Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

July 27, 2008

Giết Người Để Diệt Khẩu? Chồng Và Anh Rể Của Dân Oan Mai Thị Nở Bị Giết Chết Tại Đồng Nai!!!

Dân oan Mai Thị Nở là người đội nón màu xanh bên tay trái

 

Ngày 20 tháng 07, 2008  vừa qua tại Đồng Nai, một vụ giết người đã xãy mà hai nạn nhân là anh Hùynh Văn Phong-  chồng của dân oan Mai Thị Nở; và người anh rễ của chị là anh Nguyễn Trung Lâm.

 

Trong thời qua quý bạn đọc cũng đã nhìn thấy hình của dân oan Mai Thị Nở cùng hai người con của chị – một trai và một gái ra Hà Nội khiếu kiện đất đai và tố cáo tham nhũng tại Đồng Nai. Vào ngày 11 tháng 06, 2008 chị đi cùng với một số dân oan khác đến biểu tình tại khu tập thể Hòan Cầu nơi cư ngụ của thanh tra Trần Văn Truyền; và chị đã bị bắt về đồn công an Ô Chơ Dừa. Do con trai của chị bị bệnh tim nên sau khi được thả ra, chị đã phải đưa con về lại Đồng Nai chữa bệnh. Về sự kiện này quý bạn đọc có thể tham khảo các bài cũ tại các đường link sau đây:

 

http://www.vietnamexodus.org/vne0508/modules.php?name=News&file=article&sid=146

http://www.vietnamexodus.org/vne0508/modules.php?name=News&file=article&sid=147

http://www.vietnamexodus.org/vne0508/modules.php?name=News&file=article&sid=152

 

Đến ngày 20 tháng 07, 2008 thì chồng chị và anh rể của chị bị giết chết. Chúng tôi liên lạc được với chị Mai Thị Nở tại Đồng Nai để hỏi thêm về sự kiện này. Theo chị Nở thì cái chết của anh Hùynh Văn Phong chồng chị và anh rể chị – Nguyễn Trung Lâm – là hệ quả của việc chị đi khiếu kiện và tố cáo tham nhũng chứ không phải là việc thanh tóan giữa các nhóm xã hội đen như một vài tờ báo trong nước đưa tin. Sự kiện như thế nào, xin mời quý bạn đọc theo dõi

 

Lưu ý: có một số hình ảnh nạn nhân mà chị Mai Thị Nở đồng ý cho chúng tôi đăng tải ; và những hình này rất “nhạy cảm”; nếu như có quý bạn đọc nào “nhạy cảm” xin đừng vào trang trong.

Đọan 1

 

 Tốc Độ 56K Modem

 Lấy Xuống Máy Nghe

 Xin bấm vào đây để nghe

 Xin bấm vào đây để lấy xuống máy nghe

Đọan 2

 

 Tốc Độ 56K Modem

 Lấy Xuống Máy Nghe

 Xin bấm vào đây để nghe

 Xin bấm vào đây để lấy xuống máy nghe


Dân Oan Mai Thị Nở – Sinh năm : 1979 đang ôm quan tài của chồng là
Huỳnh Văn Phong. Phong chết để lại một vợ và ba con thơ dại.

– Đứa con trai lớn nhất là : Huỳnh Mai Anh Dũng – Sinh năm : 1998

– Đứa con gái thứ hai là : Huỳnh Thị Ngọc – Sinh năm : 2003 vừa
qua vào ngày 11-6-2008 sáng sớm đến khu Hoàn Cầu đón ông Tổng Thanh
Tra Chính Phủ kêu oan bị công an Phường Ô Chợ Dừa bắt vào đồn

– Đứa con gái thứ ba là Huỳnh Thị Hồng Hạnh – Sinh năm : 2004
vừa qua cũng bị bắt vào ngày 11-6-2008 ở phường Ô Chợ Dừa – Quận Đống Đa – Hà Nội trong thời gian vừa qua mấy mẹ con chị Mai Thị Nở thường xuyên ở Hà Nội Tố Cáo bọn Tham Những của Huyện Trảng Bom chiếm đoạt 2415 ha đất


nạn nhân chết là Huỳnh Văn Phong – chồng chị Mai Thị Nở – Sinh năm : 1978 – Những dấu may trên người là sau khi khám nghiệm tử thi


đám tang của nạn nhân Nguyễn Trung Lâm,bỏ lại một vợ hai con.

– Vợ là Huỳnh Thị Bé – Sinh năm : 1973

– Con trai lớn là Nguyễn Hoàng Minh Hiếu – Sinh năm : 2002

– Con trai kế là Nguyễn Hoàng Phi Long – Sinh năm : 2004


Xác của nạn nhân Nguyễn Trung Lâm bị đâm chết ngay tại hiện trường vụ án,cảnh nhân dân quanh vùng đang đứng xem


Nạn nhân bị đâm chết tại chỗ là Nguyễn Trung Lâm – Sinh năm 1976. Bị đâm trong tình trạng ôm cổ một tay phải và một tay trái cầm ao đâm ngay tim. Tên Dũng quen với Trung Lâm và dùng thủ đoan đê hèn này.

Khi đâm nạn nhân còn bị ngoáy vào tim nên đường kính mở rộng

Audio phỏng vấn:
1-  Mai Thi No – PV: csvn giet nguoi diet khau
2- Download Mai Thi No – PV: csvn giet nguoi diet khau – 2
http://www.vietnamexodus.org/vne0508/modules.php?name=News&file=article&sid=440

Advertisements

July 13, 2008

Tin khẩn: Ms Chính bị công an Pleiku đánh đổ máu

HIỆP HỘI THÔNG CÔNG TIN LÀNH CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM
Vietnamese People’s Evangelical Fellowship (VPEF)
Tổ 10 – Hoa lư – TP. Pleiku – Gia lai
Email: vpef. vn.2007@gmail. com
Mobifon: 0939726405

—————–o0o——————

THÔNG BÁO KHẨN
Việt nam, ngày 12/07/2008

Kính gửi:
– Các Hội Thánh Tin Lành Trong Và Ngoài Nước
– Các Cơ Quan Truyền Thông Báo Chí Ngôn Luận
– Các Cơ Quan Bảo Vệ Nhân Quyền Và Tự Do Tôn Giáo

VPEF xin thông báo

Vào lúc 19h tại cổng nhà Ms Nguyễn Công Chính, thuộc tổ 10, phường Hoa lư, thành phố Plei ku, tĩnh Gia lai, cháu Đinh Văn Bình 13 tuổi (Sắc tộc H’rê) là con nuôi Ms Chính, đang chơi với cháu Nguyễn Trần Công Hiệp, con trai Ms Chính ở tại cổng nhà. Bình và Huy đang chơi trước cổng nhà thì ông Rơ Chăm Thố, một công an an ninh thành phố Pleiku thường xuyên canh gác Ms Chính, kêu cháu lại đánh một bạt tai vào má bên phải, và chửi “Đồ nhóc con”. Hai cháu Bình và Huy chạy vào nhà báo cho Ms Chính biết.

Ms Chính liền ra gặp ông Thố và ông Hiền, một công an an ninh khác thuộc PA38 tỉnh Gia lai cũng đóng chốt canh gác Ms Chính mỗi ngày, hỏi: Tại sao các anh là công an lại đi đánh trẻ con? Ông Thố trả lời: Tôi đánh hồi nào? Cháu Bình nói: “Ông đánh mặt tôi sưng lên đây nè!” Ông Thố nói: “Mày láo!” Ms Chính bảo vợ là bà Trần Thị Hồng lên báo cho ông Bằng tổ trưởng tổ dân phố xuống làm chứng. Khi Ms Chính mới vừa nói dứt câu thì ông Thố đánh một cái vào bụng Ms Chính. Ms Chính quay lưng lại thì thấy ông Hiền quơ tay qua một cái, một vật gì giống như con dao đâm xẹt qua tay trái Ms Chính, vết đứt dài khoảng 10 phân chảy máu. Sau đó ông Hiền đấm hay cầm một cục đá đập một cái vào mắt phải của Ms Chính, máu trong mắt phun ra thành vòi, hiện nay mắt phải Ms Chính bị sưng húp và có nhiều vết xước xung quanh mắt.

Mục sư Nguyễn Công Chính, đang đảm trách Chủ tịch Hiệp hội Thông công Tin lành các dân tộc Việt nam (VPEF) đã trải qua 60 ngày bị công an thẩm vấn vì lý do đấu tranh cho nhân quyền và tự do tôn giáo tại Việt nam. Vào ngày 28/5/2008, chính quyền Gia lai tổ chức một lực lượng có hơn 70 người đến khám xét nhà và tịch thu ổ cứng CPU, các giấy tờ văn kiện sinh hoạt các Hội Thánh của VPEF đem đi.

Hiện nay Ms Chính bị công an quản thúc cấm không cho ra khỏi nhà bằng lệnh miệng từ ngày 8/7/2008 cho đến nay,

VPEF cũng xin nhắc lại: Ms Nguyễn Công Chính là người sống 20 năm qua tại đất nước Việt nam, không được chính quyền CSVN cấp Hộ khẩu, CMND, ngay cả con ông cũng không có giấy khai sinh?

Công an CSVN tìm mọi cách phân hóa, trấn áp, triệt hạ, xóa sổ Hiệp hội thông công Tin lành các dân tộc Việt nam.

Chúng tôi, thuộc hội VPEF (Hiệp Hội Thông Công Tin Lành Các Dân Tộc Việt Nam) xin thông báo tin này đến quí Hội thánh và xin tiếp tục cầu nguyện cho Ms Nguyễn Công Chính và gia đình ông. Cũng xin chuyển thông báo này đến quí cơ quan truyền thông báo chí ngôn luận và xin phổ biến rộng rải cho mọi nơi được biết, về việc công an CSVN vi phạm nhân quyền đàn áp tôn giáo, đánh đập gây thương tích trầm trọng cho người dân. Mong quí vị lưu tâm tiếp tục theo dõi cách chính quyền CSVN giải quyết vụ này như thế nào, trong khi CSVN đang là chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.

Thành kính thông báo!

TM. VPEF
Ms Y-Bon-Niê
http://tiengnoitudodanchu.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=6155

June 7, 2008

Từ Thực-dân Ðến Cộng-sản: Phần 2: Nước Mất Lại Còn

Hoàng-văn-Chí – Bản dịch của Mạc-Định

Từ Thực-dân Ðến Cộng-sản  
• Hoàng-văn-Chí

From Colonialism To Communism
Một Kinh-nghiệm Lịch-sử Của Việt-nam

• Bản dịch của Mạc-Định

—— o0o ——

PHẦN 2

NƯỚC MẤT LẠI CÒN
Dẫu cường nhược có lúc khác nhau
Song hào kiệt đời nào cũng có.

BÌNH NGÔ ÐẠI CÁO
(1427)

Chương 3

“BÁC HỒ, VỊ CỨU-TINH CỦA DÂN-TỘC”

Nhìn một cách tổng quát thì có thể nói Cách-Mạng Việt-Nam bắt đầu bằng phong trào Quốc-gia và kết thúc với chế-độ Cộng-sản. Trong hai thế-hệ liên tiếp những người Việt-Nam yêu nước đã đấu tranh dành độc-lập quốc-gia. Họ không thành công nhưng họ giữ ngọn lủa cách-mạng không lúc nào tắt hẳn, và những kinh-nghiệm xương máu của họ đã giúp cho Cộng-sản chiến thắng với danh-nghĩa giảI-phóng quốc-gia, sau một thời kỳ hoạt động trong bóng tối tương đối ngắn hơn. So với phe quốc-gia, Cộng-sản ít bị thiệt hại hơn, và đã thành công tương đối dễ dàng vì nhiều lý do. Trước hết là nhờ sự lãnh đạo khôn khéo của Ðệ Tam Quốc-Tế và hai là nhờ lòng quả cảm của các đảng viên Cộng-sản. Hơn nữa, vì chủ nghĩa Mác-xít có tính chất cấp-tiến nên Cộng-sản đã thu hút được những phần tử trí thức có lý-tưởng, đồng thời huy động được đông đảo quần chúng bằng cách hứa hẹn một con đường tắt đưa tớI mức sống cao hơn. Vì tất cả những yếu tố này mà Cộng-sản mỗi ngày một mạnh thêm, trong lúc phong trào quốc gia mỗi ngày một suy yếu dần. Nhưng cuối cùng sở dĩ Cộng-sản đã thành công, phần lớn là nhờ những chiến thuật hết sức biến ảo, lúc thì hiện hình là Cộng-sản, lúc thì tự nhận là Quốc-gia, tùy theo tình thế đổi thay mà vẫn giữ kín mục tiêu chiến luợc bất di bất dịch của mình.

Cộng-sản bắt đầu xuất hiện ở Việt-Nam từ 1925, là năm ông Hồ-Chí-Minh thành lập Thanh Niên Cách Mạng Ðồng Chí Hội, tuyển mộ các đảng viên đầu tiên trong nhóm thanh-niên Việt-Nam mà phe quốc-gia đã đưa sang Trung-Hoa. Hai mươi năm sau, khi lên nắm chính quyền ở Hà nội, năm 1945, dướI ngọn cờ Việt-minh, ông Hồ-Chí-Minh vẫn còn đội lốt một nhà lãnh-tụ quốc-gia.

Ðối với Việt-cộng, chiêu bài đấu tranh giai-cấp chỉ mang lại cho họ một chút ảnh hưởng trong quần chúng mà không giúp cho họ đạt được thắng lợi to lớn nào cả. Chỉ những khi họ đội lốt Quốc-gia đấu tranh chống thực-dân Pháp mới đạt được những thắng lợi quan trọng. chứng cớ là trong khoảng thờI gian từ năm 1946 đến năm 1951 đảng Cộng-sản Việt-Nam đã phải tuyên-bố tự giải tán và rút lui vào bóng tối, mặc dầu họ vẫn kiểm soát nhân-dân và quân đội. Ở một nước bán khai như Việt-Nam không có lấy một người xứng danh là tư bản thì dĩ nhiên đấu tranh giai cấp chẳng có lợi mấy cho Cộng-sản, còn giai cấp bán-vô-sản, vì quá ít ỏi nên thực ra chẳng đóng một vai trò nào đáng kể trong sự xuất hiện của chủ nghĩa Cộng-sản. Những yếu-tố sau này đã giúp cho Cộng-sản nhiều nhất chính là những yếu-tố mà trong hoàn cảnh bình thường đáng lẽ đã đưa đến một cuộc cách mạng thuần~túy quốc-gia. Những yếu-tố đó là chế-độ thuộc địa của Pháp, đặt trên nền móng bất bình-đẳng dân-tộc, và tính chất hà lạm của quan lại phong-kiến, gây bất-mãn trong nhân dân và tiêu hủy mọi hy vọng canh-tân và dân chủ hóa chế-độ.

Cộng-sản thành công chỉ vì quốc-gia bất lực không hoàn thành nổi sứ mạng lịch sử của mình. Thẳng thắn mà nói, phong-trào quốc-gia thất bại một phần vì không đủ sức chống lại sự đàn áp của thực-dân, nhưng một phần cũng vì bị Cộng-sản xâm lấn và làm cho tiêu hao lực lượng bằng mọi mánh khoé, và cuối cùng bị tiêu diệt bằng võ lực.

Trong hoàn cảnh ấy lãnh đạo Cộng~sản Việt-Nam không cần phải là một lý-thuyết-gia uyên-thâm mà là một nhà “sách-động chuyên nghiệp” có đủ tài ba để giả dạng làm một lãnh tụ quốc-gia. Năm 1926, đệ-tam Quốc-tế đã giao cho ông Hồ-Chí-Minh công tác khó khăn này, và ông đã thành công vì ông có đủ những đức tính cần thiết để đóng vai trò một lãnh tụ nửa Cộng-sản nửa Quốc-gia.

Nhân-dân Việt-Nam bắt đầu nghe tên Hồ-Chí-Minh từ tháng 8 năm 1945. Ngày 28 tháng 8 năm đó (nghĩa là ngày sau ngày Việt-Minh cướp chính quyền) báo chí Hà-Nội công bố thành phần Chính-phủ Lâm-thời Việt-Nam Dân chủ Cộng-hòa mới thành lập do ông Hồ-Chí-Minh làm Chủ-Tịch. Trước đấy, chưa ai nghe đến tên Hồ-Chí-Minh bao giờ, và mọi người đều thắc mắc về cái tên hơi kỳ lạ đó. Nhiều người cho rằng cái tên đó văn hoa quá không phải là tên thật mà chỉ là tên hiệu.

Dư luận bàn tán về lý lịch ông Hồ-Chí-Minh, nhất là các nhân viên trong tân chính phủ hồi ấy lại càng băn khoăn hơn, và tất cả đều nóng lòng muốn biết rõ ông Hồ là ai và tên thật là gì. Nhưng rồi cũng chẳng phải chờ lâu, vì chỉ mấy hôm sau bắt đầu có tin đồn Hồ-Chí-Minh là tên mới của Nguyễn-Ái-Quốc, con người bí mật đã từng “khai sinh ra đảng Cộng-sản Việt-Nam”.

Khi nghe tin đồn này, sở Mật-thám Pháp lập tức lục lại hồ sơ để tìm ảnh Nguyễn-Ái-Quốc. Theo hồ-sơ chính thức thì Nguyễn-Ái-Quốc đã chết ở Hồng-kông năm 1933. Khi đem so sánh bức ảnh đã phai nhạt của Nguyễn-Ái-Quốc với những tấm ảnh của ông Hồ bán đầy đường Hà-Nội, sở Mật thám Pháp mới biết họ Nguyễn vẫn còn sống, và sau 10 năm ẩn náu trong bóng tối đã trở lại chính-trường dưới cái tên Hồ-Chí-Minh. Các chuyên viên sở Mật-thám Pháp quyết đoán Hồ-Chí-Minh chính là Nguyễn-Ái-Quốc mặc dầu sau 20 năm gian khổ, vóc dáng và nét mặt họ Nguyễn có thay đổi rất nhiều. Bằng cớ là vành tai phải của hai bức ảnh đều nhọn, trong khi tai bên trái vẫn đều đặn. Nhưng ông Hồ cứ từ chốI như Cuội, nói rằng mình không phải là Nguyễn-Ái-Quốc. Ngay cả khi tướng Salan đại diện Pháp dự cuộc đàm phán năm 1946, hỏi thẳng vào mặt ông Hồ, ông vẫn một mực chối cãi.

Riêng đối với người Việt thì ông Hồ không chối thẳng nhưng cứ trả loanh quanh. Thí dụ như trong năm 1946, ông đáp tầu Dumont D’Urville trở về Hải-Phòng sau hội nghị Fontainebleau. Cùng đi trên chuyến tầu này có bốn chuyên gia Việt-Nam mà ông Hồ đón từ Paris về nước. Một trong bốn là ông Võ-quý-huân có hỏi ông Hồ: “Thưa Chủ-tịch, Chủ-tịch có biết ông Nguyễn-Ái-Quốc hiện nay ở đâu không ạ ?” Ông Hồ chỉ mỉm cười và đáp : “Chú tìm ông ấy mà hỏi, tôi đâu biết”.

Không những ông Hồ chỉ giữ kín lý-lịch của ông, mà đến quê quán gốc tích của ông, ông cũng hết sức bí mật. Trong một bản danh sách ứng cử Quốc-Hội năm 1946, ông khai sinh quán ở Hà-tĩnh; nhưng hiện nay ai cũng biết rõ ông sinh quán ở Nghệ-An. Việc này được phơi bầy công khai năm 1958 khi một phái đoàn nhân-viên sứ quán các nước Xã-hội Chủ-nghĩa viếng thăm quê hương ông Hồ. Sau cuộc viếng thăm, báo chí Hà-Nội đã thú nhận ông Hồ-Chí-Minh chính là Nguyễn-Ái-Quốc. Tạp chí tranh ảnh Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-Hòa, do Việt-Nam Thông Tấn Xã (Bắc-Việt) ấn hành, trong số tháng 8 năm 1960, có đăng một bức ảnh Nguyễn-Ái-Quốc với giòng chữ chú thích : Ðồng chí Nguyễn-Ái-Quốc (Hồ-Chí-Minh) năm 30 tuổi, đang bôn ba hoạt động ở hải ngoại”.

Mặc dầu lý lịch của ông Hồ đã được xác định rõ rệt, Thế-giới Tự-Do vẫn không biết mấy về con người kỳ lạ ấy, và phần lớn những hoạt động của ông Hồ vẫn chỉ có Ðệ-Tam Quốc-tế biết rõ mà thôi. Tất cả những điều ghi chép về ông Hồ chỉ là dựa vào tập hồ sơ mong manh của Mật thám Pháp, Anh và những lời thuật lại của một vài người đã có dịp gặp ông.

Trong lúc người Pháp đang ngắm nghía những bức ảnh của ông Hồ và dùng viễn vọng kính để nhìn mặt ông mỗi khi ông ra mắt công-chúng, thì tất cả nhân dân Việt Nam đều nhất nhất coi ông Hồ-Chí-Minh là Nguyễn-Ái-Quốc vì họ không tin được rằng trong cùng một thời đại mà một nước lại có thể sinh ra hai người có tài trí như ông Hồ. Ông Hồ nói lưu loát hàng chục thứ tiếng, và đã từng chu du khắp thế-giới dưới nhiều biệt danh, nửa đời sống trong khám đường – có thể cả khám đường Soviet – và nửa đời hoạt động chính trị trong bóng tối. Ông hơn hẳn các đối thủ chính trị của ông về cả chiến thuật cách mạng lẫn kinh-nghiệm chính-trị. Hồi thiếu thời ông đã đọc rất nhiều cổ-thư Trung-Hoa, và sau đó tiếp tục tự học trong khi bôn ba khắp Âu-châu và Mỹ-châu. Suốt trong thời kỳ ấy, ông hoạt động quan sát và học hỏi ở bạn bè cũng như trong sách báo. Cuối cùng ông đã được Ðệ-Tam Quốc-Tế huấn luyện một cách kỹ lưỡng và có quy củ: Do đó ông đã hấp thụ được ba nguồn văn-hóa khác nhau nhưng có giá trị tương đương ; văn-hóa Ðông-phương, Tây-phương và Mác-xít. Ông nói chuyện lưu loát với bất cứ ai, dù là nông dân Việt-Nam, quân-phiệt Trung-Hoa, triết-gia Ấn-Ðộ hay là nhà báo Tây-phương.

Trong suốt thời kỳ hoạt động chính trị trong bóng tối ông Hồ đã phải dùng nhiều mánh khoé, mưu mẹo, để trốn tránh cạm bẫy của Công-an và phá hỏng kế hoạch của kẻ thù. Nhờ sự tập dượt ấy mà ông Hồ đã trở nên một địch thủ vô song, vì qua bao nhiêu năm trời, ông đã học được cái tài đánh lạc hướng bất cứ ai muốn theo dõi ông. Ông đã nhiều lần trốn thoát khỏi tay Quốc-gia Việt-Nam, Trung-Hoa Quốc-dân-đảng, và các cơ quan tình báo Anh, Mỹ.

Ngoài trí thông minh xuất chúng, ông Hồ còn có một nhân phẩm rất cao. Nói tóm lại, ông có đủ những đức tính cần thiết của một nhà lãnh tụ. Nếp sống thanh bạch, lòng nhẫn nại, ý chí sắt đá và sự tận tâm của ông đối với cách mạng là một nguồn phấn khởi cho tất cả những ai đã làm việc dưới quyền ông và phụng sự đất nước nói chung. Nhiều người cho rằng ông Hồ đã thừa hưởng tinh thần cách mạng của tổ phụ và của người đồng hương. Nhẫn nại, thanh đạm và cần cù là những đức tính thường thấy ở ngườI dân Nghệ-An, nơi sinh quán của ông Hồ. Ông Hồ đã phát huy những đức tính của người Nghệ, gần giống đức tính của người Nhật-Bản, nhưng khác ở chỗ là, nói chung người Nhật hết sức có kỷ luật, còn người Nghệ-An thì thường có khuynh hướng chống lại tất cả mỗi chính quyền. Trong suốt thời kỳ Pháp thuộc, Nghệ-An vẫn là đất cách mạng, và cách đây chưa đầy 10 năm, vào năm 1956. Nghệ-An đã là trung tâm cuộc khởi nghĩa của nông dân chống lại chính chế-độ của ông Hồ.

Nhờ tuyên truyền khôn ngoan và những câu chuyện truyền kỳ thêu dệt, mà trong những năm kháng chiến, trước khi xẩy ra những vụ đấu tố trong phong trào “Cải Cách Ruộng Ðất”, ông Hồ-Chí-Minh đã được dân chúng coi là thánh sống. Trên bàn thờ gia đình nào cũng có ảnh ông Hồ, và riêng ở một vài nơi như ở Quảng-Ngãi chẳng hạn, nông dân thường vái chân dung ông Hồ mấy vái trước khi ra đồng làm việc.

Ông Hồ sống rất thanh đạm, những gì là xa xỉ không cần thiết không bao giờ ông dùng đến. Ông chỉ có mỗi một tật là nghiện thuốc lá Mỹ và ông hút luôn mồm. Trong nhiều năm trời, ông ăn mặc in hệt một nông dân, bên ngoài khoác một chiếc “blouson” Gia-nã-đại và đi dép cao-su lốp ô-tô. Nhìn cách ăn mặc của ông, ai cũng biết ông đã hiến cuộc đời của ông để phục vụ nhân dân. Ông Hồ đã bỏ nhà ra đi từ ngày trẻ tuổi, và không có vợ con, cho nên không ai có thể gán cho ông chủ trương gia đình trị hoặc tệ tham nhũng được. Ông Paul Mus, sứ gia của chính phủ Pháp đến gặp ông Hồ vào năm 1947 để đàm phán ngưng chiến, đã có nói như sau : “Ông Hồ-Chí-Minh là một nhà cách mạng cương trực và thanh liêm không khác Saint Just”.

Câu so sánh này là một lời khen vàng ngọc đối với bất cứ một chính khách nào, vì trong thời đại này, nhất là ở cái nước kém mở mang, hiếm có những chính trị gia hoàn toà thanh liêm. Thành thử, riêng về phương diện đạo đức, ông Hồ đã được toàn dân Việt-Nam kính mến trọng vọng. Ông thành công phần lớn là nhờ nổi tiếng cần kiệm liêm chính, vì ở Việt-Nam cũng như ở nhiều nước khiếm khai khác, quần chúng thường tin tưởng ở nhân phẩm và tác phong của vị lãnh tụ, hơn là ở chương trình chính trị của các đảng phái.

Nhìn lại quá khứ, ta thấy không một đối thủ nào của ông Hồ có cơ thắng ông cả. Ông Nguyễn-hải-Thần, đồng chí và là người kế vị của Phan-bội-châu, là một nhà ái quốc chân chính, nhưng trong 40 năm lưu vong ở Trung-Quốc, ông không may đã bị nghiện thuốc phiện. Cựu Hoàng Bảo-đại, mà ngườI Pháp tái phong làm “Quốc Trưởng” năm 1949 đã mang tiếng là một người chơi bời, sống một cuộc đờI trụy lạc trong hơn 20 năm. Sau chót là ông Ngô-đình-Diệm, nhờ áp lực của Mỹ mà cầm quyền ở miền Nam Việt-Nam từ 1954 đến 1963. Ông Diệm và ông Hồ khác nhau về mọi mặt. Trong lúc ông Hồ từ bỏ gia đình từ hồi thanh niên thì trái lại, ông Diệm lúc nào cũng đùm bọc anh em và họ hàng thân thích, giao cho họ quyền cao chức trọng trong chính-phủ và trong quân đội. Trong khi ông Hồ chuyện trò thân mật với thợ thuyền và dân quê thì ông Diệm ngồi bảnh chọe trên chiếc ghế mạ vàng, thò chân cho các tù trưởng dân tộc thiểu số hứng lấy để rửa, in hệt vua chúa thuở xưa nhận lễ quy thuận của người Thượng.

Một điểm quan trọng mà các quan-sát-viên ngoại-quốc thường không để ý đến là sự phẫn nộ của nhân dân Việt-Nam trước nạn tham nhũng của quan lại mà chính-quyền thực dân vẫn hay dung túng. Chỉ riêng nạn quan-tham lại-nhũng cũng đủ là một động cơ thúc đẩy nhiều người hướng theo cách mạng.

Bất cứ người nào mưu loạn, không cần biết họ theo tôn chỉ, lý thuyết nào, cũng được nhân dân Việt-Nam hâm mộ “coi là một đấng trượng phu quả cảm đứng ra bênh vực lẽ phải và công lý. Ðối với nhân dân Việt-Nam, bọn quan lại làm tay sai cho thực dân để lên xe xuống ngựa, “tối rượu sâm banh sáng sữa bò” sống xa hoa giữa một xã hội đói rách, không những có tội “mãi quốc cầu vinh” mà còn làm gai mắt thiên hạ vì thói “no lưng ấm cật”. Có nhiều nguyên nhân gây nên cách mạng, nhưng ở Việt-Nam, nguyên nhân chính là lòng dân khao khát muốn diệt trừ quan lại tham nhũng và cường hào ác bá. Theo sự suy xét của người thường dân Việt-Nam thì cách mạng là đấu tranh giữa “liêm” và “vô liêm”, giữa “chính” và “bất chính”, còn vấn đề chủ-nghĩa mà sau này Cộng-sản gài thêm vào chỉ là yếu tố phụ. Cứ xét theo điểm này, cũng đủ biết viên cựu Hoàng-đế Bảo-đại cũng như viên cựu quan lại Ngô-đình-Diệm không tài nào địch nổi Hồ-Chí-Minh, con người cách mạng thuần túy, điển hình đạo đức, hay theo lờI Paul Mus : Saint Just của thế kỷ thứ 20.

Ông Hồ sinh tại làng Kim-Liên, huyện Nam-đàn, tỉnh Nghệ-an vào ngày nào tháng nào không ai biết, mà có lẽ ông cũng không nhớ, nhưng sau khi làm chủ-tịch, ông nhận đại là ngày 19 tháng 5 năm 1890, vì năm 1946, đúng ngày 19 tháng 5, cao ủy của Pháp là D’Argenlieu tới Hà-Nội. Ông Hồ lấy cớ là ngày sinh nhật của ông để buộc D’Argenlieu phải thân hành đến chúc thọ ông trước. Theo tục lệ ngày xưa ông Hồ được cha mẹ lần lượt đặt cho hai tên. Một tên “cúng cơm” lúc nhỏ và một tên “bộ” khi đến tuổi đi học. Tên cúng cơm của ông là “Côông”. Sự thực là Cung, nhưng vì muốn sau này con cháu khỏI phải kiêng chữ “cung” nên đặt chệch ra là “Côông”. Tên “bộ” của ông là Nguyễn-tất-Thành. Sau này, ông còn tự đặt nhiều tên, nào là Nguyễn-Ái-Quốc, Lý-thụy, Victor, Song Man Tcho, Vương-sơn-nhi, Hồ-Chí- Minh, v.v..; cốt để thay hình đổi dạng tùy theo công tác bí mật của ông.

Ông xuất thân trong một gia đình nho giáo, tiểu địa chủ và tiểu quan lại như đa số những người có chữ nghĩa về thời ấy. Ông nội đỗ Cử nhân được bổ làm tri huyện triều Tự-Ðức nhưng vì gàn bướng nên bị cách chức. Thân phụ ông đậu phó-bảng, tên là Nguyễn-sinh-huy, sau đổi ra là Nguyễn-tất-sắc, thường gọi là cụ Bảng Sắc. Cụ không là quan và tham-gia phong-trào Văn-thân. Bị đày ra Côn-đảo vài năm rồi đưa về cấm cố ở Saigon. Trong thời kỳ này cụ làm nghề bốc thuốc, và theo nhiều người kể lại thì cụ không lấy tiền, chỉ cần một ngày hai bữa do gia đình bệnh nhân cung phụng, như tục lệ lúc bấy giờ.

Sáng sớm cụ thường ngồi trước cửa chợ Bến-Thành, chờ người mời đi chữa bệnh. Nhưng một hôm cụ ngồi suốt từ sáng đến chiều mà không được ai mời cả. Mãi gần tối, một ông bạn đi qua thấy cụ vẫn cứ ngồi yên, mới nhắc cụ là Mồng Một Tết, không ai rước thầy lang về nhà. Cụ mới nhớ ra và nhận lời ông bạn mời về nhà dùng cơm.

Ông Hồ là con út trong gia đình. Khác các anh chị, ông Hồ được theo học trường Pháp-việt vì một ông cố đạo khuyên cụ Bảng như vậy. Ông đậu bằng Cơ Thủy năm 1907 và được bổ làm hương sư nên thường gọi là Cậu Giáo Thành. Phong-trào Văn-thân thức tỉnh lòng ái-quốc của ông và sau khi nghe nói cụ Bảng được đưa về Saigon, ông bỏ việc vào thăm cụ. Bà chị ông Hồ tên là Bạch-Liên, cũng nổi tiếng là một phụ nữ có khí phách cách mạng. Hồi còn trẻ bà đính hôn với Mai-ngọc-ngôn đỗ tú tài, nhưng chưa kịp cưới thì vị hôn-phu của bà bị bắt đưa ra Côn-đảo và chết ngoài đó. Bà ở vậy, không lấy chồng và mất vào khoảng năm 1953.

Anh ruột ông Hồ là Nguyễn-tất-đạt, thường gọi là ông Cả Ðạt. Ông học tài thi phận nên kiếm ăn bằng nghề gõ đầu trẻ. Năm 1946, nghe tin ông Hồ đã trở thành chủ-tịch chính-phủ, hay nói đúng, chủ-tịch Hồ-Chí-Minh chính là em ruột ông, ông đáp đáp tàu ra Hà-Nội mong gặp em sau hơn 30 năm xa cách. Nhưng hồi ấy ông Hồ còn đang dấu tung tích nên không dám tiếp ông anh ở Bắc-bộ-phủ. Ông gửi ông Ðạt ở nhà một người đồng hương là ông Mai-ngọc-thiệu, và tối ông đến thăm. Hai anh em trò chuyện hồi lâu, sau đó ông Ðạt lẳng lặng về Nghệ. Chừng hai năm sau ông Ðạt mất, không có dịp gặp ông Hồ trở lại.

Sau khi ông Hồ vào Saigon thăm cha, Cụ Bảng Sắc bàn bạc với mấy cụ cách mạng khác và quyết định tìm cách cho ông Hồ sang Pháp. Mấy cụ thu xếp cho ông Hồ xuống làm “bồi” dưới tàu La Touche-Treville chạy đường Saigon Marseille. Năm 1912 ông Hồ xách khăn gói xuống tàu, mang theo một bức thư cụ Bảng viết cho cụ Phan-chu-trinh, hồi đó ở Paris, mà cụ quen từ ngày ở Côn-đảo. Cụ Bảng ngỏ ý muốn nhờ cụ Phan dìu giắt ông, lúc bấy giờ còn là một thiếu niên mới lớn lên. Cụ cũng căn dặn ông Hồ phảI hết sức nghe lời cụ Phan.

Tới Paris, ông Hồ đưa trình cụ Phan bức thư giới thiệu của cụ Bảng, và ở với cụ Phan trong một thời gian. Nhưng ít lâu sau ông Hồ không tán thành chính-kiến của cụ Phan, nhất là chủ trương đề huề hợp tác với Pháp. Thất vọng ông Hồ trở lại làm “bồi tàu”, bôn ba khắp năm châu bốn bể – trước khi dừng chân ở Luân-đôn. Trong một chuyến đi ông Hồ có ghé qua Saigon thăm cha là cụ Bảng. Hai cha con chưa kịp hàn huyên thì cụ Bảng đã vác gậy rượt theo ông Hồ, vì từ trước cụ Phan đã biên thư cho cụ Bảng kể chuyện bất đồng chính kiến giữa cụ và ông Hồ ở Paris. Ông Hồ bèn trở xuống tàu, và từ đây ông không gặp cụ Bảng một lần nào nữa. Có thể vì câu chuyện này mà một phần nào ông Hồ đã quyết tâm cắt đứt mọi liên hệ với gia đình. Ngày nay giòng giõi cụ Bảng Sắc chỉ còn một mình ông Hồ, vì ông Cả Ðạt có lấyvợ nhưng không có con.1

Ông Hồ ở Luân-đôn từ 1913 đến 1917, làm phụ bếp cho khách sạn Carlton dưới quyền một ngườI đầu bếp Pháp nổi tiếng, tên là Escoffier. Ngoài giờ làm việc ở khách sạn ông hoạt động cho Liên Hiệp Công Nhân Hải Ngoại, một tổ chức bí mật chống thực dân do công nhân Hoa-kiều và Ấn-kiều thành lập ở Luân-đôn. Hồi Thế Chiến thứ I sắp kết liễu, bạn bè ở Luân-đôn khuyên ông nên sang Pháp tổ chức một phong trào tương tự vì ở Pháp hồi đó có 60.000 Việt kiều cư ngụ (hoặc đi lính Pháp). Tại Paris, ông gặp ông Nguyễn-thế-Truyền, một kỹ sư hóa học. Ông Truyền giới thiệu ông Hồ với một nhóm ái-quốc thuộc các thuộc địa khác của Pháp hồi ấy cũng đang lưu vong ở Ba Lê. Nhóm này thành lập một hội mệnh danh là “Liên Hiệp Thuộc Ðịa”, xuất bản một tờ báo lấy tên là Le Paria; đồng thời ông Hồ và ông Truyền cũng bí mật xuất bản tờ Việt-Nam Hồn, nhờ những người Việt-Nam “làm tàu” lén đưa về Việt Nam. Một mặt khác, dựa vào những tài liệu do Liên Hiệp Thuộc Ðịa cung cấp, ông Hồ viết cuốn “Le Procès de la Colonisation Francïaise” (Lên án Thực-dân Pháp). Nguyễn-thế-truyền đề tựa cuốn sách hồi ấy ông Truyền đã nổi tiếng trong giới khuynh tả ở Pháp. Ông Truyền còn giúp ông Hồ soạn thảo bản “Chương Trình 8 điểm” mà ông Hồ mang vào Versailles, định đưa cho Tổng thống Woodrow Wilson, nhân dịp ông này đến Versailles để ký hòa ước với Ðức. Trong “Chương Trình 8 điểm” ông Hồ đòi tự trị, tự do dân chủ, ân xá các chính trị phạm, bình đẳng Pháp Nam, và bãi bỏ chế độ “làm xâu” thuế muối và chính sách bắt dân tiêu thụ rượu ty. Nhưng lính Pháp không cho ông Hồ vào gặp Tổng Thống Wilson. Do đó ông không có dịp vận động Hoa-kỳ ủng hộ cách mạng Việt-Nam. Về Paris, ông Hồ đăng “Chương trình 8 điểm” trên tờ Việt-Nam Hồn, làm chấn động dư luận ở Việt-Nam khi tờ báo về tới nơi. Những bài ông viết ông đều ký tên Nguyễn-ái Quốc, cái tên rất nhiều người biết cho đến ngày ông đổi thành Hồ-Chí-Minh.

1Theo nhiều nguồn tin thì, hồi ở Hồng-Kông, ông Hồ có một người vợ Tàu, sinh được một người con gái. Hồi năm 1950, ông có nhờ Ðảng-bộ Ðảng Cộng-sản ở Hồng-Kông tìm giùm nhưng không thấy.

Ông Nguyễn-thế-Truyền cũng giới thiệu ông Hồ với nhiều nhân vật khuynh tả ở Paris, như Léon Blum, Marcel Cachin, Marius Moutet v. v… Chịu ảnh hưởng của mấy người này, ông Hồ gia-nhập đảng Xã-Hội Pháp, và viết bài báo cho tờ Le Populaire, cơ quan ngôn luận của đảng. Ðược tham dự đại hộI đảng ở Tours năm 1920, ông Hồ bỏ phiếu tán thành việc thành lập Ðệ Tam Quốc-Tế và chủ nghĩa Cộngsản.

Và ngay từ lúc ấy ông ly khai với ông Nguyễn-thế-Truyền và mấy người Quốc-gia khác ở Paris. Những người này vẫn tiếp tục đấu tranh cho quốc gia dân tộc, còn riêng ông Hồ, ông hiến hẳn đời ông cho Cộng-sản quốc tế.

Năm 1960, nhân dịp sinh nhật thứ 70 của ông, và sau khi đã tự nhận là Nguyễn-Ái-Quốc, ông Hồ có giải thích sự biến chuyển tư tưởng của ông như sau :

“Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa Cộng-sản đã đưa tôi tin theo Lê-nin, tin theo Quốc-Tế Thứ Ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác-Lê, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa Xã-hội, chủ nghĩa Cộng-sản mới giải-phóng được các dân-tộc bị áp-bức và những người lao-động trên thế giới khỏi ách nô-lệ.

Ở Việt-Nam cũng như ở Trung-Hoa có chuyện cẩm nang thần kỳ. Hễ gặp khó khăn chỉ việc mở cẩm nang ra là biết cách xử trí. Ðối với cách mạmg Việt-Nam và dân tộc Việt-Nam, chủ nghĩa Mác-Lê không những là một cẩm nang thần kỳ, một địa bàn chỉ hướng, mà còn là mặt trời soi sáng con đường thẳng tới thắng lợi cuối cùng, tớI chủ-nghĩa Xã-hội và chủ nghĩa Cộng-sản”.

Xem giọng văn kể trên, ta thấy rõ thoạt tiên ông Hồ chỉ coi chủ-nghĩa Cộng-sản như một lợi khí dùng để tranh đấu cho nền độc lập quốc gia; nhưng sau khi “ăn phải bả” ông bèn coi chủ-nghĩa Cộng-sản là một cứu cánh. Ðây là trường hợp thông thường của những người say mê chủ-nghĩa Cộng-sản, nhưng những danh từ ông dùng như “cẩm nang thần kỳ” và “mặt trời soi sáng” chứng tỏ ông tin ở chủ-nghĩa Mác-Lê một cách cuồng tín, in hệt tín đồ tin ở đấng “chí tôn” của mình.

Ông Hồ sang Nga lần thứ nhất năm 1922 với tư cách đại biểu thuộc địa lần đầu tiên tham dự Ðại Hội Thứ Tư của Ðệ Tam Quốc Tế.

Năm 1923, ông Hồ lai sang Nga, tham dự Ðại Hội Nông Dân Quốc Tế, và đến năm 1924 ông trở lại lần nữa để theo học tại trường Ðại Học Công Nhân Ðông Phương. Lần này, ông ở lại Nga hơn một năm trời, nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lê và các chiến thuật Bôn-sê-Vích. Hồi ấy muốn sang Nga các đảng viên Cộng-sản Việt-Nam ở Pháp thường mua giấy thông hành của sứ quán Trung-Hoa ở Paris, bằng giá rất rẻ, giả dạng là Hoa kiều muốn hồi hương qua đường Moscou và Hải Sâm Uy.

Năm 1925, ông Hồ được phái sang Quảng-Châu với công tác truyền bá chủ .nghĩa Cộng-sản vào Việt-Nam. Ngày ông lên đuờng sang Trung-Quốc chính là ngày bắt đầu một giai đoạn khác trong sự nghiệp cách mạng của ông. Sự nghiệp này kết thúc khi ông biệt tăm-trên chính trường Á-đông vào năm 1933. Vì tất cả những hoạt động của ông Hồ trong khoảng thời gian này đều trực tiếp và mật thiết liên hệ với các biến cố ở Việt-Nam, nên chúng tôi sẽ đề cập đến trong Chương 4 nhân dịp trình bày sự phát triển của chủ-nghĩa Cộng-sản ở Việt-Nam.

Chương 4

CỘNG-SẢN XUẤT HIỆN

Lịch trình phát triển của Cộng-sản ở Việt-Nam, kể từ ngày có những tiểu tổ Cộng-sản đầu tiên trên đất Việt cho đến ngày toàn thể Bắc Việt nằm dưới chế độ vô sản chuyên chính, có thể tạm chia làm sáu giai đoạn, mỗi giai đoạn là một phong trào đấu tranh thuận theo hoàn cảnh và tình hình lúc bấy giờ.

Vì vậy nên mỗi phong trào có một khẩu hiệu, một chương-trình giai-đoạn và một chiến lược khác nhau. Việc điều khiển từ bên ngoài cũng thay đổi mỗi thời kỳ một khác. Có khi Việt Cộng trực tiếp nhận huấn thị từ Moscou hoặc Bắc-Kinh, có khi phải thông qua một trạm liên lạc đặt ở Quảng-châu, Thượng-hải, Bangkok, hoặc Paris. Ðại để thì sau mỗi cuộc đấu tranh rầm rộ, hoặc bị khủng bố quá nặng nề, hoặc vì chia rẽ nội bộ, phong trào lại tạm lắng yên trong một thời gian. Sáu phong trào chính, đáng nêu lên là :

1. Phong trào Thanh-niên (1925 . 1929)
2. Phong trào Sô Viết Nghệ An (1930 . 1932)
3. Phong trào Mặt Trận Bình Dân (1936 – 1937)
4. Phong trào Việt Minh (1941 . 1946)
5. Phong trào Kháng chiến (1946 . 1954)
6. Phong trào Cải Cách Ruộng Ðất (1953 . 1956)

Mục đích của phong trào Cải Cách Ruộng Ðất là thiết lập nền “vô-sản chuyên chính”. Sự thực thì phong trào này đã được bố trí từ năm 1951 bằng đạo luật Ban bố Thuế Nông-Nghiệp và cuộc đấu tranh chính trị (xem Chương 7). Trong chương này chúng tôi chỉ kể qua năm phong trào đầu với mục đích làm sáng tỏ phong trào thứ sáu mà chúng tôi sẽ trình bày cặn kẽ trong các chương sau, vì phong trào thứ sáu này mới thực sự áp dụng chiến-thuật Mao-Trạch-Ðông để thiết lập chế độ cộng sản ở Việt-Nam.

PHONG TRÀO THANH-NIÊN

Chỉ mấy tháng sau khi ông Hồ được Ðệ Tam Quốc Tế phái sang Quảng-châu, năm 1925, là ông tổ chức ngay Việt Nam Thanh Niên Cách Mệnh Ðồng Chí Hội. Giả dạng là người Tàu, ông Hồ theo chân phái bộ Nga sang Quảng-Châu với chức vụ công khai là thông dịch viên cho phái bộ, nhưng kỳ thực ông không có trách nhiệm nào khác là tìm cách truyền bá chủ nghĩa cộng sản vào nội địa Việt Nam. Ông mang thông hành Tàu, ghi tên là Lý Thụy, nhưng đối với một số Việt kiều ở Quảng-châu ông nói thực ông là người Việt. Ông lấy bí danh là Vương-sơn-Nhi nên nhiều người thường gọi ông là ông Vương. Có một điều đáng chú ý là thuở ấy, vì mới bắt đầu hoạt động cách mạng, nên ông Hồ còn phạm khuyết điểm về việc dấu kín tung tích. Khi ông lấy bí hiệu là Vương-sơn-Nhi ông đã dùng lối “triết tự” vì ba chữ Vương-sơn-Nhi gộp lại thành chữ Thụy. Vì vậy nên những người Việt có học chữ nho biết ngay Vương-sơn-nhi với Lý-thụy chỉ là một. Cũng vì sơ hở nên chẳng bao lâu mọi người đều biết ông là Nguyễn-Ái-Quốc, một cán bộ cộng sản đã từng nổi tiếng ở Pháp. 15 năm sau, ông trở lại vùng này với một tên khác là Hồ-Chí-Minh, nhưng ông hết sức bí mật nên không ai đoán được tông tích của ông, kể cả ông Nguyễn-tường-Tam cùng bị giam trong một nhà tù.

Quảng-châu là trung tâm cách-mạng của Tôn-dật-tiên và hồi ấy hãy còn là thủ đô chính trị và hành chánh của chính phủ Quốc Dân Ðảng. Việc thiết lập trường Trung Ương Quân Sự Chính Trị ở Hoàng-phố, gần đấy, biến Quảng-châu thành một trung tâm phản-đế thu hút một số đông thanh niên ở khắp Ðông Nam Á, tới đấy để nghiên cứu chính trị và luyện tập quân sự. Việt-Nam chiếm đa số trong nhóm này.

Tới Quảng-châu vào đầu năm 1925, ông Hồ bắt đầu tổ chức Việt-Nam Thanh Niên Cách Mệnh Ðồng Chí Hội để tuyên truyền chủ-nghĩa cộng-sản. Nhưng vì những người Việt-Nam lưu vong ở Quảng-châu đã có chân trong các đoàn-thể quốc-gia có sẵn từ trước, nên ông Hồ phải tự nhận là quốc-gia, làm thân với mấy lãnh-tụ quốc-gia với mục-đích thu hút những đảng-viên thanh-niên trong mấy tổ-chức này.

Ông Hồ biết rõ những người Việt lớn tuổi đã có căn bản Nho-giáo vững chắc, khó lòng tin theo chủ-nghĩa Mác-xít, nên ông chỉ chú trọng đến những phần-tử thanh-niên, cựu học sinh các trường Pháp-việt và do đó đã hấp thụ được ít nhiều tây học. Rất may mắn cho ông là chỉ một năm sau, hàng trăm thanh-niên bãi khóa năm 1925, bị khủng-bố, chạy trốn sang Tàu. Trong số những thanh-niên mới xuất ngoại này, ông Phặm-văn Ðồng, hiện nay làm thủ-tướng Bắc Việt là người học cao nhất. Ông Ðồng đang học trường Bưởi, sửa soạn thi tú tài thì bãi-khóa và bị đuổi. Những thanh-niên khác đều học ở các lớp dưới, nhưng tất cả đều có một điểm giống nhau : họ không có lấy một chút nho học, mặc dầu họ đều xuất thân trong các gia-đình nho học.

Ông Hồ giảng dạy cho các đồng-chí Thanh-niên của ông một số bài về Cách Mạng Nga, lý-thuyết Mác-xít về đấu tranh giai-cấp và một vài tác-động cách mạng. Ông dạy họ cách in truyền đơn bằng thạch, cách vận động dân chúng biểu tình, xúi dục công nhân đình công, v. v… Chương-trình huấn-luyện của ông chỉ có sáu tháng là xong. Cuối năm 1925, ông đã huấn luyện xong một khóa, tuyển lựa những ngườI xuất sắc vào ban lãnh-đạo Thanh-niên còn những người khác thì phải về Việt-Nam tuyên truyền tôn chỉ của Hội và bí-mật tuyển mộ thêm hội-viên. Trụ-sở của Hội đặt ở Quảng-châu. Ban Trung-ương phụ trách xuất bản tờ báo lấy tên là Thanh-niên và phiên dịch những tài-liệu cộng-sản từ chữ Tàu sang tiếng Việt.

Những loạt tài-liệu đầu tiên này thường dịch không sát nghĩa, vì ngay những người Tàu dịch từ nguyên bản tiếng Nga hoặc tiến Ðức sang tiếng Tàu đã dịch sai rồi, đến khi dịch từ tiếng Tàu sang tiếng Việt lạI sai thêm một lần nữa. Có nhiều danh-từ người Tàu dịch sai như Cộng-sản (của chung) hoặc vô-sản (không có của) vẫn còn dùng cho đến ngày nay, nhưng dùng mãi nên quen. Vì dịch không đúng nên hồI ấy các tài-liệu nói về chủ-nghĩa Mác-xít rất khó hiểu. Mãi mấy năm sau, khi có những tài liệu cộng sản xuất bản ở Pháp sang tới Việt-Nam, nhiều người mới có dịp nghiên cứu cặn kẽ chủ-nghĩa Mác-xít.

Vì ông Hồ đã được huấn luyện chính-trị ở Moscou trong những năm Stalin mới cầm quyền nên ông hết sức tin tưởng hai nguyên tắc căn bản của lý-thuyết Stalin-nít :

1 – Muốn thành lập vô-sản chuyên chính nhất thiết phải trải qua hai giai-đoạn . một cuộc cách mạng tư-sản dân-quyền trước, rồi một cuộc cách-mạng vô-sản sau. Cách mạng tư-sản dân-quyền dọn đường cho cách-mạng vô-sản.

2 – Chỉ có giai-cấp công-nhân mới có đủ tài đức để lãnh đạo cách mạng. Giai-cấp nông-dân, vì bản-chất hẹp hòi hám lợi, nên chỉ có thể coi là “bạn lâu dài” của cách mạng.

Vì gắn bó với nguyên tắc thứ nhất, nên trong thời kỳ đầu ông Hồ trông chờ một phần nào ở sự thành công của phe Quốc-gia, ông đợi họ bắc một nhịp cầu để ông bước qua tiến tới cách mạng vô-sản, in hệt như Lênin đã thực hiện ở Nga. Vì vậy nên ông coi những phần tử quốc-gia như “bạn giai-đoạn”, mặc dầu ông vẫn tìm hết cách để lấn át. Thực-dân Pháp trông thấy cộng-sản tranh chấp với quốc-gia và nhiều lần phản-bội phe quốc-gia, nên nhẹ tay một phần nào với cộng-sản. Pháp trông thấy ở cộng-sản một địch thủ lợi hại đối với quốc-gia và hy vọng cộng-sản sẽ tiêu hủy phe quốc-gia mà Pháp ghét nhất vì Pháp cho họ là những phần-tử “cực-đoan chống Pháp”. Tuy những khẩu hiệu của cộng-sản cũng chống đối thực dân, nhưng tương đối không dữ dội bằng khẩu hiệu của phe quốc-gia.

Vì tin ở nguyên tắc thứ hai nên trong thời-kỳ đầu, ông Hồ chú trọng tuyên truyền và tổ chức công-nhân, nhiều hơn nông-dân. Ông chủ-trương huấn-luyện chủ-nghĩa Mác-xít cho một số trí-thức nửa mùa rồi dùng họ để tuyên truyền và tổ chức công nhân ở mấy trung-tâm kỹ-nghệ, thành lập những tiểu tổ cộng-sản.

Chương trình của ông Hồ và của đệ-tam Quốc-tế là như vậy. Nhưng có nhiều biến-cố xảy ra khiến cộng-sản mất uy-tín đối với nhân dân và đưa lại những hậu-quả không tính trước. Việc đầu tiên là các tiểu tổ cộng-sản thiếu tiền để hoạt-động, và muốn “kinh tài”, họ tổ chức “tống tiền” các nhà giàu. Vì chỉ mới được huấn-luyện qua loa nên những đảng viên cộng-sản đầu tiên coi bất cứ người khá giả cũng là “kẻ thù” của “vô-sản”. Giới tư-sản lúc đầu có cảm-tình với cộng-sản, nhưng sau vì bị tống tiền nhiều quá nên hết tín nhiệm.

Vì cộng-sản tống tiền khắp nơi, nên chính-quyền thuộc địa cũng được dịp khép cán-bộ cộng-sản vào tội “cướp của giết người” và giam họ cùng với thường phạm.

Việc thứ hai là vụ ông Hồ chủ-trương bắt cụ Phan nộp cho Pháp khiến cho phe quốc-gia bắt đầu ngờ vực và cắt đứt mọi liên lạc.

Việc không ngờ thứ ba là năm 1927, đột nhiên Tưởng-giới-Thạch trở tay “phản cộng”, bất thình lình tiêu diệt đồng-minh cộng-sản đương cộng-tác với ông trong cuộc hành quân Bắc Phạt. Việc “trở mặt” của họ Tưởng chặn đứng công cuộc vận động của Nga ở Trung-Hoa và ở khắp Á-Ðông. Trưởng phái-bộ Nga là Michael Borodin đã từng làm cố vấn chính-trị cho Trung-Hoa Quốc-dân-đảng từ thời ông Tôn-Văn phải vội vã rời khỏi Trung-Hoa, mang theo tất cả nhân-viên phái-bộ, trong số có ông Hồ.

Hôm Tưởng-giới-Thạch ra lệnh giết Cộng thì ông Hồ đang huấn luyện chính-trị các đảng-viên Thanh-niên. Ông đình ngay lớp học và khuyến cáo các đảng-viên ai nấy nên tìm cách thoát thân về nước.

Hôm sau, một đảng-viên gặp ông ở Quảng-châu, tỏ ý lo ngại và vấn kế ông. Ông Hồ lấy bút chì viết vào mảnh giấy bốn chữ “Tuế hàn tùng bá” và trao cho anh ta. Ý ông Hồ muốn nói là trong cơn khủng-bố những người cách mạng phải giữ vững tinh thần và chỉ có những lúc cách mạng điêu đứng mới rõ ai là người vững tinh thần cũng như mùa đông rét mướt mới thấy rõ cây tùng và cây bá vẫn giữ được mầu xanh, lâu hơn các cây khác.

Từ Quảng-châu Borodin chạy lên Hán-khẩu để hội-đàm với Uông-tinh-Vệ, vì họ Uông cũng chống với Tưởng và chiếm cứ Hán-Khẩu, thành lập chính-phủ Vũ-Hán. Borodin hứa Liên-xô sẽ giúp Uông chống Tưởng đến cùng, nên Uông bằng lòng thực-hiện cải-cách ruộng-đất để lôi kéo nông-dân.

Nhưng rốt cuộc, Uông không nghe lời Borodin và đầu hàng Tưởng. Sau đó toàn thể phái đoàn Nga, trong số đó có ông Hồ phải lên đường về Moscou. Từ ngày ấy trở đi, phong trào cộng-sản Á-châu chuyển một hướng mới, không theo ý muốn của đệ-tam Quốc-tế.

Trước khi lên đường về Nga, ông Hồ chọn người lớn tuổi nhất trong Thanh-niên, tức là ông Hồ-tùng-Mậu, để thay thế ông điều khiển Thanh Niên Cách Mệnh Ðồng Chí Hội. Ông Mậu là người rất xứng đáng vì ông cũng khôn ngoan và cẩn thận như ông Hồ. Ông Hồ dặn ông Mậu nhất thiết phải bám sát đường lối đã vạch sẵn, nghĩa là tiếp tục truyền bá chủ nghĩa Mác dưới hình thức chống thực-dân. Ông Hồ cũng dặn là nên tránh những khẩu hiệu quá khích, có tính cách đấu-tranh giai cấp và có thể gây ảnh hưởng xấu đối với giai cấp tư-sản Việt-Nam mà cộng-sản còn đang cần sự ủng-hộ. Ông Mậu theo đúng lời ông Hồ dặn nhưng chẳng may chỉ một năm sau, ông Mậu bị Quốc-dân-Ðảng Tàu bắt. Người thay thế ông Mậu là Lâm-đức-Thụ và tư cách ông Lâm-đức-Thụ như thế nào chúng ta đã thấy rõ trong Chương 2.

Tháng 5, 1927, Thụ triệu-tập toàn quốc đại-hội tại Hong-Kong. Trong nước phái đại-biểu sang dư, nhưng ba đại biểu tỏ ý bất bình vì nhận thấy Thụ sinh sống một cách quá xa-hoa. Hắn ở một khách sạn vào bực sang nhất, uống rượu whisky và hút xi-gà Manila loại hảo hạng. Họ trông rõ Tổng-bộ ở Hồng-kông đã “hủ hóa” và “hữu khuynh” nên khi họ đề nghị bỏ Thanh-niên, lập Cộng-sản, và đề-nghị của họ bị Thụ bác bỏ, họ đập cửa ra về. Về tới quốc-nội, họ tự động thành lập một đảng Cộng-sản, mệnh danh là Ðông-Dương Cộng-sản Ðảng. Thấy đảng này phát-triển mạnh, Thụ thấy cần phải đổi Thanh-Niên Cách-mệnh Ðồng Chí-hội thành một đảng Cộng-sản khác, mà Thụ đặt tên là An-Nam Cộng-sản Ðảng. Cùng lúc ấy, một số đảng-viên Tân-việt tả khuynh cũng lập một đảng cộng-sản thứ ba, lấy tên là Ðông-Dương Cộng-sản Liên-Ðoàn. Như vậy là cùng một lúc, trong nước có đến ba đảng cộng-sản tranh chấp với nhau. Pháp được dịp đàn áp và không bao lâu hầu hết các đảng viên ba đảng đều bị bắt, và phong-trào cộng-sản hoàn toàn xuy xụp.

PHONG-TRÀO SÔ-VIẾT NGHỆ-AN

Về tới Moscou, ông Hồ được đệ-tam Quốc-tế phái sang Berlin hoạt-động cho Liên-hiệp Phản-Ðế, nhưng chẳng bao lâu, ông lại được phái sang Bangkok là nơi đệ-tam Quốc-tế mới đặt trụ-sở Nam-HảI Vụ. ông Hồ làm việc dưới sự chỉ huy của một đảng-viên cộng-sản Pháp tên là Hilaire Noulens. Ông phụ-trách tuyên truyền và tổ chức Việt-kiều ở mấy tỉnh đông-bắc nước Xiêm, gần biên giới Lào. Việt-kiều ở Xiêm khá đông và gồm có hai loại. Một loại gọi là “An-nam cũ” là con cháu những người theo chúa Nguyễn chạy sang Xiêm từ cuối thế-kỷ thứ 18. Loại thứ hai là “An-nam mới” gồm những người buôn bán ở Lào, có dịp sang Xiêm, rồi thấy ở Xiêm dễ sinh nhai, nên ở luôn bên ấy. Ngoài ra còn một số cách mạng trốn Pháp, chạy sang Lào rồi qua Xiêm. Nhiều người đã quên tiếng Việt và đã sinh hoạt in hệt ngườI Thái, nhưng họ vẫn tha-thiết với quê hương đất tổ. Ðối với họ, ông Hồ lại tái diễn chiến lược của ông đã áp-dụng với Việt-kiều ở Tàu.

Một hôm ông Hồ đang hoạt-động ở miền đông-bắc nước Xiêm thì một người lái buôn cùng làng bắt gặp và nhận ra ông. Người này về kể chuyện lại với người làng và khi tin này đến tai nhóm cộng-sản ở Nghệ-An, họ bèn cử người sang tìm ông Hồ, khẩn khoản yêu cầu ông tìm cách giải-quyết vấn-đề chia rẽ nội bộ, hiện rất trầm trọng. Ông Hồ nhận lời, nhưng mãi một năm sau ông mới được Ðệ tam Quốc-tế cho phép.

Một điều đáng chú-ý là ông Hồ đã từng hoạt-động ở Trung-Hoa mà nay lại phải đổi sang Xiêm, thuộc một khu vực văn hóa khác hẳn. Việc này cũng như nhiều việc khác chứng tỏ, sau khi thất bại thảm bại ở Trung-Hoa và nhất là sau khi Mao-Trạch-Ðông đi trái đường lối của Ðệ tam Quốc tế, Stalin đã tỏ ý chán ghét cộng-sản Tàu. Vì bỏ rơi Trung Cộng, nên Stalin cũng bỏ rơi luôn cả Việt-cộng mà Stalin coi là một chi nhánh. Nhận định rằng cộng-sản da trắng ngoan ngoãn hơn và trung thành hơn cộng-sản da vàng, Stalin đưa ra kế-hoạch “tập hậu” các đế-quốc tư-bản bằng cách ra lệnh cho các đảng cộng-sản Pháp, Anh, Hòa-lan tổ chức cộng-sản ở các thuộc-địa của mấy nước này ở Ðông Nam Á. Vì vậy nên Nam HảI Vụ càng ngày càng quan trọn hơn Ðông Á Vụ. Nhưng từ 1930 trở đi. Stalin lại nhận thấy rằng cộng-sản không thể bành-trướng ở mấy thuộc-địa này, nếu không có sự tham gia của Hoa-kiều, vì hồi đó Hoa-kiều tương-đối giác ngộ chính-trị nhiều hơn dân địa phương. Trụ-sở liên lạc lại đưa trở về Thượng-hải, và sau này về Hồng-kông. Trong khi ấy thì Mao-Trạch-Ðông đã tiến dần về phía Tây, bỏ trống miền duyên-hải. Thấy không còn ảnh hưởng của họ Mao, Stalin lại để ý đến miền này vì là miền khá nhiều công-nghệ và công-nhân, và cử một phái đoàn tới Thượng-Hải để lo xây-dựng lại phong trào. Nhờ chủ trương mới này, ông Hồ mới có dịp trở về Hoa-Nam, gặp lại các đồng-chí cũ của ông mà trong mấy năm liền ông không được phép liên lạc.

Ngày 6 tháng Giêng năm 1930, ông Hồ triệu-tập đại-biểu ba đảng Cộng-sản đến Hồng Kông, “đả-thông tư-tưởng” và hợp nhất ba đảng làm một lấy tên là “Việt-Nam Cộng-sản Ðảng”, nhưng mười tháng sau đổi lại là “Ðông Dương cộng-sản Ðảng”, có ý bao gồm cả Lào và Cam-Bốt. Ðể đi sát với phong-trào, trụ-sở của Tổng-bộ cũng đưa về quốc-nội, đặt tại Hải-phòng. Sau công-tác này, ông Hồ được chỉ-định làm Vụ-trưởng Ðông-Á Vụ và giữ việc liên-lạc giữa Moscou và tất cả các cơ-quan hoạt-động của đệ-tam Quốc-tế tại Ðông và Ðông Nam á-châu.

Vì trách-nhiệm quá lớn, và bao biện nhiều việc nên ông Hồ phải ủy-thác phong-trào Việt-Nam cho các đồ-đệ của ông. Những người này đều là thanh-niên chưa chín chắn như ông Hồ, và vì phần đông đã được huấn-luyện bên Tàu nên họ dễ bị ảnh-hưởng của Cộng-sản Trung-Hoa. Vì được chứng-kiến vụ Quảng-châu Công-xã, vụ Nông-dân Bạo-động ở Hồ-nam, nên phấn-khởi muốn noi gương bạo động của Trung-cộng. Việc V.N.Q.D.Ð. bị thất-bại đau đớn năm 1930 cũng kích-thích họ muốn làm hơn phe Quốc-gia. Một mặt khác, nạn kinh-tế khủng-hoảng trên thế-giới đã tràn tới Việt-Nam và làm cho nông-dân Việt-Nam điêu đứng. Năm nào cũng được mùa mà thóc thừa thãi, nhưng gạo không xuất-cảng được khiến từ địa-chủ đến bần-cố-nông đều sống dở chết dở. Nông-thôn bị kiệt-quệ khiến thương-gia ở thành-thị cũng bị phá sản. Tất cả mọi từng lớp nhân-dân đều “méo mặt” duy chỉ có công-chức là, trái lại, phong lưu hơn trước. Vì lương vẫn y nguyên mà, vì nạn giảm-phát, giá-trị đồng bạc tăng lên 4, 5 lần. Công-nhân những xí-nghiệp lớn cũng được coi là may mắn vì số lương tuy có bị giảm ít nhiều, nhưng dù sao cũng còn “đồng ra đồng vào”, không như các tầng lớp khác trong dân gian, không chạy đâu ra tiền đong gạo và đóng thuế.

Vì công-nhân và công-chức tự thấy may mắn hơn người khác nên phải cố bám lấy việc làm. Vì vậy Việt-Cộng không thể vận-động họ đấu-tranh theo đúng chủ-trương của đệ-tam Quốc-tế. Ngược lại, vì nông-dân mỗi ngày một điêu-đứng nên tình-hình nông-thôn sẳn-sàng bùng nổ. Họ chết đói trong khi gạo phải dùng để đốt “xúp-de”. Ðứng trước tình-trạng ấy, Việt-cộng không kìm hãm nổi ý thích bắt chước Trung-cộng tổ-chức nông-dân khởi loạn. Nhân ngày 1-5-1930, họ huy-động nông-dân kéo đến huyện lỵ biểu-tình đông như kiến. Chính-phủ thuộc-địa dùng lính lê-dương đàn áp, nã liên-thanh vào đoàn người biểu-tình. Bị thất-bại, các lãnh-tụ cộng-sản ở Nghệ-An rút lui về một vài căn cứ và tuyên bố thành-lập chính-quyền Soviet, theo in hệt kế-hoạch của Mao-Trạch-Ðông đã từng áp-dụng ở Hồ-Nam từ bốn năm trước. Nhưng sở dĩ ông Mao còn duy-trù được phong trào vì ông đã tổ-chức Hồng-quân để kháng cự với quân-đội “Tàu-phù” của Tưởng-giới-Thạch, không lấy gì làm oai hùng lắm. Còn Việt-cộng thì hồi đó chưa hề tổ-chức dân-quân nên không thể nào chống cự nổi sự đàn-áp của lính lê-dương. Vài tháng sau phong trào Soviet Nghệ-An hoàn toàn tan vỡ và đến cuối năm 1931 tất cả các đảng-viên cộngsản đều bị Pháp bắt và đưa đi tù đày.

Về phần ông Hồ thì ông bị người Anh bắt ở Hồng Kông cuối năm 1931. Ðược tha, có lẽ là vào khoảng năm 1932 (không có tài liệu đích xác về ngày ông đựợc tha) ông đi Singapore, bị bắt tại đấy rồI điệu trở về Hồng Kông. Vì bị bệnh lao, hoặc khai là vậy, ông được đưa về bệnh-viện rồi đột nhiên ông mất tích. Chính quyền Anh ở Hồng Kông không hề tuyên bố bề việc ông Hồ đã biến mất trong trường hợp như thế nào, nhưng có dư luận ngờ rằng ông đã bí-mật thỏa thuận với mật-thám Anh là nếu để ông thoát, ông sẽ giúp họ một việc quan trọng nào đó. Việc này cũng rất có thể vì trước kia ông Hồ đã từng thỏa thuận như vậy với mật thám Pháp (Xem Chương 2). Báo Daily Worker, cơ-quan của Ðảng Cộng-sản Anh đăng một tin vắn tắt, nói ông Hồ đã chết vì bệnh lao trong khám đường Hồng Kông nên cả mật thám Pháp lẫn Cộng-sản Việt-Nam đều tin là thực. Năm 1933, mật-thám Pháp ghi vào hồ-sơ Nguyễn-Ái-Quốc là đã chết ở Hồng Kông. Không ai biết ông Hồ đi đâu, nhưng có điều chắc là từ ngày ông biến khỏI Hồng Kông cho đến năm 1941 ông im hơi lặng tiếng trên trường chính-trị không hề liên-lạc với Ðông-Dương Cộng-sản Ðảng.1

Ngoài ông Hồ và một số nhân viên cao cấp trong điện Kremlin, không ai có thể biết ông ở đâu và làm gì trong thời gian tám năm ông biệt tích. Ngay đến Nguyễn-khánh-Toàn, dạy Việt văn ở Moscou từ 1927 cũng tin là ông Hồ đã chết thực. Sau khi về nước, Toàn có tâm sự với một số bạn bè về nỗi ngạc nhiên khi thình lình thấy ông Hồ tới nhà, vào đầu năm 1941. Ông Hồ đến để rủ Toàn về nước hoạt-động cách-mạng. Toàn đồng-ý và chỉ mấy ngày sau, giấy tờ làm xong hai người đáp tàu xuyên Si-bê-ri về Diên-An.

Toàn cũng tiết-lộ một câu chuyện về đời tư của ông Hồ. Toàn nói, mấy giờ sau khi hai người lên đường, một thiếu phụ người Nga đến gõ cửa, nói là để làm vợ ông Hồ trong khi ông lưu trú tại Moscou.

Ðối với những người quá bí-mật như ông Hồ thì ai nói gì chúng ta hẵng biết làm vậy, không nên tin hẳn mà cũng không nên gạt hẳn. Nhưng xét cho cùng thì câu chuyện của Toàn cũng không phải hoàn toàn vô-lý vì chính ngay Toàn, đã có vợ Nga và có con ở Moscou, mà khi ghé qua Diên-An cũng “có” ngay một cô vợ Tàu, đẻ luôn hai con. Rồi khi về Việt-Nam năm 1946, lại về một mình và hai năm sau “chính thức” lấy một con gái điền-chủ mới 17 tuổi (Hồi ấy Toàn đã 50). Hình như đệ-tam Quốc-tế có lệ cung-cấp “vợ giai-đoạn” cho những cán-bộ quốc-tế vì thường xuyên phải lưu-động và giữ tông-tích bí-mật nên không mang gia-đình theo được. Những “vợ” của các cán-bộ đi lại được “gán” cho các cán-bộ đến, thành một thứ “vợ luân chuyển”. Việc Thiếu-tướng Nguyễn-sơn sau khi bỏ vợ ở Diên-An về nước được Hội Phụ Nữ Cứu-Quốc gán hết nữ cán-bộ này đến nữ cán-bộ khác cho phép chúng ta ngờ rằng những việc “kiếm vợ” cho các cán-bộ lưu-động thuộc trách-nhiệm các đoàn-thể phụ-nữ địa-phương.

Việc Toàn rất đổi ngạc nhiên khi thấy ông Hồ đột nhiên đến nhà tăng thêm giá-trị, giả-thuyết ông Hồ đã bị “cấm cố” tại một địa-điểm nào đó trong nội-địa Liên-Xô từ 1933 đến 1941. Ðấy chỉ là một giả-thuyết, nhưng có một điều chắc chắn là năm 1941 ông đến Diên-An với Toàn là lần đầu tiên. Giả-thuyết ông bị Stalin đưa đi cấm cố cũng dựa trên một lý luận khác nữa. Hồi phong-trào Sô-viết Nghệ-An phát khởi, thái-độ của ông Hồ không được rõ rệt. Hình như ông không tán thành, nhưng ông không hề ngăn cản, hoặc ngăn cản không nổi. Trong khóa Chỉnh-Huấn năm 1953-54, Ðảng-ủy có giảng là ông Hồ bỏ phiếu chống việc phát-động nhân-dân bạo-động, theo kiểu Mao-Trạch-Ðông mà Stalin cho là phản lạI đường lối Lenin, nhưng vì chỉ có một mình ông chống nên vì thiểu số, ông phải phục-tùng đa-số câu chuyện này cốt ý đề cao tinh thần phục tùng đa-số của ông Hồ. Dù ông Hồ không ngăn cản, hoặc ngăn cản không nổi, đấy cũng là lần đầu tiên ông phạm khuyết điểm về lãnh-đạo, và không làm tròn nhiệm-vụ Stalin và Ðệ tam Quốc-tế đã giao phó cho ông. Có lẽ vì ông Hồ phạm khuyết-điểm về phong-trào Soviet Nghệ-An nên Stalin mới quyết-định giao trách-nhiệm lãnh-đạo Ðông-Dương Cộng-sản Ðảng lại cho Maurice Thorez, lãnh-tụ Cộng-sản Pháp. Stalin phải “đưa” ông Hồ đi khuất một chỗ, nếu không phải là để trừng phạt, thì cũng là để Thorez có điều kiện nắm trọn quyền, vì nếu ông Hồ còn lảng vảng ở Á-Ðông, thì rất có thể Việt-cộng vẫn tiếp tục nghe theo ông Hồ mà không chịu tuân lệnh Thorez. Vắng mặt ông Hồ, Ðảng Cộng-sản Pháp nghiễm nhiên làm trung-gian giữa Moscou và Việt-cộng. Thể thức này tồn tại trong mười năm, cho đến ngày Thế-Chiến thứ Hai cắt đứt mọi giao-thông giữa Pháp và Việt-Nam.

1 Ngày nay Việt Cộng nói ông Hồ ở Diên-An và có gửi bài về đăng báo Le Travail (1937) nhưng đấy là chuyện hoàn toàn bịa đặt.

PHONG TRÀO MẶT TRẬN BÌNH DÂN

Chính sách dùng Cộng-sản “Mẫu-quốc” thay mặt Moscou điều-khiển Cộng-sản “Thuộc-quốc” bắt buộc Ðệ-tam Quốc-tế phải thay đổi chiến lược. Vì Cộng-sản thuộc-quốc từ nay phải tuân theo lệnh cộng-sản mẫu-quốc nên Ðệ-tam Quốc-tế không cho đề cao tinh-thần dân-tộc và bắt phải gác bỏ các khẩu hiệu chống thực-dân, thay thế bằng những khẩu-hiệu chống tư-bản. Từ đấy, tuyên truyền cộng-sản không đả kích chính-quyền thuộc-địa mà chỉ đả kích tư bản Pháp và Việt.

Ðệ tam Quốc-tế cũng thu xếp cho Việt Cộng ở Pháp và một số ở Nga lên đường về nước. Phần lớn về Nam-kỳ vì nhờ có chế-độ thuộc-địa tương đối rộng rãi hơn chế-độ bảo-hộ nên họ dễ bề hoạt-động hơn. Họ xúi-dục công nhân các xí-nghiệp và các đồn-điền đấu-tranh chống “bọn sài lang da trắng và da vàng” đang hút máu hút mủ giai cấp công-nhân. Phong-trào phát triển rất mạnh, nhưng lần này Cộng-sản đệ-tam không nắm được độc-quyền vận-động vì Cộng-sản đệ-tứ cũng ở Pháp về cạnh tranh với họ rất gắt gao. Nói chung Cộng-sản đệ-tứ gồm nhiều trí-thức xuất-sắc hơn, nên được giới trí-thức và tiểu tư-sản Nam-kỳ hâm mộ hơn. Nhưng phần đông quần chúng vẫn do Cộng-sản đệ-tam nắm vững. Ðồng-thời các đảng-viên Ðông Dương Cộng-sản Ðảng còn đang bị giam trong các nhà tù dung thì giờ nhàn rỗi để trau dồi lại lý-thuyết Mác-Lê và giảng dạy chính-trị cho nhau. Nhiều cựu đảng-viên V.N.Q.D.Ð. như Trần-huy-Liệu chẳng hạn, quay theo cộng-sản trong dịp này. Họ ùa theo cộng-sản quá nhiều đến nỗi một cựu đảng-viên V.N.Q.D.Ð. ở Côn-đảo tập-hợp các đồng-chí cũ lại rồi tự đâm cổ để cảnh-cáo họ về tội phản-bội tôn-chỉ quốc-gia và làm hổ uy danh của các bậc tiền bối. Nhưng dần-dà, lý tưởng quốc-gia cũng bị coi là hẹp hòi, lỗi thời và phần đông cho rằng số phận Việt-Nam sau này hay, hay dở, là do ở sự thành bại của các đảng tả phái bên Pháp. Vì vậy nên khi Mặt-trận Bình-dân lên nắm chính-quyền ở Pháp, họ lại càng tin-tưởng và phấn khởi.

Vì bên mẫu-quốc chính-quyền đột nhiên thay đổi, nên chính-phủ Ðông Dương bị bỡ ngỡ, không biết nên xử-trí với Cộng-sản ra sao. Tiếp tục khủng-bố thì sợ trái với chính-sách mới của mẫu-quốc, mà không khủng-bố thì sợ cộng-sản làm già. Vì chính-quyền địa-phương do dự nên phong-trào bột phát rất nhanh chóng. Trong Nam, Stalin-nít và Tờ-rốt-kýt thi-đua hoạt-động. Nhưng vì Tờ-rốt-kýt không phục Cộng-sản Pháp và không tín-nhiệm Mặt trận Bình-dân nên có thể công-kích chính-quyền thuộc địa dữ-dội hơn Cộng-sản đệ-tam, và vì vậy nên được dân chúng hâm mộ hơn. Vì phải tuân lệnh Moscou, không được phép đả-kích thực-dân nên cộng-sản đệ-tam khó ăn khó nói. Ở ngoài Bắc thì trí-thức thuộc mọi xu hướngchính trị tập-hợp, xuất bản một tờ báo tiếng Pháp lấy tên là Le Travail . vì chỉ có báo viết bằng Pháp văn mới được xuất bản không cần phải xin phép và không bị kiểm-đuyệt. Nhóm Le Travail gồm nhiều người yêu nước không đảng phái, một số đệ-tam mới ở tù ra, một cộng-sản Ðệ-tứ (Ðệ tứ rất bành-trướng trong Nam nhưng hầu như không có ở ngoài Bắc) và hai cựu đảng-viên Tân-việt là Ðặng-thái-Mai và Võ-nguyên-Giáp. Hai người này đã gia-nhập Ðông-Dương Cộng-sản Liên-đoàn từ 1930.1

Trong mấy tháng đầu, nhóm Le Travail hợp tác chặt chẽ và gây nhiều hào hứng trong nhân-dân. Sau đó, những người Pháp có chân trong Ðảng Xã-Hội S.F.I.O. thành lập hai chi-nhánh của Ðảng, một ở Hà-Nội và một ở Saigon, thu nhận người Việt làm đảng-viên. Vì họ trực thuộc đảng Xã-hội Pháp đang nắm chính-quyền bên mẫu-quốc nên chính quyền thuộc-địa tỏ ý kính-nể và để mặc họ đấu tranh bênh vực thợ-thuyền và chống những bất-công xã-hội. Cộng-sản đứng ngoài tiếp tay bằng cách huy-động công nhân biểu-tình, đình-công để ủng hộ những yêu sách của đảng Xã-hội. Một kết-quả tưng bừng của cuộc hợp-tác này là lễ kỷ niệm ngày 1 tháng 5, 1937. Ðảng Xã-hội đứng lên tổ chức, nhưng Cộng-sản huy động hai vạn quần chúng tới dự và biểu-tình, tuần hành khắp Hà-Nội.

1 Mai và Giáp đều là “con nuôi” của Louis Marty, giám đốc phòng chính-trị của phủ Toàn-quyền. Marty kiếm việc cho Mai dậy học ở Trường Gia-Long mà giám-đốc là Bailey, một người Pháp, và giao Giáp, hãy còn là sinh-viên, cho Mai trông coi. Trong khi những đảng-víên Tân-việt khác bị tù-đày hoặc cấm cố thì hai người ung dung sống ở Hà-nộI cho đến ngày Giáp được Pháp đưa sang Tầu theo Việt Minh chống Nhật. Giáp có theo học lớp “chiến tranh du-kích” do Mỹ mở ở Tỉnh-tây, nhưng không bao giờ lên Diên An. Giáp và Mai coi nhau là “anh em kết nghĩa” nhưng sau khi vợ Giáp chết trong tù, Giáp lấy cô Hà, con gái Mai kém Giáp gần 20 tuổi mà trước kia Giáp vẫn bế trong tay hồi còn là “chú cháu”.

Sau khi Mặt-trận Bình-dân lên nắm chính-quyền ở Pháp được ít lâu thì chính-quyền Ðông-Dương ra lệnh ân-xá cho tất cả chính-trị phạm. Ðược thả ra, các đảng viên cộng-sản lập tức hoạt động lại. Nhưng lần này họ rất thận trọng. Họ chia làm hai nhóm, một nhóm chuyên về hoạt động công-khai. (Ðặng-xuân-Khu, Hạ-bá-Cang1, v.v…) một nhóm bí mật (Phạm-văn-Ðồng, Lê-văn-Hiến, v.v…) phụ trách việc xây dựng lại các tiểu-tổ. Nhóm công khai do Ðặng xuân-khu lãnh-đạo, xâm nhập báo Le Travail và mưu đả phá nhóm Tờ-rốt-kýt. Nhưng chẳng bao lâu tờ báo cũng bị kiện và đóng cửa. Sau đó, cộng-sản đệ-tam tổ chức một nhóm riêng, xuất bản hai tờ báo, một tờ tiếng Pháp lấy tên là Rassemblement, và một tờ báo Việt lấy tên Tin-Tức, nhưng cả hai đều nặng mùi cộng-sản và không có trí-thức ngoài đảng tham gia nên bán không chạy.

Dần dần nhân dân mất hào hứng. Chính-phủ Mặt-trận Bình-dân tỏ ra không kém thực-dân hơn các chính-phủ trước. Chương-trình “cách-mạng” của Mặt-trận chỉ biểu lộ bằng những lời hứa hão, và nếu cần vẫn áp-dụng chính-sách khủng-bố. Sau khi Mặt-trận Bình-dân ở Pháp tan rã thì phong-trào Mặt-trận Bình-dân ở Việt-Nam cũng tiêu tan và tiếp đến là Thế-chiến thứ Hai. Ðảng Xã-hội ngừng hoạt-động, còn Cộng-sản thì lẳng-lặng lui vào bóng tối. Vì giao-thông giữa Pháp và Việt-Nam bị cắt đứt, nên đảng Cộngsản Pháp không thế nào chỉ huy cộng-sản đàn em ở Việt-Nam được nữa.

Tuy không bạo-động, Mặt-trận Bình-dân cũng ảnh-hưởng rất nhiều đến chuyển biến sau này của Cách-mạng Việt-Nam. Chính nhờ dịp này mà lần đầu tiên báo chí, sách vở cộng-sản xuất bản ở Paris và ở Moscou tràn ngập các hiệu sách Việt-Nam và cũng là lần đầu tiên mà trí-thức và tiểu-tư-sản Việt-Nam có tài liệu chính xác về lý-thuyết Mác-xít. Hệ thống tư-tưởng Mác-xít bắt đầu thay thế cho ý niệm thô sơ của xu-hướng quốc-gia. Công chúng quan tâm nhiều đến chế-độ dân chủ hơn là độc-lập quốc-gia, và theo quan niệm của nhiều người thì Cộng-sản là một thứ Dân-chủ tuyệt đối.

Vì được thụ hưởng ít nhiều quyền lợi dưới thời Mặt-trận Bình-dân nên công-nhân coi cộng-sản là kẻ chính-thức đứng ra bênh vực họ. Nông-dân hồi đó chưa biết đọc, biết viết nên không hiểu Mác-xít, Stalin-nít là nếp tẻ gì cả, nhưng họ cũng lấy làm bùi tai khi nghe cán bộ cộng-sản hứa sẽ chia đều ruộng đất. Cộng-sản tuyên-truyền họ gia nhập những hội tương-thân, tương-trợ do cán-bộ cộng-sản kiểm-soát.

Những đảng-viên cộng-sản hồi đó phần lớn thuộc thành phần khá giả trong nông-thôn, địa-chủ hoặc phú-nông không có địa-vị trong làng, xã và thường bị quan-lại áp-bức. Cộng-sản lui vào bí-mật nhưng vẫn nắm vững các tiểu tổ gồm 1 vạn đảng-viên thực-thụ mà một số cảm-tình đông hơn. Nhưng từ 1939 cho đến 1941 cộng-sản mất dần uy-thế, một phần vì chính-quyền khủng bố, một phần vì sau khi quân đội Nhật kéo vào Việt-Nam, nhân dân Việt-Nam bỗng nhiên quay lại xu hướng quốc-gia. Một mặt khác, vì Liên-xô ký hiệp-ước bất-xâm-phạm với Ðức Quốc-xã và giữ thái độ trung-lập đối với Nhật nên Việt-cộng, cũng như cộng-sản tất cả các nước khác đều lúng túng không biết ăn làm sao, nói làm sao. Nhưng mặc dầu ngậm miệng, họ vẫn giữ vững lòng tin và nắm vững quần chúng của họ không cho lý tưởng quốc gia xâm-nhập. Sau cùng, họ gặp hai may mắm là Nhật-Bản trịnh trọng tuyên-bố tôn-trọng chủ-quyền thực dân của Pháp ở Ðông Dương và Liên-xô, bị Ðức tấn-công, nghiễm nhiên trở thành đồng-minh của các nước dân chủ Tây-phương. Việt-cộng liền đưa ngay ra khẩu hiệu “Tiêu diệt cả thực dân Pháp lẫn fát-xít Nhật”. Khi Nhật bị yếu thế và các lãnh-tụ cộng-sản trốn sang Tàu trở về với danh-nghĩa “giải-phóng”, uy-tín cộng-sản lại lên rất cao. Ðấy là phong trào Việt-minh.

1 Ðặng-xuân-Khu bây giờ là Trường-Chinh, Hạ-bá-Cang bây giờ là Hoàng-quốc-Việt.

Chương 5

CÓ CÔNG MÀI SẮT, CÓ NGÀY NÊN KIM

Việc Việt-cộng cướp được chính quyền ở Việt-Nam có thể coi là một hậu quả của Thế-chiến thứ Hai. Nhiều tác giả đã trình bày cặn kẻ về vụ này, nên trong cuốn sách nhỏ này chúng tôi chỉ lược kê lịch trình tổng quát, thay vì nghiên-cứu tỉ mỉ, vì chúng tôi muốn dành chỗ để nói nhiều hơn về một điểm mà chưa ai nói tới. Ấy là việc Việt-cộng áp-dụng chiến lược Mao-Trạch-Ðông để thành lập chế-độ vô-sản chuyên-chính tại Việt-Nam. Về một vài sự việc nào đó, sự trình bày của chúng tôi có thể khác với sự trình bày của một quan sát viên từ bên ngoài nhìn vào. Sở dĩ như vậy là vì chúng tôi chỉ căn cứ vào những sự tai nghe mắt thấy trong thời gian tham gia kháng chiến, không dựa vào những tài liệu của Cộng sản hoặc của Pháp, vì những tài liệu đó thường mâu thuẩn và nhiều khi không xác thực.

PHONG-TRÀO VIỆT-MINH

Năm 1940, ba tháng sau khi Pháp bị bại trận thì quân-đội Nhật kéo vào Việt-Nam. Vì đã ký một hiệp ước bất-xâm-phạm với Ðức-Quốc-Xã, nên Nga giữ thái độ trung lập, mặc cho hai phe, “đế quốc” và “phát-xít” đánh nhau. Nhưng ngồi xa nhìn rõ, có lẽ đệ-tam Quốc-tế đã dự đoán hậu quả của việc Nhật chiếm đóng Ðông-Dương tiên kiến việc Nhật lật đổ chính quyền thực dân Pháp và có lẽ cả việc Nhật bại trận. Moscou nhận định tình hình Việt-Nam rất thuận lợi cho một cuộc cách-mạng cộng sản. Ông Hồ từ một nơi khuất nẻo nào đó được gọi về Moscou và được phái sang Hoa Nam để tiếp tục một sứ-mạng màông đã phải bỏ dở trong ngót mười năm.

Như đã tường thuật trong Chương 3, ông Hồ lên đường sang Trung-Hoa vào mùa xuân năm 1941 ; cùng đi với ông có Nguyễn-khánh-Toàn. Nhưng cùng ngồi trên xe lửa, ông Hồ nhận thấy Toàn đã mất hết tác phong cách-mạng, một điều mà ông thực quả không ngờ. Trong 15 năm sống ở Moscou Toàn được hưởng quy chế “chuyên viên ngoại quốc”, sống một cuộc đời thảnh thơi với một số lương to hơn lương người bản xứ. Thấy Toàn ăn uống luôn mồm ông Hồ biết là Toàn đã quen thói phong lưu, không thể nào chịu đựng sự gian khổ của một người cách-mạng hoạt động trong bóng tối. Vì vậy nên đặt chân đến Diên-An, ông Hồ liền thu xếp với Mao gửi Toàn ở lại và hẹn với Toàn sẽ nhắn Toàn về khi nào cách-mạng thành công. Toàn biết vậy và vui vẻ ở lại. Các đảng viên Cộng-sản kỳ cựu cho rằng đời sống của ông Hồ và của Nguyễn-khánh-Toàn là hai thái cực. Ông Hồ thì luôn luôn chịu đựng gian khổ còn Toàn thì luôn luôn phong lưu, có thể nói là “trưởng giả”, mặc dầu hai người đều là cách-mạng cộng sản.

Toàn lưu lại Diên-An và một lần nữa, lại được hưởng quy-chế dành riêng cho “chuyên viên ngoạI quốc”, được hưởng chế-độ “tiểu táo” trong khi người vợ bản-xứ ngồi cùng bàn phải ăn “đại táo”.1 Năm 1945 sau khi cướp được chính quyền, ông Hồ bận quá nên quên khuấy Toàn. Chừng một tháng sau có một ký giả Ca-na-đa ghé qua Diên-An kể cho Toàn nghe ở Việt-Nam mới có chính phủ mới và người cầm đầu là một ông già nói tiếng Anh rất thạo. Toàn đoán chắc là ông Hồ nên quyết định về nước. Sau khi được Mao-Trạch-Ðông chuẩn y, Toàn lên đường về Việt-Nam cùng với Nguyễn-sơn, một người Việt đã gia nhập Ðảng Cộng sản Trung-Hoa từ 1927. Trung-cộng nhận hai người là nhân viên của phái đoàn Trung-cộng xuống Trùng-khánh điều đình đình-chiến với chính phủ Tưởng-giới-Thạch, nhưng tớI Trùng-Khánh. Trung-cộng nhờ một Hoa kiều buôn bán ở Bangkok, nhận chuyển về, đưa hai người về tớI Lạng-sơn. Toàn về tới Hà-Nội vào khoảng tháng Chạp 1945, và sau một thời gian được cử làm Thứ- trưởng Bộ Giáo-dục, với nhiệm vụ kiểm soát Nguyễn-văn-Huyên, bộ-trưởng, nhưng chưa có chân trong Ðảng.

1 Tiểu táo (bếp nhỏ) : một người đầu bếp hầu riêng một người ăn, thức ăn sang trọng. Ðại táo (bếp lớn) : ăn theo kiểu tập-đoàn, thức ăn sơ sài.

Sau khi để Toàn ở lại Diên-An, ông Hồ lẩn qua vùng Quốc-Dân-Ðảng và một mình lặn lội xuống Hoa-Nam, tới sát biên-giới Việt-Nam. Ông dấu kín lý lịch, tự xưng là Hồ-Chí-Minh, giả dạng làm một chiến sĩ Quốc-gia Việt-Nam chủ trương đánh đuổi Phát-xít Nhật ra khỏi nước. Ông kết liên với nhóm quốc-gia đương tích cực hoạt động ở Hoa-Nam, nhưng đồng thời ông cũng tập hợp những đồ đệ cũ của ông lẩn quất trong vùng, trong số có ông Hồ-tùng-Mậu. Cùng với họ, ông Hồ tổ chức Mặt-trận Việt-Minh (tức là Việt-Nam Ðộc-Lập Ðồng-Minh). Ông cử người về nước liên lạc với các tiểu tổ cộng-sản còn đang ẩn náu trong bóng tối. Không bao lâu, những đảng viên quan trọng trước kia bị Pháp bắt giam trong các trại tập trung lần lượt thoát khỏi trại giam chạy sang Trung-Hoa. Pháp bắt giam các đảng viên cộng-sản hồi Nga buông tay cho Ðức đánh Pháp, nhưng sau khi Nhật chiếm Ðông-Dương và Nga bị Ðức tấn công thì cộng-sản và Pháp không còn kình địch nhau nữa mà chỉ còn một kẻ thù chung trước mắt là Nhật. Vì vậy nên cộng-sản bị giam vượt ngục không cần phải trèo tường.

Ông Hồ tình nguyện dùng tổ chức bí mật của ông trong nội địa Việt-Nam làm tình báo cho quân đội Ðồng Minh Anh . Mỹ. Ông đảm nhận việc dò xét và báo cáo những di-chuyển của quân-đội Nhật và giúp các phi công Mỹ bị Nhật bắn rơi trốn thoát sang Trung-Hoa. Sau khi chiếm được Madagascar, Anh phóng thích các đảng viên cộng-sản “trong số có Hoàng-hữu-Mam) bị Pháp mang sang cấm cố ở đây và thả dù họ xuống vùng du-kích Việt-minh ở Cao Bằng1. Ngược lại, Mỹ cho Việt-minh một số radio xách tay và vài trăm tiểu-liên. Việt-minh dùng số khí giới này để tấn công mấy đồn Khố-xanh và lính dõng, nhưng tránh không giao-phong với quân-đội Nhật can trường và đầy đủ võ trang hơn. Chủ trương của ông Hồ là bảo toàn võ khí do Mỹ cung cấp để sau khi quân đội Nhật thất trận sẽ dùng để cướp chính quyền và đối phó với phe quốc-gia. Mọi việc đã xẩy ra đúng như ông Hồ đã tiên liệu. Sau khi Pháp được Ðồng-minh giải phóng và phe De Gaulle lên nắm chính quyền, viên toàn Decoux ở Ðông-Dương hổ thẹn vì đã theo chính phủ Vichy, và muốn đái tội lập công, dự định một cuộc tấn công đánh úp Nhật. Nhưng Nhật biết rõ âm mưu nên ngày 9 tháng 3, 1945, Nhật đảo chính Pháp trước khi Pháp kịp trở tay. Nhật bắt giam tất cả binh lính và thường dân Pháp, để Bảo-đại tiếp tục làm Hoàng-đế và giao cho cụ Trần-trọng-Kim thành lập một chính phủ “hữu danh vô thực”, chỉ có bộ Thanh-niên, không có bộ Quốc-phòng. Cụ Trần và một số nhân-viên trong chính-phủ của cụ là những người thật thà yêu nước nên việc đầu tiên họ làm là thả hết chính-trị phạm, kể cả cộng-sản. Nhưng sau khi ra khỏi tù việc đầu tiên của cộng-sản lại là gia-nhập phong-trào Việt-Minh để lật đổ chính-phủ Trần-trọng-Kim. Ngày 19 tháng 8, 1945, Việt-minh cướp chính quyền ở Hà-Nội. Vì Nhật đã đầu hàng Ðồng-minh từ 5 hôm trước nên bỏ ngỏ thành-phố không can-thiệp. Việt-minh chỉ biểu tình và bắn một vài phát súng sáu là viên khâm-sai Phan-kế-Toại vội vã đầu hàng. Bảo-đại cũng thoái vị và ông Hồ trở thành Chủ-tịch Chính-phủ Lâm-thời Việt-Nam Dân-chủ Cộng-hòa. Mấy ngày sau, theo đúng Hiệp-ước Postdam, quân đội Anh đổ bộ lên Saigon và quốc quân Trung-Hoa tiến vào Hà-Nội để tước võ khí của bại quân Nhật-Bản. Hai đội quân chiếm đóng tìm cách ngăn cản phong trào Việt-minh. Trong Nam thì quân Anh thả tù binh Pháp, cho họ khí giới để đánh chiếm lại Việt-Nam, còn ngoài Bắc thì quân đội Lư-Hán giúp V.N.Q.D.Ð. và Việt-Nam Cách-mạng đồng-minh Hội chống chọi với Việt-minh. Phe quốc gia tuyên truyền chống Việt-minh bắt cóc và thủ tiêu cán-bộ cộng-sản và chiếm giữ một vài địa điểm làm căn cứ quân sự.

1 Cộng-sản xui Anh không tha những người Quốc-gia, trong số có cụ Nguyễn-thế-Truyền.

Bị chống đối mỗi ngày một kịch liệt, ông Hồ bắt buộc phải nhượng bộ phe quốc-gia, dành cho họ 80 ghế trong Quốc Hội bầu cử giả hiệu, thành lập Chính-phủ Liên Hiệp1 và hô hào toàn dân đoàn kết chống Pháp. Ðảng Cộng-sản tuyên bố tự giải tán để chứng tỏ nhiệt tâm của họ đối với chính nghĩa quốc gia, nhưng thật ra vẫn tiếp tục hoạt động bí mật và kiểm soát quần chúng. Trong khi ấy phe quốc gia cũng củng cố vị trí và tăng cường tuyên truyền chống Cộng. Trong lúc ông Hồ đang lúng túng vì bị Pháp và Quốc gia tấn công hai mặt thì một thỏa hiệp giữa Pháp và chính phủ Tưởng-giới-Thạch mang lại cho ông một lối thoát bất ngờ. Theo thỏa hiệp này, Tưởng-giới-Thạch ưng thuận rút quân ra khỏi miền Bắc Việt-Nam nhường chỗ cho quân đội Pháp.

Sau khi quân đội Lư Hán rút khỏi, Cộng sản lập tức tấn công và tiêu diệt V.N.Q.D.Ð., và sau đó tìm cách điều đình với Pháp. Ngày mùng 6 tháng 3 năm 1946, Việt-minh ký hiệp-định sơ bộ với Pháp, theo đó nước Pháp “thừa nhận Việt-Nam Dân-chủ Cộng-hòa là một quốc gia ’tự do’ thuộc khối Liên Hiệp Ðông Dương và Liên Hiệp Pháp, có chính phủ, quốc hội, quân đội, và một nền tài chính riêng”. Sau này, Việt-minh cố gắng điều đình sửa lại một vài điều khoản trong Hiệp ước đó để cho Việt-Nam được hoàn toàn độc lập, vì theo Hiệp định sơ bộ thì quân đội Pháp vẫn có quyền chiếm đóng Việt-Nam. Hai cuộc hội nghị Ðà-Lạt (tháng 4 và tháng 5 năm 1946) và Fontainebleau (tháng 7 và tháng 8 năm 1946) đều thất bại mặc dầu ông Hồ đã đích thân sang Paris để vận động. Rốt cuộc, không lẽ ra về tay không, ông Hồ phải ký với tổng trưởng Pháp quốc quốc Hải ngoại, Marius Moutet, một đảng viên Xã hội mà ông đã quen trên 20 năm, một bản Tạm-ước xác nhận những điều khoản đã quy định trong Hiệp định sơ bộ. Nhưng quân Pháp không tôn trọng hiệp định cứ viện đủ mọi cớ để chiếm hết vị trí này đến vị trí khác, khiến chịu không nổi, ông Hồ phải trả đũa bằng một cuộc tấn công bất ngờ vào ngày 19 tháng Chạp năm 1946. Ông Hồ quyết định 11 giờ sáng, và định giờ khởi sự là 8 giờ tới. Võ-nguyên-Giáp đã lập tức truyền lệnh này đến tất cả các lục lượng Việt-minh trên toàn lãnh thổ. Nhưng, vào khoảng 2 giờ trưa hôm ấy, Giáp nhận được tin là Marius Moutet sắp lên đường sang Việt-Nam nên vội vã đến Bắc Bộ Phủ báo cáo với ông Hồ và hỏi ông xem có nên hoãn việc tấn công lại hay không. Ông Hồ bảo “cứ việc”, và thế là đêm ngày 19 tháng Chạp năm 1946 mở màn cho một cuộc chiến tranh kéo dài tới hơn tám năm trời.

Trước kia ông Hồ có ý đấu dịu với Pháp vì ông muốn cho Việt-minh có đủ thì giờ củng cố chính trị và quân sự. Có lẽ ông cũng ráng chờ xem Pháp Cộng và Trung Cộng làm ăn như thế nào, nhưng đến khi tình thế bắt buộc phải tự lực chống Pháp ông vẫn tin chắc thắng lợi cuối cùng sẽ về ông. Ông thừa biết Việt-Nam cách xa Pháp hàng ngàn dặm, và nước Pháp vẫn chưa hoàn toàn phục hồi sau cuộc chiếm đóng của Ðức-Quốc-Xã. Hơn nữa, sau Thế chiến thứ 2 quốc tế đã thay đổi hẳn khiến một cuộc chiến tranh tái chiếm thuộc địa là một chuyện không thể nào thực hiện được nữa. Ông Hồ nhận định rằng Pháp càng đánh thì càng củng cố thêm uy thế của Việt-minh, vì sẽ làm cho Cộng-sản trở thành những chiến sĩ chân chính bảo vệ đất nước và thực sư giải phóng quốc gia, không “ngáp phải ruồi” như hồi mới cướp chính quyền. Ông Hồ trở thành biểu tượng của đoàn kết quốc gia, và mọi người nhiệt liệt hưởng ứng phong trào kháng chiến chống Pháp.

Cuộc kháng chiến

Võ-nguyên-Giáp muốn rập theo kế hoạch của Nhật trong cuộc đảo chính mùng 9 tháng 3, tấn công các trại binh Pháp đúng 8 giờ tối là giờ các sĩ quan Pháp đang ăn uống. Nhưng một tên Pháp lai làm tự vệ cho Việt-minh báo cho Pháp biết nên Pháp đủ thì giờ chuẩn bị. Ở một vài nơi không đủ sức chống đỡ, Pháp phải đầu hàng, nhưng Pháp giữ vững những thành phố hoặc vị trí mà quân số của họ đông hơn Giải-phóng quân cuả Việt-Minh. Tình trạng kéo dài trong ba năm : quân đội Pháp không dám mạo hiểm ra khỏi các vị trí hoặc thành phố, quân đội Việt-minh kiểm soát vùng quê, phá cầu, cắt đứt đường giao thông. Dần dần quân đội Pháp nới rộng vòng kiểm soát, nhưng đồng thời Việt-minh cũng tiến-bộ về quân sự. Tình-trạng cứ giằng co như thế cho đến ngày chính phủ Nam-Kinh xụp đổ và Mao-Trạch-Ðông tuyên bố thành lập nước Cộng-Hòa Nhân-dân Trung-Hoa ở Bắc-Kinh ngày mùng 1 tháng 10 năm 1949.

1 Chính-phủ Liên-Hiệp gồm có cộng-sản, quốc-gia và trung lập có thể coi là một thí-nghiệm “tam đầu chế” đầu tiên trong lịch-sử thế-giới.

Thấy ông Mao thành công ở Trung-Hoa, ông Hồ bèn yêu cầu viện-trợ. Tháng Hai năm 1950, Mao-Trạch-Ðông cử tướng Lã-quý-Ba làm cố vấn quân sự cho Võ-nguyên-Giáp. Ít lâu sau, Trung-cộng lại cử thêm nhiều chuyên viên sang giúp Việt-minh trong mọi ngành. Ngoài ra Trung-cộng còn ra lệnh cho hai tỉnh giáp giới Việt-Nam . là Quảng Tây và Quảng Ðông . cung cấp lương thực, võ khí và đạn dược cho quân đội Việt-minh. Và rất nhiều sĩ quan Việt-Nam được gửi sang Trung-Quốc học tập quân sự.

Ðược Trung-cộng ủng hộ, quân đội Việt-minh tổng tấn công các vị trí của quân đội Pháp dọc biên giới Việt Hoa, buộc quân đội Pháp phải rút về đồng bằng sông Nhị Hà ở phía nam. Thấy bước đầu thành công, tướng Lã-quý-Ba khuyên Việt-minh truy kích tấn công vào các vị trí Pháp ở đồng bằng. Nhưng vì Lã tướng quân không có mấy kinh nghiệm về sự tàn phá của không quân nên trong trận Ninh-bình quân đội Việt-minh đã bị tổn thất nặng nề, phải tháo chạy tán loạn vì bị phi cơ Pháp dùng bom napan đốt phá. Sau khi nhận thấy là đã tính lầm, Lã tướng quân bèn thay đổi chiến lược và tìm cách dụ quân đội Pháp tiến vào vùng rừng núi. Ðể thực hiện kế hoạch này, ông khuyên Việt Minh tấn công các đồn binh Pháp ở Lào. Vì nằm ở phía sau dẫy núi Trường-sơn, nên Pháp yên trí các vị trí này không bị tấn công, do đó không hề chuẩn bị đề phòng.

Việt-minh bắt đầu dự trữ lương thực . phần lớn là gạo và cá khô . vì ở Lào dân cư thưa thớt, không kiếm được lương thực tại chỗ. Việt-minh trưng dụng xe đạp mà dân chúng đã buôn lậu từ các khu vực bị Pháp chiếm đóng, dùng để “thồ” lương thực và đạn dược. Việt-minh vượt qua dẫy Trường-sơn và tiến qua các rừng núi Lào nhanh đến nỗi Pháp không kịp trở tay.

Việt Minh mở tất cả ba chiến dịch lớn ở Lào. Chiến dịch thứ nhất nhầm tấn công Luang Prabang, thủ đô Hoàng gia Lào. Trong chiến dịch này, Việt-minh đã tiến tới cách Luang Prabang chưa đầy 50 cây số về phía Bắc, vào ngày 30 tháng 4 năm 1953. Sợ Việt-minh tấn công một lần nữa, ngày 20 tháng 11 năm 1953, Pháp cho 6 tiểu đoàn nhảy dù xuống Ðiện Biên Phủ. Việt-minh bèn mở cuộc tấn công thứ 2 vào Trung Lào và chiếm đóng Thakhek ngày 28 tháng Chạp, và sau đó tiến quân xuống Hạ Lào. Mục đích là buộc Pháp phải chia quân đi trấn giữ mọi nơi ở Lào, và làm cho Pháp phải dùng số lớn phi cơ vào việc tiếp tế các đồn binh tản mát ở những nơi hẻo lánh. Rồi cuối cùng, Việt Minh mở một chiến dịch thứ ba, lần này cũng lại nhầm đánh Luang Prabang, và ngày mùng 8 tháng 2 năm 1954 chỉ còn cách thành phố này chưa đầy 35 cây số. Quốc vương Lào sang bên kia sông Cửu Long lánh nạn, còn Pháp thì vội vàng thả dù thêm quân xuống Ðiện Biên Phủ.

Tuy chẳng to tát gì, nhưng Luang Prabang cũng là một “thủ đô” nên Pháp phải bảo vệ đến cùng. Kế hoạch của Pháp là chặn cuộc hành quân của Việt-minh bằng cách cắt đứt đường tiếp vận của họ ở Ðiện Biên Phủ, một đồn binh nằm sâu trong vùng thượng du và ở ngay phía sau chiến tuyến Việt-Minh. Việt-minh bao vây Ðiện-Biên-Phủ. Pháp càng thả dù thêm quân thì Việt-minh càng bao vây thêm cho đến ngày Việt-minh dùng cao xạ rất chính xác của Tiệp-khắc hạ máy bay khiến Pháp không thả dù được nữa.

Việt Minh tấn công Lào, không phải nhằm chiếm đóng Lào mà thật ra chỉ để nhử Pháp lọt vào vùng núi. Tướng De Lattre de Tassigny là một chiến-lược-gia có tài, nhưng người kế vị ông kém quá nên không địch nổi với chiến lược Việt Minh. Chỉ vì muốn đánh vào hậu quân Việt Minh mà Pháp đã lọt vào tròng. Với quan niệm quân sự cổ điển Tây Phương, Pháp đã lâm vào thế bị động và không sao giữ nổI Ðiện Biên Phủ.

Ðến lúc ấy, Liên-xô hở cho Pháp biết là có thể chấm dứt chiến tranh mà Pháp không bị mất mặt nhiều. Pháp hưởng ứng ngay và Hội Nghị Genève được triệu tập năm 1954. Thoạt đầu Pháp ngần ngạI không chịu chấp nhận điều kiện của Việt-minh, nhưng trong lúc Pháp đang lưỡng lự, thì Việt-minh tấn công đại quy mô vào Ðiện Biên Phủ. Quân đội Pháp phải đầu hàng ngày mùng 7 tháng 5 năm 1954. Tin Pháp thua to ở Ðiện Biên Phủ làm náo động dư luận Pháp, và kết quả là chính phủ Mendès Frances phải hấp tấp ký một hiệp định nhượng bộ cho Việt-minh nhiều hơn là các lãnh tụ Việt-minh từng hy vọng.

Chiến tranh chấm dứt giữa lúc tỉnh Thanh Hóa sắp lâm vào nạn đói. Nằm trong khu vực phì nhiêu sông Mã, Thanh Hóa vẫn được coi là vựa lúa thứ hai của miền Bắc. Tự ngàn xưa, Thanh Hóa vẫn là nơi nuôi quân để chống lại quân Tầu. Vì không hề bị Pháp chiếm đóng, nên trong thời kỳ kháng chiến Thanh Hóa lại là nguồn tiếp tế lương thực cho quân đội Việt-minh. Có lẽ Pháp không đủ quân lực để chiếm vùng này, nhưng có thể là tại các tướng lãnh Pháp không chịu nghiên cứu lịch sử Việt-Nam và binh pháp Tôn Tử1 nên đã không chú ý đến tỉnh này. Muốn hiểu Thanh Hóa quan trọng nhường nào đối với kháng chiến, thì chỉ cần biết tỉnh này đã cung cấp 76 phần trăm tổng số lương thực cho quân đội Việt-minh ở Ðiện Biên Phủ. Con số này đã được nêu lên trong một điện văn tuyên dương thành tích của nhân dân Thanh Hóa. Một điều nữa nên biết là chỉ có 10 phần trăm số gạo xuất kho từ Thanh Hóa đến tới Ðiện Biên, vì hàng vạn dân công gánh gạo ăn dọc đường hết 90 phần trăm. Mỗi người gánh 15 ki lô, mỗi đêm đi 15 cây số. Ðể tránh máy bay họ nghỉ ngày, đi đêm. Tối đến có hàng vạn dân công lên đường, cứ 5 người lại có một người cầm đèn soi đường và mỗi khi có tiếng máy bay là lập tức thổi tắt đèn Ðứng trên đồi cao nhìn xuống đoàn người cầm đèn, người xem có cảm tưởng chứng-kiến một cuộc múa rồng múa rắn vĩ đại.

Nếu Pháp đã bị kiệt quệ vì chiến tranh Ðông-Dương, thì Việt-Minh cũng gần tê-liệt. Việt-Minh đã dành được thắng lợi vì kiên nhẫn hơn và biết dấu kín những nỗi khó khăn nội bộ. Ôn lại chín năm kháng chiến người ta có cảm tưởng như Pháp cứ đánh từ từ, tập rượt cho quân đội Việt Minh mỗi ngày một lớn mạnh, cho tới ngày “học viên” quật ngã huấn-luyện-viên. Hồi kháng chiến mới bùng nổ năm 1946, Việt-Minh chỉ có gậy tầm vông, một vài khẩu súng lục và tiểu liên do Mỹ cung cấp hoặc mua rẻ của sĩ quan trong quân đội Lư-hán. Nhưng ngày nay, quân đội Bắc-Việt là một quân đội tinh nhuệ, võ trang đầy đủ và tinh thần dũng cảm cao đến tột bực.

Trái với một số người vẫn tưởng, quân Nhật không hề giúp võ khí cho Việt-Minh. Trong mấy ngày đầu sau khi họ đầu hàng, quân Nhật quả có ý định giúp Việt-Minh một số võ khí và quân trang, nhưng họ đình ngay khi có tin Võ-nguyên-Giáp, ngày 17 tháng 8, 1945 trong khi kéo quân từ Thái-Nguyên về Hà-Nội đã tấn công đồn binh Nhật ở Thái-Nguyên để “ra oai” với mấy phóng viên báo Mỹ cũng đi theo. Nhật đốt hết kho tàng của họ và trao lại cho quân đội Lư-Hán ở Hải-Phòng 400.000 tấn võ khí đạn dược.

Trong vùng kháng chiến, mọi người đều công nhận rằng, ngoài số võ khí và đạn dược chiếm được của quân Pháp, có 5 vật tư, không thu nhưng mua được của Pháp, đã giúp Việt-Minh chiến thắng. Những vật tư ấy là :

1. Thuốc sốt rét, để quân đội dùng ở những vùng nước độc.
2. Nylon nhẹ, không thấm nước, dùng để che mưa hoặc để bọc quần áo và thức ăn; làm phao bơi qua sông.
3. Vỏ xe hơi cũ dùng làm dép “cụ Hồ” để trèo đèo lội suối.
4. Xe đạp để “thồ” lương thực và đạn dược.
5. Dầu hỏa để thắp đèn.

1 Tôn Tử chủ trương “Thứ nhất công tâm, thứ hai công lương và thứ ba công đồn”, nghĩa là trong mỗi cuộc tấn công phải lo chiếm cảm tình nhân dân địa phương trước, thứ đến triệt nguồn lương thực của địch, và cuối cùng mới tính chuyện tiến đánh đồn địch. Ðối chiếu với binh-pháp Tôn Tử chúng ta thấy Pháp ngày xưa cũng như Mỹ ngày nay chú trọng quá nhiều vào hành-động thứ ba mà coi nhẹ hành-động thứ nhất và thứ nhì, trong khi Việt Cộng cũng như Trung Cộng lúc nào cũng theo đúng lời dậy của Tôn Tử ?

Pháp nhập cảng các thức này vào Việt-Nam, và con buôn mang lậu ra hậu, thường khi có sự thông đồng của các trưởng đồn Pháp.

Chiến tranh Ðông Dương kết liễu ngày 21 tháng 7 năm 1954, khi Pháp và Việt-Nam Dân-chủ Cộng-hòa, cùng với Cam-bốt, Lào, Nga-sô, Trung-cộng, và Anh ký vào bản Tuyên Ngôn Cuối Cùng của Hội Nghị Genève ; đây là bản hiệp định đương nhiên thừa nhận chủ quyền của chính phủ Hồ-Chí-Minh trên toàn miền Bắc Việt-Nam. Trong 5 năm sau đó, tình hình tương đối được yên tĩnh vì Cộng Sản còn bận hoàn thành công cuộc tập thể hóa miền Bắc và huấn luyện những phần tử thân Cộng tập-kết ở miền Nam để tổ chức chiến tranh du kích hiện còn đang tiếp diễn.

Củng cố chính trị

Về chính trị và văn hóa Việt-minh cũng đạt được những tiến bộ tương tự như về quân sự. Năm 1945, 80 phần trăm dân số hãy còn mù chữ, mà đến đầu năm 1950 nạn mù chữ đã hoàn toàn thanh toán. Nhờ mẫu tự La-tinh và cách đánh vần rất hợp lý, nên một người lớn tuổi thường chỉ học độ một tháng là đủ biết đọc biết viết. Muốn bắt dân chúng phải học đọc, học viết, Việt-Minh đặt cán bộ đứng khảo chữ ở cổng chợ, bến đò hoặc ngay giữa đường, có đánh vần đúng mới được đi qua.

Tuy trình độ văn hóa của nhân dân vẫn còn thấp vì nói chung họ học chính trị nhiều hơn là văn hóa, song làng nào cũng có một trường tiểu học, huyện nào cũng có một trường trung học, và có rất nhiều lớp học bổ túc buổi tối cho tất cả những người lớn tuổi.

Tiến bộ về tổ chức chính trị cũng lớn lao vô cùng. Từ một thiểu số viên chức và chuyên viên thiếu kinh nghiệm, đảng Lao Ðộng đã đào tạo được hàng ngàn cán bộ chuyên môn về mọi kỹ-thuật, và một đoàn cán-bộ khổng lồ phụ trách việc kiểm soát đời sống hàng ngày của toàn thể nhân dân. Việc kiểm soát nhân dân . công cuộc vĩ đại nhất của Cộng sản . có thể tạm chia làm hai giai đoạn : giai đoạn “phản đế” bắt đầu từ 1946 và chấm dứt năm 1949 và giai đoạn “phản phong” từ 1950 đến 1956.

Giai đoạn Phản Ðế 1946-1949

Khẩu hiệu của thời kỳ này là “Tổ Quốc trên hết”. Ông Hồ hô hào toàn dân đoàn kết ủng hộ chính phủ kháng chiến chống Pháp. Ðể trí thức bớt nghi ngờ, đảng Cộng sản Ðông Dương tuyên bố tự ý giảI tán, và trịnh trọng giao quyền lãnh đạo chính trị cho Mặt Trận Liên Việt. Quyền tư hữu tài sản được triệt để tôn trọng, và địa chủ vẫn được quyền thu thóc. Có nơi nông dân bị truy tố vì không trả đủ địa tô cho địa chủ. Trí thức được trìu mến, nhiều người được giữ chức vụ cao cấp nếu không có thực quyền thì ít nhất cũng có danh vọng còn thân hào nhân sĩ vẫn được trọng vọng như xưa. Ðể lôi kéo những ngườI khao khát muốn tham gia việc nước, Cộng sản thành lập nhiều đoàn thể chính trị “hữu danh vô thực” như Ðảng Dân chủ, dành cho địa chủ và phú thương ; Ðảng Xã-Hội, dành cho trí thức, và Mặt Trận Liên Việt, dành cho nhân sĩ và bô lão, già không hoạt động nặng nhọc được, nhưng vẫn còn uy thế đối với con cháu. Những tổ chức này thực ra chỉ là một tấm bình phong để Cộng sản nấp sau giật dây. Vì quả thực là bù nhìn, dành riêng cho từng giới, nên chẳng bao lâu mấy đoàn thể nói trên mất hết uy tín đối với dân chúng.

Ðảng Dân chủ do một nhóm sinh viên đại học lập ra hồi Nhật chiếm đóng, đã bị rơi ngay vào vòng kiểm soát của Cộng sản vì tình nguyện hợp tác với Việt-Minh để chung sức chiến đấu chống Pháp và Nhật. Ngày nay Ðảng Dân Chủ đã trở thành một tổ chức hoàn toàn bù nhìn có nhiệm vụ kiểm soát “thành phần tư sản”.

Hai đảng Xã-Hội và Dân-Chủ ngày nay chỉ còn có tên. Còn “Mặt Trận” thì đã đổi tên đến ba lần: từ Mặt trận Việt-minh đến Mặt trận Liên-việt, rồi từ Mặt trận Liên-Việt đến Mặt trận Tổ-qưốc, và cuối cùng từ Mặt trận Tổ-quốc đòi thành Mặt trận Thống Nhất Quốc-gia. Mỗi khi đổi tên thì bản cương lĩnh cũng được thay đổi chúc ít để phù hợp với nhu cầu của tình thế. Có nhiều quan sát viên sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng những bản tuyên ngôn chính thức của các “Mặt trận”, cho rằng có một vài thay đổi thực sự trong đường lối chính sách. Nhưng thực ra sự thay tên đổi dạng này chẳng vì một thay đổi quan trọng nào về chính sách, mà chỉ vì mặt trận đương thời đã mất hết uy tín. Thí dụ như hồi đầu Mặt Trận được gọi là Việt-minh, viết tắt là VM, đọc nhanh thành Vẹm. Không bao lâu câu thành ngữ Việt-Nam “nói như vẹt” được đổi ra “nói như Vẹm”, nghĩa là nói liến thoắng như cán bộ Việt-Minh, rồi từ đó sinh ra những thành ngữ “nói dối như Vẹm, thủ đoạn như Vẹm”. Chữ Vẹm làm cho Cộng-sản khó chịu, nên họ đổI thành Liên-Việt. Nhưng vẫn thói viết tắt Liên-Việt thành L.V, đọc theo lối “truyền bá quốc ngữ” thành “lờ vờ” và quả thật các cụ trong Mặt Trận Liên-Việt lúc nào cũng chỉ hoạt động một cách lờ vờ. Trong giai đoạn đầu còn nhiều tính chất dân chủ, bộ máy chính quyền đã củng cố rất nhiều mặc dầu vì ưa dùng thủ đoạn nên chế độ mỗi ngày mỗi mất uy tín đối với nhân dân.

Giai đoạn Phản Phong, 1950-1956

Việt Minh giả dạng dân chủ cho đến ngày chiến thắng quân Pháp ở Lạng sơn, tháng 9 năm 1950, tiến sát tới biên giới Hoa Việt. Có tin đồn hồi đầu năm 1951 ông Hồ đã bí mật vi hành sang gặp ông Mao và đã bị các lý thuyết gia Trung Cộng phê bình là ông “hữu khuynh”, vì họ cho rằng ông Hồ đã chú trọng quá nhiều đến kháng chiến chống Pháp mà coi nhẹ nhiệm vụ thiết lập chế độ Cộng sản.

Sau khi ông Hồ từ Bắc Kinh trở về, đảng Cộng sản đã gỡ bỏ mặt nạ và xuất hiện với cái tên mới lạ Ðảng Lao Ðộng Việt-Nam (ngày mùng 3 tháng 3 năm 1951). Khẩu hiệu mới của Ðảng là : “Ðưa Phản Phong lên ngang hàng với Phản Ðế”. Trước đó, mọi khẩu hiệu đều nhằm vào chiến tranh chống Pháp, nhưng nay vì chính sách đã thay đổi nên khẩu hiệu cũng phải thay đổi. Nhưng nếu đột nhiên thay khẩu hiệu bằng khẩu hiệu mới thì sợ gây hoang mang mà Cộng sản hết sức muốn tránh, nên họ bắt đầu thay đổi dần dần, nay một chữ, mai một chữ, cho đến khi khẩu hiệu mất hết ý nghĩa cũ. Chẳng hận như khẩu hiệu “Sẵn sàng Tổng Phản Công” năm 1950, đổi thành “Sẵn sàng chuẩn bị Tổng Phản Công” vào năm 1951 ; sang năm 1952 lại giảm xuống “Sẵn sàng Hoàn Thành Chuẩn bị Tổng Phản Công”, và cuối cùng cất biến. Ðến khi phản công thực sự, năm 1954, thì Cộng-sản đã đầy đủ uy quyền để bắt dân chúng phảI tuân lệnh. Vì không còn cần phải “thuyết phục theo đường lối dân chủ” nữa, nên khẩu hiệu kể trên đã trở thành vô dụng.

Hồi khẩu hiệu “Ðưa Phản Phong lên ngang hàng với Phản Ðế” mới xuất hiện, dân chúng không hiểu “Phản Phong” là gì. Nhiều người cho rằng Phản Phong nghĩa là xóa bỏ tàn tích phong kiến còn sót lại trong guồng máy chính quyền nhà nước. Chỉ có cán bộ được huấn luyện ở Trung-Quốc về mới biết rõ Phản Phong có nghĩa là “tiêu diệt giai cấp địa chủ”. Mãi đến khóa chỉnh huấn đầu tiên, nên, năm 1953, danh từ “Phản Phong” mới được định nghĩa rõ ràng (xem phần 4).

Chiến dịch chính trong giai đoạn Phản Phong là chiến dịch Cải Cách Ruộng Ðất (1953-1956); hy sinh hơn nửa triệu người (tức là 4 phần trăm dân số Bắc-Việt). Trước khi phát động chiến dịch Cải Cách Ruộng Ðất long trời lở đất này, đảng Lao-Ðộng đã phát động hai chiến dịch khác để dọn đường trước.

Thứ nhất là chiến dịch thuế Nông-Nghiệp, rập theo mẫu của Trung-cộng, nhằm mục đích bần cùng hóa toàn dân và biến xã-hội Việt-Nam thành một xã hội bần cố. Tiếp theo là cuộc “đấu tranh chính trị” nhằm thủ tiêu “tất cả mọi phần tử phản động đầu xỏ”. Còn chính chiến dịch Cải Cách Ruộng Ðất thì thực hiện làm hai đợt, hoặc hai chiến dịch liên tiếp : chiến dịch “Giảm Tô” và chiến dịch “Cải Cách Ruộng Ðất” thực sự. Sau chiến dịch “Cải Cách Ruộng Ðất” đến chiến dịch “Sửa Sai” với mục đích bình thường hóa tình hình quá căng thẳng sau mấy chiến dịch khủng bố có tổ chức. Mỗi chiến địch đều được sửa soạn trước bằng một khóa chỉnh huấn để chuẩn bị tinh thần cán bộ khỏi bị giao động trước những hành động đẫm máu của chiến dịch. Toàn bộ chiến dịch này chỉ được thực hiện từ mấy năm trước ở Trung-Quốc, và thường được mệnh danh là “chiến thuật Mao-Trạch-Ðông”. Vì tầm quan trọng của các chiến dịch này cũng như sự phản ảnh chủ tâm của các lãnh tụ Cộng sản, chúng tôi sẽ trình bầy mỗi chiến dịch riêng biệt trong các chương sau. Chúng tôi mong độc giả sẽ có một quan niệm tổng quát về toàn bộ chiến thuật mà Mao-Trạch-Ðông đã vạch ra cho Trung-Quốc, và tin rằng có thể áp dụng cho tất cả các nước kém mở mang, như Việt Nam chẳng hạn.

(Còn tiếp)

Bài đã đăng: Mời quý bạn đọc bấm vào đây xem

Phần 1 Cái Vinh & Cái Nhục Của Một Tiểu Nhược Quốc

Phần 3 Chuẩn Bị Thành Lập Chế Ðộ Ðộc Tài

May 19, 2008

Thư gởi cộng đồng thế giới và Việt Nam

 

Kính Gửi :

                  Tổ chức theo dõi và giám sát Nhân quyền Quốc Tế

                  Cùng dư luận trong nước và toàn thể đồng bào hải ngoại và  công luận trên toàn thế giới.

 

       Tôi tên là Lê Thanh Tùng      Bút danh : Lê Ái Quốc

Quê Quán: Thôn Mai Đoài – xã Mai Đình – huyện Sóc Sơn -ngoại thành Hà Nội

Dân Tộc  :  Kinh           Quốc tịch : Việt Nam

      Như quý vị đã biết tôi là người đã từng chiến đấu bảo vệ và góp phần xây dựng cho chế độ của ĐCSVN tại Cambodia cũng như tại Việt Nam. Và tôi đã tình nguyện trở về Việt Nam để góp phần đấu tranh vì nền dân chủ, tự do, nhân quyền và công lý trên đất nước Việt Nam bằng các phương pháp ôn hoà bất bạo lực và hợp hiến từ đầu tháng 9/2007.

    Thế nhưng chính vì những hoạt động yêu nước và vì nhân quyền, dân chủ như vậy nên từ tháng 09/2007 tới nay, tôi đã bị công an của nhà cầm quyền CS Hà Nội rất nhiều lần bắt giữ,  giam cầm trái pháp luật, rồi đánh đập, lăng nhục, thu giữ hộ chiếu, chứng minh, 02 USB, điện thoại di động trái phép tổng cộng đã 7 lần. Cụ thể như sau :

    Lần thứ nhất ngày 06/10/2007 họ đã chỉ đạo công an huyện Sóc Sơn và Hà Nội thu giữ 01 chứng minh nhân dân, 01 hộ chiếu, 01 điện thoại di động của tôi khi tôi vừa trở về nước sau hơn 17 năm sống lưu lạc nơi đất khách quê người.

    Lần thứ hai ngày 27/11/2007 khi tôi đi dự phiên toà xét xử các luật sư Lê Thị Công Nhân và Nguyễn Văn Đài dù chỉ đứng bên ngoài hàng rào, nhưng họ đã bắt giữ tôi để giam trong đồn công an phường Trần Hưng Đạo nhiều giờ đồng hồ mới thả ra.

    Lần thứ ba ngày 16/12/2007 khi tôi đi biểu tình chống Trung Cộng xâm chiếm các đảo Hoàng Sa và Trường Sa trước toà đại sứ Trung Quốc bên Hà Nội thì tôi đã bị công an bắt giữ và thu giữ 01 điện thoại di động.

    Lần thứ tư ngày 13/04/2008 khi tôi đi dự cuộc Liên hoan gặp mặt anh chị em dân chủ và khối 8406 năm 2008 đã bị công an Hà Nội bắt giữ, họ đã giam cầm và thẩm vấn tôi hơn 33 giờ cả vào ban đêm tại sở công an Hà Nội và họ đã đánh đập rất tàn nhẫn, rồi khám xét người trái pháp luật để thu giữ 02 điện thoại di động và một USB của tôi.

      Ngày 24/4/2008 công an CSVN thuộc TP –  Hà Nôi do ông đại tá Ngô Thái Chung lãnh đạo phòng PA -38 chỉ đạo đã đem tôi ra đấu tố sỉ nhục tàn khốc trước hàng trăm cán bộ đảng viên, thương binh CSVN và công an Hà Nội trong hơn 2 giờ đồng hồ tại quê nhà.

    Lần thứ năm ngày 07/05/2008 khi tôi đi chữa bệnh bên Hà Nội đã bị công an Hà Nội bắt giữ và bị tịch thu 02 điện thoại di động, 01 USB.

    Lần thứ sáu ngày 13/05/2008 khi tôi tiếp tục đi chữa bệnh bên Hà Nội đã bị công an theo dõi rồi bị họ bắt giữ, sau đó thu giữ 01 điện thoại di động của tôi.

    Lần thứ bảy ngày 15/05/2008 tôi cũng đi chữa bệnh bên Hà Nội và trong lúc chờ đợi  xếp hàng để được chữa bệnh thì tôi đã tranh thủ tới nhà anh Nguyễn Khắc Toàn nằm nghỉ cho tới hơn 10h trưa thì tôi ra ngoài đường để ăn cơm. Khi tôi vừa ra tới ngoài đường thì đã bị ba bốn ( 3-4) tên công an Hà Nội bắt giữ rồi họ xông vào đánh đập tôi rất dã man làm gãy một chiêc răng hàm số 7 vị trí ở hàm phải bên dưới (những công an này tôi còn rất nhớ mặt khi họ theo dõi khủng bố tôi từ hồi đám tang cụ Hoàng Minh Chính ngày 16/02/2008 và hôm tổ chức cuộc gặp mặt Liên hoan ngày 13/04/2008 nhưng tôi không biết tên thôi )

    Sau đó một tên công an thuộc TP Hà Nội tên là Tuấn Anh (nhỏ) bắt và đưa tôi vào công an phường Tràng Tiền. Tại đây tên công an Tuấn Anh (nhỏ) bóp cổ tôi và chửi bới thậm tệ, lăng mạ xúc phạm danh dự tôi.

    Đến 14h30′ trước khi đưa tôi về công an Sóc Sơn thì có một tên công an to lớn mặc áo kẻ vàng vào trong phòng giam giữ tôi nói rằng : “ tôi tha cho anh về nhưng còn số tiền 1.035.000 đồng VN thì tôi chỉ cho anh 35.000 đồng VN còn 1 triệu thì tôi thu bởi vì đây là tiền của anh Nguyễn Khắc Toàn vừa cho anh….”.

    Trước việc bị vu cáo và cướp đoạt trắng trợn tiền mua thuốc chữa bệnh như vậy của tôi, nên tôi không chịu và giằng co cùng anh ta để lấy lại, song tên công an Tuấn Anh (nhỏ) xông vào cản tôi lại và để tên công an kia đi mất, việc thu giữ số tiền này xảy ra ngay trong trụ sở công an phường Tràng Tiền mà chúng không hề lập biên bản gì cả. Như vậy  rõ ràng đây là hành vi ăn cướp tài sản của công dân do công an CSVN  TP Hà Nội là thủ phạm gây ra.

Rồi ít phút sau thì tên công an Tuấn Anh (nhỏ) cùng một người nữa tôi không biết tên đưa tôi ra lên xe về công an huyện Sóc Sơn.

       Khi ra tới dốc Bác Cổ trên tuyến đường có rất nhiều xe cộ đi lại thì tên Tuấn Anh (nhỏ) nói : “ mày có muốn ăn bánh xe ô tô không ? “.Tôi đáp : “con chó nó ăn cứt nó còn muốn sống huống chi con người, nhưng tao cũng không sợ chết như chúng mày nghĩ đâu.”

      Đi tới cầu Chương Dương thì chúng cố tình lái chiếc xe đi vào lối dành cho xe gắn máy sát với thành cầu, lúc này tên Tuấn Anh (nhỏ) nói : “mày muốn tao ném mày xuống sông Hồng này không? “. Tôi đáp : “chúng mày có giỏi thì cứ giết tao đi, tao cũng chỉ chết có một lần thôi, tao không sợ đâu !”.

       Một tên công an già khoảng 50 tuổi nói : “nước sông Hồng mùa này nhỏ cạn thế này chắc nó không chết được đâu, thôi ta tha cho nó để lần sau giết nó cũng chưa muộn !”.

      Như vậy là các tên công an CS nói trên vừa có bản chất của một lũ côn đồ, lưu manh, vừa là bọn cướp của và có âm mưu giết người rất tàn ác. Chúng coi thường mạng sống của người dân vô tội không ra gì cả. Chúng muốn bắt ai, đánh ai, cứớp tiền bạc và tài sản cá nhân của bất cứ ai là tuỳ thích, chúng muốn giết hại ai là tuỳ ý chúng cả và hoàn toàn được pháp luật của chế độ gọi là XHCN tại Việt Nam hiện nay che chở, dung túng…

       Còn tình hình ở tại địa phương tôi ở hiện nay thì luôn luôn có khoảng từ 25 đến 30 công an, mật vụ an ninh phong toả khắp chợ, khắp các quán Internet và khắp các bến xe ô tô để bao vây mọi sinh hoạt của cả gia đình tôi. Khi tôi vào bất cứ quán internet nào là lập tức quán đó bị công an bắt chủ quán phải đuổi tôi ra ngay. Còn khi tôi lên xe ô tô buyt để sang Hà Nội chữa bệnh thì lập tức công an bám theo và khi tôi xuống xe và ghé vào đâu đó là liền bị công an địa phương hỏi giấy tuỳ thân để lấy cớ bắt giữ tôi. Và thế là chúng cứ mặc sức bắt giam tuỳ tiện rồi đánh đập tôi luôn. Mà trong khi đó giấy chứng minh và hộ chiếu của tôi thì công an huyện Sóc Sơn đã lừa vợ tôi đưa cho và thu giữ cho đến bây giờ chúng vẫn chưa trả lại.

    Đó là nội dung tôi tố cáo những hành động đàn áp về nhân quyền đối với bản thân tôi trong thời gian ngắn ngủi qua. Như vậy là thành tích về Nhân quyền, Tự do, Dân chủ…đang được từng bước cải thiện ngày càng tốt lên như ĐCSVN và chính phủ nước CHXHCN Việt Nam từng tuyên bố là như vậy đó !!!

    Tôi tha thiết đề nghị các tổ chức bảo vệ Quyền Con Người ở khắp nơi trên thế giới, các chính phủ yêu chuộng, tôn trọng Tự do và Nhân quyền cũng như tất cả những ai đã và đang quan tâm tới vấn đề Nhân quyền ở Việt Nam hãy có cái nhìn khách quan hơn để bảo vệ cho quỳên Công Dân và quyền được Làm Người ở Việt Nam phải được tôn trọng và thực thi. Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các quý vị và những ai đã và đang quan tâm tới vấn đề Dân chủ, Nhân quyền tại Việt Nam trong đó có cảnh ngộ bi thảm của tôi đang bị bộ máy độc tài chuyên chế sắt máu hãm hại, trù dập.

 

Hà Nội ngày 16/5/2008

     

Kính thư   

 

Công dân Lê Thanh Tùng.

 Địa chỉ thường trú hiện nay : khối 13, phố Chợ, thị trấn Phù Lỗ, huyện Sóc Sơn, Ngoại thành Hà Nội.

Email liên lạc : aiquocle@gmail.com

 

TÓM TẮT VỤ ÁN NGUYỄN VĂN HẢI (ĐiếuCày) “TRỐN THUẾ”

I.                   SƠ LƯỢC VỀ CÁC HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI CỦA ANH NGUYỄN VĂN HẢI

Bị can trong Vụ án “Trốn thuế” là Nguyễn Văn Hải (bút danh trên các trang blog là Điếu cày và các bài viết là Hoàng Hải). 

Anh VN Hải tham gia vào các hoạt động xã hội chính sau đây khiến nhà cầm quyền Việt Nam tìm cách tước đoạt tự do của anh:

1.                  Thành lập Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do, quy tụ các cây bút tình nguyện viết về thực trạng xã hội Việt Nam hiện tại và phản ánh tâm tư nguyện vọng của người dân bị thiệt hại từ các chính sách trưng dụng đất đai, nhà cửa của Chính phủ.

2.                  Thành lập trang web mang tên “Dân Báo” đăng tải phóng sự và bài viết do những thành viên của Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do thực hiện.

3.                  Lập blog riêng mang tên “Điếu cày” ghi lại những suy nghĩ cá nhân về thực trạng xã hội Việt Nam hiện tại và sưu tập những bài viết đáng chú ý về Việt Nam.

4.                  Tham gia các cuộc tuần hành lên án chính sách ngoại giao gây hấn của Trung Quốc ở Hoàng Sa và Trường Sa vào cuối năm 2007 và đầu năm 2008.

 

II.                PHẢN ỨNG CỦA NHÀ CẦM QUYỀN VIỆT NAM ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI CỦA ANH NV HẢI

Hoạt động xã hội của anh NV Hải và những thành viên của Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do chỉ đơn thuần là sự bày tỏ hòa bình quan điểm cá nhân đối những vấn đề cấp thiết của xã hội.  Quyền bày tỏ quan điểm như vậy hoàn toàn hợp pháp và cần được tôn trọng.  

Tuy nhiên, trong mắt nhà cầm quyền Việt Nam, các hoạt động xã hội của anh NV Hải được xem là sự thách thức quyền cai trị của Đảng Cộng Sản đối với nhà nước và xã hội, bởi lẽ họ vẫn tiếp tục duy trì cách lý giải về sự đe dọa quyền lãnh đạo [độc đoán] của Đảng Cộng Sản như hiểm họa về “an ninh quốc gia” mà mọi người dân tuyệt đối không có quyền xâm phạm.

Họ đã sử dụng bộ máy công an liên tục quấy nhiễu anh NV Hải bằng cách triệu tập anh đến đồn công an làm việc, bất chấp giờ giấc sinh hoạt bình thường của một công dân tự do, hòng tạo áp lực tinh thần để anh NV Hải chấm dứt các hoạt động xã hội của mình.

Khi thấy không thể khuất phục anh về tinh thần, nhà cầm quyền Việt Nam tìm cách bức hại anh về sinh kế vì họ đơn giản nghĩ rằng triệt hạ nguồn thu nhập chính của anh sẽ tạo áp lực về vật chất khiến anh không thể tiếp tục các hoạt động khác. 

Nguồn thu nhập chính mà anh NV Hải có được là từ việc cho thuê nhà.  Gần 10 năm nay anh cho Công Ty Mắt Kính Hà Nội thuê căn nhà do anh làm chủ tại địa chỉ 57/3-4 Phạm Ngọc Thạch, Quận 1, Sài Gòn.  Hầu hết những hợp đồng thuê mà hai bên ký kết đều buộc bên thuê, tức là Công Ty Mắt Kính Hà Nội, phải nộp thuế thu nhập tính trên tiền thuê.  Mặc dù việc nộp thuế như vậy là nghĩa vụ của bên cho thuê, tuy nhiên luật pháp Việt Nam cũng công nhận sự thỏa thuận giữa các bên về ai là người nộp thuế. 

Mặc dù có thỏa thuận như vậy giữa anh NV Hải và Công Ty Mắt Kính Hà Nội, nhưng trên thực tế bên thuê vẫn không nộp thuế từ gần 10 năm nay.  Đây là sự vi phạm luật pháp và vi phạm thỏa thuận của Công Ty Mắt Kính Hà Nội, chứ không phải của anh NV Hải.  Thay vì truy cứu trách nhiệm của Công Ty Mắt Kính Hà Nội, cơ quan công an Việt Nam lại tìm cách thay đổi bản chất sự việc, tìm cớ quy tội để bắt giam anh NV Hải.  Họ thậm chí khuyến khích Công Ty Mắt Kính Hà Nội chối bỏ nghĩa vụ nộp thuế của mình và tìm cách đổ trách nhiệm trốn thuế cho anh NV Hải.

 

III.             SỰ KIỆN RƯỚC ĐUỐC VÀO NGÀY 29/4/2008 VÀ VIỆC KHỞI TỐ ANH NV HẢI

Vì biết anh NV Hải từng đi đầu trong các cuộc tuần hành lên án chính sách ngoại giao gây hấn của Trung Quốc ở Hoàng Sa và Trường Sa thời gian gần đây, nên nhà cầm quyền Việt Nam rất lo ngại khả năng anh sẽ tổ chức biểu tình phản đối việc rước đuốc Olympics tại Sài Gòn vào ngày 29/4/2008. 

Để loại trừ khả năng này, Công an Quận 3 TPHCM đã liên tục triệu tập anh NV Hải đến đồn công an thẩm vấn mỗi ngày từ 7giờ30 đến 23giờ, mà không cho ăn uống và nghỉ ngơi trong suốt thời gian thẩm vấn.  Điều này khiến sức khỏe của anh suy giảm nghiêm trọng. 

Nội dung thẩm vấn xoanh quanh hoạt động của Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do, trang web Dân Báo và các hợp đồng cho thuê nhà.  Họ thừa hiểu rằng anh NV Hải hoàn toàn không vi phạm pháp luật trong các hoạt động xã hội và cả việc cho thuê nhà.  Tuy nhiên, việc triệu tập bất chấp giờ giấc này là cách duy nhất mà họ có thể làm để “quản chế” anh.

Khoảng giữa tháng 3/2008, vì không chấp nhận cách thức thẩm vấn vi phạm nhân quyền và dân quyền của Công an Quận 3 TPHCM và trước tình trạng sức khỏe ngày một suy giảm của mình, anh NV Hải rời khỏi nơi ở để đi nghỉ dưỡng một thời gian.  Điều này càng khiến sự lo ngại vô cớ của Công an Quận 3 TPHCM về việc anh NV Hải có thể tổ chức biểu tình phản đối việc rước đuốc Olympics tại Sài Gòn vào ngày 29/4/2008 càng gia tăng. 

Họ điên cuồng truy tìm anh NV Hải như một tội phạm bất kể anh đang là công dân tự do trước pháp luật.  Họ thậm chí vô cớ thẩm vấn gia đình và những người bạn quen biết của anh NV Hải theo cách thức vốn chỉ áp dụng với những người phạm tội đã bị khởi tố và bắt giam.

Sau hơn một tháng truy lùng với đủ mọi thủ đoạn, nhà cầm quyền Việt Nam đã bắt anh NV Hải vào trưa ngày 19/4/2008 tại Đà Lạt và áp giải về Sài Gòn ngay trong ngày.  Lệnh khởi tố vụ án “trốn thuế” và khởi tố bị can được Viện Kiểm Sát Nhân Dân Quận 3 TPHCM phê chuẩn vội vã vào cùng ngày để hợp thức hóa việc bắt giam bất hợp pháp của công an.

Cùng với anh NV Hải, người vợ cũ của anh là cô Dương Thị Tân cũng bị khởi tố vì “đồng phạm” mặc dù cô hoàn toàn không liên quan đến việc cho thuê nhà.  Mục đích đưa cô DT Tân vào vụ án này là để khám nhà và thu thập chứng cứ mà khi bắt giam anh NV Hải phía cơ quan công an hoàn toàn không có.

Ngày 21/4/2008, Công an Quận 3 TPHCM tiến hành khám nhà riêng của anh NV Hải và nhà riêng của chị DT Tân, đồng thời tịch thu một số tài liệu và vật dụng cá nhân.

IV.             BẢN CHẤT VỤ ÁN VÀ NHỮNG VI PHẠM CỦA NHÀ CẦM QUYỀN VIỆT NAM

Thực chất của vụ án này không phải là “trốn thuế” như nhà cầm quyền Việt Nam tạo dựng để bắt giam anh NV Hải.  Đây là một vụ án chính trị nhằm trấn áp tiếng nói bất đồng chính kiến trong phê phán các chính sách của chính phủ và Đảng Cộng Sản.  Họ đã dựng đứng những sự việc không có thật để tạo ra “chứng cứ” quy tội “trốn thuế” cho anh NV Hải.

Toàn bộ những cuộc thẩm vấn mà Công an Quận 3 TPHCM thực hiện đối với gia đình và bạn bè anh NV Hải hầu như đều tập trung vào những hoạt động xã hội mà anh làm cũng như truy tìm ai là thành viên Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do xung quanh anh. 

Trước và sau khi bắt giam anh NV Hải, họ gặp gỡ những người dân sống gần nơi anh ở và giải thích rằng anh là “đối tượng phản động nguy hiểm” mà nhà nước trừng phạt.  Họ trấn áp và hù dọa những người quen biết anh NV Hải rằng anh là thành viên một tổ chức phản động chống phá nhà nước, nếu không tố giác anh sẽ bị xem là đồng phạm. 

Quả thật, “trốn thuế” và “phản động” là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau.  Trong vụ án này rõ ràng “trốn thuế” chỉ là cớ để trừng phạt điều mà luật pháp không thể cấm người dân làm, đó là tự do bày tỏ chính kiến một cách hòa bình.

Trên thực tế, cơ quan công an đã vi phạm nghiêm trọng luật pháp khi bắt giam anh NV Hải như sau:

1.                  Nhóm bắt giữ và thẩm vấn anh NV Hải không chỉ là đội cảnh sát điều tra tội phạm kinh tế mà còn có Phòng An Ninh Bảo Vệ Chính Trị Nội Bộ và Chống Gián Điệp (PA 35) thuộc Công an TPHCM.

Thật khó hiểu khi tội “trốn thuế” lại khiến Phòng An Ninh Bảo Vệ Chính Trị Nội Bộ và Chống Gián Điệp nhọc công sức điều tra thay vì chỉ để một nhóm cảnh sát chuyên môn về tội phạm kinh tế tham gia điều tra.  Cần lưu ý rằng Phòng An Ninh Bảo Vệ Chính Trị Nội Bộ và Chống Gián Điệp của là cơ quan chủ lực trấn áp các nhà bất đồng chính kiến tại Việt Nam trong nhiều vụ án chính trị khác tại Việt Nam.

2.                  Cho đến thời điểm ban hành lệnh khởi tố và bắt giam anh NV Hải vào ngày 19/4/2008, cơ quan công an hoàn toàn không có trong tay đầy đủ các tài liệu liên quan đến việc cho thuê nhà giữa anh NV Hải và Công Ty Mắt kính Hà Nội, mà mãi sau khi khám xét nhà vào ngày 21/4/2008 họ mới thu được một số tài liệu nhất định.  Như vậy, việc khởi tố và bắt giam anh NV Hải hoàn toàn thiếu cơ sở pháp lý.  Điều này càng chứng minh rằng bản chất vụ án là chính trị, chứ không phải “trốn thuế” mà họ rêu rao.

 

V.                KIẾN NGHỊ

Vì những lý do nêu trên, chúng tôi cực lực phản đối hành vi trấn áp và bắt giam trái pháp luật của nhà cầm quyền Việt Nam đối với anh Nguyễn Văn Hải.  Rất mong cộng đồng quốc tế quan tâm đến vụ án này như một trường hợp điển hình về sự vi phạm nhân quyền tại Việt Nam.

 Nhóm bạn của Hoàng Hải và những người dân chủ
(ĐT)

May 15, 2008

Tuyết Mai Nói Chuyện Thầy T Không Tánh

 Tuyết Mai

 

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đản sinh vào ngày Trăng tròn Tháng Tư ở Ấn Độ cách đây 2632 năm, Phật lịch 2552. Hằng năm vào khoảng rằm Tháng Tư Âm Lịch, hằng triệu tín đồ Phật Giáo trên khắp thế giới thành kính cử hành lễ Phật Đản. Việt Nam, mặc dầu theo chế độ Cộng Sản, vô thần, nhưng đặc biệt năm nay Đảng CSVN tổ chức Lễ Phật Đản Vesak Liên Hiệp Quốc vô cùng trang trọng với sự tham dự của hằng ngàn Chư tăng, ni trong nước và hằng ngàn chư tăng ni từ 80 quốc gia trên thế giới đến tham dự. Đây có phải là dấu hiệu có Tự Do Tôn Giáo ở Việt Nam?

Kính mời quý độc giả theo dõi câu chuyện qua điện thoại giữa Tuyết Mai và Thầy Thích Không Tánh, trong Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất (GHPGVNTN).

TUYẾT MAI: Kính bạch Thầy giới thiệu cho biết Thầy giữ nhiệm vụ gì trong GHPGVNTN?

THẦY KHÔNG TÁNH: Viện Hóa Đạo của GHPGVNTN có chín tổng vụ, Tôi được Đức Đệ Tứ Tăng Thống bổ nhiệm làm Tổng Vụ Trưởng Từ Thiện, Xã Hội. Giáo Hội hiện đang lo việc cứu tế dân oan, dầu gặp nhiều cản trở, khó khăn từ phía nhà cầm quyền CS Hà Nội, nhưng bằng mọi cách chúng tôi phải cứu tế cho xong số tiền mà quý đoàn thể, những nhà hão tâm ở hải ngoại đã gởi về giúp đỡ những đồng bào dân oan đang gặp khó khăn, đàn áp…

TUYẾT MAI: Thưa Thầy, con ở hải ngoại nghe nói quý tăng ni trong GHPGVNTN trong nước bị đàn áp, sách nhiễu nhiều, sự thực như thế nào?

THẦY KHÔNG TÁNH: Các chùa và các thầy thuộc GHPGVNTN luôn bị công an đàn áp, hăm dọa, sách nhiễu, cướp tài sản, hành hung, đánh đập bắt ép đi “làm việc” nhiều lần. Chính quyền còn chỉ đạo các Sư của Nhà Nước ra lệnh trục xuất các Thầy theo GHPGVNTN để chiếm chùa, còn ra lệnh không cho tổ chức, cúng lễ Phật Đản theo GHPGVNTN, rất nhiều vụ đàn áp ở nhiều tỉnh, không kể hết được.

TUYẾT MAI: Thưa tình trạng hiện tại của Đức Tăng Thống Thích Huyền Quang và Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ như thế nào?

THẦY KHÔNG TÁNH: Đức Đệ Tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang vẫn còn bị công an canh gác, theo dõi, quản chế tại Tu Viện Nguyên Thiều và không được đi ra khỏi Tỉnh Bình Định. Đại lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Viện Trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN cũng bị công an theo dõi, canh gác, quản chế tại Thanh Minh Thiền Viện. Đại Lão Hòa Thượng bị bệnh tiểu đường nặng, thắp khớp và cao máu, mỗi tháng có được đi tái khám, mua thuốc một lần và cũng không được đi ra khỏi Saigon.

TUYẾT MAI: Thưa con có nghe chính phủ VN tuyên truyền là họ khuyến khích tự do tôn giáo, hiện có nhiều chùa lớn lắm ở VN và ở Miền Bắc sắp xây một ngôi chùa thật lớn. Thưa Thầy Chính quyền CS cho xây chùa lớn là VN có tự do tôn giáo?

THẦY KHÔNG TÁNH: Xây chùa lớn đâu phải là Tự Do Tôn Giáo. Ở Tỉnh Ninh Bình, ngoài Bắc, Nhà Nước xây thật xa, tuốt trên đỉnh núi một chùa rất lớn , mỗi tượng Phật to bằng sáu, bảy người ôm không hết. Ở VN bây giờ, Nhà nước xây chùa không phải để tu hành, không do các sư quản lý mà do Nhà nước quản lý. Nhà nước xây chùa cũng như xây Khu giải trí, khách sạn để kinh doanh, thu hút khách du lịch, lấy ngoại tệ; năm, bảy năm sau thu lại cả vốn lẫn lời.

TUYẾT MAI: Thưa Thầy nghĩ gì về Đại Lể Phật Đản Vesak Liên Hiệp Quốc do nhà cầm quyền CS tổ chức đặc biệt năm nay?

THẦY KHÔNG TÁNH: Nhận định về Đại Lễ Vesak: Việc Tôn Giáo thì để cho Tôn Giáo lo liệu, đàng này Nhà cầm quyền CS (vô thần) Hà Nội đứng ra đạo diễn, chỉ đạo, sắp xếp hết. Điều này chứng tỏ các Sư của Giáo Hội Phật Giáo VN và cả Giáo Hội này cũng chỉ là công cụ mà thôi.

Chế độ CS làm việc gì cũng có mưu đồ riêng, cho nên khi Đảng tổ chức Vesak LHQ thì cũng phải ráng làm để thế giới nhìn vào “coi cho được”, và việc CS tổ chức rầm rộ Lễ Vesak chỉ là trò “bày hàng” để tuyên truyền là VN có Tự Do Tôn Giáo, nhằm khỏa lắp những vi phạm Nhân Quyền và Đàn Áp Tôn Giáo từ trước tới giờ. Sau Lễ Phật Đản Vesak Chư Tăng Tôn Giáo Phẩm và các chùa thuộc GHPGVNTN, Truyền Thông rồi sẽ bị công an VC và Giáo Hội Phật Giáo Nhà Nước xâm chiếm và đàn áp mạnh bạo hơn. Không biết Chư Tăng GHPGVNTN có tồn tại được đến Lễ Phật Đản năm sau ?

TUYẾT MAI: Thưa, lúc sau này có danh từ “sư quốc doanh” những sư này có tư cách, hiểu rõ Phật pháp không?

THẦY KHÔNG TÁNH: Các sư quốc doanh là những cán bộ, nên được Nhà nước giáo dục cẩn thận về chính sách, đường lối, chủ nghĩa để vận động tuyên truyền cho Chủ Nghĩa Xã Hội của Đảng,; dĩ nhiên là Nhà Nước phải cho các sư học một số kinh kệ, giáo lý để đóng vai trò Nhà Sư cho thông thạo.

TUYẾT MAI: Thưa Thầy nói rõ những biện pháp CS đàn áp các Sư thuộc GHPGVNTN, chẳng hạn như những ngày lễ lớn của Phật Giáo phật tử không được đi lễ Phật hay bài giảng của quý Thầy bị kiểm duyệt trước?

THẦY KHÔNG TÁNH: Nhà cầm quyền CS đã có những khủng bố, đàn áp như triệu tập, bắt các thầy đi làm việc (hỏi cung) nhiều lần; hăm dọa, canh gác, ngăn cản sự đi lại, chận bắt giữa đường, đem đấu tố trước dân. Những ngày cúng lễ tại các chùa theo GHPGVNTN đều có rất nhiều công an chìm vào chùa theo dõi, rình rập, quay phim, ghi âm…làm cho nhiều phật tử lo sợ, lần sau không dám đi nữa, đành phải đi các chùa quốc doanh.

TUYẾT MAI: Trong tình trạng hiện tại, dưới chế độ CS, theo Thầy Phật Giáo VN sẽ đi về đâu trong tương lai? Các tôn giáo khác như Hòa Hảo, Tin Lành có bị đàn áp như Phật Giáo không?

THẦY KHÔNG TÁNH: Tương lai Phật Giáo VN sẽ bị Đảng nhà nước thuần hoá, đồng chí hóa, tu sĩ sẽ trở thành cán bộ, đảng viên. Tôi không biết hết những đàn áp đối với các tôn giáo bạn. Có nhiều mục sư, tu sĩ, tín đồ bên Tin Lành và Hòa Hảo cũng bị công an, VC hành hung, đàn áp, đánh đập tù đày ở trên vùng cao nguyên cũng như dưới Miền Tây. Bên công giáo có Linh Mục Phan văn Lợi bị theo dõi, quản chế và LM Lý bị giam cầm.

TUYẾT MAI: Thưa Thầy, Đại sứ hay những viên chức cao cấp trong Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ có thường tiếp xúc với quý Thầy trong GHPGVNTN ?

THẦY KHÔNG TÁNH: Đại Sứ HK thì cũng theo đường lối, sách lược Ngoại giao của Hành pháp HK. Tôi không biết vị Đại Sứ HK mới có tiếp xúc với Chư Tôn Đức nào trong GHPGVNTN không. Nếu có thì cũng chỉ tìm hiểu, thăm viếng ngoại giao.

TUYẾT MAI: Theo Thầy thì biện pháp nào hữu hiệu nhất để đối phó với tình trạng đàn áp tôn giáo này. Các Hội Nhân Quyền Quồc Tế lên tiếng có giúp ích gì không?

THẦY KHÔNG TÁNH: Là tu sĩ Phật giáo, tôi luôn chủ trương bất bạo động, nhẫn nhục, không sát sinh, nên đành chịu bị đàn áp, ở tù và chỉ có cầu nguyện là biện pháp. Chúng tôi cũng có ít nhiều tin tưởng, hy vọng vào các Chính phủ dân chủ, văn minh, tiến bộ như Hoa Kỳ, Âu Châu, Úc Châu, Canada, Anh , Pháp…nhưng đa phần, nhiều chính phủ bây giờ chỉ chú trọng việc bang giao, thương mãi, làm ăn với nhà cầm quyền CS Hà Nội. Đôi khi cũng lên tiếng “lấy lệ” về Tự Do Tôn Giáo, Nhân Quyền, Dân Chủ VN.

TUYẾT MAI: Thưa Thầy, theo Phật là phải giữ tâm thanh tịnh mới được giải thoát, trong hoàn cảnh hiện tại làm sao Thầy vừa giữ tâm thanh tịnh, vừa lãnh đạo dân oan đấu tranh đòi công lý.

THẦY KHÔNG TÁNH: Bất cứ việc gì mình làm với lòng Vị Tha và Tâm Vô Úy thì dầu có gặp hoàn cảnh khó khăn nào, cũng sẽ vượt qua . Với Hạnh Bồ Tát và Tâm Vô Ngã thì có niềm Hỷ Lạc và sẽ vượt lên trên mọi Phiền não, Tham , Sân, Si…

TUYẾT MAI: Con nghe nói lúc sau này dân chúng đi nghe thuyết giảng Phật pháp đông lắm, lý do là quá nghèo khổ, họ đến để cầu xin thần quyền hay nay CS nới tay trong lúc đồng bào quá khát khao tự do tín ngưỡng ?

THẦY KHÔNG TÁNH: Bây giờ VC không thể cấm cản mãi việc Tự Do Tín Ngưỡng của người dân như trước đây ở miền Bắc và ở Miền Nam nhiều thập niên sau 1975. Nhưng thấy có hằng ngàn phật tử đi nghe giảng thì cho là có Tự Do Tôn Giáo, là không đúng.

TUYẾT MAI: Thưa Thầy nghĩ gì về phái đoàn của Thầy Nhất Hạnh về VN? Nghe nói có nhiều phật tử đến nghe Thầy Nhất Hạnh giảng?

THẦY KHÔNG TÁNH: Theo tôi, Thiền Sư Nhất Hạnh về VN là để tiếp sức cho chế độ và phát triển thêm Tăng Đoàn, Tăng thân của Thiền Sư. Thiền sư Nhất Hạnh dịch và viết được nhiều sách, lời văn và cách giảng thuyết nhỏ nhẹ, dịu dàng, tâm lý, nên tuổi trẻ rất chuộng và xem như thần tượng. Thiền sư xa quê rất lâu nên khi mới về VN có đông phật tử đón rước long trọng và đến nghe giảng. Sau này nghe nói cũng ít dần.

TUYẾT MAI: Con xin hỏi câu này ngoài vấn đề tôn giáo. Thưa Thầy ngày 30 Tháng Tư là ngày Quốc Hận đối với đồng bào tỵ nạn ở hải ngoại. Ngày nay, sau ba mươi ba năm, phần đông bà con mình trong nước phản ứng như thế nào, vui, buồn…? Luật sư Bùi Kim Thành giúp dân oan trước đây, bây giờ ra sao?

THẦY THÔNG TÁNH: Đốì với VC và những người thân Cộng thì ngày 30 Tháng Tư là ngày vui mừng vì họ đã xâm chiếm được đất đai, nhà cửa, tài sản, các thứ của người dân Miền Nam. Luật sư Bùi KimThành hiện bị giam riêng tại Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa. Tôi có nhờ người làm đơn thăm nuôi nhưng đều không được.

TUYẾT MAI: Thưa Thầy, trước khi chấm dứt, Thầy có lời gì nhắn gởi Phật tử hải ngoại nhân mùa Phật Đản?

THẦY kHÔNG TÁNH: Kính mong quý phật tử hải ngoại cần nhận định rõ: Chùa nào , quý Thầy nào chủ trương Tu Hành Thuần Túy, Cầu An và muốn Hòa Hợp, Hòa Giải với nhà cầm quyền Hà Nội để Hoằng Pháp và Chùa nào, Thầy nào một lòng Trung kiên ủng hộ GHPGVNTN, vận động đấu tranh cho Tự Do Tôn Giáo, Dân Chủ, Nhân Quyền, cho sự Toàn Vẹn Lãnh Thổ Việt Nam.

Cuối cùng, xin cám ơn Cô Tuyết Mai đã có lòng quan tâm đến GHPGVNTN và có cuộc thăm hỏi, phỏng vấn này.

TUYẾT MAI: Con kính cảm ơn Thầy.

May 13, 2008

Tuần làm việc trước ngày 29/4/08 của PV Hải với công an “nhân dân”

Tối hôm Thứ Sáu, tôi nhận một cuộc điện thoại của anh Trường Giang (từ Vương quốc Anh). Anh cho biết có nghe tin một blogger bị đàn áp vì các bài viết trên blog nên đã phone để hỏi thăm.

Tôi cảm ơn anh Trường Giang và tất cả mọi người trong nước cũng như hải ngoại đã quan tâm và chia sẻ cho chủ nhân của trang blog này. Đồng thời, tôi cũng đính chính là không phải bị đàn áp, chỉ được “mời lên làm việc” và bị thu giữ một số thiết bị computer.

Mặc dù rất ngại ngồi viết bài ngay tại dịch vụ NET công cộng, nhưng tôi nghĩ nên có một bài tường thuật về tuần làm việc trước ngày 29/4 với cơ quan an ninh.

Cố gắng này của tôi chỉ để rộng đường dư luận, hy vọng là không vi phạm nghị định nào của Nhà nước!

7:58 sáng 22/4/2008, tôi có mặt tại phòng đợi trước cổng CA Tỉnh Khánh hòa (80, Trần Phú, NT) theo giấy mời trước đó 4 ngày.
Vài phút sau, một anh còn rất trẻ mang quân hàm thiếu úy đến và đưa tôi lên thẳng Phòng Bảo vệ chính trị PA38.
Tôi được gặp người mang quân hàm Thượng tá, tôi nhìn bảng tên và thấy đúng như đã ghi trong giấy mời. Ngày làm việc bắt đầu.

– Anh có biết chúng tôi mời anh lên đây vì chuyện gì không?
– Không. Tôi không biết. Trong giấy mời chỉ ghi là lên làm việc…
– Tôi biết. Nhưng anh có đoán là vì chuyện gì không?
– Đoán thì khó chính xác, nhưng tôi nghĩ là vì các bài viết của tôi trên mạng.

Tôi quan sát kỹ người đối diện, vị Thượng tá này tóc đã hoa râm, chắc khoảng chừng trên dưới 50. Tôi đoán tuổi rất kém nhưng cũng cố đoán vậy.
Ngoài ra, trong phòng còn có một nữ CA còn rất trẻ ghi biên bản và 3 người khác đều mang hàm Trung tá. Về sau có thêm một người khác nữa nhưng tôi không nhớ rõ cấp bậc. Suốt buổi làm việc, họ luân phiên hỏi tôi rất nhiều câu hỏi liên quan đến các bài viết trên blog.

– Anh có thấy các bài viết của mình gây hậu quả như thế nào không? – Vị Thượng tá tiếp tục hỏi.
– Tôi thấy các viết của mình không có gì sai trái cả. Đó chẳng qua là quan điểm cá nhân của tôi và tôi thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình.

Giọng ông ta bắt đầu hơi gắt lại:
– Thế mà anh bảo không có gì sai? Anh có biết nó đã gây xôn xao dư luận như thế nào không?
– Tôi chỉ nêu những sự kiện có thật và viết theo cảm xúc của mình, còn hiểu nó như thế nào, tốt hay xấu là do nhận thức của người đọc. Tôi không biết được.

Đến phiên làm việc của một anh Trung tá khác còn trẻ, dáng người đậm và chắc.
– Đây có phải là các bài viết của anh không?
Tôi nhận một xấp giấy cỡ A4 in một số bài viết từ blog của mình.
– Nếu đúng thì anh hãy ghi rõ vào từng tờ: “Bài này do tôi viết và đưa lên mạng”, rồi ký và ghi đầy đủ họ tên vào đó!

Tôi bắt đầu viết và ký vào từng tờ. Đến bài “Tôi tự hào mình được gọi là ‘phản động'”, tôi nói: – Bài này không đủ, còn mất một đoạn sau!
– Phòng bên có máy vi tính nối mạng, anh sang đó tự mình in lại và ký!

Từ phía đầu bàn bên trái, vị Thượng tá bỗng nhiên hỏi:
– Anh có biết trình độ lập trình như anh ở Nha trang này có khoảng bao nhiêu người không?
– Không có số liệu nào thống kê, nên tôi không thể biết được!
– Thật uổng công nhà nước và bố mẹ cho anh ăn học đến trình độ như thế mà anh lại…
Tôi bắt đầu hơi mất bình tĩnh và ngắt lời:
– Chính vì tôi được ăn học đàng hoàng nên tôi mới chường mặt ra để viết những bài như vậy. Nếu không thì ngư dân bị bắn chết như thế nào, đảo bị chiếm làm sao tôi cũng không thèm quan tâm.

– Theo anh đánh giá thì các bài viết của anh có ảnh hưởng như thế nào?
– Tôi nghĩ sự thật hay mất lòng, tôi viết quá thẳng thắn nên có thể đụng chạm, mất lòng ai đó…
– Cụ thể là ai?
– Trước mắt là anh và anh, tôi chỉ vào hai người ngồi đối diện!
– Không phải là chúng tôi mà là Chính phủ, là Nhà nước này!
– Đành chịu thôi vì đó là cảm xúc thật của mình, tôi không nói khác được!

Đến phiên một vị Trung tá khác hỏi tôi, nhưng chỉ là những câu hỏi xã giao về nhân thân và gia đình. Chỉ có một câu mà sau này ngẫm lại tôi mới biết đó chính là sự chuẩn bị cho việc khám xét nhà tôi vào cuối buổi chiều hôm đó.

Lại đến phiên làm việc của một người khác, bây giờ phòng đã có thêm một người mà tôi không nhớ rõ cấp bậc như đã nói ở trên. Vì họ luân phiên hỏi, nên từ đây về sau trong bài tường thuật, tôi không thể nhớ rõ chính xác ai đã hỏi mình – tạm dùng danh xưng chung là “bên an ninh”.

– Anh tự hào mình là “phản động” lắm hả? Có gì đáng tự hào anh nói xem!
– Chuyện đó tôi đã phân tích rất rõ ràng trong bài viết trên blog!

– Các bài viết của anh dùng toàn là những từ nhạy cảm, “điên đảo” như thế nào mà anh dám gọi cái xã hội này điên đảo?
– Tôi thấy nó điên đảo thì tôi gọi là điên đảo!

Bên an ninh bắt đầu lớn tiếng:
– Anh phải nói rõ! Cụ thể ra!
– Cái này mấy trăm tờ báo trong nước đã nói quá nhiều. Tôi chỉ đơn cử một lĩnh vực là giáo dục: giáo dục tuột dốc như thế thì xã hội không điên đảo là gì?
– Chỉ một mặt cỏn con thế mà anh dám đánh giá cả xã hội này?
– Còn nhiều mặt nữa như tham nhũng, hối lộ… nhưng vì trước đây tôi đã từng là thầy giáo nên tôi chỉ nhấn mạnh vấn đề giáo dục. Theo tôi nghĩ, giáo dục là cái gốc của xã hội…
– Anh đã từng là thầy giáo mặc kệ anh, không thể vì một mặt nhỏ mà đánh giá cả xã hội được!
– Nhưng đó là nhận thức của tôi!

– Đây nữa, ngày 30/4/1975 là ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước mà anh dám gọi là “biến cố” hả?
– Ủa, biến cố là một sự cố gây nên một bước ngoặt, một biến đổi của lịch sử. Đúng quá còn gì, sao không thể dùng từ biến cố? Anh cũng nên biết ô. Võ Văn Kiệt có nói một câu đại ý rằng: Ngày 30/4 có mấy triệu người vui cũng có mấy triệu người buồn!
– Anh có biết ô. Võ Văn Kiệt là ai không?
– Có. Ông là cựu Thủ tướng! Nhưng trước pháp luật mọi người đều bình đẳng như nhau. Tại sao tôi không được quyền nói?
– Nhưng ông ta được Nhà nước cho phép!
– Trời! Thế trong hiến pháp nói mọi công dân đều có quyền tự do ngôn luận là sao?
– Anh nên biết tự do ở đây phải nằm trong khuôn khổ quy định của luật pháp!
– !!!

– Cái đám ngụy quân mà anh lại dùng từ “binh sĩ Việt nam CH” hả?
– Họ là những người ngã xuống vì đất đai Tổ quốc, bất kể là ai tôi cũng ngưỡng mộ họ. Anh dùng từ “ngụy quân” là đi ngược lại chính sách của Nhà nước về đại đoàn kết toàn dân tộc, bây giờ phải gọi là “Khúc ruột ngàn dặm” hoặc…
– Khúc ruột gì bọn phản động…

Không khí trở nên căng thẳng do cả hai phía đều muốn ngắt lời nhau. Tôi đã tự nhủ trước buổi làm việc là phải bình tĩnh, không được ngắt lời người đối thoại, nhưng lại không kìm chế được.

Đối thoại tạm dừng, bên an ninh đưa ra một tập giấy in Nghị định của Chính phủ, lật đến một trang và nói:
– Anh đã vi phạm điều 41 khoản 5 điểm h của Nghị định 55/CP

Tôi xem thấy nội dung: “Đưa vào Internet để truyền bá các thông tin trái với quy định của pháp luật về nội dung thông tin trên Internet mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự”.

Tôi gạch dưới cụm từ nội dung thông tin và nói:
– Có văn bản nào hướng dẫn cho biết nội dung thông tin nào là được phép và nội dung nào vi phạm không? Vì tôi thấy nội dung các bài viết của tôi không có gì sai trái cả.
– Thế mà anh bảo không có gì sai?
– Tôi chỉ bày tỏ quan điểm cá nhân và cổ vũ tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc!
– Rõ ràng là quan điểm chính trị của anh có vấn đề. Hồi trước ở đại học môn chính trị anh được mấy điểm?
– Tôi tốt nghiệp mười mấy năm rồi, làm sao nhớ được? Không riêng gì môn chính trị mà các môn khác tôi cũng không nhớ. Nếu cần các anh có thể xem bảng điểm ở trường…

Tôi ăn trưa ngay tại bàn làm việc cùng với 4 an ninh PA38. Cơm hộp do phía an ninh cung cấp.
Tôi điện thoại về báo cho mẹ tôi biết mình phải ở lại trưa vì làm việc chưa xong, chiều làm tiếp!
Không khí nghỉ trưa thoải mái, chỉ là những câu chuyện xã giao đời thường giữa tôi và 2 an ninh trẻ, một anh là viên thiếu úy đã ra đón tôi tại cổng trực ban lúc sáng.

Buổi chiều, tiếp tục chất vấn vì tôi nhất định không ký vào biên bản vi phạm Nghị định 55CP ở trên.

– Anh có gửi bài cho báo Đàn Chim Việt ?
– Đúng vậy.
– Anh có biết ĐCV là tờ báo của tổ chức khủng bố Việt Tân không?
– Không, tôi không nghĩ như vậy
– Anh không biết gì về ĐCV mà lại gửi bài cho họ?
– Đơn giản vì tôi thấy đó là tờ báo của Người Việt hải ngoại, nội dung đọc cũng hay và vừa phải (ý tôi muốn nói lời lẽ trang này không nặng nề như một số trang khác), thì tôi gửi vậy thôi.
– Anh có biết Nhà nước đã cấm không được truy cập các trang web đen không?
– Tôi có biết. Nhưng tôi thấy trang DCVOnline không phải là trang web đen. Nếu theo quan điểm của nhà nước đó là trang web đen thì nên đưa ra một danh sách cụ thể gồm những trang nào để chúng tôi được biết!
– Anh vào trang ĐCV có gặp trở ngại gì không?
– Có lúc vào được, có lúc không.

– Anh có biết Đài RFA là đài chuyên nói xấu xuyên tạc chế độ không?
– Tôi không nghĩ vậy. Tôi thấy đài này đưa tin khách quan và đúng sự thật. Một số giáo sư, tiến sỹ trong nước cũng có trả lời phỏng vấn trên đài.
– Quan điểm chính trị của anh quá lệch lạc, tôi khuyên anh nên đi bác sỹ tâm lý!
– ???

– Anh có tham gia các cuộc biểu tình ở LSQ TS cuối năm 2007?
– Đúng vậy. Tôi có tham gia!
– Anh có biết việc biểu tình như vậy là vi phạm pháp luật không?
– Hiến pháp có ghi công dân được tự do hội họp, lập hội, biểu tình…
– Nhưng phải nằm trong quy định của luật pháp. Anh có xin phép không?
– Tôi nghe mọi người nói nước ta chưa có luật biểu tình nên không biết thủ tục tiến hành như thế nào. Với lại tôi không phải là người tổ chức biểu tình, tôi chỉ tham gia trong đoàn biểu tình để bày tỏ thái độ phản đối nhà cầm quyền BK…

Cuộc đối thoại còn khá dài nhưng càng lúc càng bế tắc vì quan điểm chúng tôi bất đồng.
Phía an ninh cũng nhận thấy điều đó nên khoảng hơn 15h cùng ngày, họ thực hiện phương án B. Họ yêu cầu tôi lên xe về nhà làm việc. Tôi từ chối vì lý do cả ngày làm việc mệt bây giờ đau đầu, mà quả thật tôi cũng đã quá mệt mỏi. Họ nói cứ về nhà đã, còn làm việc tiếp hay không là tùy anh!

Chiếc xe 12 chỗ với khoảng một chục an ninh PA38 tỉnh và Phòng ANND thành phố theo đường Trần Phú trực chỉ hướng bắc thành phố. Tôi hình dung khuôn mặt mẹ tôi khi thấy số lượng lớn CA mặc cảnh phục trước cổng nhà mình, cố nén một tiếng thở dài ngao ngán: Sóng biển Nha trang chiều nay thật xanh êm nhưng tôi còn tâm trí nào mà ngắm, tôi phải chuẩn bị làm sao cho sóng gió ở nhà mình sắp đến sẽ ở cấp độ nhỏ nhất!

http://pvhai.blogspot.com/2008/05/aweekbefore29042008.html
——
Ý kiến:
Kêu, mời lên “làm việc” :  kiếm cớ, ép buộc làm việc, hạch họe, đe dọa, gài bẩy kết án một cách độc đoán độc tài !   Thói này rất thường xảy ra ở những nước độc tài, vi phạm quyền con người, dân quyền !! Rất ít khi thấy ở những nước tự do dân chủ, tôn trọng pháp quyền hợp lý đúng đắn, thực sự ! 
Thiệt tình cái CA ngụy luận xhcn đỉnh cao trí tuệ, làm việc như cái robot !
Thế này thì dân không điên, không hèn, không nuốt nhục, không ấm ức, xã hội không băng hoại, nước không (sẽ) mất thì xã hội có gì thật không bình thường !  Yêu nước là cái “tội” ! Đúng là một xã hội đảo điên cai trị bởi lũ điên đảo, bán nước buôn dân cầu vinh !!
Mọi giá trị đúng đắn về công bằng, chân lý, lẽ phải, đạo lý, tự do, dân chủ đều bị cơ chế bóp méo, đảo ngược dưới thời xhcn VN !
Cả nước buộc phải luồn lách, nói dối theo để tồn tại vì cơ chế độc đoán độc tài, lừa bịp !!
Phải chăng đó là sự kém trí tuệ, mù quáng, ngông cuồng, tham tàn trí trá, ngoan cố vĩ đại … mãi tự chồng chất nghiệp chướng ?  Nếu không là tội ác là cái gì ??
29/4/2008 tại Saigon, HN cho thấy : VN đã mất chủ quyền, mất độc lập, mất tự do ! VN đã và đang bị ngoại bang xâm thực : giặc nội xâm và ngoại xâm, đúng như nhận định của Hà Si Phu, …vv !

Tài liệu liên quan:
Nghị quyết EU 1481 25/1/2006
Quốc tế nhân quyền, công ước
Hiến pháp   ( và luật rừng vi hiến, làm bởi QH bù nhìn của đảng không tính, không giá trị !)

May 12, 2008

Bắt hai nhà báo ‘vì đưa tin vụ PMU18’

Bắt hai nhà báo ‘vì đưa tin vụ PMU18’
 
Công an làm việc tại tòa soạn báo Thanh Niên (ảnh VietnamNet)
Vụ bắt giữ gây rúng động ở trong nước

Công an vừa bắt hai phóng viên để điều tra cáo buộc liên quan đến việc đưa tin vụ PMU18, gây xôn xao trong giới báo chí ở Việt Nam.

Tin từ Việt Nam cho hay phó Văn phòng báo Tuổi Trẻ ở Hà Nội, nhà báo Nguyễn Văn Hải, và phóng viên Nguyễn Việt Chiến của báo Thanh Niên vừa bị bắt giam.

Cả hai ông đều là phóng viên ‘cứng’ trong mảng nội chính.

Giới nhà báo ở Hà Nội và TPHCM cho BBC hay đến khoảng 4 giờ chiều 12/05 ngoài hai người kể trên giới hữu trách còn bắt thêm một người thứ ba không thuộc giới nhà báo nhưng có liên quan.

Hồi tháng 8/2007, được biết rằng cơ quan điều tra đã khởi tố ‘vụ án làm lộ bí mật nhà nước và lợi dụng quyền tự do dân chủ’ liên quan tới các bài báo viết về vụ PMU18.

Một nhà bình luận ở Hà Nội cho BBC biết rằng đây là động thái được chờ đợi từ “phe của cựu Thứ trưởng Nguyễn Việt Tiến.”

Trong diễn biến gần đây nhất, ông Tiến đã được phục hồi tư cách Đảng viên hôm 07/05 kể từ khi bị đình chỉ ngày 4/04/2006.

Ông được thả sau 18 tháng tạm giam và Viện Kiểm sát đã đình chỉ vụ án và miễn trách nhiệm hình sự đối với ông và hai bị can khác.

Dư luận nhiều tuần qua cũng bàn về việc ông Tiến thông qua luật sư đòi lại các quyền lợi của mình và vai trò của báo chí khi đưa tin về ông và vụ PMU18.

Đã bị thẩm vấn nhiều

Các nguồn tin từ Việt Nam nói việc bắt giữ các nhà báo này dù gây bàn tán trong giới phóng viên nhưng không làm người ta ngạc nhiên.

Hồi tháng 8/2007, nhiều phóng viên có tiếng của các tờ báo có lượng phát hành lớn ở Việt Nam đã bị Bộ Công an gọi lên thẩm vấn.

Ngoài Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Lao Động, Tiền Phong, phóng viên báo ngành công an như Công an Nhân dân, An ninh Thủ đô và Công an TP HCM cũng bị triệu tập.

Cơ quan điều tra không nói là đã xin lệnh phê chuẩn việc gọi hỏi phóng viên của Viện Kiểm sát hay chưa.

Một số phóng viên thấy bìa hồ sơ thẩm vấn của an ninh điều tra có chữ “Chuyên án LM07” và đoán rằng đây là chữ viết tắt của “Chuyên án Lộ mật năm 2007”.

Họ nói họ được hỏi những câu như đã từng viết bao nhiêu bài liên quan tới vụ PU18, các nguồn tin lấy từ đâu và kiểm chứng thông tin như thế nào.

Từ 1994 đến 1998 ở cương vị tổng giám đốc PMU18, ông Tiến làm đại diện chủ đầu tư nhiều dự án xây dựng cầu đường.

Ngày 29/03/2006, Thủ tướng Phan Văn Khải ra quyết định tạm đình chỉ công tác của Thứ trưởng Tiến để “kiểm điểm làm rõ các dấu hiệu vi phạm trong vụ án tại PMU18.”

 http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/05/080512_vietpressarrests.shtml


Bắt nhà báo, thả quan tham

DCVOnline – Tin ngắn

Theo BBC, lấy các nguồn tin từ Việt Nam, phó Văn phòng báo Tuổi Trẻ ở Hà Nội, nhà báo Nguyễn Văn Hải, và phóng viên Nguyễn Việt Chiến của báo Thanh Niên vừa bị bắt giam vì đưa tin về vụ PMU 8 không theo đúng lề phải của Đảng CSVN.

Khoảng 4 giờ chiều 12/05 ngoài hai người nói trên, giới hữu trách còn bắt thêm một người thứ ba không thuộc giới nhà báo nhưng có liên quan.

Như chúng ta đã biết, vụ PMU 18 đã từng làm xôn xao dư luận trong và ngoài nước. Các nhân vật tai to mặt lớn của Tổng Công ty Xây dựng Cầu đường PMU 18 thuộc Bộ giao thông vận tải đã “gây hậu quả nghiêm trọng”, làm thất thoát công quỹ và tham nhũng… Các khuôn mặt được “quan tâm” nhiều nhất trong vụ án này là: Bùi tiến Dũng với các cuộc cá cược bóng đá hàng triệu đô la; Nguyễn Việt Tiến, Thứ trưởng Bộ giao Thông thích các em gái chân dài và con rể của Tổng bí thư Nông Đức Mạnh…

Ngày 29/03/2006, Thủ tướng Phan Văn Khải ra quyết định tạm đình chỉ công tác của Thứ trưởng Tiến để “kiểm điểm làm rõ các dấu hiệu vi phạm trong vụ án tại PMU18”.

Thay vì chĩa mũi nhọn điều tra vụ án nghiêm trọng này thì tháng 8/2007 Cơ quan điều tra lại giáng đòn vào các phóng viên báo chí đã cố gắng phanh phui trước dư luận các thông tin về vụ án này. Nhiều phóng viên có tiếng của các tờ báo có lượng phát hành lớn ở Việt Nam đã bị Bộ Công an gọi lên thẩm vấn. Cơ quan điều tra đã khởi tố “vụ án làm lộ bí mật nhà nước và lợi dụng quyền tự do dân chủ” liên quan tới các bài báo viết về vụ PMU18!

Theo BBC, đây là “động thái được chờ đợi từ phe của cựu Thứ trưởng Nguyễn Việt Tiến”, tất nhiên dư luận cũng phán đoán phần nào. “Phe” đó là ai, nếu không phải là những người ở vị thế chóp bu trong hàng ngũ lãnh đạo đảng CSVN có liên đới hoặc đã chót ăn tiền nên buộc phải ngậm miệng hoặc ra tay cứu đàn em?

Ông Tiến đã được phục hồi tư cách đảng viên cộng sản hôm 07/05 kể từ khi bị đình chỉ ngày 4/04/2006. Nguyễn Việt Tiến được thả sau 18 tháng tạm giam và Viện Kiểm sát đã đình chỉ vụ án và miễn trách nhiệm hình sự đối với ông và hai bị can khác. Dư luận nhiều tuần qua cũng bàn về việc ông Tiến dùng luật sư đòi lại các quyền lợi của mình và vai trò của báo chí khi đưa tin về ông và vụ PMU18.

Các nguồn tin từ Việt Nam nói việc bắt giữ các nhà báo này dù gây bàn tán trong giới phóng viên nhưng không làm người ta ngạc nhiên. Ngoài Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Lao Động, Tiền Phong, phóng viên báo ngành công an như Công an Nhân dân, An ninh Thủ đô và Công an TP HCM cũng bị triệu tập.

Cơ quan điều tra không nói là đã xin lệnh phê chuẩn việc gọi hỏi phóng viên của Viện Kiểm sát hay chưa.

Cũng theo BBC, một số phóng viên thấy bìa hồ sơ thẩm vấn của an ninh điều tra có chữ “Chuyên án LM07” và đoán rằng đây là chữ viết tắt của “Chuyên án Lộ mật năm 2007”.

Họ nói họ được hỏi những câu như đã từng viết bao nhiêu bài liên quan tới vụ PU18, các nguồn tin lấy từ đâu và kiểm chứng thông tin như thế nào.

© DCVOnline
——————————————————————————–
– Nguồn: BBC, 12/05/2008.

– Bạn đọc có thể tham khảo thêm bài: Cần xem lại vụ PMU 18 (BBC phỏng vấn luật sư Cù Huy Hà Vũ), 28/03/2008.

modules.php?name=News&file=article&sid=5021


Hai ký giả bị bắt vì những bài viết về vụ PMU18

Tin tức mới nhất mà chúng tôi vừa nhận được vào chiều hôm nay cho biết hai ký giả của báo Tuổi Trẻ và Thanh Niên vừa bị công an bắt giữ vì những bài viết liên quan đến vụ án PMU 18.

Photo courtesy of VNExpress.

Giới phóng viên Việt Nam trong một cuộc họp báo về vụ tham nhũng PMU18 tại Tổng Cục cảnh sát, trong thời gian vụ án này bị phanh phui trước công luận.

Hai ký giả này là các ông Nguyễn Hải, Phó trưởng Văn phòng đại diện báo Tuổi Trẻ tại Hà Nội; và ký giả Nguyễn Việt Chiến phụ trách thông tin nội chính của tờ Thanh Niên.

Một số nguồn tin còn cho biết thêm, liên quan đến vụ án này. Hiện 1 ký giả khác đang bị cơ quan an ninh điều tra; và một tướng công an cũng có thể liên hệ đến vụ bắt giữ các nhà báo.

Theo báo điện tử VNExpress, cả hai bị khởi tố theo tội danh: “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”. Chiều nay, cơ quan an ninh đã khám nhà riêng và phòng làm việc của hai ông này tại văn phòng báo Tuổi Trẻ và Thanh Niên ở Hà Nội.

Trước khi bị bắt, hai nhà báo này đều là tác giả của nhiều loạt bài điều tra chống tham nhũng trên Tuổi Trẻ và Thanh Niên. Trong thời gian diễn ra vụ án tại PMU 18, họ là những cây viết chủ chốt của các báo này.

Chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi vụ việc và sẽ gửi những thông tin mới nhất đến với quý vị khi có thể.

http://www.rfa.org/vietnamese/VietnameseNews/vietnamnews/Vietnamese_Police_arrested_two_Journalists-05122008112437.html

May 10, 2008

Đạo diễn Song Chi mất hợp đồng làm phim vì biểu tình chống Trung Quốc

Trà Mi, phóng viên đài RFA
2008-05-10


Nữ đạo diễn Song Chi vừa bị khước từ hợp đồng với hãng phim truyền hình TFS thuộc đài truyền hình HTV (TP.HCM) vì đã tham gia biểu tình chống Trung Quốc lấn chiếm Hoàng Sa-Trường Sa, cũng như có các bài viết thẳng thắn thể hiện quan điểm trên trang blog cá nhân.

Phần âm thanh

Tải xuống âm thanh

Người dân Việt Nam biểu tình chống ngoại bang thì bị gây khó như trường hợp nữ đạo diễn Song Chi.

Đạo diễn Song Chi từng hợp tác với hãng TFS trong hai bộ phim ; “Nữ bác sĩ” đoạt giải vàng Liên Hoan Phim Truyền Hình Toàn Quốc Tháng 1-2008, và phim “Phố Hoài” được giải khuyến khích Hội Điện Ảnh Việt Nam 2002. Đạo diễn Song Chi bất ngờ bị yêu cầu ngưng công tác đạo diễn cho bộ phim truyền hình nhan đề “Ai?” sắp khởi quay vào tháng 7 tới đây sau nửa năm hợp tác chuẩn bị cho bộ phim bấm máy.

Nhà đạo diễn trao đổi với phóng viên đài RFA Trà Mi những chi tiết liên quan:

Nữ đạo diễn Song Chi : Ngày mùng 2 vừa qua thì tôi có lên gặp ông Nguyễn Việt Hùng – Giám Đốc hãng phim TFS, ông Nguyễn Việt Hùng có thông báo cho tôi biết rằng là bên an ninh họ đến làm việc với Tổng Giám Đốc Đài và Ban Giám Đốc của hãng phim, đề nghị là không mời đạo diễn Song Chi cộng tác nữa vì lý do như họ nói là “có vấn đề về chính trị, có viết bài gửi các trang web bên ngoài, trả lời báo đài và có những mối quan hệ với những phần tử phức tạp về chính trị.

Trà Mi : Quyết định của hãng phim như vậy thì phản ứng của chị ra sao?

Nữ đạo diễn Song Chi : Hôm đó tôi có trình bày là từ hồi nào tới giờ thực tế tất cả những việc mà tôi đã làm, cái chuyện có là cái chuyện tham gia cùng với một số người bạn trong buổi biểu tình phản đối Trung Quốc về vụ Trường Sa – Hoàng Sa ngày 19-1-2008 trước cửa Nhà Hát Thành Phố. Ngay hôm đó tất cả chúng tôi đều được mời về công an, người bị giữ nhanh nhất là một ngày, người bị giữ lâu nhất là 30 tiếng.

Biểu tình để mà phản đối một quốc gia khác có hành động xâm lược đối với đất nước mình, thì chuyện đó là chuyện hoàn toàn hết sức bình thường ở bất cứ một quốc gia nào khác. Nhưng mà ở Việt Nam thì biểu tình là chuyện không được phép, dù biểu tình ôn hoà.
đạo diễn Song Chi

Chuyện thứ hai là tôi có viết một số bài trên blog bày tỏ quan điểm chính kiến của mình trước một số tình hình xã hội của đất nước. Thực tế là tôi không gửi các bài của tôi đi đâu cả. Còn cái chuyện trả lời báo đài thì cho tới lúc ngồi trước mặt Ban Giám Đốc TFS thì tôi chưa trả lời báo đài nước ngoài bao giờ cả. Nhưng mà sau hôm nay thì tôi cũng nói rằng chắc là tôi sẽ phải lên tiếng, phải đính chính rằng việc mình không được làm nghề nữa là vì lý do an ninh và lý do chính trị, chứ hoàn toàn không phải vì năng lực hay vì lý do nào khác.

Tôi cũng nói thẳng với Ban Giám Đốc rằng blog của tôi là công khai chứ không có ẩn danh và toàn bộ (những bài viết) đó là những bức xúc của người công dân thôi, đó là một thái độ chính trị chứ hoàn toàn đó chưa phải là một hành động chính trị. Một người công dân có những suy nghĩ, những cái bức xúc, những trăn trở trước cái tình hình chung của xã hội và lên tiếng với trách nhiệm của một công dân thôi. Đó là chuyện mà tôi thấy nó rất là bình thường trong bất cứ xã hội nào khác.

“Nỗi buồn mang tên Việt Nam”

đề mục blog của Song Chi

Vậy mà cái chuyện biểu tình ôn hoà, mà hơn nữa đây là biểu tình để mà phản đối một quốc gia khác có hành động xâm lược đối với đất nước mình, thì chuyện đó là chuyện hoàn toàn hết sức bình thường ở bất cứ một quốc gia nào khác. Nhưng mà ở Việt Nam thì biểu tình là chuyện không được phép, dù biểu tình ôn hoà. Và quý vị đã biết là trình bày những ý kiến như vậy cũng rất là mệt mỏi.

Trà Mi : Chị hiểu rõ những bất lợi đó, vì sao mà chị có thể vượt lên những nếp nghĩ cố hữu của số đông như vậy để bày tỏ chính kiến của mình và có những hành động gọi là thẳng thắng bày tỏ quan điểm của mình như vậy?

Nữ đạo diễn Song Chi : Tôi nghĩ thế này, không lẽ mình lại không lên tiếng khi mà trong cái xã hội có quá nhiều những vấn đề như vậy, mặc dù rõ ràng là ở Việt Nam số lượng người im lặng nhiều hơn rất nhiều. Cái điều này tôi đã nói trong cái bài viết “Nỗi buồn mang tên Việt Nam”, đó là khi chúng tôi đứng chống Trung Quốc chứ chưa phải là chống phá nhà nước Việt Nam. Phản ứng từ phía chính quyền, cái điều đó thì ai cũng biết.

Đến một lúc nào đó thì xã hội cũng sẽ phải dịch chuyển sang một chiều hướng tốt đẹp hơn. Chắc chắn là nó sẽ phải thay đổi thôi.
đạo diễn Song Chi

Nhưng mà cái điều đáng buồn hơn nhiều khi nó từ phản ứng của những người chung quanh. Con người ta có thể nhìn những người như mình mà cho là hơi điên rồ, đi làm những chuyện nó không có lợi, nhưng mà không lẽ không ai lên tiếng hay sao? Thì tôi nghĩ rằng vẫn còn có bạn bè, vẫn còn có nhiều người khác, và càng ngày thì cũng càng có nhiều người hơn nữa sẽ phải nói lên thôi.

Trà Mi : Trên báo chí Việt Nam thì đôi khi cũng xuất hiện những bài viết được gọi là lên tiếng để phê phán, chỉ trích nhà nuớc trong nhiều lãnh vực như là hành chánh, tham nhũng, v.v…, thì phải chăng những bài viết của chị nó quá thẳng khiến cho người ta cảm nhận là một sự đả kích?

Nữ đạo diễn Song Chi : Những bài bêu xấu trên tờ báo chính thống của nhà nước thì thực tế là cũng chỉ nói trong một phạm vi, mức độ nào đó thôi, chứ còn không bao giờ dám nói đến chuyện là vẫn còn chưa có được tự do dân chủ, hay là mình vẫn còn vi phạm nhân quyền. Những cái đó là những cấm kỵ.

Trà Mi : Làm thế nào để có thể vượt qua “Nỗi buồn mang tên Việt Nam” như tựa đề báo chí của chị? Chị có gì muốn chia sẻ với những người đã cũng như là chưa đồng cảm với chị?

Nữ đạo diễn Song Chi : Tôi nghĩ là thời gian vừa qua, do tình hình diễn ra cuộc rước đuốc thì cũng rất nhiều những người văn nghệ sĩ cũng bị phiền nhiễu. Bản thân tôi thì lúc này công việc như bạn thấy chắc chắn không phải chỉ một bộ phim đâu mà có lẽ là trong một thời gian hay có thể là nhiều khi mà không được làm nữa luôn, thì điều đó tôi không thể biết được.

Trà Mi : Quả thực là một nỗi buồn mang tên Việt Nam, phải không chị ?!

Nữ đạo diễn Song Chi : Nhưng mà không. Chị không làm chuyện này thì chị làm chuyện khác, miễn là nó lương thiện. Tôi tin rằng dần dần thì mọi người cũng sẽ phải bày tỏ những cái suy nghĩ của mình. Đến một lúc nào đó thì xã hội cũng sẽ phải dịch chuyển sang một chiều hướng tốt đẹp hơn. Chắc chắn là nó sẽ phải thay đổi thôi.

Trà Mi : Trước khi chị có những bài viết thể hiện quan điểm như vậy, chị có lường trước đựơc những sự việc sẽ xảy ra như thế này hay không ạ?

Nữ đạo diễn Song Chi : Tôi không nghĩ về phía chính quyền là phức tạp như vậy, nhưng mà vì đã lớn lên, sống ở Việt Nam bao nhiêu năm, thì thành ra cũng không có gì là ngạc nhiên cả.

Trà Mi : Thế sau khi mọi việc đã xảy ra như thế thì chị có cảm thấy hối hận về những việc làm của mình vừa qua hay không?

Nữ đạo diễn Song Chi : Không đâu. Và nếu như quay trở lại thì chắc chắn là tôi cũng sẽ phản ứng như mọi người trong ngày 19 tháng 1 ấy, bởi vì điều đó là điều hoàn toàn tôi thấy không có gì là sai trái cả.

Trà Mi : Sau những gì đã xảy ra với chị thì một người có thể rút ra một kết luận riêng cho bản thân mình như thế này, có nghiã là khi mà vượt qua cái nỗi buồn chung thì để chỉ nhận lấy cho mình một nỗi sầu riêng thôi, cũng là một hạt cát ở sa mạc thôi, thì ý kiến của chị như thế nào?

Nữ đạo diễn Song Chi : Có lẽ là nhu vậy. Trong một số đông im lặng thì rõ ràng là chỉ có một thiểu số thì chắc chắn là rất mệt mỏi. Nhưng mà tối thiểu những điều mình làm có nhỏ xíu đi chăng nữa thì cũng vẫn phải làm. Nếu không thì mọi chuyện nó sẽ lại càng chậm hơn nữa.

Vừa rồi là cuộc trao đổi với nữ đạo diễn Song Chi về việc bà bị khước từ hợp đồng với hãng phim truyền hình TFS vì những bài viết thẳng thắn bày tỏ quan điểm trên blog cá nhân, cũng như là tham gia biểu tình phản đối hành động bành trướng của Trung Quốc tại Trường Sa – Hoàng Sa. Tuy nhiên, trong cuộc phỏng vấn với Ban Việt Ngữ BBC, ông Nguyễn Việt Hùng, giám đốc hãng TFS lại không nêu rõ lý do đó. Trả lời thắc mắc của đạo diễn Song Chi về lý do tại sao không nói đúng nguyên nhân khiến bà bị ngưng việc , ông Hùng nói rằng trả lời thế nào là quyền của ông, và ông nhấn mạnh:

“Đó là những vấn đề mà nhà nước này và người ta có đặt yêu cầu với trách nhiệm của Đài. Trong tiêu chí đó có rất nhiều, tiêu chí đó rất nhiều chuyện, thì trong đó đó là một ý kiến của người ta. Người ta không muốn thì người ta yêu cầu mình ngưng cộng tác thôi.”

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/director_Song_Chi_denied_film_contract_for_anti-China_protest_TMi-05092008182648.html

THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI PARIS NGÀY 8.5.2008

THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI PARIS NGÀY 8.5.2008

Giáo chỉ số 9 của Đức Tăng thống Thích Huyền Quang giả hay thật ? Phe chống đối Giáo chỉ số 9 là ai ? Sư Thích Quảng Ba nói đúng hay sai ?… Ông Võ Văn Ái trả lời báo Saigon Times ở Sydney, Úc Đại Lợi

PARIS, ngày 8.5.2008 (PTTPGQT) – Báo Saigon Times do ông Hữu Nguyên làm Chủ nhiệm đã cho đăng bài phỏng vấn ông Võ Văn Ái trong số phát hành tại Sydney, Úc Đại lợi, ngày 1.5.2008. Qua 12 câu hỏi, tất cả những vấn đề trọng yếu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) đã được đề cập. Từ Giáo chỉ số 9 do Đức Tăng thống Thích Huyền Quang ban hành ngày 8.9.2007 làm dấy lên sự chống đối của một số Tăng sĩ và Cư sĩ trong cộng đồng Phật giáo hải ngoại. Những bài viết nặc danh có, hữu danh có, tung huyễn tin lên mạng Internet quy kết Giáo chỉ giả. Rồi những lời tuyên bố tại Úc của Sư Thích Quảng Ba kêu gọi Phật tử hải ngoại hãy ủng hộ cho Giáo hội Phật giáo Nhà nước, v.v…

Tất cả những thắc mắc trong dư luận cộng đồng người Việt hải ngoại 8 tháng qua được ông Võ Văn Ái, Phát ngôn nhân Viện Hoá Đạo, GHPGVNTN, Giám đốc Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế kiêm Tổng Uỷ viên Ngoại vụ Văn phòng II Viện Hoá Đạo, giải đáp tường tận.

Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế xin đăng tải toàn văn cuộc phỏng vấn trên báo Saigon Times dưới đây :

Saigon Times (SGT) : Thưa Ông, một trong những sự kiện quan trọng nhất đối với Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất là Giáo Chỉ Số 9 do Đức Đệ tứ Tăng thống Thích Huyền Quang ấn ký. Vậy xin Ông cho biết, nguyên nhân nào và hoàn cảnh nào khiến Đại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang ban hành Giáo Chỉ số 9?

Ông Võ Văn Ái (Ô. VVA) : Nguyên nhân và hoàn cảnh Giáo chỉ số 9 do Đức Đệ tứ Tăng thống Thích Huyền Quang ban hành ngày 8.9.2007 xuất phát từ 7 nhận định về vị thế và tình hình Phật giáo trong dòng lịch sử Việt Nam hai nghìn năm qua. Trong 7 nhận định ấy, 4 nhận định sau đây khế hợp với tình hình Gíao hội bị nhà cầm quyền Cộng sản đàn áp, đồng thời với sự xuất hiện của một thành phần cơ hội gây rối trong nội bộ Phật giáo trong cũng như ngoài nước. Nói theo lời Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ, là hoàn cảnh « trong đánh ra ngoài đánh vào », hay nói theo thuật ngữ Phật giáo là « nội ma ngoại chướng ».

Nói tóm, Gíao chỉ số 9 là « biện pháp tự vệ cùng tiên liệu đối phó với tình hình”, mà ai cũng có thể nhận ra mối hiểm nguy ngày nay của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất được trình bày qua 4 nhận định ghi trong Giáo chỉ số 9 như sau :

– Nhận định rằng kể từ khi chiến tranh Việt Nam kết thúc năm 1975, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất vẫn tiếp tục sống trong hoàn cảnh bị bức hiếp, không có tự do, không được quyền hoằng dương Chánh pháp theo truyền thống Phật giáo;

– Nhận định rằng vì nhiều lý do nội tại hay khách quan, vô tình hay cố ý, một số chư Tăng, Phật tử rời bỏ con đường cao rộng của Chánh pháp, đem thân phục vụ thế quyền làm biến tướng Bát chánh đạo và làm nghiêng ngửa Giáo hội;

– Nhận định rằng sự phát triển bền vững của nhân loại ngày nay là cuộc phát triển tổng hợp và đồng bộ trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa, giáo dục, môi sinh ; đạo Phật chỉ có thể phục vụ hữu hiệu con người trong một xã hội tự do, tôn trọng nhân quyền và dân chủ. Nhận định này làm nền tảng cho yêu sách phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tại Việt Nam, và là lý do vận động kiên trì suốt 32 năm qua của Giáo hội và Phật giáo đồ trong nước cũng như công tác vận động quốc tế của Giáo hội và Phật giáo đồ ở hải ngoại;

– Nhận định rằng những cuộc đàn áp liên tục, ngày càng gia tăng của Nhà cầm quyền CHXHCNVN, đặc biệt gần đây đối với các Ban Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) tại các tỉnh miền Nam và miền Trung. Hơn nữa, ngày 16 âm lịch Đinh Hợi tức 28.8.2007, hầu hết hàng giáo phẩm thuộc Ban Chỉ đạo Viện Hóa Đạo, từ Viện trưởng, Phó Viện trưởng đến đa số các Tổng vụ trưởng bị các Ủy ban Nhân dân Phường mời đi làm việc, song song với chiến dịch báo chí, truyền thanh, truyền hình của Nhà nước trên toàn quốc tấn công, bôi nhọ, vu cáo GHPGVNTN và Viện trưởng Viện Hóa Đạo, vì Giáo hội thể hiện đức từ bi của đạo Phật góp phần cứu trợ vật chất cho tập thể Dân oan đi khiếu kiện bị thiếu thốn lương thực. Các cuộc cứu trợ thuần túy từ thiện xã hội của Giáo hội đã được thực hiện công khai ngày 13.7 và 17.7 tại Saigon và ngày 23.8 tại Hà Nội. Thực tại Dân oan đi khiếu kiện là mối bức xúc xã hội trầm trọng, sở dĩ còn tồn tại đến ngày hôm nay, là vì nỗi oan ức của người nông dân bị cướp đất, cướp nhà, bị lăng nhục và xúc phạm nhân phẩm từ hơn 20 năm qua không được nhà cầm quyền giải quyết. Chiến dịch đàn áp, vu cáo và khủng bố tinh thần hiện nay đối với GHPGVNTN báo hiệu một cuộc bắt bớ, đàn áp nước lũ có thể xẩy ra bất cứ lúc nào, bó buộc Giáo hội phải có biện pháp tự vệ cùng tiên liệu đối phó với tình hình;

– Nhận định rằng đồng thời với cuộc đàn áp trong nước nhằm tiêu diệt GHPGVNTN, một số phần tử cơ hội trong cộng đồng Phật giáo hải ngoại tiếp tay gây phân hóa, tạo ly gián, biến tướng chủ trương, đướng hướng sinh hoạt của GHPGVNTN Hải ngoại, âm mưu dập tắt tiếng nói của Giáo hội trên địa bàn quốc tế.

Điều lạ là câu viết trong nhận định cuối cùng trên đây : « một số phần tử cơ hội trong cộng đồng Phật giáo hải ngoại tiếp tay gây phân hóa, tạo ly gián, biến tướng chủ trương, đướng hướng sinh hoạt của GHPGVNTN Hải ngoại, âm mưu dập tắt tiếng nói của Giáo hội trên địa bàn quốc tế », thực tế chỉ nói giới hạn « một số phần tử cơ hội trong cộng đồng Phật giáo hải ngoại », thế nhưng bỗng nhiên có hàng loạt người nổi lên nhao nhao tự nhận mình thuộc « một số phần tử cơ hội » ấy, để tuôn lời trách móc Giáo chỉ số 9 « khai trừ » họ, hoặc « giải tán » toàn thể các Giáo hội tại hải ngoại ?! Thế thì tự họ cáo buộc họ theo kiểu « lạy ông tôi ở bụi này » chứ chẳng ai khác.

« Một số phần tử cơ hội trong cộng đồng Phật giáo hải ngoại » này đã được Hoà thượng Thích Thiện Hạnh, Chánh Thư ký Viện Tăng thống kiêm Chánh Đại diện GHPGVNTN tỉnh Thừa thiên – Huế, nói rõ tên và danh xưng trong bản Phúc trình Phật sự viết ngày 8.9.2007 gửi Hoà thượng Viện trưởng Viện Hoá Đạo. Đặc biệt qua điều 2 và 3 sau đây (xin xem toàn văn trong Thông cáo báo chí do Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế phát hành ngày 2.11.2007) :

« 2- Một số Phật tử ở Úc và Hoa kỳ, có gọi điện về thăm và nhân tiện, bày tỏ sự bất bằng về một số Thượng tọa, Đại đức và Cư sĩ tu xuất, đang là Thành viên Hội đồng Điều hành GHPGVNTN/HN tại Úc và Hoa kỳ, lại đi vận động tách khỏi GHPGVNTN là vì sao? Chúng tôi chỉ trả lời vắn tắt trên điện thoại rằng, chắc vì các vị có một vài mâu thuẫn cá nhân nào đó, trong phương pháp hành đạo. Có dịp sẽ trò chuyện sau. Bây giờ không tiện.

« Điều mà Phật tử thắc mắc, chúng tôi thấy, đã được cụ thể qua quan điểm của anh Trần Quang Thuận và Bùi Ngọc Đường. Hai anh hồi cuối tháng 6 và đầu tháng 7 năm 2007; anh Trần Quang Thuận chê trách Hòa Thượng Quảng Độ. Bùi Ngọc Đường ngoài những lời lẽ như anh Thuận; Bùi Ngọc Đường còn thêm chê bai Giáo hội. Sau hết Bùi Ngọc Đường khuyên chúng tôi từ chức Chánh thư ký Viện Tăng thống để nghỉ ngơi, giống hệt như lời Thượng tướng Công an Nguyễn Văn Hưởng đã khuyên Đức Tăng Thống thôi việc, nghỉ ngơi. Giọng điệu hai anh có vẻ như muốn thỏa hiệp, để được sinh hoạt, ý tưởng nầy còn được thấy rõ qua nhóm Thân Hữu Già Lam.

« 3- Chúng tôi được biết, ở Tu Viện Quảng Hương Già Lam; cách đây một năm, đã hình thành một nhóm, có tên gọi “Thân Hữu Già Lam”. Thành viên khoảng trên dưới 40 vị gồm các thành phần Tu sĩ, Cư sĩ, Cư sĩ tu xuất. Các vị có mặt trong nước, ngoài nước khắp các châu lục. Các vị sinh hoạt dưới dạng Tăng già, chưa dám đứng hẳn vào Gíao hội Phật giáo Việt Nam năm 1981. Các vị quyên góp tiền gây quĩ xây dựng Đại Học, Thư Viện, Hội Trường, làm Văn Hóa Giáo Dục Phật Giáo. Đứng đầu nhóm có GS TS Lê Mạnh Thát, và học giả Thượng Tọa Thích Tuệ Sĩ. Cả hai vị đều đã có một quá khứ hào quang sáng chói, được người dân miền nam Việt Nam vinh danh “người về từ cõi chết”. Có điều lạ là, hồi cuối tháng 7/2007, Hòa Thượng Thích Đức Chơn, về Qui Lai dự lễ Húy nhật Thân mẫu. Hòa Thượng có ghé chùa Báo Quốc thăm, chúng tôi có hỏi Hòa thượng về nhóm “Thân Hữu Già Lam”. Hòa thượng có vẻ ngạc nhiên và bảo, tôi thực sự không hay biết gì về việc này, làm vậy sao được.

“Nhóm “Thân Hữu Già Lam” phần đông, đang là thành viên chủ chốt của GHPGVNTN trong nước và hải ngoại. Nay vì một vài ý kiến bất đồng nào đó mà xây lưng lại với Giáo hội và vận động người khác chống lại Giáo hội, cô lập hai vị Hòa thượng đang lãnh đạo Giáo hội thì chẳng hay ho gì! Mà ai lại làm vậy bao giờ. Những mâu thuẫn nội bộ trong sinh hoạt là chuyện bình thường. Cái gì còn có đó, vai trò phục vụ đạo pháp dân tộc của các vị còn kia, đã mất mát gì đâu mà vội vàng, đôi khi bất đạt, còn gây tổn thương lớn cho tập thể, tổ chức Giáo hội.

“Chúng tôi có đọc nội dung biên bản cuộc họp của các vị “Thân Hữu Già Lam” ngày 23/8/2006, qua hệ thống điện thoại có nhiều người tham dự, từ Việt nam, Úc, Canada, Mỹ, … Họ tổ chức cuộc họp nầy đã hơn một năm nay, và hiện nay đang hoạt động tích cực. Phật đản PL: 2551 vừa qua, vùng nam California, những vị thuộc nhóm “Thân Hữu Già Lam” đã không tuyên đọc Thông điệp của Đức Tăng Thống Đệ Tứ GHPGVNTN khi cử hành lễ Phật Đản”.

SGT : Thưa nội dung chính yếu của Giáo Chỉ số 9 là gì? Trong Giáo Chỉ Số 9 có điểm gì đặc biệt liên quan đến Phật Giáo VNTN tại Úc và Tân Tây Lan?

Ô. VVA : Như đã nói ở trên, Gíao chỉ số 9 là « biện pháp tự vệ cùng tiên liệu đối phó với tình hình” thông qua 4 nhận định về hiện trạng cấp thiết và nguy biến trước cảnh “trong đánh ra ngoài đánh vào” hoặc “nội ma ngoại chướng” của Giáo hội. Biện pháp thi hành là thiết lập Văn Phòng 2 Viện Hoá Đạo, mà nhiệm vụ được quy định tại Điều 2 của Giáo chỉ số 9 là : “Văn phòng II Viện Hóa Đạo đại diện cho Viện Hóa Đạo tại hải ngoại để truyền đạt chủ trương, đường lối và hoạt động của Giáo hội trong nước thông qua các cơ sở của Giáo hội ở hải ngoại, các cộng đồng Phật giáo và cộng đồng Người Việt hải ngoại nói riêng, và trong cộng đồng thế giới nói chung”.

Ở vào tình trạng Giáo hội trong nước bị nhà cầm quyền Cộng sản khủng bố toàn triệt không còn cách hoạt động dù là tối thiểu, thì nhiệm vụ của Văn phòng 2 được quy định theo Điều 4 : “Văn phòng II Viện Hóa Đạo nối tiếp nhiệm vụ và hoạt động của Giáo hội gặp lúc Viện Hóa Đạo trong nước bị đàn áp không thể hoạt động. Mọi hoạt động của Văn phòng II Viện Hóa Đạo dựa trên cơ sở lập trường và đường hướng quy định trong bản Hiến chương GHPGVNTN được Đại hội Khoáng đại kỳ V ngày 12.12.1973 tu chính, và tuân thủ lập trường biểu hiện qua các văn kiện, thông điệp, tuyên cáo, kêu gọi do Giáo hội trong nước công bố từ năm 1992 đến nay”.

Điều cần nói là Văn Phòng 2 Viện Hoá Đạo vốn đã hiện hữu từ năm 1992 nhưng trực thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngoại tại Hoa Kỳ chiếu theo Quyết Định số 27-VPLV/VHĐ do Hoà thượng Thích Huyền Quang, Quyền Viện trưởng Viện Hóa Đạo, ban hành ngày 10.12.1992. Nay theo Giáo chỉ số 9 do Đức Tăng thống Thích Huyền Quang ban hành ngày 8.9.2007, thì Văn phòng 2 Viện Hoá Đạo chiếu theo Điều 3: “Văn phòng II Viện Hóa Đạo trực thuộc sự chỉ đạo và điều hành của Viện trưởng Viện Hóa Đạo trong nước. Thành viên Văn phòng II Viện Hóa Đạo do Viện trưởng Viện Hóa Đạo thỉnh tuyển và chỉ định; tùy theo nhu cầu, hoàn cảnh, các thành viên có thể được bổ sung, hoán chuyển hay thay đổi”.

Như thế, Giáo chỉ số 9 ban hành việc thiết lập Văn Phòng 2 Viện Hoá Đạo theo cơ cấu mới, nên không đề cập gì đến Giáo hội các châu cũng như Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất tại Úc và Tân Tây Lan.

SGT : Quý vị lãnh đạo Phật Giáo, Phật tử, cũng như người Việt nói chung tại VN cũng như hải ngoại, đã có những phản ứng gì đối với Giáo Chỉ số 9?

Ô. VVA : Tất cả chư Tôn đức Tăng Ni và Phật tử trung kiên với đường lối, lập trường cố hữu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất dưới sự lãnh đạo tối cao của Đức Tăng thống Thích Huyền Quang và Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hoá Đạo, đều có phản ứng duy nhất : Tán thán và khâm tuân Giáo chỉ số 9 do Đức Tăng thống Thích Huyền Quang ban hành. Tán thán vì nhận định rằng đối tượng của Giáo chỉ số 9 là Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam. Một nhà cầm quyền theo chủ nghĩa ngoại lai Mác – Lênin nên thi hành chủ trương tiêu diệt Phật giáo nói riêng và tôn giáo nói chung. Đồng thời tán thán Giáo chỉ số 9 đã cứu nguy Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.

Nếu không có Giáo chỉ số 9, thì ngày nay Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đã bị nhà cầm quyền Cộng sản nuốt chửng, như lời Giáo chỉ số 9 nhận định, thông qua « một số chư Tăng, Phật tử rời bỏ con đường cao rộng của Chánh pháp, đem thân phục vụ thế quyền làm biến tướng Bát chánh đạo và làm nghiêng ngửa Giáo hội” và « một số phần tử cơ hội trong cộng đồng Phật giáo hải ngoại tiếp tay gây phân hóa, tạo ly gián, biến tướng chủ trương, đướng hướng sinh hoạt của GHPGVNTN Hải ngoại, âm mưu dập tắt tiếng nói của Giáo hội trên địa bàn quốc tế”.

Phản ứng mạnh mẽ nhất có tính đồng thuận ủng hộ GHPGVNTN đến từ Cộng đồng Người Việt Hải ngoại. Sự lên tiếng đầu tiên là « Tuyên Cáo » ngày 21.11.2007 « Xác định lập trường ủng hộ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất do nhị vị Hòa thượng Huyền Quang và Quảng Độ lãnh đạo cùng các cơ cấu trực thuộc Giáo Hội »« Kêu gọi đồng hương đề cao cảnh giác trước những âm mưu xâm nhập và khuynh đảo, gây mâu thuẫn tôn giáo trong Cộng đồng người Việt hải ngoại của CSVN ». Tuyên cáo này do Cộng đồng Người Việt Tự do Liên bang Úc châu công bố với các chữ ký của Chủ tịch Liên bang, Bác sĩ Nguyễn Mạnh Tiến, Chủ tịch Tiểu bang NSW, Võ Trí Dũng, Chủ tịch Tiểu bang VIC, Nguyễn Thế Phong, Chủ tịch Tiểu bang QLD, Bùi Trọng Cường, Chủ tịch Tiểu bang Nam Úc, Đoàn Công Chánh Phú Lộc, Chủ tịch Tiểu bang ACT, Lê Công, Chủ tịch Tiểu bang Bắc Úc, Lê Tấn Thiện, Chủ tịch Tiểu bang Wollongong, Trần Hương Thuỷ, và Chủ tịch Tiểu bang Tây Úc, Phạm Lê Hoàng Nam.

« Tuyên cáo » của Ủy Ban Phối Hợp Đấu Tranh Yểm Trợ Quốc Nội vùng Đông Hoa Kỳ ngày 1.12.2007 « Xác định lập trường ủng hộ GHPGVNTN do nhị vị Đại Lão Hòa Thượng Huyền Quang và Quảng Độ lãnh đạo cùng các cơ cấu trực thuộc Giáo Hội, ủng hộ Giáo chỉ số 9 của Đức Tăng thống Thích Huyền Quang ban hành ngày 8.9.20076 cũng như thành quả của Đại hội Bất thường của GHPGVNTN Hải ngoại tại Hoa Kỳ tổ chức ở chùa Bửu Môn, thành phố Port Arthur ngày 10.11.2007 ».

Tiếp đến là « Bản Lên Tiếng chung » của Cộng Đồng Việt Nam tại Nam California, Hoa Kỳ, « về sự tái cấu trúc (theo Giáo chỉ số 9 của Đức Đệ tứ Tăng thống Thích Huyền Quang) và công cuộc đấu tranh cho Đạo pháp và Dân tộc của GHPGVNTN dưới sự lãnh đạo của Đức Tăng thống Thích Huyền Quang và Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ ». Bản Lên tiếng chung này đã được 24 đoàn thể, đảng phái, tổ chức tại California, Hoa Kỳ, đồng ký tên và công bố hôm 27.12.2007.

Ngoài ra, sự kiện mới mẻ chưa hề xẩy ra trước đây, là sự lên tiếng tự phát của hàng loạt bài tố cáo những phần tử cơ hội trong cộng đồng Phật giáo hải ngoại ẩn nấp dưới nhiều danh xưng, như nhóm Về Nguồn, nhóm Thân hữu Già Lam, nhóm Tăng Ni Hải ngoại, v.v… Các loạt bài này rộng rãi tung lên mạng lưới Internet, các Trang Nhà hay thông qua các buổi hội luận Paltalk. Đây chính là phản ứng lành mạnh và có ý thức của quần chúng đông đảo trong Cộng đồng Người Việt Tị nạn Cộng sản.

Trong nội bộ Giáo hội, thì Ðại hội Bất thường của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngoại tại Hoa Kỳ tổ chức tại Chùa Bửu Môn ở thành phố Port Arthur, bang Texas Hoa Kỳ, ngày 10.11.2007, với 89 đơn vị thuộc các Hội đồng, các Tổng vụ và các Miền của Giáo hội trên toàn quốc Hoa Kỳ bao gồm 108 Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức Tăng Ni, và Cư sĩ đại biểu đã thể hiện sâu xa tinh thần “Vọng hướng Giáo hội Mẹ” với Ý thức Giải nguy hiện trạng nội ma ngoại chướng đang phân hóa cộng đồng dân tộc và cộng đồng Phật giáo. Đại hội đồng thanh quyết nghị triệt để khâm tuân Giáo chỉ số 9 của Đức Tăng thống Thích Huyền Quang.

Điều trọng yếu là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngoại tại Hoa Kỳ là chiếc nôi đón nhận sự ra đời của Văn phòng 2 Viện Hoá Đạo năm 1992 và nay tiếp tục bảo toàn Văn phòng 2 Viện Hoá Đạo theo cơ chế mới trong công cuộc giải trừ Quốc nạn và Pháp nạn.

Hiển nhiên cũng có những phản ứng chống lại Giáo chỉ số 9 đến từ một số chư Tăng và Cư sĩ vốn có chân hoặc có chức vụ trước kia trong GHPGVNTN Hải ngoại. Tôi dùng chữ « trước kia », là vì họ không còn ở trong GHPGVNTN nữa. Dù rằng họ tiếp tục tuyên bố họ thống thuộc GHPGVNTN, tôn kính hai ngài lãnh đạo tối cao là Đức Tăng thống Thích Huyền Quang và Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hoá Đạo ; nhưng lại xác nhận là « họ không khâm tuân Giáo chỉ số 9 ». Tuyên bố như vậy thì khác gì một công dân Úc nào đó nói rằng tôi tôn kính Thủ tướng Úc nhưng tôi không chấp nhận luật pháp và Hiến pháp Úc Châu ?! Những cá nhân nào, dù là Tăng, dù là Cư sĩ hoặc nhân danh Giáo hội một châu hay một quốc gia nào ở hải ngoại tuyên bố như trên, là tự họ đặt họ ra ngoài khuôn khổ của GHPGVNTN. Một Giáo hội dân lập và lịch sử như GHPGVNTN cũng không thể chấp nhận trong hàng ngũ mình những thành viên vô kỷ luật và đi sai đường hướng, lập trường của Giáo hội.

Vấn đề đặt ra là tại sao những người này chống Giáo chỉ số 9, nhưng vẫn tự đặt họ vào trong khuôn khổ của GHPGVNTN, hơn nữa còn tôn kính Đức Tăng thống và Đại lão Hoà thượng Viện trưởng Viện Hoá Đạo ?

Dễ hiểu thôi : uy tín của hai ngài lãnh đạo GHPGVNTN rất lớn, trong lòng quần chúng Phật tử trong và ngoài nước cũng như trong chính giới và công luận quốc tế. Mặt khác GHPGVNTN là giáo hội bất khuất không bái lạy chế độ Cộng sản lại còn kiên cường đấu tranh cho tự do tôn giáo, nhân quyền và dân chủ suốt 33 năm qua. Nên được mọi tầng lớp nhân dân và các tôn giáo bạn vị nể. Những người nói trên đây đang sống giữa Cộng đồng Người Việt Tị nạn Cộng sản và thụ hưởng sự cúng dường của đàn na tín thí. Do đó, họ phải dựa hơi vào GHPGVNTN để được an toàn và phát triển chùa viện của họ, mong tránh việc tẩy chay của đồng bào thuộc phe dân tộc. Dù lập trường họ đã đổi thay và họ chủ trương thủ tiêu tranh đấu. Cho nên vấn đề chống Cộng của họ chỉ là việc màu mè. Ví dụ mà bản thân tôi từng chứng kiến cho thấy sự màu mè này. 33 năm trước đây tôi đến gặp một nhà sư ở Paris mong cầu sư đứng lên đấu tranh giải nguy cho Giáo hội trong nước. Thời ấy ông đang phục vụ cho Sư Ông Nhất Hạnh. Sư trả lời với tôi rằng : « Tôi nay chỉ lo việc đạo thôi, không muốn dính gì đến việc thế sự ». Thế rồi một vài năm sau, phong trào Người Vượt Biển dồn dập đến Pháp. Đa số là Phật tử không chấp nhận chế độ độc tài toàn trị. Thời ấy Paris chỉ có 2 ngôi chùa, một ngôi chùa tuyên bố không làm chính trị, trong nghĩa không tham gia đấu tranh cho nhân quyền và tự do tôn giáo, nên bị đa số quần chúng Phật tử lãnh đạm không đến sinh hoạt. Nhân đấy mà vị sư tôi vừa nói bỗng nhảy ra hoạt động hăng hái rồi trở thành vị sư « đệ nhất chống Cộng » ở Paris. Hiển nhiên là quần chúng Phật tử đã đông đảo đến sinh hoạt và ủng hộ xây dựng ngôi chùa của vị sư này. Chùa phát triển lớn vào bậc nhất, nhưng nay vị sư cũng dần dà « đấu tranh » theo lối xuân thu nhị kỳ, dần dà trở về vị trí của câu ông đáp lời mời gọi của tôi 33 năm trước.

Những người chống Giáo chỉ số 9 là ai ? Họ gồm có : 8 vị Hoà thượng ở Hoa Kỳ vừa họp Đại hội để ly khai GHPGVNTN và cho thành lập tổ chức mới mang tên « Cộng đồng Phật giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ » ; tại Canada có tổ chức của Thượng toạ Thích Bổn Đạt – Thích Tâm Hoà ; tại Úc có một số chư Tăng do Thượng toạ Thích Quảng Ba bảo lãnh sang Úc, tập trung tại một ngôi chùa ở ngoại ô Sydney. Công tác của nhóm nhà sư này là ngày ngày tung qua nhiều địa chỉ E.mail lên mạng Internet phổ biến các tài liệu giả, các bài nặc danh đánh phá GHPGVNTN, bất kính với hàng lãnh đạo Giáo hội và tập trung chĩa mũi dùi mạ lỵ và vu khống Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế hòng gây hoang mang và ly gián trong Cộng đồng đấu tranh của Người Việt nước ngoài.

Tại sao tuyên bố mình vẫn là thành viên GHPGVNTN, lại thành lập tổ chức có danh xưng khác ? Câu hỏi có thể tìm thấy ở các thành viên được trọng vọng trong tổ chức « Cộng đồng Phật giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ » thường đi đi về về Việt Nam và đã liên hệ với nhà cầm quyền Cộng sản, như 3 Hoà thượng Thích Giác Nhiên, Thích Minh Tuyên, Thích Phước Thuận và hai Cư sĩ Bùi Ngọc Đường, Trần Quang Thuận. Là người dân chủ, tôi tôn trọng sự chọn lựa chính trị của 5 vị này, họ có toàn quyền theo hay không theo, liên hệ hay không liên hệ với chế độ Cộng sản. Tuy nhiên tôi đòi hỏi ở họ sự lương thiện trí thức. Hãy công khai nói lên chính kiến của mình, hãy mở cuộc tranh luận ý kiến, thay vì ẩn nấp vào các sự kiện thuần tuý Phật giáo để trí trá viết hay cho viết hàng chục bài nặc danh chửi bới hồ đồ, vu cáo trắng trợn thông qua cái gọi là nhóm Tăng Ni Hải ngoại. Có tranh luận mới làm sáng tỏ vấn đề, và biết đâu họ không khai thị cho người khác bước theo con đường thoả hiệp Cộng sản của họ, nếu họ có lý và có chiến lược phát huy đạo Phật Việt Nam dưới mái nhà tù Cộng sản ?

Sở dĩ chúng tôi không trả lời các sự đánh phá và bôi nhọ này, đặc biệt đến từ các E.mail của ngôi chùa ở Úc nói trên và nhóm Tăng Ni Hải ngoại, là vì hai lý do. Chúng tôi không trả lời cho những kẻ thiếu can đảm bảo vệ ý kiến họ khi không dám ký tên thật và địa chỉ thật dưới bài viết. Trả lời các bài viết nặc danh khác chi đối đáp với những cô hồn vất vưởng ? Lý do thứ hai, là các bài viết ấy với lý luận hồ đồ, ngôn ngữ xỏ xiên, mà mục tiêu đánh phá y hệt các bài viết đăng trên các báo Công An, An Ninh Thế giới, Nhân Dân, Quân Đội Nhân dân… của Đảng Cộng sản đánh phá GHPGVNTN, Đức Tăng thống Thích Huyền Quang, Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ và tôi, Võ Văn Ái, mà chúng tôi đọc được qua hàng trăm bài từ 1977 đến nay. Hãy so chiếu ngôn ngữ, lý luận, mục tiêu của hai loại bài viết nặc danh này tất thấy ngay chúng phục vụ ai và chúng muốn gì. Chắc chắn là không phục vụ cho dân tộc và không muốn cho đạo Phật phát huy.

SGT : Được biết, Thượng Tọa Thích Quảng Ba là Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Hoằng Pháp, và là Phó Hội Chủ Giáo Hội Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại Úc Đại Lợi-Tân Tây Lan. Ngoài ra, theo lời của chính Thượng Tọa TQB thì Thượng Tọa cũng còn giữ vai trò trong Phòng 2 Viện Hóa Đạo GHPGVNTN. Nhưng trong Thông Cáo Báo Chí làm tại Paris ngày 17 tháng 3 năm 2008, Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế có đề cập đến một tài liệu giả mạo, trong đó xác nhận có nhiều tên tuổi [trích nguyên văn] “trong danh sách giả mạo gồm 52 Tăng Ni có nhiều vị không được Viện Hoá Đạo trong nước công nhận, như trường hợp Thượng toạ Thích Quảng Ba là một”. Xin ông cho biết rõ lý do vì sao, Thượng Toạ Thích Quảng Ba lại không được Viện Hóa Đạo trong nước công nhận?

VVA : Chiếu theo Quyết định số 38/VHĐ/QĐ/VT do Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hoá Đạo, ký ngày 9.3.2008 phê chuẩn thành viên nhân sự Hội Đồng Giáo Phẩm và Hội Đồng Điều Hành GHPGVNTNHN tại Úc châu và Tân Tây Lan, thì Thượng toạ Thích Quảng Ba không còn giữ một chức vụ gì cả.

Thượng toạ Thích Quảng Ba chưa bao giờ có tên hay giữ một vai trò gì trong Văn phòng 2 Viện Hoá Đạo chiếu theo danh sách nhân sự Văn phòng 2 Viện Hoá Đạo được Viện Hoá Đạo hay Hội đồng Lưỡng Viện trong nước phê chuẩn.

Muốn được Viện Hoá Đạo trong nước phê chuẩn cho một vị Tăng hay Cư sĩ vào một chức vụ thuộc GHPGVNTN, thì vị này phải là thành viên trung kiên của GHPGVNTN, đồng thời khâm tuân đường lối, lập trường của GHPGVNTN chiếu theo Hiến chương của GHPGVNTN, bản tu chính ngày 12.12.1973, và các văn kiện của Giáo hội do hàng lãnh đạo tối cao công bố từ sau năm 1975 đến nay, như các văn kiện của Đức Cố Đệ Tam Tăng thống, Đức Đệ tứ Tăng thống Thích Huyền Quang và Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hoá Đạo.

SGT : Trong phiên họp ngày 15-12-1999, LHQ đã chính thức thừa nhận Lễ Tam Hợp là Đại lễ Phật Đản LHQ, ngày lễ hội văn hóa tôn giáo thế giới. Vậy thưa Ông, Lễ Tam Hợp có nguồn gốc từ đâu? Ý nghĩa của Lễ Tam Hợp là gì? Nguyên nhân nào khiến LHQ lại chính thức thừa nhận Lễ Tam Hợp là Đại Lễ Phật Đản LHQ?

Ô. VVA : Trước hết xin giải thích chữ Tam hợp trong thành ngữ Lễ Phật Đản Tam hợp. Ba ngày trọng đại trong cuộc đời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là ngày sinh, ngày thành đạo và ngày nhập Niết Bàn (tức ngày viên tịch). Cả ba ngày này đều rơi vào ngày Trăng tròn. Đại lễ ngày đản sinh hay khánh đản Đức Phật, tiếng Phạn gọi Vesak, là ngày Rằm tháng Tư âm lịch, rơi vào tháng 5 dương lịch, được kết hợp với 2 ngày Rằm kia nên gọi là Tam hợp, tức hợp nhất 3 ngày Rằm trong cuộc đời viên mãn của Đức Phật Thích Ca.

Có người đã nói sai rằng một vị sư người Mỹ đề xuất Liên Hiệp Quốc công nhận lễ Vesak như một đại lễ quốc tế.

Không phải thế, người đề nghị qua một dự thảo Nghị quyết « Công nhận quốc tế về ngày Lễ Vesak tại trụ sở Liên Hiệp Quốc và qua các văn phòng liên hệ (United Nations Day of Vesak) » (văn bản số A/54/L.59) do ông John De Saram, Đại sứ nước Sri Lanka đệ trình trong phiên họp khoáng đại tại trụ sở LHQ ở New York ngày 15.12.1999. Đại sứ Sri Lanka kêu gọi Hội đồng LHQ công nhận ngày Vesak là ngày thiêng liêng nhất của Phật giáo, và cho phép được công khai hành lễ tại trụ sở LHQ và các trung tâm LHQ trên thế giới. Ông cũng cho biết đại diện các nước Hy lạp, Mauritius, Na Uy và Thổ Nhĩ Kỳ hỗ trợ bản dự thảo này.

Đại diện của nhiều quốc gia phát biểu hỗ trợ dự thảo Nghị Quyết trong phiên họp khoáng đại gồm có Thái Lan, Singapore, Bangladesh, Bhutan, Tây Ban Nha, Miến Điện, Nepal, Pakistan, Ấn Độ, Lesotho, Nicaragua, Hoa Kỳ…

Lời phát biểu hỗ trợ của Singapore rất có ý nghĩa khi bà Đại sứ Christine Lee nói rằng « công nhận lễ Vesak là một việc làm thích hợp nhằm tôn vinh Đức Phật. Đây là một trong bốn ngày lễ chính tại Singapore là nơi một phần ba dân số là Phật tử ». Bà còn nhấn mạnh rằng « dự thảo Nghị quyết phù hợp với Nghị quyết của Đại hội đồng LHQ lấy năm 2000 làm năm quốc tế Văn hoá Hoà bình và thập kỷ 2001 – 2010 là thập kỷ quốc tế về Văn hoá Hoà bình cho Thiếu nhi toàn cầu. Dự thảo Nghị quyết này còn mở đường cho năm 2001 là Năm Đối thoại giữa các nền văn minh ».

Đại sứ Tây Ban Nha, ông Juan Luis Flores, thì phát biểu rằng nước ông là một thành viên hỗ trợ Dự thảo Nghị quyết, và tin rằng “LHQ là một nghị trường để các tôn giáo và các nền văn hoá lớn gặp gỡ và hội thoại”.

Đại sứ Ấn Dộ, ông Kamalesh Sharma, nói rằng “Phật giáo tác động lớn lao vào các giá trị tâm linh, luân lý, đạo đức của thế giới, rất xứng đáng để Hội đồng LHQ công nhận và tôn vinh ngày Vesak. Lời dạy tinh tuý của Đức Phật tác động lên đời sống hàng triệu người trên thế giới mang lại niềm hy vọng và giải thoát ».

Nghị quyết được chấp thuận thông qua trong phiên họp cùng ngày 15.12.1999.

SGT : Từ khi được LHQ chính thức công nhận cho đến nay, Đại Lễ Phật Đản LHQ đã được tổ chức như thế nào, ở đâu?

Ô. VVA : Năm đầu tiên, 2000, Đại lễ Phật Đản Tam hợp được chính thức tổ chức tại trụ sở LHQ ở New York. Sau đó tổ chức ở Mumbai (Ấn Độ), và 3 lần liên tục diễn ra ở Bangkok (Thái Lan).

Năm nay, 2008, Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam vì lý do tuyên truyền đăng cai xin tổ chức tại Việt Nam từ ngày 13 đến 17.5.2008 tại Trung tâm Hội nghị quốc gia Mỹ Đình (Hà Nội).

SGT : Chủ nghĩa cộng sản là một chủ nghĩa vô thần. Cộng sản với tôn giáo trái ngược nhau như nước với lửa. Thực tế lịch sử xuyên suốt thời gian ngót một thế kỷ qua cũng cho thấy, bất cứ nơi đâu có chế độ cộng sản, cũng có đàn áp dã man tôn giáo. Cụ thể, tại Việt Nam, kể từ khi chế độ CS được thiết lập tại Miền Bắc vào năm 1954, tại Miền Nam vào năm 1975, chế độ CS đã không ngừng đàn áp, khủng bố, sách nhiễu tôn giáo, trong đó có Phật Giáo. Như vậy, ngày 17/5/2007, khi bộ ngoại giao CSVN gửi công hàm số 241 xin chính phủ Thái và Ban Tổ Chức Quốc Tế, cho CSVN đăng cai Đại Lễ Phật Đản LHQ vào tháng 5 năm nay, thì cộng sản VN đã có âm mưu gì?

Ô. VVA : Như đã nói, việc nhà cầm quyền Hà Nội đăng cai tổ chức Đại lễ Phật Đản chỉ nhằm vào việc tuyên truyền cho chế độ độc tài toàn trị và độc đảng mà thôi. Mục đích nhắm che đậy chính sách đàn áp Giáo hội dân lập và lịch sử là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN), phô trương cho các nước Âu Mỹ thấy rằng « không có đàn áp tôn giáo tại Việt Nam » hoặc « đã có thay đổi trong chính sách tôn giáo tại Việt Nam ».

Ai mà tin được sự kiện một chế độ vô thần, phi tôn giáo và đàn áp tôn giáo lại tôn vinh Đức Phật nhân ngày Khánh đản ? Tệ hơn, sao lại có sự kiện tôn vinh Đức Phật, đồng thời với việc đàn áp GHPGVNTN ? đàn áp 20 Ban Đại diện GHPGVNTN tại các tỉnh thành miền Trung và miền Nam ? đàn áp những Trưởng tử của Ngài, như hàng giáo phẩm Phật giáo và Phật giáo đồ trong nước, đặc biệt là Đức Tăng thống Thích Huyền Quang và Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hoá Đạo hiện đang bị quản chế khắc khe tại Tu viện Nguyên Thiều ở Bình Định, và Thanh Minh Thiền viện ở Saigon ?

Sự thật là Sri Lanka đã phản đối việc đăng cai tổ chức của Việt Nam. Trên tờ Giác Ngộ số Xuân Mậu Tý của Giáo hội Phật giáo Nhà nước, Phóng viên hỏi Giáo sư Lê Mạnh thát rằng : « Chúng ta có gặp phải sự phản đối nào trong quá trình vận động để trở thành nước đăng cai Đại lễ Phật Đản LHQ 2008? ».

Ông Thát cho biết một vị sư đại diện Sri Lanka không đồng tình vì đặt vấn đề : « Việt Nam có phải là một đất nước Phật giáo không để có thể nhận được quyền đăng cai tổ chức Đại lễ Phật Đản LHQ 2008 ? ».

Chắc chắn giáo sư Lê Mạnh Thát đã dựa vào « hào quang án tử hình năm xưa » để bênh vực cho Việt Nam Cộng sản được đăng cai. Ông Thát còn cầu cứu cả Hoa Kỳ để hỗ trợ cho luận điểm của ông khi khẳng định rằng : « Thống kê của Mỹ cho thấy rằng Việt Nam hiện có 60-70% là Phật tử. Như vậy rõ ràng Việt Nam xứng đáng được nhận quyền đăng cai này ».

Theo tin riêng tôi được biết, thì đang có sự lủng củng nội bộ trong Văn phòng Ban Thư ký Uỷ ban tổ chức Quốc tế (IOC). Văn phòng này được đặt vĩnh viễn tại trường Đại học Mahachulalongkorn, Bangkok. Lý do là vì nhà cầm quyền Hà Nội xen lấn, áp đặt chính trị quá nhiều vào Đại lễ Phật Đản sắp tới gây bất mãn cho nhiều quốc gia thành viên trong Uỷ ban tổ chức Quốc tế Đại lễ Phật đản (IOC), nhất là Nhật Bản. Cho nên, Đại lễ Phật Đản LHQ 2008 sẽ được cử hành song song tại Bangkok và Hà Nội, chứ không tổ chức duy nhất tại Hà Nội, như các năm trước tổ chức duy nhất tại New York (Hoa Kỳ), Mumbai (Ấn Độ) rồi Bangkok (Thái Lan).

SGT : Nhìn vào thành phần nhân sự, cơ cấu tổ chức cũng như mục tiêu của Đại Lễ Phật Đản LHQ năm nay tại VN, có gì đặc biệt chứng tỏ có CSVN đã chính trị hóa Đại Hội?

Ô. VVA : Theo cuộc họp báo ngày 27.11.2007 tại Hà Nội, thì Ông Nguyễn Thế Doanh, Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ làm Trưởng ban Điều phối Quốc gia Đại lễ VESAK 2008 của Liên hợp quốc, tức nhà cầm quyền Cộng sản thống lĩnh tổ chức chứ không là Phật giáo, kể cả Phật giáo quốc doanh. Ông Doanh cho biết “Chủ trì các Tiểu ban Tuyên truyền, An ninh, Tài chính – Hậu cần (cho Đại lễ Phật Đản) là các cơ quan Nhà nước ». Trong khi ấy, theo Thông bạch Hướng dẫn tổ chức Đại lễ Phật Đản LHQ 2008 phát hành ngày 7.1.2008 của Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Nhà nước, thì Giáo hội Phật giáo Nhà nước chỉ đóng vai trò phụ thuộc : « Ban Thường Trực Hội đồng Trị sự GHPGVN hướng dẫn việc tổ chức Đại Lễ Phật đản Liên Hiệp Quốc 2008 ».

Cũng theo tuyên bố tại phiên họp liên tịch sáng ngày 10.3.2008 tại Saigon giữa Ban Điều phối quốc gia (Nhà cầm quyền Hà Nội), Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Nhà nước và Thường trực Ủy ban Tổ chức quốc tế (IOC) nhằm đúc kết các công tác phối hợp và tổ chức Đại lễ Phật đản LHQ 2008, thì có những điều sau đây cho thấy bàn tay Đảng « chính trị hoá » Đại lễ Phật đản :

Giáo sư Lê Mạnh Thát cho biết « các đề án tổng thể và chi tiết tổ chức đã được hoàn tất và đệ trình Chính phủ ». Nghĩa là việc tổ chức không nằm trong phạm vi Phật giáo, mà là nhà cầm quyền Cộng sản. Trong tư cách Trưởng Tiểu ban Lễ tân – Giao tế, Giáo sư Lê Mạnh Thát cho biết « sẽ phối hợp cùng Tăng Ni sinh Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội và sinh viên Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đảm trách việc tiếp đón và hướng dẫn khách trong thời gian tham dự Đại lễ ». Nghĩa là việc gì Đảng cũng nhúng tay vào. Theo số liệu Nhà nước cho biết thì số lượng Tăng Ni lên đến bốn chục nghìn, Phật tử thì hàng chục triệu, nhưng lại không đủ người đảm đang việc «tiếp và hướng dẫn khách» nhân dịp Đại lễ Phật Đản ! Vì vậy mà phải nhờ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đảm trách chăng ? « Nhờ » hay theo lệnh Đảng buộc phải chấp nhận ?

Trong cuộc họp liên tịch nói trên, lủng củng trong việc tổ chức bắt đầu manh nha, nếu ta nghe lời phát biểu sau đây của HT. Thích Trí Quảng, Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội Nhà nước, Trưởng Tiểu ban Nội dung của Đại lễ Phật Đản :

« Hiện nay, Tiểu ban Nội dung do tôi làm Trưởng ban đã và đang tiến hành soạn thảo đề án tổng thể, các đề án chi tiết, các bài phát biểu liên quan đến Đại lễ Phật đản và Hội thảo… Tất cả các văn kiện sẽ hoàn tất vào cuối tháng 3 trình Ban Điều phối Quốc gia (tức Nhà cầm quyền CS, chúng tôi chú) để thống nhất nội dung, trước khi được sử dụng. Riêng cá nhân tôi có những nhận xét như sau:

« Thái Lan là nước có kinh nghiệm tổ chức Đại lễ Phật đản LHQ từ nhiều năm. Các khách mời tham dự được tăng cường sau mỗi năm. Việt Nam lần đầu tổ chức với số lượng 90 quốc gia là điều rất đáng mừng nhưng cũng rất lo ngại về các khâu tổ chức.

« Thế nhưng hiện nay, Ủy ban Tổ chức quốc tế, Ban Điều phối Quốc gia (tức Nhà cầm quyền CS, chúng tôi chú) và Gíao hội Phật giáo Việt Nam (tức Giáo hội Nhà nước, chúng tôi chú) vẫn chưa phối hợp nhịp nhàng. Có một số nhập nhằng giữa ba phía chưa được thống nhất nên công việc không thông lắm. Do đó chúng tôi đề nghị giữa Ban ĐPQG, IOC và GHPGVN phải phối hợp chặt chẽ, đoàn kết nhất trí trong điều phối công việc ».

SGT : Quan điểm của GHPGVNTN về Đại lễ Phật Đản LHQ 2008 tại Hà Nội như thế nào?

Ô. VVA : Dù tổ chức ở bất cứ đâu hay tại quốc gia nào, Đại lễ Phật Đản phải do chư Tăng Ni, Phật tử của quốc gia ấy đứng ra đảm nhiệm và điều hành. Cũng thế, kỵ giỗ Ông Bà là trách nhiệm của con cháu. Chả lẽ ông Lý trưởng làng thôn, hay Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân lại đứng ra chủ trì cúng kiến thay con cái sao ?!

Đại lễ Phật Đản là đại lễ tôn giáo, không thể để cho bất cứ tập đoàn chính trị nào thao túng để « buôn thần bán thánh ». Nền tảng của Lễ là tấm lòng thành.

Tập đoàn Cộng sản Việt Nam là những tên đồ tể tế sống hàng triệu người Việt trên bàn thờ Mác – Lênin – Staline thông qua cuộc chiến thừa sai với mục tiêu xích hoá con Rồng cháu Tiên, thông qua Cải cách Ruộng đất và Mậu Thân 68, thì làm sao có đủ tấc lòng thành để lễ bái Đức Phật ?

Ngoại trừ trước ngày Phật Đản, Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam công khai lên tiếng xin SÁM HỐI với toàn dân về sự thảm sát dân lành và khủng bố sĩ phu của đất nước, cam kết sẽ tôn trọng Nhân quyền cho 85 triệu người sống, Linh quyền cho hàng triệu người chết oan. Đặc biệt phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, hoàn trả mọi tài sản và cơ sở Cộng sản cưỡng chiếm của Giáo hội sau năm 1975, và trả tự do cho tất cả tù nhân tôn giáo, tù nhân vì lương thức và tù nhân chính trị.

SGT : Những năm gần đây, nhìn vào những diễn biến của Phật Giáo tại VN, nhiều người lo ngại khi thấy có những nhân vật tên tuổi chống CS của thuở nào như thiền sư Lê Mạnh Thát, Thượng Tọa Thích Tuệ Sĩ… nay đã quy phục nhà nước, tham gia Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (do đảng CSVN giật dây). Nhóm Thân Hữu Già Lam thì cho rằng, sự quy phục này là “trá hàng VC để làm văn hóa, hoằng pháp”. Ông nghĩ sao về điều này? Liệu những nhà lãnh đạo tinh thần nói chung, Phật Giáo nói riêng, có cần phải trá hàng CS để làm văn hóa, hoằng pháp đạo giáo hay không?

Ô. VVA : Chính trị thường trí trá. Vì chính trị mà có người lòn trôn. Nhưng tôn giáo thì không.

Đó là một lẽ. Lẽ khác, « trá hàng » mà tuyên bố mình trá hàng thì ngu và dốt quá. Đảng Cộng sản Việt Nam rất dốt về quản lý đất nước, rất bội bạc về nhân nghĩa, rất lưu manh về hứa hẹn, nhưng rất giỏi về tình báo và công an trị. Ở lĩnh vực này, Cộng sản giỏi vào bực thầy của « thiền sư Lê Mạnh Thát, Thượng tọa Thích Tuệ Sĩ… hay Nhóm Thân Hữu Già Lam », thì làm sao các người này qua mặt được Cộng sản ?!

Sống và chứng kiến bao nhiêu cảnh đổi dời lố lăng, như trường hợp một ông cựu Phó tổng thống Việt Nam Cộng hoà từng gào kêu « Bắc tiến » và « giết tới tên Cộng sản cuối cùng ». Nhưng nay y về nước xin quy hàng Cộng sản, thì có việc gì không thể xẩy ra nơi cõi Sa bà này ? Thuật ngữ Phật giáo diễn tả sự đời ấy bằng hai chữ : Vô thường.

Phải là Thiền sư thật, Đạo sư thật, phải là Bồ Tát thật, thì mới thoát ly khỏi vô thường.

SGT :Từ khi CSVN giật dây thành lập Giáo Hội Phật Giáo VN (GHPGVN), dư luận trong và ngoài nước vẫn coi GHPGVN là một tổ chức Phật giáo quốc doanh, tiếp tay CS. Tuy nhiên, Thượng Tọa Thích Quảng Ba thì lại cho rằng, GHPGVN đã có công duy trì Phật pháp, và nếu không có GHPGVN thì mấy chục năm qua, Phật giáo tại VN sẽ bị suy sụp hoàn toàn. Cụ thể là trong cuộc phỏng vấn của đài SBS do Ngọc Hân thực hiện, phát thanh ngày 28 tháng 5 năm 2007, Thượng Tọa Thích Quảng Ba nói [trích nguyên văn]: “Dù là chính quyền VN lập ra GHPGVN nhưng mà [CS] luôn luôn chèn ép, luôn luôn gây áp lực, luôn luôn gây khó khăn trong rất nhiều lãnh vực và lần lần bị tháo gỡ lần lần ra được lỏng lẻo hơn, được cởi mở hơn là nhờ cái sức tranh đấu của GHPGVNTN. Cho nên một giáo hội duy trì Phật pháp một giáo hội chỉ trích chính quyền để cho chính quyền lỏng tay với Phật giáo nói chung. Đây là một sự hợp tác không thành văn và không có văn bản và không có họp hội. Nếu không có PGVNTN thì dĩ nhiên GHPGVN cũng không được sinh hoạt tốt đẹp một cách tạm thời một cách tương đối như hiện nay. Còn nếu không có GHPGVN, chỉ có GHPGVNTN trong tù tội không thôi đó thì chùa chiền tăng ni phật tử trong mấy chục năm qua cũng đã suy sụp hoàn toàn và không có cái sinh hoạt gì gọi là phật giáo hết.” Thưa Ông nghĩ sao về luận điệu này?

Ô. VVA : Quý báo dùng hai chữ « luận điệu » là đã gói ghém hết nội dung tinh thần của người phát biểu. Thượng toạ Thích Quảng Ba có quyền nhận định như trên trong tư cách cá nhân, nhưng ông không đại biểu cho lập trường của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.

Ở trên, quý báo nói rằng : « dư luận trong và ngoài nước vẫn coi Gíao hội Phật giáo Việt Nam là một tổ chức Phật giáo quốc doanh, tiếp tay Cộng sản ».

Đây không chỉ là dư luận mà là một thực tại.

Ông Đỗ Trung Hiếu, một cán bộ tôn giáo cao cấp của Đảng Cộng sản, được các ông Xuân Thủy rồi Nguyễn Văn Linh và Trần Quốc Hoàn trực tiếp giao phó nhiệm vụ “thống nhất Phật giáo” đầu năm 1979 với chức Chính ủy của Đoàn Công tác thống nhất Phật giáo Việt Nam, mà thành quả đưa tới sự ra đời của Giáo hội Phật giáo Việt Nam (Giáo hội Nhà nước) ngày 4 tháng 11 năm 1981 tại Hà Nội.

Sau này vì hối hận, ông viết tài liệu « Thống nhất Phật giáo » 50 trang đánh máy, khổ A4. Ông Hiếu viết xong và đề ngày “Phật Ðản 2538, ngày 15.4 Giáp Tuất (25.5.1994)”. Tài liệu tiết lộ tất cả sự thật của cái gọi là Giáo hội Phật giáo Việt Nam (xem toàn văn trên tạp chí Quê Mẹ số 133, Paris, 1995).

Qua tập tài liệu, ông Ðỗ Trung Hiếu cho biết chi tiết tên tuổi từ các vị lãnh đạo Ðảng đến hàng giáo phẩm cao cấp Phật giáo, theo hoặc chống, trong quá trình thống nhất Phật giáo do Ðảng chủ trương sau ngày cưỡng chiếm miền Nam năm 1975.

Chủ trương của Trung ương Ðảng và Ban Dân vận Trung ương về vấn đề thống nhất Phật giáo là :

« Nội dung đề án là biến hoàn toàn Phật giáo Việt Nam thành một hội đoàn quần chúng. Còn thấp hơn hội đoàn, vì chỉ có Tăng, Ni, không có Phật tử ; chỉ có tổ chức bên trên không có tổ chức bên dưới, tên gọi là Hội Phật giáo Việt Nam (…) Nội dung hoạt động là lo việc cúng bái chùa chiền, không có hoạt động gì liên quan tới quần chúng và xã hội (…) Lấy chùa làm cơ sở chứ không phải lấy quần chúng Phật tử làm đơn vị của tổ chức Giáo hội”.

Ông Hiếu nhận định về sự thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam (Nhà nước) tại chùa Quán Sứ, Hà Nội, ngày 4.11.1981, như sau :

“Thực sự đại biểu là giữa Phật giáo của ta và GHPGVNTN. Ban Vận động Thống nhất Phật giáo Việt Nam đều là đại biểu dự Ðại hội, trong đó đại biểu của ta đa số. Chín tổ chức và hệ phái Phật giáo, GHPGVNTN là một, còn lại tám với những danh nghĩa khác nhau, nhưng tất cả đều hoặc là ta hoặc là chịu sự lãnh đạo của Ðảng”. (…) “Cuộc thống nhất Phật giáo lần này bên ngoài do các hòa thượng gánh vác, nhưng bên trong bàn tay đảng Cộng sản Việt Nam xuyên suốt quá trình thống nhất để nắm và biến tướng Phật giáo Việt Nam trở thành một TỔ CHỨC BÙ NHÌN CỦA ĐẢNG (chúng tôi nhấn mạnh)”.

(…) “Việc thống nhất Phật giáo Việt Nam theo tôi biết, Ðảng chủ trương thống nhất Phật giáo của ta với Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) khối Ấn Quang. Phật giáo của ta là Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam (HPGTNVN) và Ban Liên lạc Phật giáo Yêu nước (BLLPGYN) ở miền Nam. Ở miền Bắc, phật tử đã vào các đoàn thể quần chúng hết rồi, chỉ còn những cụ già đi lễ bái ở chùa ngày rằm, mồng một, theo tục lệ cổ truyền. Sư tiêu biểu thật hiếm. Cụ Trí Ðộ đã luống tuổi, quanh đi quẩn lại vẫn cụ Phạm Thế Long, nhưng khả năng đức độ của cụ ảnh hưởng trong nước và quốc tế hạn chế. BLLPGYN có khá hơn một tí. Cụ Minh Nguyệt (đảng viên cộng sản, theo ô. Hiếu) có thành tích ở tù 15 năm Côn Ðảo, cụ Thiện Hào (đảng viên cộng sản, theo ô. Hiếu) có thành tích đi kháng chiến, nhưng điều phật tử cần ở nhà Sư, cả hai cụ đều hạn chế.

“GHPGVNTN khối Ấn Quang là một tổ chức tôn giáo và tổ chức quần chúng mang tính xã hội chính trị có màu sắc dân tộc, thu hút đông đảo quần chúng và có uy tín trên thế giới, nhiều nhà sư tài giỏi. Nếu thống nhất theo Kiến nghị của cụ Ðôn Hậu, có nghĩa là giải thể BLLPGYN, sát nhập HPGTNVN vào GHPGVNTN và chịu sự lãnh đạo của họ. Như thế GHPGVNTN phát triển ra toàn lãnh thổ Việt Nam chứ không chỉ ở miền Nam như trước năm 1975.

“Quan trọng là Ðảng không bao giờ lãnh đạo được GHPGVNTN, mà ngược lại GHPGVNTN trở thành một tổ chức tôn giáo rộng lớn có đông đảo quần chúng, là một tổ chức có áp lực chính trị thường trực với Ðảng và chính phủ Việt Nam.

“Thống nhất theo dự án của ban Tôn giáo chính phủ chưa ổn lắm, vì chung qui cũng đưa các cụ ở HPGTNVN và BLLPGYN xách cặp cho GHPGVNTN mà thôi”.

Đọc xong các tiết lộ của ông Đỗ Trung Hiếu trên đây, mà còn nghĩ rằng Giáo hội Phật giáo Việt Nam (tức Giáo hội Nhà nước) có thể đóng một vai trò nào đó cho nền Phật giáo dân tộc ngoài vai trò tay sai chính trị, khuyển mã cho Đảng, thì chỉ có thể phát xuất từ hai loại người. Một là ngây thơ, hai là cò mồi cho Cộng sản. Xin nói ngay tôi không « chụp mũ » cho ai cả. Vì rằng, đối với tôi và thực tế lịch sử đã minh chứng, là có những người không là đảng viên Cộng sản, nhưng ăn nói, suy nghĩ hay hành động lại phục vụ cho Cộng sản còn hơn đảng viên Cộng sản. Chỉ là vấn đề trí tuệ.

Cần nói thêm rằng, vì viết tài liệu nói trên mà ông Đỗ Trung Hiếu bị 18 tháng tù giam tại trại Xuân Lộc.

SGT :Cũng trong buổi phỏng vấn đó của đài SBS, Thượng Tọa Thích Quảng Ba còn kêu gọi, “Tăng ni phật tử hải ngoại dù là giáo hội nào hay không giáo hội nào, cũng luôn luôn yểm trợ những sinh hoạt của Phật giáo trong nước cho dù là sinh hoạt đó cuả Giáo Hội Thống Nhất điều hành hay là Gíao hội Phật giáo Việt Nam điều hành”. Thưa Ông, lời kêu gọi này nguy hiểm ở chỗ nào?

Ô. VVA : Nguy hiểm ở sự ba phải và nhập nhằng trong một Cộng đồng Người Việt Tị nạn vốn rất minh bạch về luận điểm dân tộc và tôn giáo trước chế độ độc tài toàn trị gian manh, phi tôn giáo, chống tôn giáo và chống con người.

SGT : Chân thành cảm ơn thì giờ qúy báu cùng tâm huyết của Ông.

Older Posts »

Blog at WordPress.com.