độ VNCH vì vậy đã tiêu vong. Cũng là điều tất nhiên nếu cứ mỗi năm khi nhắc tới biến cố 30/04/1975 thì người ta lại nói miền Nam là nước bại trận. Nhưng lịch sử ngày càng cho thấy rõ là thế bại trận này đang có cơ chuyển thành thế thắng. Cứu cánh chính trị của cuộc xung đột võ trang được gọi là “chống Mỹ cứu nước” nay đã phơi bày thực chất của nó đó là cả một mưu kế đoạt quyền, cướp của phục vụ cho tham vọng đảng tranh của Đảng Cộng sản Việt Nam mà thôi. Xương máu, tiền bạc, của cải đồng bào đã đổ ra không phải để giải phóng cho dân tộc mà để cho những lãnh tụ cộng sản tự phong lên ngôi vua tập thể. Trước hiện tình đất nước, chuyển bại thành thắng là điều khả thi. Thắng hay bại là do con người tự tạo ra cho mình. Biến cố 30/04/1975 không phải là một bản án chiến bại chung thân đối với nhân dân miền Nam Việt Nam cũng như đối với tât cả những người dân chủ trong cả nước. Chế độ độc tài sẽ phải bị thay thế nếu tất cả những người dân chủ nhất tề đứng lên bắt tay vào chuyện thay thế đó. Tương lai trước mắt của Việt Nam đang và sẽ là Dân Chủ đích thực chứ không phải là độc tại giả dạng dân chủ.   

Bên cạnh câu hỏi chánh về “Bài học 30/4/75” chúng tôi còn có một câu hỏi khác dành cho LS Trần Thanh Hiệp:

Luật sư là một thành viên của Phái đoàn VNCH tham dự Hòa đàm Paris . Xin Luật sư vui lòng cho biết ý kiến của Luật sư về Hiệp định Paris.

TTH. : Mỗi khi nhắc tới Hiệp định Paris 1973 tôi đều thấy không được thoải mái. Tuyệt đại đa số thành viên của Phái đoàn đều là luật gia. Khởi đầu hai thế hệ luật gia chúng tôi rất tin tưởng vào hy vọng có thể đóng góp một phần nhỏ vào việc trù liệu một giải pháp lập lại cho đất nước một trật tự dân chủ, hòa bình có bảo đảm quốc tế vững chắc. Nhưng một thời gian sau, chúng tôi đã nhận thấy được rằng việc này không tùy thuộc vào kiến thức chuyên môn cũng như lương tâm của chúng tôi, những phiên họp hàng tuần ở Trung tâm Kléber chỉ là những màn kịch làm phông cảnh trang trí cho một cuộc sắp xếp bí mật ở bên trong giữa Mỹ và Hà Nội. Cho nên anh em chúng tôi, những người đã khuất cũng như những người còn sống đều không hay nói, không muốn nói về Hiệp định Paris.

Trong tâm trạng đó, tôi muốn đặc biệt nhấn mạnh trên mấy điểm:

Thứ nhất, Hiệp định Paris không hề phản ánh những thương thuyết tại phòng hòa đàm ở Trung Tâm Kléber, Paris. Nó là con đẻ của Kissinger và Hà Nội.

Thứ hai, tuy về mặt chính trị đã có nhiều điều khuất tất tôi không bàn tới ở đây vả lại cũng còn chưa được đưa đủ ra ánh sáng, nhưng về mặt pháp lý thì đó là một văn bản có một nội dung nghiêm túc. Nó đã bày tỏ sự tôn trọng những quyền cơ bản của một dân tộc, đặc biệt nó còn minh thị công nhận cho nhân dân miền Nam Việt Nam có quyền tự quyết và đảm bảo cho nhân dân miền Nam được hành sử quyền này một cách dân chủ. Để ôn hòa chấm dứt xung đột, một thủ tục hòa giải giữa các bên đã tham gia chiến tranh đã được trù liệu và một cơ cấu tập hợp đủ các bên này sẽ đứng ra áp dụng thủ tục ấy. Sau hết, hơn mười quốc gia trong đó có đủ 5 thành viên thường trực của Hội Đồng Bảo An đã ký vào một Định Ước Quốc Tế để bảo đảm cho việc thi hành Hiệp Định Paris được tôn trọng và thi hành nghiêm chỉnh.

Như vậy, nếu các bên hữu quan muốn tìm một gỉai pháp vừa chính trị vừa pháp lý để chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình cho Việt Nam thì phải nói khó kiếm được một văn bản nào lý tưởng hơn Hiệp định Paris 1973. Nhưng các thế lực chính trị và nhất là CSVN đã chỉ muốn áp đặt giải pháp chuyên chính của mình, Vì vậy, sau cùng Hiệp định Paris 1973 vẫn còn đó nhưng không hơn gì một mảnh giấy lộn.

Lời cám ơn của Việt Luận

Sau bài trả lời của LS Trần Thanh Hiệp, chúng tôi xin chấm dứt loạt bài “Chúng ta có thể rút ra bài học gì từ biến cố 30/4/1075”.

Chúng tôi xin thành thật cám ơn LM Nguyễn Hữu Lễ, các ông Stephen Young, Phan Văn Song, Vũ Ngọc Tấn, Hồ Văn Kỳ Thoại, Nguyễn Gia Kiểng, Bùi Tín, Nguyễn Huy Hùng, Vũ Quốc Thúc và Trần Thanh Hiệp. Hai cụ Trần Thanh Hiệp và Vũ Quốc Thúc mặc dầu đã ngoài 80 tuổi nhưng vẫn sẵn sàng nhận ngay lời mời đóng góp, Việt Luận xin ghi nhận tất cả những tấm lòng của quý vị và chúng tôi nghĩ rằng những kinh nghiệm và kiến thức của quý vị trình bày trong cuộc phỏng vấn này sẽ hữu ích cho độc giả của Việt Luận và sẽ là một tài liệu cần thiết cho những nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam sau nay.

(DT)

Older Posts »

Blog at WordPress.com.