Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

September 3, 2008

Video: Cộng Sản Vu Khống Giáo Sứ Thái Hà

Video: Truyền Thông Cộng Sản Xuyên Tạc Giáo Xứ Thái Hà!!!!

Truyền Thông cs thi nhau lập công dâng đảng … Lương tâm không bằng lương tháng !

Xin mời quý bạn đọc vào trang trong để xem video đài truyền hình cộng sản Việt Nam xuyên tạc tin tức về giáo xứ Thái Hà, và những video ghi nhận về sự kiện lập biên bản người xịt hơi cay tại giáo xứ Thái Hà.

Đài truyền hình cộng sản đua tin xuyên tạc giáo xứ Thái Hà

Lập biên bản với công an vụ xịt hơi cay



Nhóm thanh niên quấy rối

Phản ứng của người bị xịt hơi cay:

Sự Suy Đồi Lương Tâm, Đạo Đức Xã Hội

CL Tu do Video: Cộng Sản Vu Khống Giáo Sứ Thái Hà

Advertisements

May 15, 2008

Thăm Chiến Hạm Tại Căn Cứ Hải Quân Den Helder Hòa Lan

Chiến Hạm F 802

BÙI VĂN ĐỖ . Việt Báo Thứ Ba, 5/13/2008 , 

(Varende Familiedag 09 mei 2008 )

Chúng tôi đến căn cứ Hải Quân Den Helder vào một buổi sáng ngày 09-05-2008. Một buổi sáng của nhiều tuần lễ, thời tiết nơi xứ hoa Uất Kim Hương ấm áp, lặng gió, với bầu trời trong xanh và sáng sủa của ngày  mùa xuân, có muôn hoa rực rỡ, thảo mộc như thi nhau đâm chồi nảy lộc; xứ  hiền hòa đất thấp nhưng không có nơi nào thiếu bông hoa, nhất là những vườn được dành để trồng bông lấy củ, thì ta trông như một thảm bông dài bất tận đến tận chân trời. Ôi! Thật là tuyệt vời, một cảnh tượng thần tiên ở hạ giới do muôn loài hoa kết lại.

Đến bãi đậu xe của căn cứ Hải Quân vào lúc 9 giờ, chúng tôi thả bộ đi vào bến cảng, và bước lên cây cầu dẫn lên Chiến Hạm F 802. Vừa bước lên thành tàu, nơi đây đã có Thuỷ thủ đoàn của Chiến Hạm đón tiếp chúng tôi, họ đưa cho mỗi người một bảng chương trình sinh hoạt trên hạm trong ngày, với những dòng chữ nơi trang đầu: Welkom aan boord Hr.Ms.De Zeven Provincien, có hình ảnh của Chiến Hạm với dòng chữ ở bên dưới: Varende Familiedag 09 mei 2008. Trên bong sau của con tàu, có một sân rộng, là bãi đáp của may bay trực thăng, đã được biến thành nơi tiếp tân cho ngày Varende Familiedag, với quầy nước trà, cà-phê, nước ngọt và bánh ngọt, cung ứng cho khách mời theo nhu cầu của mỗi người; ngoài sân bong rộng, từng nhóm theo gia đình cùng có sự hiện diện của chồng, cha hay con, em là thủy thủ hay thân hữu, đang vui  mừng trò truyện, giới thiệu bạn mới và làm quen. Không khí thân thương đúng với tinh thần ngày gia đình của Chiến Hạm (Varende Familiedag).

Chiến hạm Hr.Ms.De Zeven Provincien F 802.

Được khởi công ngày 01-09-1998.

Hạ thủy ngày 08-04-2000.

Chiều dài 144,20 mét.

Chiều ngang  17,50 mét.

Nặng 6050 ton (beladen).

Vận tốc tối đa là 30 meile/45 km một giờ.

9 giờ 30, vị phụ tá của hạm trưởng hướng dẫn khách tham dự ngày Varende Familiedag, về cách xử dụng những phao cứu cấp cá nhân, khi gặp hữu sự trên tàu trong ngày tham quan. Chỉ dẫn các bảng hiệu, đường đi, cửa thoát hiểm trên hạm. Sau đó, Đại Tá Hạm Trưởng R.J.A.M. Ramaekers (Kapitein ter zee), thay mặt toàn bộ thủy thủ đoàn của Chiến Hạm, ngỏ lời chào mừng khách của ngày Varende Familiedag, và hy vọng quý vị sẽ có một ngày thật thoải mái và vui với các thuỷ thủy nam, nữ ở trên tàu. Hôm nay ngoài Chiến Hạm Hr.Ms.De Zeven Provincien F 802 còn có Chiến Hạm Hr.Ms. De Ruyter F 804 là chị em cùng chung một ngày Varende Familiedag. Được biết số khách tham dự ngày gia đình của chiến hạm của F 802 là 628 người, và chiến hạm chị em bên cạnh cũng tương tự.

Sau lời chào mừng của Đại Tá Hạm Trưởng,  con tàu từ từ rời bến cảng ra khơi, khoảng 30 phút sau, khách được xem biểu diễn, trực thăng thả người qua hệ thống dây cáp xuống những con thuyền nhỏ, có người lâm nạn, đưa nạn nhân lên trực thăng để đem đi cứu cấp. Tiếp đến là việc cứu cấp những nạn nhân đang bơi trên biển, để đưa lên trực thăng. Rồi những màn đu dây từ trực thăng để sà xuống gần mặt nước biển của các biểu diễn viên là thủy thủ nữ rất ngoạn mục. Sau màn biểu diễn cứu người lâm nạn trên biển khơi, Chiến Hạm cho con tày chạy từ vận tốc chậm, đến vận tốc tối đa trên biển cho khách thưởng thức, độ nhanh, sức gió cản của biển khơi với con tàu.

11 giờ 15 đến 13 giờ, con tàu chạy thật chậm, để mọi người ăn trưa với thực đơn Indonesische Rijsttafel; mỗi người theo thứ tự, tự lấy phần ăn của mình, tìm một bàn trống trên bong tàu để vừa ăn, vừa trò truyện, thưởng thức món ăn, nhìn bầu trời trong xanh, hưởng cái nắng ấm áp, dịu dàng giữa biển khơi. Thật tuyệt vời cho những khách tham dự ngày Varende Familiedag.

Sau 13 giờ là những màn biểu diễn của hai phản lực cơ 2L-39 Albatros vliegtuigen, và hệ thống phòng không được thiết bị trên chiến hạm, hai phản lực cơ đã bay lượn nhiều vòng trên hai chiến hạm, có những lần bay rất sát mặt nước.

Xen kẽ vào những lần biểu diễn, thủy thủ đưa, dẫn chính thân nhân đi tham quan chiến hạm như:  men theo một hành lang dài chúng tôi đi ra phía trước, đầu tàu, có một khẩu đại bắc, lòng súng chĩa ra biển khơi về phía trước. Sau vị trí của khẩu đại bác là nhiều hàng ô vuông có đậy nắp, nơi đây là hệ thống hỏa tiễn phòng không được gắn chìm ở trong lòng tàu, được phóng đi khi phát hiện có phi cơ địch tấn công từ xa; leo qua cầu thang để lên đài chỉ huy, nơi đại bộ phận điều khiển chiến hạm, với nhiều màn hình, nhiều computer và thiết bị. Rồi tham quan phòng họp tham mưu cuả chiến hạm, văn phòng làm việc của Hạm Trưởng, nơi ở, và những tiện nghi dành cho vị Hạm Trưởng ở trên tàu. Sau đó chúng tôi đi xuống tầng thứ hai và thứ ba để tham quan nơi làm việc và nghỉ ngơi của các sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ, nhà bếp, phòng ăn, nơi sinh hoạt . . . Thăm đến phòng nơi làm việc của y sĩ, gồm có một phòng cho bệnh nhân nằm điều trị gồm có bốn ngường bệnh, một phòng khám bệnh của bác sĩ, một phòng khám răng cho nha sĩ. Thật ngăn nắp, sạch sẽ.

Vào buổi chiều, Chiến Hạm quay đầu trở về điểm khởi hành ban sáng, là căn cứ Hải Quân Den Helder. Trước khi chiến hạm cập bến, vị Hạm Trưởng lại một lần nữa cám ơn các gia đình đã đến tham dự ngày Varende Familiedag, sau đó khách lần lượt bước xuống khỏi tàu. Chúng tôi ra về sau một ngày được du hành trên biển khơi bằng Chiến Hạm, chính Chiến Hạm này sẽ đưa đoàn Thủy Thủ, trong có người con thân thương của chúng tôi, đi đến những vùng có chiến tranh hay bất ổn, để làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh, theo sứ mạng của tổ quốc Hòa Lan đã trao cho họ.

Thấy người mà chạnh lòng nghĩ đến Việt Nam.

Là người Việt Nam, đã phải sống giữa hai ý thức hệ.  Nên từ ngày chào đời, tôi ôm ấp cả tuổi thơ bằng đêm thì nghe súng đạn nổ, ngày thì chứng kiến những cuộc hành quân của quân đội Pháp và Quân đội Quốc Gia; cắp sách đến trường làng phải men theo các bờ ruộng lúa, trên đầu có máy bay thám thính của quân đội Quốc Gia lượn tới, lượn lui, vì nghi là du kích quân Cộng Sản, đơn vị hành quân của phe Quốc Gia gần đó thì nã những tràng đại liên bay xì xèo bên tai. Làng quê hiền hòa, dân quê chất phác, muốn sống yên lành, nhưng do lòng dạ và ham muốn của con người đã gây ra bao cảnh điêu linh, đất nước loạn ly, dân lành khốn khổ. Hiệp Định Paris ra đời năm 1954, nhiều gia đình ở quê tôi đã cuốn gói chạy vào Nam, vì không muốn sống chung dưới chế độ Cộng Sản.

Tôi phải rời bỏ quê hương miền Bắc lúc vừa tròn 10 tuổi, đi theo cha mẹ và các em của tôi, hành trang chính vẫn là con người, vì các em tôi con nhỏ, phải bồng, bế và cõng trên lưng vì đi đường bộ, chỉ mang theo được vài túi cói nhỏ quần áo và vật dụng cần thiết. Chắc là thảm thiết hơn những người tỵ nạn Somany, Afganistan mà chúng ta nhìn thấy trên tin tức của truyền hình trong thời gian gần đây, vì  họ còn biết dùng, lừa, bò, ngựa để đem theo những vật dụng. Người tỵ nạn miền Bắc 1954 từ nhiều ngõ ngách làng quê tìm đường về Hà Nội bằng đủ mọi phương tiện: đi bộ, đi thuyền, đi xe đò, xe lửa. Rồi từ Hà Nội mới đi xe lửa đến Hải Phòng. Vì Hải Phòng mới là thành phố cảng, nơi đó còn căn cứ hải Quân của quân đội Quốc Gia, còn có các phương tiện chuyên chở của các nước tư bản, muốn cứu giúp những người dân của miền Bắc tránh nạn Cộng Sản đi vào miền Nam. Nên cảng Hải Phòng là điểm hẹn của đoàn người di cư.

Khi bước chân xuống cảng Sài Gòn của miền Nam Tự Do, người di cư tỵ nạn được đưa đến các trại tạm cư, được giúp đỡ về vật chất như lương thực, săn sóc sức khoẻ, phương tiện để tạo dựng cuộc sống mới như : cây, ván, tôn để dựng nhà, dựng Chùa, dựng nhà Thờ, dựng trường học. Hai mươi năm ở miền Nam Tự Do, 9 năm đầu tiên dưới thời của Tổng Thống Ngô Đình Diệm được xem là vàng son và lý tưởng; dân không nghèo, đói và còn sung túc, có tự do dân chủ, nhưng không hoàn hảo như các nước phương tây, vì mới độc lập, còn lệ thuộc nước ngoài về tài chánh, dân trí còn thấp. 11 năm còn lại của hai mươi năm miền Nam có tự do, nhưng đời sống kinh tế bấp bênh, chính trị không ổn định vì tình hình Cộng Sản miền Bắc muốn gia tăng áp lực xâm lăng miền Nam.

Khi hai ý thức hệ tìm cách hòa bình và sống chung.

Tình hình thế giới đã biến đổi, sau khi Mỹ bắt tay với Trung Cộng và bỏ Nam Việt Nam. Miền Bắc được Trung Cộng và Nga Xô trợ giúp, tiến quân gọi là giải phóng miền Nam Việt Nam, thống nhất đất nước. Lý thuyết xem ra thật tuyệt vời, thật đẹp vì đã chấm dứt được chiến tranh, tuy không còn cảnh tang tóc diễn ra hàng ngày do pháo nổ, đạn rơi. Nhưng cảnh thanh trừng ly biệt, cải tạo, kinh tế mới, vượt biên, vượt biển lại là một thảm trạng mới, gieo nhiều đau thương và tang tóc, hận thù, còn phải trải qua nhiều thế hệ mới hàn gắn được.

Khuyết điểm lớn lao trong các chế độ độc tài.

Với thời gian Đảng Cộng Sản Việt Nam từ từ biến chất, thủa đầu với đôi dép râu, chiếc nón cối, khẩu AK,  tiến vào giải phóng miền Nam, biến miền Nam đang trù phú, trở thành nghèo đói xác sơ ngang bằng với miền Bắc. Sau đó từ từ tiến lên không phải là Chủ Nghĩa Xã Hội, mà là Chủ Nghĩa Tư Bản Đỏ, dép râu nón cối một hình ảnh thân thương với người dân lao động nghèo khó, nay được thay bằng giầy bóng, dép da, đầu bóng láng với những bộ Complê cà vạt phẳng phưu; chủ nhân những ngôi biệt thự sang trọng nhất thành phố, trong khi lớp bình dân lao động vẫn sống âm thầm trong những căn nhà vách ván cũ rích với mái tôn rỉ xét; cơm độ nhật qua ngày thiếu ăn, vì vật giá leo thang phi mã, áo che thân thiếu mặc. Thì việc ăn xài phung phí, ăn cắp của công, tham nhũng, mua quan bán tước của các quan chức nhà nước XHCN, tràn lan khắp hang cùng ngõ hẻm, từ thành thị đến thôn quê. Chuyện đuổi nhà chiếm đất để bán cho nước ngoài dựng công xưởng, làm sân gôn để khai thác lao động rẻ mạt ở Việt Nam, đã tạo ra lớp Dân Oan khiếu kiện có mặt la liệt ở các cơ quan công quyền, và ở các đô thị quan trọng của Việt Nam.

33 năm sau, đất nước được hoàn toàn giải phóng và thống nhất, đáng ra phải được phát triển và trở nên giầu có, ít ra cũng chạy đuổi theo kịp các nước ở trong Vùng như Thái Lan, Phi Luật Tân,  không dám so sánh với Nhật Bản, Nam Hàn, Singapore. Đàng này từ ngày thống nhất được đất nước, đất nước ta đã phải bán sức lao động của hàng triệu người trẻ ra nước ngoài, để làm thuê, làm mướn, ở đợ, thậm chí còn đi làm điếm ở các nước trong vùng, sang mãi tận đến Âu Châu. Trong lịch sử nước Việt, chưa có thời nào đen tối như thời Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo đất nước. Miệng lưỡi  lừa đảo của ĐCSVN đã thay đen đổi trắng với người Việt ở hải ngoại, từ những cụm từ: “ Phản bội tổ quốc, tụi đĩ điếm cặn bã của xã hội cũ, lười lao động nên đã trốn đi vượt biên theo Mỹ”. Lớp người từng bị theo dõi ngày đêm, bị bắt bớ và cầm tù khi bỏ nước trốn đi, nay đổi ngược chiều cách xưng hô với những người Việt Nam ở hải ngoại: “ Những người con thân yêu của tổ quốc, khúc ruột ngàn dặm” và thật hôi hám, dơ dáy, trơ trẽn hơn nữa khi đưa ra nghị quyết số  36/NQ-TW ngày 26-03-2004 của Bộ Chíng Trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Là người Việt vượt biên sống ở nước ngoài, tôi cảm thấy thật tủi hổ cho dân tộc tôi, mỗi khi nghe tin, đọc báo trên các phương tiện truyền thông.

Các chính sách như: giáo dục thì chắp vá, nhồi nhét, bắt học sinh, sinh viên phải học  những tư tưởng thời thượng về Chủ Nghĩa Xã Hội hoang tưởng của Mác-Lê, mà chính cái nôi sản sinh ra chủ nghiã ấy đã ném nó vào sọt rác từ những năm 1989-1990. Cái thảm trạng của nền giáo dục Việt Nam là nổi tiếng học vẹt, bằng cấp thì giả, tiến sĩ giấy thì đông, nhân tài thật thì ít; giáo dục cho thế hệ trẻ không tự chủ, phải dựa vào mô hình của nhà nước đề ra cho mình, giết chết óc sáng tạo, không có quyền và không được độc lập về các tư tưởng và sáng tạo của mình. Nhất là quyền Tự Do Tư Tưởng, tiếp nhận và loan truyền những tư tưởng mới lạ của người khác, của dân tộc khác. Đáng lẽ đất nước ta phải tiến lên nhanh lắm, sau khi đã có hòa bình thống nhất. Nhưng vì do một chính quyền độc đảng, lại là Đảng CSVN lãnh đạo đất nước, nên đất nước ta cái gì cũng băng họai và trì trệ, cái gì cũng nhất theo lối tính ngược. Tham nhũng nhất thế giới, nghèo khó gần nhất thế giới, chỉ hơn Phi Châu.

Y tế thì thật tồi tệ, vào bệnh viện, thủ tục đầu tiên vẫn là “ Tiền Đâu”, chứ không phải bệnh tình thế nào để kịp thời cứu cấp, nghèo khó không tiền thì nằm lăn lóc chờ chết, hai người một gường hay ba người hai gường, kể cả những sản phụ khi sinh con. Y tế của công quyền đã vậy. Y dược ngoài thị trường thì thuốc thật, thuốc giả khó mà nhận ra, người thua thiệt vẫn là những bệnh nhân nghèo khó. Kinh tế thì hàng giả, hàng thật khó mà kiểm soát được vì nạn tham nhũng từ trên thượng tầng cho đến người cảnh sát viên khu vực. Heo, gà bệnh dịch mà chết, thú y ra lệnh chôn ban ngày, ban đêm đào lên làm thịt, đem cung cấp cho các cửa hàng biến chế thành thực phẩm, rồi cung cấp ra thị trường cho công chúng dùng. Phần lớn dân nghèo không đủ tiền mua thực phẩm đắt đỏ, phải tìm những thứ rẻ để mua, và người nghèo trong chế độ Cộng Sản là người thua thiệt nhất, nghịch với chủ thuyết họ chủ trương.

Ưu điểm của các nước Tự Do Dân Chủ.

Người tỵ nạn thủa đầu đến định cư ở một quốc gia, chúng tôi được giúp đỡ thật nhiều thứ. Trước hết là phương tiện và lương thực, được vớt lên từ biển khơi, hay nhận nhân đạo từ các trại tỵ nạn ở vùng Đông Nam Á, các quốc gia đã chấp nhận cho định cư, họ phải cung cấp phương tiện di chuyển, chỗ ở, tài chánh. Sau đó được lo về sức khỏe, khám tổng quát, nếu có những bệnh nan y thì khẩn cấp được đưa đi điều trị cẩn thận; chụp hình phổi, khám răng; thiết lập hồ sơ về bảo hiểm sức khoẻ, riêng một số quốc gia ở Âu Châu thì mỗi người đều có Bảo Hiểm Sức Khoẻ, mọi sự khám bệnh, chữa trị đều được miễn phí. Sau đó trẻ em và người lớn đều được cắp sách đến trường, để học ngôn ngữ và học phổng thông tùy theo tuổi tác và trình độ, còn được đào tạo về nghề chuyên môn cho những ai muốn và có khả năng học. Mỗi gia đình hay những người trên 18 tuổi còn độc thân thì được lo liệu cho một căn hộ để cư ngụ. Phần đông các cá nhân hay những gia đình người tỵ nạn đều có những người bản xứ đứng ra lo giúp đỡ buổi ban đầu, họ là những người làm việc thiện nguyện còn gọi là Bạn của gia đình mới đến. Trong cơ cấu làm việc của người bản xứ họ có các Cán Sự Xã Hội để lo cho người dân của họ, cũng như cho người mới nhập cư, về nhiều vấn đề xã hội như: nhà ở, tiền trợ cấp, việc làm, việc đến trường của con. . .  .

Được hội họp và biểu tình.

Ở các xứ tư bản, hội họp trong nhà là một chuyện bình thường, không cần xin phép chính quyền; hội bao nhiêu người, bao nhiêu ngày tùy ý, đừng làm ồn ào phiền lụy đến hàng xóm. Nhưng nếu muốn biểu dương đoàn thể, tổ chức, tiếng nói của cá nhân hay của tập thể ở bên ngoài thì phải xin phép, để cơ quan công lực của nhà cầm quyền giữ gìn an ninh trật tự, điều hành lưu thông và đảm bao an ninh cho người đi biểu tình. Chỉ khi nào cuộc biểu tình có xẩy ra bạo động thì cảnh sát mới can thiệp. Thường những cuộc biểu tình, ban tổ chức phải thông báo cho các cơ quan truyền thông, để nhờ họ loan báo trên các phương tiện truyền thông của họ, khác với lối lừa đảo về tự do theo kiểu của Cộng Sản ở Việt Nam cấm chụp hình đưa tin, chỉ có báo của Đảng và nhà nước là được loan báo điều gì thì loan. Cái quái gở của chủ nghĩa Cộng Sản ở nước ta là không có báo của tư nhân, chỉ có báo của nhà nước, hoặc của những đoàn thể, tổ chức của nhà nước. Đoàn thể, tổ chức  tư nhân không được ra báo.

Được hưởng một nền giáo dục nhân bản.

Được tự do học tập, giáo dục là một ngành quan trọng ở các nước tư bản, giáo dục bắt buộc ở bậc tiểu học và phổng thông cấp I , không phải trả học phí, không phải học thêm và cũng không có nạn thầy, cô dậy kèm. Em nào thông minh, chăm học thì cứ từ từ tiến lên, học xong cấp ba là vào đại học, không bị kỳ thị khi phải chọn trường, chọn ngành. Học chuyên nghiệp, cao đẳng hay đại học thì có học bổng, với điều kiện người đi học phải học xong chương trình, trong một thời gian do bộ giáo dục ấn định. (Theo đúng như điều 26 của Bản Hiến Chương Liên Hiệp Quốc ban hành ngày 10-12-1948).

Phải đóng thuế, căn cứ vào lợi tức của cá nhân.

Khi đi làm, việc ấn định lương bổng căn cứ vào mảnh bằng người đi làm có. Là người công dân thì mọi người có bổn phận phải đóng thuế, nếu đóng qúa mức có quyền xin lại hàng năm. Và người nào khi được chính thức cư ngụ tại đất nước của họ cũng có một mã số để khai thuế riêng, không thể trốn tránh vì rất hiếm nhân viên của nhà nước tham nhũng.

Được thừa hưởng nền Tự Do Dân Chủ và Nhân Quyền ở các nước Châu Âu, tôi muốn viết ra để người trong nước đọc, nhất là giới trẻ. Không có ý nói xấu đất nước mình, mà chỉ muốn nói lên vì nguyên do nào tạo ra cho đất nước ta nhiều tệ nạn, nghèo đói và chậm tiến. Từ 70 năm qua, dân tộc Việt Nam, nhất là các thế hệ trẻ, hết thế hệ này sang thế hệ khác, chúng ta đã bị Đảng lừa gạt. Đất nước ta chỉ có tự do dân chủ và Nhân Quyền trên giấy tờ, trên môi miệng các nhà lãnh đạo, đề lừa dân, và qua mặt thế giới bên ngoài. Chỉ khi nào Việt Nam có bầu cử Tự Do ( không còn cái nạn Đảng cử dân bầu), thì lúc đó dân ta mới thực sự có quyền chọn mặt gởi vàng, cử ra những người tài năng và đức độ, họp thành một Quốc Hội, làm ra Hiến Pháp, luật lệ để cai trị dân, khi đó đất nước mới tiến lên.

Bao lâu còn một đảng độc tài, các người ứng cử viên được chọn vào tòa nhà Lập Pháp do Đảng đề cử ra, rồi sau đó người dân chỉ việc đi bầu chọn, thì khi đó chưa có dân chủ. Vì Đảng sẽ chọn những người của Đảng, yêu Đảng, chứ không phải là người yêu dân, yêu nước Việt Nam. Những người yêu Đảng, thì họ phải vào phe cánh với nhau để duy trì Đảng, tham ô hối lộ và vơ vét tài nguyên của tổ quốc làm giầu cho cá nhân, gia đình và Đảng của họ. Mọi người Việt Nam, dù ở trong nước hay hải ngoại, đều có một tâm tình yêu Quê Hương, yêu đất nước Việt Nam chứ không phải yêu Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Ngược thời gian 25 năm trước, khi chuyến hải hành sinh tử tìm Tự Do, muốn ngó thấy con thuyền vượt biên  từ đàng xa, đã là khó khăn và nguy hiểm. Nhưng khi đến được một mất nước có Tự Do, 25 năm sau, khi người vượt biên ngày đó bé tý, nay đã trưởng thành, và là bác sĩ cho một đơn vị Hải Quân, thì ngày chuẩn bị ra đi công tác, thân nhân được đến tham quan con tàu, được đi thử, được xem biểu diễn cách cứu người trên biển khi lâm nguy của lực lượng hải hành. Thật như một giấc mơ. Đây đúng là hoa trái của của các chế độ Tự Do và Dân Chủ. Phần thưởng cao qúy trả cho những ngày lận đận vượt biên thủa trước./-

 BÙI VĂN ĐỖ

 

May 13, 2008

Tuần làm việc trước ngày 29/4/08 của PV Hải với công an “nhân dân”

Tối hôm Thứ Sáu, tôi nhận một cuộc điện thoại của anh Trường Giang (từ Vương quốc Anh). Anh cho biết có nghe tin một blogger bị đàn áp vì các bài viết trên blog nên đã phone để hỏi thăm.

Tôi cảm ơn anh Trường Giang và tất cả mọi người trong nước cũng như hải ngoại đã quan tâm và chia sẻ cho chủ nhân của trang blog này. Đồng thời, tôi cũng đính chính là không phải bị đàn áp, chỉ được “mời lên làm việc” và bị thu giữ một số thiết bị computer.

Mặc dù rất ngại ngồi viết bài ngay tại dịch vụ NET công cộng, nhưng tôi nghĩ nên có một bài tường thuật về tuần làm việc trước ngày 29/4 với cơ quan an ninh.

Cố gắng này của tôi chỉ để rộng đường dư luận, hy vọng là không vi phạm nghị định nào của Nhà nước!

7:58 sáng 22/4/2008, tôi có mặt tại phòng đợi trước cổng CA Tỉnh Khánh hòa (80, Trần Phú, NT) theo giấy mời trước đó 4 ngày.
Vài phút sau, một anh còn rất trẻ mang quân hàm thiếu úy đến và đưa tôi lên thẳng Phòng Bảo vệ chính trị PA38.
Tôi được gặp người mang quân hàm Thượng tá, tôi nhìn bảng tên và thấy đúng như đã ghi trong giấy mời. Ngày làm việc bắt đầu.

– Anh có biết chúng tôi mời anh lên đây vì chuyện gì không?
– Không. Tôi không biết. Trong giấy mời chỉ ghi là lên làm việc…
– Tôi biết. Nhưng anh có đoán là vì chuyện gì không?
– Đoán thì khó chính xác, nhưng tôi nghĩ là vì các bài viết của tôi trên mạng.

Tôi quan sát kỹ người đối diện, vị Thượng tá này tóc đã hoa râm, chắc khoảng chừng trên dưới 50. Tôi đoán tuổi rất kém nhưng cũng cố đoán vậy.
Ngoài ra, trong phòng còn có một nữ CA còn rất trẻ ghi biên bản và 3 người khác đều mang hàm Trung tá. Về sau có thêm một người khác nữa nhưng tôi không nhớ rõ cấp bậc. Suốt buổi làm việc, họ luân phiên hỏi tôi rất nhiều câu hỏi liên quan đến các bài viết trên blog.

– Anh có thấy các bài viết của mình gây hậu quả như thế nào không? – Vị Thượng tá tiếp tục hỏi.
– Tôi thấy các viết của mình không có gì sai trái cả. Đó chẳng qua là quan điểm cá nhân của tôi và tôi thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình.

Giọng ông ta bắt đầu hơi gắt lại:
– Thế mà anh bảo không có gì sai? Anh có biết nó đã gây xôn xao dư luận như thế nào không?
– Tôi chỉ nêu những sự kiện có thật và viết theo cảm xúc của mình, còn hiểu nó như thế nào, tốt hay xấu là do nhận thức của người đọc. Tôi không biết được.

Đến phiên làm việc của một anh Trung tá khác còn trẻ, dáng người đậm và chắc.
– Đây có phải là các bài viết của anh không?
Tôi nhận một xấp giấy cỡ A4 in một số bài viết từ blog của mình.
– Nếu đúng thì anh hãy ghi rõ vào từng tờ: “Bài này do tôi viết và đưa lên mạng”, rồi ký và ghi đầy đủ họ tên vào đó!

Tôi bắt đầu viết và ký vào từng tờ. Đến bài “Tôi tự hào mình được gọi là ‘phản động'”, tôi nói: – Bài này không đủ, còn mất một đoạn sau!
– Phòng bên có máy vi tính nối mạng, anh sang đó tự mình in lại và ký!

Từ phía đầu bàn bên trái, vị Thượng tá bỗng nhiên hỏi:
– Anh có biết trình độ lập trình như anh ở Nha trang này có khoảng bao nhiêu người không?
– Không có số liệu nào thống kê, nên tôi không thể biết được!
– Thật uổng công nhà nước và bố mẹ cho anh ăn học đến trình độ như thế mà anh lại…
Tôi bắt đầu hơi mất bình tĩnh và ngắt lời:
– Chính vì tôi được ăn học đàng hoàng nên tôi mới chường mặt ra để viết những bài như vậy. Nếu không thì ngư dân bị bắn chết như thế nào, đảo bị chiếm làm sao tôi cũng không thèm quan tâm.

– Theo anh đánh giá thì các bài viết của anh có ảnh hưởng như thế nào?
– Tôi nghĩ sự thật hay mất lòng, tôi viết quá thẳng thắn nên có thể đụng chạm, mất lòng ai đó…
– Cụ thể là ai?
– Trước mắt là anh và anh, tôi chỉ vào hai người ngồi đối diện!
– Không phải là chúng tôi mà là Chính phủ, là Nhà nước này!
– Đành chịu thôi vì đó là cảm xúc thật của mình, tôi không nói khác được!

Đến phiên một vị Trung tá khác hỏi tôi, nhưng chỉ là những câu hỏi xã giao về nhân thân và gia đình. Chỉ có một câu mà sau này ngẫm lại tôi mới biết đó chính là sự chuẩn bị cho việc khám xét nhà tôi vào cuối buổi chiều hôm đó.

Lại đến phiên làm việc của một người khác, bây giờ phòng đã có thêm một người mà tôi không nhớ rõ cấp bậc như đã nói ở trên. Vì họ luân phiên hỏi, nên từ đây về sau trong bài tường thuật, tôi không thể nhớ rõ chính xác ai đã hỏi mình – tạm dùng danh xưng chung là “bên an ninh”.

– Anh tự hào mình là “phản động” lắm hả? Có gì đáng tự hào anh nói xem!
– Chuyện đó tôi đã phân tích rất rõ ràng trong bài viết trên blog!

– Các bài viết của anh dùng toàn là những từ nhạy cảm, “điên đảo” như thế nào mà anh dám gọi cái xã hội này điên đảo?
– Tôi thấy nó điên đảo thì tôi gọi là điên đảo!

Bên an ninh bắt đầu lớn tiếng:
– Anh phải nói rõ! Cụ thể ra!
– Cái này mấy trăm tờ báo trong nước đã nói quá nhiều. Tôi chỉ đơn cử một lĩnh vực là giáo dục: giáo dục tuột dốc như thế thì xã hội không điên đảo là gì?
– Chỉ một mặt cỏn con thế mà anh dám đánh giá cả xã hội này?
– Còn nhiều mặt nữa như tham nhũng, hối lộ… nhưng vì trước đây tôi đã từng là thầy giáo nên tôi chỉ nhấn mạnh vấn đề giáo dục. Theo tôi nghĩ, giáo dục là cái gốc của xã hội…
– Anh đã từng là thầy giáo mặc kệ anh, không thể vì một mặt nhỏ mà đánh giá cả xã hội được!
– Nhưng đó là nhận thức của tôi!

– Đây nữa, ngày 30/4/1975 là ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước mà anh dám gọi là “biến cố” hả?
– Ủa, biến cố là một sự cố gây nên một bước ngoặt, một biến đổi của lịch sử. Đúng quá còn gì, sao không thể dùng từ biến cố? Anh cũng nên biết ô. Võ Văn Kiệt có nói một câu đại ý rằng: Ngày 30/4 có mấy triệu người vui cũng có mấy triệu người buồn!
– Anh có biết ô. Võ Văn Kiệt là ai không?
– Có. Ông là cựu Thủ tướng! Nhưng trước pháp luật mọi người đều bình đẳng như nhau. Tại sao tôi không được quyền nói?
– Nhưng ông ta được Nhà nước cho phép!
– Trời! Thế trong hiến pháp nói mọi công dân đều có quyền tự do ngôn luận là sao?
– Anh nên biết tự do ở đây phải nằm trong khuôn khổ quy định của luật pháp!
– !!!

– Cái đám ngụy quân mà anh lại dùng từ “binh sĩ Việt nam CH” hả?
– Họ là những người ngã xuống vì đất đai Tổ quốc, bất kể là ai tôi cũng ngưỡng mộ họ. Anh dùng từ “ngụy quân” là đi ngược lại chính sách của Nhà nước về đại đoàn kết toàn dân tộc, bây giờ phải gọi là “Khúc ruột ngàn dặm” hoặc…
– Khúc ruột gì bọn phản động…

Không khí trở nên căng thẳng do cả hai phía đều muốn ngắt lời nhau. Tôi đã tự nhủ trước buổi làm việc là phải bình tĩnh, không được ngắt lời người đối thoại, nhưng lại không kìm chế được.

Đối thoại tạm dừng, bên an ninh đưa ra một tập giấy in Nghị định của Chính phủ, lật đến một trang và nói:
– Anh đã vi phạm điều 41 khoản 5 điểm h của Nghị định 55/CP

Tôi xem thấy nội dung: “Đưa vào Internet để truyền bá các thông tin trái với quy định của pháp luật về nội dung thông tin trên Internet mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự”.

Tôi gạch dưới cụm từ nội dung thông tin và nói:
– Có văn bản nào hướng dẫn cho biết nội dung thông tin nào là được phép và nội dung nào vi phạm không? Vì tôi thấy nội dung các bài viết của tôi không có gì sai trái cả.
– Thế mà anh bảo không có gì sai?
– Tôi chỉ bày tỏ quan điểm cá nhân và cổ vũ tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc!
– Rõ ràng là quan điểm chính trị của anh có vấn đề. Hồi trước ở đại học môn chính trị anh được mấy điểm?
– Tôi tốt nghiệp mười mấy năm rồi, làm sao nhớ được? Không riêng gì môn chính trị mà các môn khác tôi cũng không nhớ. Nếu cần các anh có thể xem bảng điểm ở trường…

Tôi ăn trưa ngay tại bàn làm việc cùng với 4 an ninh PA38. Cơm hộp do phía an ninh cung cấp.
Tôi điện thoại về báo cho mẹ tôi biết mình phải ở lại trưa vì làm việc chưa xong, chiều làm tiếp!
Không khí nghỉ trưa thoải mái, chỉ là những câu chuyện xã giao đời thường giữa tôi và 2 an ninh trẻ, một anh là viên thiếu úy đã ra đón tôi tại cổng trực ban lúc sáng.

Buổi chiều, tiếp tục chất vấn vì tôi nhất định không ký vào biên bản vi phạm Nghị định 55CP ở trên.

– Anh có gửi bài cho báo Đàn Chim Việt ?
– Đúng vậy.
– Anh có biết ĐCV là tờ báo của tổ chức khủng bố Việt Tân không?
– Không, tôi không nghĩ như vậy
– Anh không biết gì về ĐCV mà lại gửi bài cho họ?
– Đơn giản vì tôi thấy đó là tờ báo của Người Việt hải ngoại, nội dung đọc cũng hay và vừa phải (ý tôi muốn nói lời lẽ trang này không nặng nề như một số trang khác), thì tôi gửi vậy thôi.
– Anh có biết Nhà nước đã cấm không được truy cập các trang web đen không?
– Tôi có biết. Nhưng tôi thấy trang DCVOnline không phải là trang web đen. Nếu theo quan điểm của nhà nước đó là trang web đen thì nên đưa ra một danh sách cụ thể gồm những trang nào để chúng tôi được biết!
– Anh vào trang ĐCV có gặp trở ngại gì không?
– Có lúc vào được, có lúc không.

– Anh có biết Đài RFA là đài chuyên nói xấu xuyên tạc chế độ không?
– Tôi không nghĩ vậy. Tôi thấy đài này đưa tin khách quan và đúng sự thật. Một số giáo sư, tiến sỹ trong nước cũng có trả lời phỏng vấn trên đài.
– Quan điểm chính trị của anh quá lệch lạc, tôi khuyên anh nên đi bác sỹ tâm lý!
– ???

– Anh có tham gia các cuộc biểu tình ở LSQ TS cuối năm 2007?
– Đúng vậy. Tôi có tham gia!
– Anh có biết việc biểu tình như vậy là vi phạm pháp luật không?
– Hiến pháp có ghi công dân được tự do hội họp, lập hội, biểu tình…
– Nhưng phải nằm trong quy định của luật pháp. Anh có xin phép không?
– Tôi nghe mọi người nói nước ta chưa có luật biểu tình nên không biết thủ tục tiến hành như thế nào. Với lại tôi không phải là người tổ chức biểu tình, tôi chỉ tham gia trong đoàn biểu tình để bày tỏ thái độ phản đối nhà cầm quyền BK…

Cuộc đối thoại còn khá dài nhưng càng lúc càng bế tắc vì quan điểm chúng tôi bất đồng.
Phía an ninh cũng nhận thấy điều đó nên khoảng hơn 15h cùng ngày, họ thực hiện phương án B. Họ yêu cầu tôi lên xe về nhà làm việc. Tôi từ chối vì lý do cả ngày làm việc mệt bây giờ đau đầu, mà quả thật tôi cũng đã quá mệt mỏi. Họ nói cứ về nhà đã, còn làm việc tiếp hay không là tùy anh!

Chiếc xe 12 chỗ với khoảng một chục an ninh PA38 tỉnh và Phòng ANND thành phố theo đường Trần Phú trực chỉ hướng bắc thành phố. Tôi hình dung khuôn mặt mẹ tôi khi thấy số lượng lớn CA mặc cảnh phục trước cổng nhà mình, cố nén một tiếng thở dài ngao ngán: Sóng biển Nha trang chiều nay thật xanh êm nhưng tôi còn tâm trí nào mà ngắm, tôi phải chuẩn bị làm sao cho sóng gió ở nhà mình sắp đến sẽ ở cấp độ nhỏ nhất!

http://pvhai.blogspot.com/2008/05/aweekbefore29042008.html
——
Ý kiến:
Kêu, mời lên “làm việc” :  kiếm cớ, ép buộc làm việc, hạch họe, đe dọa, gài bẩy kết án một cách độc đoán độc tài !   Thói này rất thường xảy ra ở những nước độc tài, vi phạm quyền con người, dân quyền !! Rất ít khi thấy ở những nước tự do dân chủ, tôn trọng pháp quyền hợp lý đúng đắn, thực sự ! 
Thiệt tình cái CA ngụy luận xhcn đỉnh cao trí tuệ, làm việc như cái robot !
Thế này thì dân không điên, không hèn, không nuốt nhục, không ấm ức, xã hội không băng hoại, nước không (sẽ) mất thì xã hội có gì thật không bình thường !  Yêu nước là cái “tội” ! Đúng là một xã hội đảo điên cai trị bởi lũ điên đảo, bán nước buôn dân cầu vinh !!
Mọi giá trị đúng đắn về công bằng, chân lý, lẽ phải, đạo lý, tự do, dân chủ đều bị cơ chế bóp méo, đảo ngược dưới thời xhcn VN !
Cả nước buộc phải luồn lách, nói dối theo để tồn tại vì cơ chế độc đoán độc tài, lừa bịp !!
Phải chăng đó là sự kém trí tuệ, mù quáng, ngông cuồng, tham tàn trí trá, ngoan cố vĩ đại … mãi tự chồng chất nghiệp chướng ?  Nếu không là tội ác là cái gì ??
29/4/2008 tại Saigon, HN cho thấy : VN đã mất chủ quyền, mất độc lập, mất tự do ! VN đã và đang bị ngoại bang xâm thực : giặc nội xâm và ngoại xâm, đúng như nhận định của Hà Si Phu, …vv !

Tài liệu liên quan:
Nghị quyết EU 1481 25/1/2006
Quốc tế nhân quyền, công ước
Hiến pháp   ( và luật rừng vi hiến, làm bởi QH bù nhìn của đảng không tính, không giá trị !)

May 12, 2008

Thư tố cáo về việc công an nhà nước CSVN bắt giữ tôi trái pháp luật

 

Kính gửi :

Các cơ quan bảo vệ Nhân quyền trên toàn thế giới

                   Các hệ thống truyền thông, báo chí, mạng lưới internet, tất cả các đài phát thanh hải ngoại và quốc tế

                   Dư luận đồng bào trong và ngoài nước Việt Nam

 

Kính thưa tất cả các quý vị và toàn thể đồng bào

 

     Như các quý vị đã bíêt sáng ngày 13/04/2008, anh em chị hoạt động dân chủ, nhân quyền và bà con dân oan các tỉnh có tổ chức buổi họp mặt đầu năm 2008 thì công an Cộng sản TP Hà Nội được chỉ đạo của bộ công an Việt Nam trên trung ương đã tiến hành bắt và đánh đập tôi rất dã man. Chúng đã cho tên Nguyễn Tuấn Khiêm là sĩ quan công an đồn phường Tràng Tiền đấm đá tôi túi bụi như đòn trả thù, đặc biệt tên này đã dùng võ thuật đá thẳng vào bộ hạ tôi làm tôi chết ngất đi ít phút. Sau đấy một tên cao gầy đánh một cùi trỏ vào lưng tôi rồi tiếp theo chúng đạp, đá vào mạng sườn tôi liên tiếp gây cho tôi rất đau đớn. Khi đã về tới trụ sở công an TP Hà Nội tại số 87 phố Trần Hưng Đạo thì tên Tuấn Anh lớn <tên này có vết chàm tím trên mặt> đá bóp mạng  sườn tôi mà cho đến 20 ngày sau tôi mới có điều kiện chụp ảnh mà vẫn chưa hết vết thâm tím.

 

Tại trụ sở công an  TP Hà Nội họ đã khám xét người tịch thu 02 điện thoại di động và 01 USB của tôi. Đến 19h30′ ngày14/04/2008 họ mới đưa tôi về nhà bên phố Chợ thị trấn Sóc Sơn rồi đặt chốt canh gác đêm ngày tại nhà tôi 24/24 cho đến ngày 02/05 tôi mới vượt vòng vây của của công an TP H.N để ra ngoài chữa bệnh và các vết thương do công an Hà Nội đánh đập tôi tàn bạo ngày 13/4/2008.

      Sáng ngày 25/04/2008 nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội họ lừa tôi lên công an huyện Sóc Sơn để làm việc với công an TP Hà Nội, rồi họ giữ tôi đến 14 giờ 05  chiều đưa tôi về UBND xã Phù Lỗ để đấu tố tôi một cách dã man như thời đấu tố cải cách ruộng đất hồi những năm 1955-1956. Trong mấy ngày tôi vượt được khỏi vòng quản thúc tại gia rất nghiệt ngã để sang Hà Nội chữa bệnh từ sáng ngày 02/5/2008 thì đến 11 giờ 45 phút ngày 07/05/2008 công an Hà Nội qua theo dõi lại bắt tôi ở nơi tôi đang chữa bệnh tại một nhà cụ già y tá 75 tuổi tên là Trương Đức Thiện ở ngõ 383 phố Phúc Tân quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Cụ già tốt bụng này vốn là cán bộ đã về hưu khi tôi đến đây để tiêm thuốc và sau đó dự định đến nơi chữa bệnh bằng phương pháp vật lý trị liệu trên phố Bạch Đằng ven sông Hồng. Tại đây, hơn 10 công an HN bao vây bắt tôi tại căn nhà này họ đã đưa tôi về đồn công an phường  Phúc Tân, quận Hoàn Kiếm, HN. Cũng chính tại đây họ thu giữ trái pháp luật tiếp 02 điện thoại di động và 01 USB của tôi mà không hề lập biên bản tịch thu. Họ bắt tôi viết bản tường trình nhưng tôi không viết. Sau đó công an TP Hà Nội họ lập biên bản xử phạt tôi 100.000 VND về tội không có giấy tờ tuỳ thân nhưng tôi kiên quyêt không ký bởi vì tôi không ngủ qua đêm tại nhà trọ nào bên Hà Nội cả, mà đây là tôi đi chữa bệnh và các vết thương do chính họ đánh, đạp vào thân thể tôi gây nên. Hơn thế nữa, trước đây nhà cầm quyền độc tài cộng sản Hà Nội đã thu giữ trái phép hộ chiếu và chứng minh nhân dân của tôi từ ngày 06/10/2007 cho tới nay vẫn chưa trả cho tôi. Bây tôi đi bất cứ nơi đâu họ muốn bắt là họ lại dở trò kiểm tra giấy tờ tuỳ thân để họ bắt tôi.

       Khi bắt tôi tại nhà cụ y tá tiêm thuốc chữa bệnh cho tôi, một đại uý công an tên là Trần Văn Thái quê tỉnh Nghệ An rất cực đoan đã túm cổ tôi và nói với mọi người xung quanh : “Đây là một tên tội phạm quan trọng chuyên chống đảng và nhà nước bà con giúp chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ bắt giữ nó về đồn để chúng tôi trị tội  !”. Rồi sau đó công an phường Phúc Tân cũng bắt cụ già này lên để thẩm vấn nhiều giờ đến chiều tối mới được thả ra khỏi đồn công an vì tội đã chứa chấp để chữa bệnh cho tôi !

      Tại đồn công an này tôi đã làm việc sơ bộ với thượng tá an ninh Hà Mạnh Hoà của công an bảo vệ chính trị quận Hoàn Kiếm và đến hơn 19 giờ họ đã cho 4 nhân viên an ninh của công an huyện Sóc Sơn áp giải tôi về nhà.

      Như vậy họ đã cướp trắng của tôi tổng cộng 06 điện thoại di động + 2 USB + 01 Hộ chiếu + 01 chứng minh thư cá nhân mà không hề trả lại cho tôi sử dụng. Ngoài ra họ đã sử sụng rất nhiều công an để đặt chốt canh gác phi pháp biến nhà tôi thành nhà tù trá hình và đánh đập tôi gây tổn hại đến sức khoẻ chỉ vì tôi có những bài viết đòi tự do, dân chủ, nhân quyền và bất đồng chính kiến với ĐCSVN và nhà nước độc tài XHCN VN của họ.

     Trong thư tố cáo tội lỗi đàn áp của công an TP Hà Nội đối với tôi này gửi quý vị có kèm theo các tấm ảnh như để chứng minh như :

          Ảnh chụp vết thương bị thâm tím bên mạng sườn do công an CSVN đánh và bóp huyệt như nội dung trình bày trong thư tố cáo. ( trong tấm hình khuôn mặt tôi có râu để dài mà không có điều kiện cạo vì họ đã giam hãm tôi suốt 20 ngày trong chính căn nhà của tôi )

          Các giấy tờ triệu tập và “ mời ” đểu cá nhân tôi của công an Hà Nội đến đồn để thẩm vấn, hỏi cung và đưa ra đấu tố sỉ nhục.

       Qua các sự việc trên tôi cực lực lên án về những hành động chà đạp luật pháp, chà đạp quyền Con người, quyền công dân mang tính vô nhân đạo, vô hiến pháp, pháp luật và hết sức tuỳ tiện của nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội để gửi cộng đồng Việt nam ở hải ngoại cùng bạn bè quốc tế khắp năm châu biết  rõ thêm tội ác của công an TP Hà Nội đối với dân lành Việt Nam.

 

        Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn tới tất cả những ai đã và đang quan tâm theo dõi, ủng hộ tới những hoạt động cho Phong trào dân chủ tại Việt Nam của tôi hiện nay tại quê nhà còn khổ đau.

 

                                                                                                      Hà Nội ngày 10/05/2008

 

                                                                                                 Công dân  Lê Thanh Tùng

Địa chỉ nhà ở khối 13, phố Chợ, thị trấn Sóc Sơn, ngoại thành Hà Nội

Email liên lạc : aiquocle@gmail.com

http://www.doi-thoai.com/baimoi0508_151.html



May 10, 2008

Tài Sản Nguyễn Văn Quỳnh Phó Ban Trung Ương

Tài Sản Của Nguyễn Văn Quỳnh – Phó Ban Tổ Chức Trung Ương Đảng

Dân Oan Nguyễn Thị Gấm tố cáo


Biệt thự của ông Nguyễn Văn Quynh.Tại khu chung cư cán bộ


Căn nhà 4 tầng của ông Quynh ( ở giữa ) nhà số 152 – Đường Nguyễn
Văn Cừ – Thành Phố – Hạ Long – Tỉnh Quảng Ninh.


Nhà ông Quynh phía tay trái 4 tầng có mái ngói đỏ. Nhà số 9 – Ngõ 1132 – Phố Láng Thượng – Hà Nội.


Căn nhà trước cổng cửa sắt màu xanh của ông Quynh.số 32 – Khu
Phường Cẩm Phả – Tỉnh Quảng Ninh. Tháng 11 năm 2007 ông Quynh bắt đầu
chuyển lên TW làm Phó Ban Tổ Chức Trung Ương. Căn nhà này ông Quynh đã
tặng lại cho bố vợ tên là ( Xong ) sau khi được con rễQuynh tặng,cùng
thời điểm ông Xong bán lại cho người khác.


Đất của ông Quynh từ bức tường gạch thấp,tới sát nhà dân khoảng 1.000m2 bỏ cỏ mọc- Trục đường 334- ở Thôn 4 – Xã Hạ Long – Huyện Vân Đồn – Tỉnh Quảng Ninh

Đất của ông Quynh trong khuôn viên khoảng 2.000m2
bỏ trống cỏ mọc. Thôn 5 – Xã Hạ Long trục đường 334.

Đây là căn nhà của vợ chồng ông bà : Trần Văn Tỏi vợ Nguyễn
Thị Xình. Do vay nợ Ngân Hàng 10 triệu đồng không có tiền trả,gốc lẫn
lãi nhân lên thành 15 triệu đồng. Ngân Hàng Vân Đồn thu hồi.Biếu cho
ông Quynh ở Thôn 6 – Xã Hạ Long – Huyện Vân Đồn trục đường 334 Quảng Ninh.

(VNE)

THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI PARIS NGÀY 8.5.2008

THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI PARIS NGÀY 8.5.2008

Giáo chỉ số 9 của Đức Tăng thống Thích Huyền Quang giả hay thật ? Phe chống đối Giáo chỉ số 9 là ai ? Sư Thích Quảng Ba nói đúng hay sai ?… Ông Võ Văn Ái trả lời báo Saigon Times ở Sydney, Úc Đại Lợi

PARIS, ngày 8.5.2008 (PTTPGQT) – Báo Saigon Times do ông Hữu Nguyên làm Chủ nhiệm đã cho đăng bài phỏng vấn ông Võ Văn Ái trong số phát hành tại Sydney, Úc Đại lợi, ngày 1.5.2008. Qua 12 câu hỏi, tất cả những vấn đề trọng yếu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) đã được đề cập. Từ Giáo chỉ số 9 do Đức Tăng thống Thích Huyền Quang ban hành ngày 8.9.2007 làm dấy lên sự chống đối của một số Tăng sĩ và Cư sĩ trong cộng đồng Phật giáo hải ngoại. Những bài viết nặc danh có, hữu danh có, tung huyễn tin lên mạng Internet quy kết Giáo chỉ giả. Rồi những lời tuyên bố tại Úc của Sư Thích Quảng Ba kêu gọi Phật tử hải ngoại hãy ủng hộ cho Giáo hội Phật giáo Nhà nước, v.v…

Tất cả những thắc mắc trong dư luận cộng đồng người Việt hải ngoại 8 tháng qua được ông Võ Văn Ái, Phát ngôn nhân Viện Hoá Đạo, GHPGVNTN, Giám đốc Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế kiêm Tổng Uỷ viên Ngoại vụ Văn phòng II Viện Hoá Đạo, giải đáp tường tận.

Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế xin đăng tải toàn văn cuộc phỏng vấn trên báo Saigon Times dưới đây :

Saigon Times (SGT) : Thưa Ông, một trong những sự kiện quan trọng nhất đối với Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất là Giáo Chỉ Số 9 do Đức Đệ tứ Tăng thống Thích Huyền Quang ấn ký. Vậy xin Ông cho biết, nguyên nhân nào và hoàn cảnh nào khiến Đại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang ban hành Giáo Chỉ số 9?

Ông Võ Văn Ái (Ô. VVA) : Nguyên nhân và hoàn cảnh Giáo chỉ số 9 do Đức Đệ tứ Tăng thống Thích Huyền Quang ban hành ngày 8.9.2007 xuất phát từ 7 nhận định về vị thế và tình hình Phật giáo trong dòng lịch sử Việt Nam hai nghìn năm qua. Trong 7 nhận định ấy, 4 nhận định sau đây khế hợp với tình hình Gíao hội bị nhà cầm quyền Cộng sản đàn áp, đồng thời với sự xuất hiện của một thành phần cơ hội gây rối trong nội bộ Phật giáo trong cũng như ngoài nước. Nói theo lời Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ, là hoàn cảnh « trong đánh ra ngoài đánh vào », hay nói theo thuật ngữ Phật giáo là « nội ma ngoại chướng ».

Nói tóm, Gíao chỉ số 9 là « biện pháp tự vệ cùng tiên liệu đối phó với tình hình”, mà ai cũng có thể nhận ra mối hiểm nguy ngày nay của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất được trình bày qua 4 nhận định ghi trong Giáo chỉ số 9 như sau :

– Nhận định rằng kể từ khi chiến tranh Việt Nam kết thúc năm 1975, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất vẫn tiếp tục sống trong hoàn cảnh bị bức hiếp, không có tự do, không được quyền hoằng dương Chánh pháp theo truyền thống Phật giáo;

– Nhận định rằng vì nhiều lý do nội tại hay khách quan, vô tình hay cố ý, một số chư Tăng, Phật tử rời bỏ con đường cao rộng của Chánh pháp, đem thân phục vụ thế quyền làm biến tướng Bát chánh đạo và làm nghiêng ngửa Giáo hội;

– Nhận định rằng sự phát triển bền vững của nhân loại ngày nay là cuộc phát triển tổng hợp và đồng bộ trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa, giáo dục, môi sinh ; đạo Phật chỉ có thể phục vụ hữu hiệu con người trong một xã hội tự do, tôn trọng nhân quyền và dân chủ. Nhận định này làm nền tảng cho yêu sách phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tại Việt Nam, và là lý do vận động kiên trì suốt 32 năm qua của Giáo hội và Phật giáo đồ trong nước cũng như công tác vận động quốc tế của Giáo hội và Phật giáo đồ ở hải ngoại;

– Nhận định rằng những cuộc đàn áp liên tục, ngày càng gia tăng của Nhà cầm quyền CHXHCNVN, đặc biệt gần đây đối với các Ban Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) tại các tỉnh miền Nam và miền Trung. Hơn nữa, ngày 16 âm lịch Đinh Hợi tức 28.8.2007, hầu hết hàng giáo phẩm thuộc Ban Chỉ đạo Viện Hóa Đạo, từ Viện trưởng, Phó Viện trưởng đến đa số các Tổng vụ trưởng bị các Ủy ban Nhân dân Phường mời đi làm việc, song song với chiến dịch báo chí, truyền thanh, truyền hình của Nhà nước trên toàn quốc tấn công, bôi nhọ, vu cáo GHPGVNTN và Viện trưởng Viện Hóa Đạo, vì Giáo hội thể hiện đức từ bi của đạo Phật góp phần cứu trợ vật chất cho tập thể Dân oan đi khiếu kiện bị thiếu thốn lương thực. Các cuộc cứu trợ thuần túy từ thiện xã hội của Giáo hội đã được thực hiện công khai ngày 13.7 và 17.7 tại Saigon và ngày 23.8 tại Hà Nội. Thực tại Dân oan đi khiếu kiện là mối bức xúc xã hội trầm trọng, sở dĩ còn tồn tại đến ngày hôm nay, là vì nỗi oan ức của người nông dân bị cướp đất, cướp nhà, bị lăng nhục và xúc phạm nhân phẩm từ hơn 20 năm qua không được nhà cầm quyền giải quyết. Chiến dịch đàn áp, vu cáo và khủng bố tinh thần hiện nay đối với GHPGVNTN báo hiệu một cuộc bắt bớ, đàn áp nước lũ có thể xẩy ra bất cứ lúc nào, bó buộc Giáo hội phải có biện pháp tự vệ cùng tiên liệu đối phó với tình hình;

– Nhận định rằng đồng thời với cuộc đàn áp trong nước nhằm tiêu diệt GHPGVNTN, một số phần tử cơ hội trong cộng đồng Phật giáo hải ngoại tiếp tay gây phân hóa, tạo ly gián, biến tướng chủ trương, đướng hướng sinh hoạt của GHPGVNTN Hải ngoại, âm mưu dập tắt tiếng nói của Giáo hội trên địa bàn quốc tế.

Điều lạ là câu viết trong nhận định cuối cùng trên đây : « một số phần tử cơ hội trong cộng đồng Phật giáo hải ngoại tiếp tay gây phân hóa, tạo ly gián, biến tướng chủ trương, đướng hướng sinh hoạt của GHPGVNTN Hải ngoại, âm mưu dập tắt tiếng nói của Giáo hội trên địa bàn quốc tế », thực tế chỉ nói giới hạn « một số phần tử cơ hội trong cộng đồng Phật giáo hải ngoại », thế nhưng bỗng nhiên có hàng loạt người nổi lên nhao nhao tự nhận mình thuộc « một số phần tử cơ hội » ấy, để tuôn lời trách móc Giáo chỉ số 9 « khai trừ » họ, hoặc « giải tán » toàn thể các Giáo hội tại hải ngoại ?! Thế thì tự họ cáo buộc họ theo kiểu « lạy ông tôi ở bụi này » chứ chẳng ai khác.

« Một số phần tử cơ hội trong cộng đồng Phật giáo hải ngoại » này đã được Hoà thượng Thích Thiện Hạnh, Chánh Thư ký Viện Tăng thống kiêm Chánh Đại diện GHPGVNTN tỉnh Thừa thiên – Huế, nói rõ tên và danh xưng trong bản Phúc trình Phật sự viết ngày 8.9.2007 gửi Hoà thượng Viện trưởng Viện Hoá Đạo. Đặc biệt qua điều 2 và 3 sau đây (xin xem toàn văn trong Thông cáo báo chí do Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế phát hành ngày 2.11.2007) :

« 2- Một số Phật tử ở Úc và Hoa kỳ, có gọi điện về thăm và nhân tiện, bày tỏ sự bất bằng về một số Thượng tọa, Đại đức và Cư sĩ tu xuất, đang là Thành viên Hội đồng Điều hành GHPGVNTN/HN tại Úc và Hoa kỳ, lại đi vận động tách khỏi GHPGVNTN là vì sao? Chúng tôi chỉ trả lời vắn tắt trên điện thoại rằng, chắc vì các vị có một vài mâu thuẫn cá nhân nào đó, trong phương pháp hành đạo. Có dịp sẽ trò chuyện sau. Bây giờ không tiện.

« Điều mà Phật tử thắc mắc, chúng tôi thấy, đã được cụ thể qua quan điểm của anh Trần Quang Thuận và Bùi Ngọc Đường. Hai anh hồi cuối tháng 6 và đầu tháng 7 năm 2007; anh Trần Quang Thuận chê trách Hòa Thượng Quảng Độ. Bùi Ngọc Đường ngoài những lời lẽ như anh Thuận; Bùi Ngọc Đường còn thêm chê bai Giáo hội. Sau hết Bùi Ngọc Đường khuyên chúng tôi từ chức Chánh thư ký Viện Tăng thống để nghỉ ngơi, giống hệt như lời Thượng tướng Công an Nguyễn Văn Hưởng đã khuyên Đức Tăng Thống thôi việc, nghỉ ngơi. Giọng điệu hai anh có vẻ như muốn thỏa hiệp, để được sinh hoạt, ý tưởng nầy còn được thấy rõ qua nhóm Thân Hữu Già Lam.

« 3- Chúng tôi được biết, ở Tu Viện Quảng Hương Già Lam; cách đây một năm, đã hình thành một nhóm, có tên gọi “Thân Hữu Già Lam”. Thành viên khoảng trên dưới 40 vị gồm các thành phần Tu sĩ, Cư sĩ, Cư sĩ tu xuất. Các vị có mặt trong nước, ngoài nước khắp các châu lục. Các vị sinh hoạt dưới dạng Tăng già, chưa dám đứng hẳn vào Gíao hội Phật giáo Việt Nam năm 1981. Các vị quyên góp tiền gây quĩ xây dựng Đại Học, Thư Viện, Hội Trường, làm Văn Hóa Giáo Dục Phật Giáo. Đứng đầu nhóm có GS TS Lê Mạnh Thát, và học giả Thượng Tọa Thích Tuệ Sĩ. Cả hai vị đều đã có một quá khứ hào quang sáng chói, được người dân miền nam Việt Nam vinh danh “người về từ cõi chết”. Có điều lạ là, hồi cuối tháng 7/2007, Hòa Thượng Thích Đức Chơn, về Qui Lai dự lễ Húy nhật Thân mẫu. Hòa Thượng có ghé chùa Báo Quốc thăm, chúng tôi có hỏi Hòa thượng về nhóm “Thân Hữu Già Lam”. Hòa thượng có vẻ ngạc nhiên và bảo, tôi thực sự không hay biết gì về việc này, làm vậy sao được.

“Nhóm “Thân Hữu Già Lam” phần đông, đang là thành viên chủ chốt của GHPGVNTN trong nước và hải ngoại. Nay vì một vài ý kiến bất đồng nào đó mà xây lưng lại với Giáo hội và vận động người khác chống lại Giáo hội, cô lập hai vị Hòa thượng đang lãnh đạo Giáo hội thì chẳng hay ho gì! Mà ai lại làm vậy bao giờ. Những mâu thuẫn nội bộ trong sinh hoạt là chuyện bình thường. Cái gì còn có đó, vai trò phục vụ đạo pháp dân tộc của các vị còn kia, đã mất mát gì đâu mà vội vàng, đôi khi bất đạt, còn gây tổn thương lớn cho tập thể, tổ chức Giáo hội.

“Chúng tôi có đọc nội dung biên bản cuộc họp của các vị “Thân Hữu Già Lam” ngày 23/8/2006, qua hệ thống điện thoại có nhiều người tham dự, từ Việt nam, Úc, Canada, Mỹ, … Họ tổ chức cuộc họp nầy đã hơn một năm nay, và hiện nay đang hoạt động tích cực. Phật đản PL: 2551 vừa qua, vùng nam California, những vị thuộc nhóm “Thân Hữu Già Lam” đã không tuyên đọc Thông điệp của Đức Tăng Thống Đệ Tứ GHPGVNTN khi cử hành lễ Phật Đản”.

SGT : Thưa nội dung chính yếu của Giáo Chỉ số 9 là gì? Trong Giáo Chỉ Số 9 có điểm gì đặc biệt liên quan đến Phật Giáo VNTN tại Úc và Tân Tây Lan?

Ô. VVA : Như đã nói ở trên, Gíao chỉ số 9 là « biện pháp tự vệ cùng tiên liệu đối phó với tình hình” thông qua 4 nhận định về hiện trạng cấp thiết và nguy biến trước cảnh “trong đánh ra ngoài đánh vào” hoặc “nội ma ngoại chướng” của Giáo hội. Biện pháp thi hành là thiết lập Văn Phòng 2 Viện Hoá Đạo, mà nhiệm vụ được quy định tại Điều 2 của Giáo chỉ số 9 là : “Văn phòng II Viện Hóa Đạo đại diện cho Viện Hóa Đạo tại hải ngoại để truyền đạt chủ trương, đường lối và hoạt động của Giáo hội trong nước thông qua các cơ sở của Giáo hội ở hải ngoại, các cộng đồng Phật giáo và cộng đồng Người Việt hải ngoại nói riêng, và trong cộng đồng thế giới nói chung”.

Ở vào tình trạng Giáo hội trong nước bị nhà cầm quyền Cộng sản khủng bố toàn triệt không còn cách hoạt động dù là tối thiểu, thì nhiệm vụ của Văn phòng 2 được quy định theo Điều 4 : “Văn phòng II Viện Hóa Đạo nối tiếp nhiệm vụ và hoạt động của Giáo hội gặp lúc Viện Hóa Đạo trong nước bị đàn áp không thể hoạt động. Mọi hoạt động của Văn phòng II Viện Hóa Đạo dựa trên cơ sở lập trường và đường hướng quy định trong bản Hiến chương GHPGVNTN được Đại hội Khoáng đại kỳ V ngày 12.12.1973 tu chính, và tuân thủ lập trường biểu hiện qua các văn kiện, thông điệp, tuyên cáo, kêu gọi do Giáo hội trong nước công bố từ năm 1992 đến nay”.

Điều cần nói là Văn Phòng 2 Viện Hoá Đạo vốn đã hiện hữu từ năm 1992 nhưng trực thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngoại tại Hoa Kỳ chiếu theo Quyết Định số 27-VPLV/VHĐ do Hoà thượng Thích Huyền Quang, Quyền Viện trưởng Viện Hóa Đạo, ban hành ngày 10.12.1992. Nay theo Giáo chỉ số 9 do Đức Tăng thống Thích Huyền Quang ban hành ngày 8.9.2007, thì Văn phòng 2 Viện Hoá Đạo chiếu theo Điều 3: “Văn phòng II Viện Hóa Đạo trực thuộc sự chỉ đạo và điều hành của Viện trưởng Viện Hóa Đạo trong nước. Thành viên Văn phòng II Viện Hóa Đạo do Viện trưởng Viện Hóa Đạo thỉnh tuyển và chỉ định; tùy theo nhu cầu, hoàn cảnh, các thành viên có thể được bổ sung, hoán chuyển hay thay đổi”.

Như thế, Giáo chỉ số 9 ban hành việc thiết lập Văn Phòng 2 Viện Hoá Đạo theo cơ cấu mới, nên không đề cập gì đến Giáo hội các châu cũng như Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất tại Úc và Tân Tây Lan.

SGT : Quý vị lãnh đạo Phật Giáo, Phật tử, cũng như người Việt nói chung tại VN cũng như hải ngoại, đã có những phản ứng gì đối với Giáo Chỉ số 9?

Ô. VVA : Tất cả chư Tôn đức Tăng Ni và Phật tử trung kiên với đường lối, lập trường cố hữu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất dưới sự lãnh đạo tối cao của Đức Tăng thống Thích Huyền Quang và Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hoá Đạo, đều có phản ứng duy nhất : Tán thán và khâm tuân Giáo chỉ số 9 do Đức Tăng thống Thích Huyền Quang ban hành. Tán thán vì nhận định rằng đối tượng của Giáo chỉ số 9 là Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam. Một nhà cầm quyền theo chủ nghĩa ngoại lai Mác – Lênin nên thi hành chủ trương tiêu diệt Phật giáo nói riêng và tôn giáo nói chung. Đồng thời tán thán Giáo chỉ số 9 đã cứu nguy Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.

Nếu không có Giáo chỉ số 9, thì ngày nay Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đã bị nhà cầm quyền Cộng sản nuốt chửng, như lời Giáo chỉ số 9 nhận định, thông qua « một số chư Tăng, Phật tử rời bỏ con đường cao rộng của Chánh pháp, đem thân phục vụ thế quyền làm biến tướng Bát chánh đạo và làm nghiêng ngửa Giáo hội” và « một số phần tử cơ hội trong cộng đồng Phật giáo hải ngoại tiếp tay gây phân hóa, tạo ly gián, biến tướng chủ trương, đướng hướng sinh hoạt của GHPGVNTN Hải ngoại, âm mưu dập tắt tiếng nói của Giáo hội trên địa bàn quốc tế”.

Phản ứng mạnh mẽ nhất có tính đồng thuận ủng hộ GHPGVNTN đến từ Cộng đồng Người Việt Hải ngoại. Sự lên tiếng đầu tiên là « Tuyên Cáo » ngày 21.11.2007 « Xác định lập trường ủng hộ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất do nhị vị Hòa thượng Huyền Quang và Quảng Độ lãnh đạo cùng các cơ cấu trực thuộc Giáo Hội »« Kêu gọi đồng hương đề cao cảnh giác trước những âm mưu xâm nhập và khuynh đảo, gây mâu thuẫn tôn giáo trong Cộng đồng người Việt hải ngoại của CSVN ». Tuyên cáo này do Cộng đồng Người Việt Tự do Liên bang Úc châu công bố với các chữ ký của Chủ tịch Liên bang, Bác sĩ Nguyễn Mạnh Tiến, Chủ tịch Tiểu bang NSW, Võ Trí Dũng, Chủ tịch Tiểu bang VIC, Nguyễn Thế Phong, Chủ tịch Tiểu bang QLD, Bùi Trọng Cường, Chủ tịch Tiểu bang Nam Úc, Đoàn Công Chánh Phú Lộc, Chủ tịch Tiểu bang ACT, Lê Công, Chủ tịch Tiểu bang Bắc Úc, Lê Tấn Thiện, Chủ tịch Tiểu bang Wollongong, Trần Hương Thuỷ, và Chủ tịch Tiểu bang Tây Úc, Phạm Lê Hoàng Nam.

« Tuyên cáo » của Ủy Ban Phối Hợp Đấu Tranh Yểm Trợ Quốc Nội vùng Đông Hoa Kỳ ngày 1.12.2007 « Xác định lập trường ủng hộ GHPGVNTN do nhị vị Đại Lão Hòa Thượng Huyền Quang và Quảng Độ lãnh đạo cùng các cơ cấu trực thuộc Giáo Hội, ủng hộ Giáo chỉ số 9 của Đức Tăng thống Thích Huyền Quang ban hành ngày 8.9.20076 cũng như thành quả của Đại hội Bất thường của GHPGVNTN Hải ngoại tại Hoa Kỳ tổ chức ở chùa Bửu Môn, thành phố Port Arthur ngày 10.11.2007 ».

Tiếp đến là « Bản Lên Tiếng chung » của Cộng Đồng Việt Nam tại Nam California, Hoa Kỳ, « về sự tái cấu trúc (theo Giáo chỉ số 9 của Đức Đệ tứ Tăng thống Thích Huyền Quang) và công cuộc đấu tranh cho Đạo pháp và Dân tộc của GHPGVNTN dưới sự lãnh đạo của Đức Tăng thống Thích Huyền Quang và Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ ». Bản Lên tiếng chung này đã được 24 đoàn thể, đảng phái, tổ chức tại California, Hoa Kỳ, đồng ký tên và công bố hôm 27.12.2007.

Ngoài ra, sự kiện mới mẻ chưa hề xẩy ra trước đây, là sự lên tiếng tự phát của hàng loạt bài tố cáo những phần tử cơ hội trong cộng đồng Phật giáo hải ngoại ẩn nấp dưới nhiều danh xưng, như nhóm Về Nguồn, nhóm Thân hữu Già Lam, nhóm Tăng Ni Hải ngoại, v.v… Các loạt bài này rộng rãi tung lên mạng lưới Internet, các Trang Nhà hay thông qua các buổi hội luận Paltalk. Đây chính là phản ứng lành mạnh và có ý thức của quần chúng đông đảo trong Cộng đồng Người Việt Tị nạn Cộng sản.

Trong nội bộ Giáo hội, thì Ðại hội Bất thường của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngoại tại Hoa Kỳ tổ chức tại Chùa Bửu Môn ở thành phố Port Arthur, bang Texas Hoa Kỳ, ngày 10.11.2007, với 89 đơn vị thuộc các Hội đồng, các Tổng vụ và các Miền của Giáo hội trên toàn quốc Hoa Kỳ bao gồm 108 Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức Tăng Ni, và Cư sĩ đại biểu đã thể hiện sâu xa tinh thần “Vọng hướng Giáo hội Mẹ” với Ý thức Giải nguy hiện trạng nội ma ngoại chướng đang phân hóa cộng đồng dân tộc và cộng đồng Phật giáo. Đại hội đồng thanh quyết nghị triệt để khâm tuân Giáo chỉ số 9 của Đức Tăng thống Thích Huyền Quang.

Điều trọng yếu là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngoại tại Hoa Kỳ là chiếc nôi đón nhận sự ra đời của Văn phòng 2 Viện Hoá Đạo năm 1992 và nay tiếp tục bảo toàn Văn phòng 2 Viện Hoá Đạo theo cơ chế mới trong công cuộc giải trừ Quốc nạn và Pháp nạn.

Hiển nhiên cũng có những phản ứng chống lại Giáo chỉ số 9 đến từ một số chư Tăng và Cư sĩ vốn có chân hoặc có chức vụ trước kia trong GHPGVNTN Hải ngoại. Tôi dùng chữ « trước kia », là vì họ không còn ở trong GHPGVNTN nữa. Dù rằng họ tiếp tục tuyên bố họ thống thuộc GHPGVNTN, tôn kính hai ngài lãnh đạo tối cao là Đức Tăng thống Thích Huyền Quang và Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hoá Đạo ; nhưng lại xác nhận là « họ không khâm tuân Giáo chỉ số 9 ». Tuyên bố như vậy thì khác gì một công dân Úc nào đó nói rằng tôi tôn kính Thủ tướng Úc nhưng tôi không chấp nhận luật pháp và Hiến pháp Úc Châu ?! Những cá nhân nào, dù là Tăng, dù là Cư sĩ hoặc nhân danh Giáo hội một châu hay một quốc gia nào ở hải ngoại tuyên bố như trên, là tự họ đặt họ ra ngoài khuôn khổ của GHPGVNTN. Một Giáo hội dân lập và lịch sử như GHPGVNTN cũng không thể chấp nhận trong hàng ngũ mình những thành viên vô kỷ luật và đi sai đường hướng, lập trường của Giáo hội.

Vấn đề đặt ra là tại sao những người này chống Giáo chỉ số 9, nhưng vẫn tự đặt họ vào trong khuôn khổ của GHPGVNTN, hơn nữa còn tôn kính Đức Tăng thống và Đại lão Hoà thượng Viện trưởng Viện Hoá Đạo ?

Dễ hiểu thôi : uy tín của hai ngài lãnh đạo GHPGVNTN rất lớn, trong lòng quần chúng Phật tử trong và ngoài nước cũng như trong chính giới và công luận quốc tế. Mặt khác GHPGVNTN là giáo hội bất khuất không bái lạy chế độ Cộng sản lại còn kiên cường đấu tranh cho tự do tôn giáo, nhân quyền và dân chủ suốt 33 năm qua. Nên được mọi tầng lớp nhân dân và các tôn giáo bạn vị nể. Những người nói trên đây đang sống giữa Cộng đồng Người Việt Tị nạn Cộng sản và thụ hưởng sự cúng dường của đàn na tín thí. Do đó, họ phải dựa hơi vào GHPGVNTN để được an toàn và phát triển chùa viện của họ, mong tránh việc tẩy chay của đồng bào thuộc phe dân tộc. Dù lập trường họ đã đổi thay và họ chủ trương thủ tiêu tranh đấu. Cho nên vấn đề chống Cộng của họ chỉ là việc màu mè. Ví dụ mà bản thân tôi từng chứng kiến cho thấy sự màu mè này. 33 năm trước đây tôi đến gặp một nhà sư ở Paris mong cầu sư đứng lên đấu tranh giải nguy cho Giáo hội trong nước. Thời ấy ông đang phục vụ cho Sư Ông Nhất Hạnh. Sư trả lời với tôi rằng : « Tôi nay chỉ lo việc đạo thôi, không muốn dính gì đến việc thế sự ». Thế rồi một vài năm sau, phong trào Người Vượt Biển dồn dập đến Pháp. Đa số là Phật tử không chấp nhận chế độ độc tài toàn trị. Thời ấy Paris chỉ có 2 ngôi chùa, một ngôi chùa tuyên bố không làm chính trị, trong nghĩa không tham gia đấu tranh cho nhân quyền và tự do tôn giáo, nên bị đa số quần chúng Phật tử lãnh đạm không đến sinh hoạt. Nhân đấy mà vị sư tôi vừa nói bỗng nhảy ra hoạt động hăng hái rồi trở thành vị sư « đệ nhất chống Cộng » ở Paris. Hiển nhiên là quần chúng Phật tử đã đông đảo đến sinh hoạt và ủng hộ xây dựng ngôi chùa của vị sư này. Chùa phát triển lớn vào bậc nhất, nhưng nay vị sư cũng dần dà « đấu tranh » theo lối xuân thu nhị kỳ, dần dà trở về vị trí của câu ông đáp lời mời gọi của tôi 33 năm trước.

Những người chống Giáo chỉ số 9 là ai ? Họ gồm có : 8 vị Hoà thượng ở Hoa Kỳ vừa họp Đại hội để ly khai GHPGVNTN và cho thành lập tổ chức mới mang tên « Cộng đồng Phật giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ » ; tại Canada có tổ chức của Thượng toạ Thích Bổn Đạt – Thích Tâm Hoà ; tại Úc có một số chư Tăng do Thượng toạ Thích Quảng Ba bảo lãnh sang Úc, tập trung tại một ngôi chùa ở ngoại ô Sydney. Công tác của nhóm nhà sư này là ngày ngày tung qua nhiều địa chỉ E.mail lên mạng Internet phổ biến các tài liệu giả, các bài nặc danh đánh phá GHPGVNTN, bất kính với hàng lãnh đạo Giáo hội và tập trung chĩa mũi dùi mạ lỵ và vu khống Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế hòng gây hoang mang và ly gián trong Cộng đồng đấu tranh của Người Việt nước ngoài.

Tại sao tuyên bố mình vẫn là thành viên GHPGVNTN, lại thành lập tổ chức có danh xưng khác ? Câu hỏi có thể tìm thấy ở các thành viên được trọng vọng trong tổ chức « Cộng đồng Phật giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ » thường đi đi về về Việt Nam và đã liên hệ với nhà cầm quyền Cộng sản, như 3 Hoà thượng Thích Giác Nhiên, Thích Minh Tuyên, Thích Phước Thuận và hai Cư sĩ Bùi Ngọc Đường, Trần Quang Thuận. Là người dân chủ, tôi tôn trọng sự chọn lựa chính trị của 5 vị này, họ có toàn quyền theo hay không theo, liên hệ hay không liên hệ với chế độ Cộng sản. Tuy nhiên tôi đòi hỏi ở họ sự lương thiện trí thức. Hãy công khai nói lên chính kiến của mình, hãy mở cuộc tranh luận ý kiến, thay vì ẩn nấp vào các sự kiện thuần tuý Phật giáo để trí trá viết hay cho viết hàng chục bài nặc danh chửi bới hồ đồ, vu cáo trắng trợn thông qua cái gọi là nhóm Tăng Ni Hải ngoại. Có tranh luận mới làm sáng tỏ vấn đề, và biết đâu họ không khai thị cho người khác bước theo con đường thoả hiệp Cộng sản của họ, nếu họ có lý và có chiến lược phát huy đạo Phật Việt Nam dưới mái nhà tù Cộng sản ?

Sở dĩ chúng tôi không trả lời các sự đánh phá và bôi nhọ này, đặc biệt đến từ các E.mail của ngôi chùa ở Úc nói trên và nhóm Tăng Ni Hải ngoại, là vì hai lý do. Chúng tôi không trả lời cho những kẻ thiếu can đảm bảo vệ ý kiến họ khi không dám ký tên thật và địa chỉ thật dưới bài viết. Trả lời các bài viết nặc danh khác chi đối đáp với những cô hồn vất vưởng ? Lý do thứ hai, là các bài viết ấy với lý luận hồ đồ, ngôn ngữ xỏ xiên, mà mục tiêu đánh phá y hệt các bài viết đăng trên các báo Công An, An Ninh Thế giới, Nhân Dân, Quân Đội Nhân dân… của Đảng Cộng sản đánh phá GHPGVNTN, Đức Tăng thống Thích Huyền Quang, Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ và tôi, Võ Văn Ái, mà chúng tôi đọc được qua hàng trăm bài từ 1977 đến nay. Hãy so chiếu ngôn ngữ, lý luận, mục tiêu của hai loại bài viết nặc danh này tất thấy ngay chúng phục vụ ai và chúng muốn gì. Chắc chắn là không phục vụ cho dân tộc và không muốn cho đạo Phật phát huy.

SGT : Được biết, Thượng Tọa Thích Quảng Ba là Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Hoằng Pháp, và là Phó Hội Chủ Giáo Hội Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại Úc Đại Lợi-Tân Tây Lan. Ngoài ra, theo lời của chính Thượng Tọa TQB thì Thượng Tọa cũng còn giữ vai trò trong Phòng 2 Viện Hóa Đạo GHPGVNTN. Nhưng trong Thông Cáo Báo Chí làm tại Paris ngày 17 tháng 3 năm 2008, Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế có đề cập đến một tài liệu giả mạo, trong đó xác nhận có nhiều tên tuổi [trích nguyên văn] “trong danh sách giả mạo gồm 52 Tăng Ni có nhiều vị không được Viện Hoá Đạo trong nước công nhận, như trường hợp Thượng toạ Thích Quảng Ba là một”. Xin ông cho biết rõ lý do vì sao, Thượng Toạ Thích Quảng Ba lại không được Viện Hóa Đạo trong nước công nhận?

VVA : Chiếu theo Quyết định số 38/VHĐ/QĐ/VT do Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hoá Đạo, ký ngày 9.3.2008 phê chuẩn thành viên nhân sự Hội Đồng Giáo Phẩm và Hội Đồng Điều Hành GHPGVNTNHN tại Úc châu và Tân Tây Lan, thì Thượng toạ Thích Quảng Ba không còn giữ một chức vụ gì cả.

Thượng toạ Thích Quảng Ba chưa bao giờ có tên hay giữ một vai trò gì trong Văn phòng 2 Viện Hoá Đạo chiếu theo danh sách nhân sự Văn phòng 2 Viện Hoá Đạo được Viện Hoá Đạo hay Hội đồng Lưỡng Viện trong nước phê chuẩn.

Muốn được Viện Hoá Đạo trong nước phê chuẩn cho một vị Tăng hay Cư sĩ vào một chức vụ thuộc GHPGVNTN, thì vị này phải là thành viên trung kiên của GHPGVNTN, đồng thời khâm tuân đường lối, lập trường của GHPGVNTN chiếu theo Hiến chương của GHPGVNTN, bản tu chính ngày 12.12.1973, và các văn kiện của Giáo hội do hàng lãnh đạo tối cao công bố từ sau năm 1975 đến nay, như các văn kiện của Đức Cố Đệ Tam Tăng thống, Đức Đệ tứ Tăng thống Thích Huyền Quang và Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hoá Đạo.

SGT : Trong phiên họp ngày 15-12-1999, LHQ đã chính thức thừa nhận Lễ Tam Hợp là Đại lễ Phật Đản LHQ, ngày lễ hội văn hóa tôn giáo thế giới. Vậy thưa Ông, Lễ Tam Hợp có nguồn gốc từ đâu? Ý nghĩa của Lễ Tam Hợp là gì? Nguyên nhân nào khiến LHQ lại chính thức thừa nhận Lễ Tam Hợp là Đại Lễ Phật Đản LHQ?

Ô. VVA : Trước hết xin giải thích chữ Tam hợp trong thành ngữ Lễ Phật Đản Tam hợp. Ba ngày trọng đại trong cuộc đời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là ngày sinh, ngày thành đạo và ngày nhập Niết Bàn (tức ngày viên tịch). Cả ba ngày này đều rơi vào ngày Trăng tròn. Đại lễ ngày đản sinh hay khánh đản Đức Phật, tiếng Phạn gọi Vesak, là ngày Rằm tháng Tư âm lịch, rơi vào tháng 5 dương lịch, được kết hợp với 2 ngày Rằm kia nên gọi là Tam hợp, tức hợp nhất 3 ngày Rằm trong cuộc đời viên mãn của Đức Phật Thích Ca.

Có người đã nói sai rằng một vị sư người Mỹ đề xuất Liên Hiệp Quốc công nhận lễ Vesak như một đại lễ quốc tế.

Không phải thế, người đề nghị qua một dự thảo Nghị quyết « Công nhận quốc tế về ngày Lễ Vesak tại trụ sở Liên Hiệp Quốc và qua các văn phòng liên hệ (United Nations Day of Vesak) » (văn bản số A/54/L.59) do ông John De Saram, Đại sứ nước Sri Lanka đệ trình trong phiên họp khoáng đại tại trụ sở LHQ ở New York ngày 15.12.1999. Đại sứ Sri Lanka kêu gọi Hội đồng LHQ công nhận ngày Vesak là ngày thiêng liêng nhất của Phật giáo, và cho phép được công khai hành lễ tại trụ sở LHQ và các trung tâm LHQ trên thế giới. Ông cũng cho biết đại diện các nước Hy lạp, Mauritius, Na Uy và Thổ Nhĩ Kỳ hỗ trợ bản dự thảo này.

Đại diện của nhiều quốc gia phát biểu hỗ trợ dự thảo Nghị Quyết trong phiên họp khoáng đại gồm có Thái Lan, Singapore, Bangladesh, Bhutan, Tây Ban Nha, Miến Điện, Nepal, Pakistan, Ấn Độ, Lesotho, Nicaragua, Hoa Kỳ…

Lời phát biểu hỗ trợ của Singapore rất có ý nghĩa khi bà Đại sứ Christine Lee nói rằng « công nhận lễ Vesak là một việc làm thích hợp nhằm tôn vinh Đức Phật. Đây là một trong bốn ngày lễ chính tại Singapore là nơi một phần ba dân số là Phật tử ». Bà còn nhấn mạnh rằng « dự thảo Nghị quyết phù hợp với Nghị quyết của Đại hội đồng LHQ lấy năm 2000 làm năm quốc tế Văn hoá Hoà bình và thập kỷ 2001 – 2010 là thập kỷ quốc tế về Văn hoá Hoà bình cho Thiếu nhi toàn cầu. Dự thảo Nghị quyết này còn mở đường cho năm 2001 là Năm Đối thoại giữa các nền văn minh ».

Đại sứ Tây Ban Nha, ông Juan Luis Flores, thì phát biểu rằng nước ông là một thành viên hỗ trợ Dự thảo Nghị quyết, và tin rằng “LHQ là một nghị trường để các tôn giáo và các nền văn hoá lớn gặp gỡ và hội thoại”.

Đại sứ Ấn Dộ, ông Kamalesh Sharma, nói rằng “Phật giáo tác động lớn lao vào các giá trị tâm linh, luân lý, đạo đức của thế giới, rất xứng đáng để Hội đồng LHQ công nhận và tôn vinh ngày Vesak. Lời dạy tinh tuý của Đức Phật tác động lên đời sống hàng triệu người trên thế giới mang lại niềm hy vọng và giải thoát ».

Nghị quyết được chấp thuận thông qua trong phiên họp cùng ngày 15.12.1999.

SGT : Từ khi được LHQ chính thức công nhận cho đến nay, Đại Lễ Phật Đản LHQ đã được tổ chức như thế nào, ở đâu?

Ô. VVA : Năm đầu tiên, 2000, Đại lễ Phật Đản Tam hợp được chính thức tổ chức tại trụ sở LHQ ở New York. Sau đó tổ chức ở Mumbai (Ấn Độ), và 3 lần liên tục diễn ra ở Bangkok (Thái Lan).

Năm nay, 2008, Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam vì lý do tuyên truyền đăng cai xin tổ chức tại Việt Nam từ ngày 13 đến 17.5.2008 tại Trung tâm Hội nghị quốc gia Mỹ Đình (Hà Nội).

SGT : Chủ nghĩa cộng sản là một chủ nghĩa vô thần. Cộng sản với tôn giáo trái ngược nhau như nước với lửa. Thực tế lịch sử xuyên suốt thời gian ngót một thế kỷ qua cũng cho thấy, bất cứ nơi đâu có chế độ cộng sản, cũng có đàn áp dã man tôn giáo. Cụ thể, tại Việt Nam, kể từ khi chế độ CS được thiết lập tại Miền Bắc vào năm 1954, tại Miền Nam vào năm 1975, chế độ CS đã không ngừng đàn áp, khủng bố, sách nhiễu tôn giáo, trong đó có Phật Giáo. Như vậy, ngày 17/5/2007, khi bộ ngoại giao CSVN gửi công hàm số 241 xin chính phủ Thái và Ban Tổ Chức Quốc Tế, cho CSVN đăng cai Đại Lễ Phật Đản LHQ vào tháng 5 năm nay, thì cộng sản VN đã có âm mưu gì?

Ô. VVA : Như đã nói, việc nhà cầm quyền Hà Nội đăng cai tổ chức Đại lễ Phật Đản chỉ nhằm vào việc tuyên truyền cho chế độ độc tài toàn trị và độc đảng mà thôi. Mục đích nhắm che đậy chính sách đàn áp Giáo hội dân lập và lịch sử là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN), phô trương cho các nước Âu Mỹ thấy rằng « không có đàn áp tôn giáo tại Việt Nam » hoặc « đã có thay đổi trong chính sách tôn giáo tại Việt Nam ».

Ai mà tin được sự kiện một chế độ vô thần, phi tôn giáo và đàn áp tôn giáo lại tôn vinh Đức Phật nhân ngày Khánh đản ? Tệ hơn, sao lại có sự kiện tôn vinh Đức Phật, đồng thời với việc đàn áp GHPGVNTN ? đàn áp 20 Ban Đại diện GHPGVNTN tại các tỉnh thành miền Trung và miền Nam ? đàn áp những Trưởng tử của Ngài, như hàng giáo phẩm Phật giáo và Phật giáo đồ trong nước, đặc biệt là Đức Tăng thống Thích Huyền Quang và Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hoá Đạo hiện đang bị quản chế khắc khe tại Tu viện Nguyên Thiều ở Bình Định, và Thanh Minh Thiền viện ở Saigon ?

Sự thật là Sri Lanka đã phản đối việc đăng cai tổ chức của Việt Nam. Trên tờ Giác Ngộ số Xuân Mậu Tý của Giáo hội Phật giáo Nhà nước, Phóng viên hỏi Giáo sư Lê Mạnh thát rằng : « Chúng ta có gặp phải sự phản đối nào trong quá trình vận động để trở thành nước đăng cai Đại lễ Phật Đản LHQ 2008? ».

Ông Thát cho biết một vị sư đại diện Sri Lanka không đồng tình vì đặt vấn đề : « Việt Nam có phải là một đất nước Phật giáo không để có thể nhận được quyền đăng cai tổ chức Đại lễ Phật Đản LHQ 2008 ? ».

Chắc chắn giáo sư Lê Mạnh Thát đã dựa vào « hào quang án tử hình năm xưa » để bênh vực cho Việt Nam Cộng sản được đăng cai. Ông Thát còn cầu cứu cả Hoa Kỳ để hỗ trợ cho luận điểm của ông khi khẳng định rằng : « Thống kê của Mỹ cho thấy rằng Việt Nam hiện có 60-70% là Phật tử. Như vậy rõ ràng Việt Nam xứng đáng được nhận quyền đăng cai này ».

Theo tin riêng tôi được biết, thì đang có sự lủng củng nội bộ trong Văn phòng Ban Thư ký Uỷ ban tổ chức Quốc tế (IOC). Văn phòng này được đặt vĩnh viễn tại trường Đại học Mahachulalongkorn, Bangkok. Lý do là vì nhà cầm quyền Hà Nội xen lấn, áp đặt chính trị quá nhiều vào Đại lễ Phật Đản sắp tới gây bất mãn cho nhiều quốc gia thành viên trong Uỷ ban tổ chức Quốc tế Đại lễ Phật đản (IOC), nhất là Nhật Bản. Cho nên, Đại lễ Phật Đản LHQ 2008 sẽ được cử hành song song tại Bangkok và Hà Nội, chứ không tổ chức duy nhất tại Hà Nội, như các năm trước tổ chức duy nhất tại New York (Hoa Kỳ), Mumbai (Ấn Độ) rồi Bangkok (Thái Lan).

SGT : Nhìn vào thành phần nhân sự, cơ cấu tổ chức cũng như mục tiêu của Đại Lễ Phật Đản LHQ năm nay tại VN, có gì đặc biệt chứng tỏ có CSVN đã chính trị hóa Đại Hội?

Ô. VVA : Theo cuộc họp báo ngày 27.11.2007 tại Hà Nội, thì Ông Nguyễn Thế Doanh, Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ làm Trưởng ban Điều phối Quốc gia Đại lễ VESAK 2008 của Liên hợp quốc, tức nhà cầm quyền Cộng sản thống lĩnh tổ chức chứ không là Phật giáo, kể cả Phật giáo quốc doanh. Ông Doanh cho biết “Chủ trì các Tiểu ban Tuyên truyền, An ninh, Tài chính – Hậu cần (cho Đại lễ Phật Đản) là các cơ quan Nhà nước ». Trong khi ấy, theo Thông bạch Hướng dẫn tổ chức Đại lễ Phật Đản LHQ 2008 phát hành ngày 7.1.2008 của Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Nhà nước, thì Giáo hội Phật giáo Nhà nước chỉ đóng vai trò phụ thuộc : « Ban Thường Trực Hội đồng Trị sự GHPGVN hướng dẫn việc tổ chức Đại Lễ Phật đản Liên Hiệp Quốc 2008 ».

Cũng theo tuyên bố tại phiên họp liên tịch sáng ngày 10.3.2008 tại Saigon giữa Ban Điều phối quốc gia (Nhà cầm quyền Hà Nội), Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Nhà nước và Thường trực Ủy ban Tổ chức quốc tế (IOC) nhằm đúc kết các công tác phối hợp và tổ chức Đại lễ Phật đản LHQ 2008, thì có những điều sau đây cho thấy bàn tay Đảng « chính trị hoá » Đại lễ Phật đản :

Giáo sư Lê Mạnh Thát cho biết « các đề án tổng thể và chi tiết tổ chức đã được hoàn tất và đệ trình Chính phủ ». Nghĩa là việc tổ chức không nằm trong phạm vi Phật giáo, mà là nhà cầm quyền Cộng sản. Trong tư cách Trưởng Tiểu ban Lễ tân – Giao tế, Giáo sư Lê Mạnh Thát cho biết « sẽ phối hợp cùng Tăng Ni sinh Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội và sinh viên Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đảm trách việc tiếp đón và hướng dẫn khách trong thời gian tham dự Đại lễ ». Nghĩa là việc gì Đảng cũng nhúng tay vào. Theo số liệu Nhà nước cho biết thì số lượng Tăng Ni lên đến bốn chục nghìn, Phật tử thì hàng chục triệu, nhưng lại không đủ người đảm đang việc «tiếp và hướng dẫn khách» nhân dịp Đại lễ Phật Đản ! Vì vậy mà phải nhờ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đảm trách chăng ? « Nhờ » hay theo lệnh Đảng buộc phải chấp nhận ?

Trong cuộc họp liên tịch nói trên, lủng củng trong việc tổ chức bắt đầu manh nha, nếu ta nghe lời phát biểu sau đây của HT. Thích Trí Quảng, Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội Nhà nước, Trưởng Tiểu ban Nội dung của Đại lễ Phật Đản :

« Hiện nay, Tiểu ban Nội dung do tôi làm Trưởng ban đã và đang tiến hành soạn thảo đề án tổng thể, các đề án chi tiết, các bài phát biểu liên quan đến Đại lễ Phật đản và Hội thảo… Tất cả các văn kiện sẽ hoàn tất vào cuối tháng 3 trình Ban Điều phối Quốc gia (tức Nhà cầm quyền CS, chúng tôi chú) để thống nhất nội dung, trước khi được sử dụng. Riêng cá nhân tôi có những nhận xét như sau:

« Thái Lan là nước có kinh nghiệm tổ chức Đại lễ Phật đản LHQ từ nhiều năm. Các khách mời tham dự được tăng cường sau mỗi năm. Việt Nam lần đầu tổ chức với số lượng 90 quốc gia là điều rất đáng mừng nhưng cũng rất lo ngại về các khâu tổ chức.

« Thế nhưng hiện nay, Ủy ban Tổ chức quốc tế, Ban Điều phối Quốc gia (tức Nhà cầm quyền CS, chúng tôi chú) và Gíao hội Phật giáo Việt Nam (tức Giáo hội Nhà nước, chúng tôi chú) vẫn chưa phối hợp nhịp nhàng. Có một số nhập nhằng giữa ba phía chưa được thống nhất nên công việc không thông lắm. Do đó chúng tôi đề nghị giữa Ban ĐPQG, IOC và GHPGVN phải phối hợp chặt chẽ, đoàn kết nhất trí trong điều phối công việc ».

SGT : Quan điểm của GHPGVNTN về Đại lễ Phật Đản LHQ 2008 tại Hà Nội như thế nào?

Ô. VVA : Dù tổ chức ở bất cứ đâu hay tại quốc gia nào, Đại lễ Phật Đản phải do chư Tăng Ni, Phật tử của quốc gia ấy đứng ra đảm nhiệm và điều hành. Cũng thế, kỵ giỗ Ông Bà là trách nhiệm của con cháu. Chả lẽ ông Lý trưởng làng thôn, hay Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân lại đứng ra chủ trì cúng kiến thay con cái sao ?!

Đại lễ Phật Đản là đại lễ tôn giáo, không thể để cho bất cứ tập đoàn chính trị nào thao túng để « buôn thần bán thánh ». Nền tảng của Lễ là tấm lòng thành.

Tập đoàn Cộng sản Việt Nam là những tên đồ tể tế sống hàng triệu người Việt trên bàn thờ Mác – Lênin – Staline thông qua cuộc chiến thừa sai với mục tiêu xích hoá con Rồng cháu Tiên, thông qua Cải cách Ruộng đất và Mậu Thân 68, thì làm sao có đủ tấc lòng thành để lễ bái Đức Phật ?

Ngoại trừ trước ngày Phật Đản, Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam công khai lên tiếng xin SÁM HỐI với toàn dân về sự thảm sát dân lành và khủng bố sĩ phu của đất nước, cam kết sẽ tôn trọng Nhân quyền cho 85 triệu người sống, Linh quyền cho hàng triệu người chết oan. Đặc biệt phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, hoàn trả mọi tài sản và cơ sở Cộng sản cưỡng chiếm của Giáo hội sau năm 1975, và trả tự do cho tất cả tù nhân tôn giáo, tù nhân vì lương thức và tù nhân chính trị.

SGT : Những năm gần đây, nhìn vào những diễn biến của Phật Giáo tại VN, nhiều người lo ngại khi thấy có những nhân vật tên tuổi chống CS của thuở nào như thiền sư Lê Mạnh Thát, Thượng Tọa Thích Tuệ Sĩ… nay đã quy phục nhà nước, tham gia Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (do đảng CSVN giật dây). Nhóm Thân Hữu Già Lam thì cho rằng, sự quy phục này là “trá hàng VC để làm văn hóa, hoằng pháp”. Ông nghĩ sao về điều này? Liệu những nhà lãnh đạo tinh thần nói chung, Phật Giáo nói riêng, có cần phải trá hàng CS để làm văn hóa, hoằng pháp đạo giáo hay không?

Ô. VVA : Chính trị thường trí trá. Vì chính trị mà có người lòn trôn. Nhưng tôn giáo thì không.

Đó là một lẽ. Lẽ khác, « trá hàng » mà tuyên bố mình trá hàng thì ngu và dốt quá. Đảng Cộng sản Việt Nam rất dốt về quản lý đất nước, rất bội bạc về nhân nghĩa, rất lưu manh về hứa hẹn, nhưng rất giỏi về tình báo và công an trị. Ở lĩnh vực này, Cộng sản giỏi vào bực thầy của « thiền sư Lê Mạnh Thát, Thượng tọa Thích Tuệ Sĩ… hay Nhóm Thân Hữu Già Lam », thì làm sao các người này qua mặt được Cộng sản ?!

Sống và chứng kiến bao nhiêu cảnh đổi dời lố lăng, như trường hợp một ông cựu Phó tổng thống Việt Nam Cộng hoà từng gào kêu « Bắc tiến » và « giết tới tên Cộng sản cuối cùng ». Nhưng nay y về nước xin quy hàng Cộng sản, thì có việc gì không thể xẩy ra nơi cõi Sa bà này ? Thuật ngữ Phật giáo diễn tả sự đời ấy bằng hai chữ : Vô thường.

Phải là Thiền sư thật, Đạo sư thật, phải là Bồ Tát thật, thì mới thoát ly khỏi vô thường.

SGT :Từ khi CSVN giật dây thành lập Giáo Hội Phật Giáo VN (GHPGVN), dư luận trong và ngoài nước vẫn coi GHPGVN là một tổ chức Phật giáo quốc doanh, tiếp tay CS. Tuy nhiên, Thượng Tọa Thích Quảng Ba thì lại cho rằng, GHPGVN đã có công duy trì Phật pháp, và nếu không có GHPGVN thì mấy chục năm qua, Phật giáo tại VN sẽ bị suy sụp hoàn toàn. Cụ thể là trong cuộc phỏng vấn của đài SBS do Ngọc Hân thực hiện, phát thanh ngày 28 tháng 5 năm 2007, Thượng Tọa Thích Quảng Ba nói [trích nguyên văn]: “Dù là chính quyền VN lập ra GHPGVN nhưng mà [CS] luôn luôn chèn ép, luôn luôn gây áp lực, luôn luôn gây khó khăn trong rất nhiều lãnh vực và lần lần bị tháo gỡ lần lần ra được lỏng lẻo hơn, được cởi mở hơn là nhờ cái sức tranh đấu của GHPGVNTN. Cho nên một giáo hội duy trì Phật pháp một giáo hội chỉ trích chính quyền để cho chính quyền lỏng tay với Phật giáo nói chung. Đây là một sự hợp tác không thành văn và không có văn bản và không có họp hội. Nếu không có PGVNTN thì dĩ nhiên GHPGVN cũng không được sinh hoạt tốt đẹp một cách tạm thời một cách tương đối như hiện nay. Còn nếu không có GHPGVN, chỉ có GHPGVNTN trong tù tội không thôi đó thì chùa chiền tăng ni phật tử trong mấy chục năm qua cũng đã suy sụp hoàn toàn và không có cái sinh hoạt gì gọi là phật giáo hết.” Thưa Ông nghĩ sao về luận điệu này?

Ô. VVA : Quý báo dùng hai chữ « luận điệu » là đã gói ghém hết nội dung tinh thần của người phát biểu. Thượng toạ Thích Quảng Ba có quyền nhận định như trên trong tư cách cá nhân, nhưng ông không đại biểu cho lập trường của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.

Ở trên, quý báo nói rằng : « dư luận trong và ngoài nước vẫn coi Gíao hội Phật giáo Việt Nam là một tổ chức Phật giáo quốc doanh, tiếp tay Cộng sản ».

Đây không chỉ là dư luận mà là một thực tại.

Ông Đỗ Trung Hiếu, một cán bộ tôn giáo cao cấp của Đảng Cộng sản, được các ông Xuân Thủy rồi Nguyễn Văn Linh và Trần Quốc Hoàn trực tiếp giao phó nhiệm vụ “thống nhất Phật giáo” đầu năm 1979 với chức Chính ủy của Đoàn Công tác thống nhất Phật giáo Việt Nam, mà thành quả đưa tới sự ra đời của Giáo hội Phật giáo Việt Nam (Giáo hội Nhà nước) ngày 4 tháng 11 năm 1981 tại Hà Nội.

Sau này vì hối hận, ông viết tài liệu « Thống nhất Phật giáo » 50 trang đánh máy, khổ A4. Ông Hiếu viết xong và đề ngày “Phật Ðản 2538, ngày 15.4 Giáp Tuất (25.5.1994)”. Tài liệu tiết lộ tất cả sự thật của cái gọi là Giáo hội Phật giáo Việt Nam (xem toàn văn trên tạp chí Quê Mẹ số 133, Paris, 1995).

Qua tập tài liệu, ông Ðỗ Trung Hiếu cho biết chi tiết tên tuổi từ các vị lãnh đạo Ðảng đến hàng giáo phẩm cao cấp Phật giáo, theo hoặc chống, trong quá trình thống nhất Phật giáo do Ðảng chủ trương sau ngày cưỡng chiếm miền Nam năm 1975.

Chủ trương của Trung ương Ðảng và Ban Dân vận Trung ương về vấn đề thống nhất Phật giáo là :

« Nội dung đề án là biến hoàn toàn Phật giáo Việt Nam thành một hội đoàn quần chúng. Còn thấp hơn hội đoàn, vì chỉ có Tăng, Ni, không có Phật tử ; chỉ có tổ chức bên trên không có tổ chức bên dưới, tên gọi là Hội Phật giáo Việt Nam (…) Nội dung hoạt động là lo việc cúng bái chùa chiền, không có hoạt động gì liên quan tới quần chúng và xã hội (…) Lấy chùa làm cơ sở chứ không phải lấy quần chúng Phật tử làm đơn vị của tổ chức Giáo hội”.

Ông Hiếu nhận định về sự thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam (Nhà nước) tại chùa Quán Sứ, Hà Nội, ngày 4.11.1981, như sau :

“Thực sự đại biểu là giữa Phật giáo của ta và GHPGVNTN. Ban Vận động Thống nhất Phật giáo Việt Nam đều là đại biểu dự Ðại hội, trong đó đại biểu của ta đa số. Chín tổ chức và hệ phái Phật giáo, GHPGVNTN là một, còn lại tám với những danh nghĩa khác nhau, nhưng tất cả đều hoặc là ta hoặc là chịu sự lãnh đạo của Ðảng”. (…) “Cuộc thống nhất Phật giáo lần này bên ngoài do các hòa thượng gánh vác, nhưng bên trong bàn tay đảng Cộng sản Việt Nam xuyên suốt quá trình thống nhất để nắm và biến tướng Phật giáo Việt Nam trở thành một TỔ CHỨC BÙ NHÌN CỦA ĐẢNG (chúng tôi nhấn mạnh)”.

(…) “Việc thống nhất Phật giáo Việt Nam theo tôi biết, Ðảng chủ trương thống nhất Phật giáo của ta với Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) khối Ấn Quang. Phật giáo của ta là Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam (HPGTNVN) và Ban Liên lạc Phật giáo Yêu nước (BLLPGYN) ở miền Nam. Ở miền Bắc, phật tử đã vào các đoàn thể quần chúng hết rồi, chỉ còn những cụ già đi lễ bái ở chùa ngày rằm, mồng một, theo tục lệ cổ truyền. Sư tiêu biểu thật hiếm. Cụ Trí Ðộ đã luống tuổi, quanh đi quẩn lại vẫn cụ Phạm Thế Long, nhưng khả năng đức độ của cụ ảnh hưởng trong nước và quốc tế hạn chế. BLLPGYN có khá hơn một tí. Cụ Minh Nguyệt (đảng viên cộng sản, theo ô. Hiếu) có thành tích ở tù 15 năm Côn Ðảo, cụ Thiện Hào (đảng viên cộng sản, theo ô. Hiếu) có thành tích đi kháng chiến, nhưng điều phật tử cần ở nhà Sư, cả hai cụ đều hạn chế.

“GHPGVNTN khối Ấn Quang là một tổ chức tôn giáo và tổ chức quần chúng mang tính xã hội chính trị có màu sắc dân tộc, thu hút đông đảo quần chúng và có uy tín trên thế giới, nhiều nhà sư tài giỏi. Nếu thống nhất theo Kiến nghị của cụ Ðôn Hậu, có nghĩa là giải thể BLLPGYN, sát nhập HPGTNVN vào GHPGVNTN và chịu sự lãnh đạo của họ. Như thế GHPGVNTN phát triển ra toàn lãnh thổ Việt Nam chứ không chỉ ở miền Nam như trước năm 1975.

“Quan trọng là Ðảng không bao giờ lãnh đạo được GHPGVNTN, mà ngược lại GHPGVNTN trở thành một tổ chức tôn giáo rộng lớn có đông đảo quần chúng, là một tổ chức có áp lực chính trị thường trực với Ðảng và chính phủ Việt Nam.

“Thống nhất theo dự án của ban Tôn giáo chính phủ chưa ổn lắm, vì chung qui cũng đưa các cụ ở HPGTNVN và BLLPGYN xách cặp cho GHPGVNTN mà thôi”.

Đọc xong các tiết lộ của ông Đỗ Trung Hiếu trên đây, mà còn nghĩ rằng Giáo hội Phật giáo Việt Nam (tức Giáo hội Nhà nước) có thể đóng một vai trò nào đó cho nền Phật giáo dân tộc ngoài vai trò tay sai chính trị, khuyển mã cho Đảng, thì chỉ có thể phát xuất từ hai loại người. Một là ngây thơ, hai là cò mồi cho Cộng sản. Xin nói ngay tôi không « chụp mũ » cho ai cả. Vì rằng, đối với tôi và thực tế lịch sử đã minh chứng, là có những người không là đảng viên Cộng sản, nhưng ăn nói, suy nghĩ hay hành động lại phục vụ cho Cộng sản còn hơn đảng viên Cộng sản. Chỉ là vấn đề trí tuệ.

Cần nói thêm rằng, vì viết tài liệu nói trên mà ông Đỗ Trung Hiếu bị 18 tháng tù giam tại trại Xuân Lộc.

SGT :Cũng trong buổi phỏng vấn đó của đài SBS, Thượng Tọa Thích Quảng Ba còn kêu gọi, “Tăng ni phật tử hải ngoại dù là giáo hội nào hay không giáo hội nào, cũng luôn luôn yểm trợ những sinh hoạt của Phật giáo trong nước cho dù là sinh hoạt đó cuả Giáo Hội Thống Nhất điều hành hay là Gíao hội Phật giáo Việt Nam điều hành”. Thưa Ông, lời kêu gọi này nguy hiểm ở chỗ nào?

Ô. VVA : Nguy hiểm ở sự ba phải và nhập nhằng trong một Cộng đồng Người Việt Tị nạn vốn rất minh bạch về luận điểm dân tộc và tôn giáo trước chế độ độc tài toàn trị gian manh, phi tôn giáo, chống tôn giáo và chống con người.

SGT : Chân thành cảm ơn thì giờ qúy báu cùng tâm huyết của Ông.

May 2, 2008

Báo CAND chơi trò “đánh dưới thắt lưng” đối với Điếu Cày !

http://blog.360.yahoo.com/blog-ioK86xowda6DlDgTuFsN_Nc-?cq=1&p=919  

Nguồn: Blog Công lý & Sự Thật (Tạ Phong Tần)

May 01, 2008

Báo CAND ngày 23/4/2008 đăng bài “Khởi tố bắt tạm giam Hải “điếu cày” vì tội trốn thuế”, nội dung hành vi “trốn thuế” nhắc lại y chang bài trên Báo Công an Thành phố HCM ngày 22/4/2008 nên trong phạm vi bài viết này tôi không cần phải nhắc lại. Mời đọc bài bình luận “HÀNH VI CỦA NGUYỄN VĂN HẢI – DƯƠNG THỊ TÂN KHÔNG CẤU THÀNH TỘI TRỐN THUẾ” tại đây.

Bài viết này chỉ bình luận những thông tin sai sự thật mà tác giả Nguyễn Đặng đã bịa đặt ra nhằm bôi nhọ cá nhân ông Nguyễn Văn Hải.

.

Thông tin sai sự thật

Bài báo viết: “Theo nhận định của cơ quan điều tra thì Hải “điếu cày” là một đối tượng lưu manh, nhiều thủ đoạn xảo trá”.

Từ điển Tiếng Việt giải thích “lưu manh” là “Người không chịu lao động, chuyên sống bằng trộm cắp, cướp của, lừa đảo, đâm thuê chém mướn, ma cô, chứa chấp, tiêu thụ tài sản bị chiếm đoạt”. “Thủ đoạn” là “cách hành động theo chiều hướng chuyển thiệt hại của người khác thành lợi ích của mình”. “Xảo trá” là khéo léo để lừa đảo, mang hình thức giả để che đậy thực chất. Như vậy, muốn gọi một người là “đối tượng lưu manh” thì phải có hồ sơ chứng minh hành vi lưu manh cụ thể như thế nào, xảy ra tại đâu, thời gian nào, lừa đảo ai, thiệt hại bao nhiêu, đã bị xử lý như thế nào? Cái sự “lưu manh” này phải được lặp đi lặp lại nhiều lần (chuyên) mới có thể gọi là “đối tượng lưu manh”.

Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự quy định Cơ quan điều tra có nhiệm vụ “áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo” (Điều 10 BLTTHS), và không có điều khoản nào cho phép cơ quan điều tra có quyền nhận xét này nọ về tư cách đạo đức, nhân thân của công dân.

Những hình ảnh chụp ngày 16/12/2007 khi Điếu Cày tham gia biểu tình chống Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa, Trường Sa cho thấy: Đến thời điểm ngày 16/12/2007 tên “lưu manh” (theo cách gọi của tác giả Nguyễn Đặng) vẫn đang sinh hoạt chung với nhóm Cựu chiến binh ở địa phương (hai phụ nữ lớn tuổi trong ảnh là Cựu chiến binh, đang thuyết phục Điếu Cày đừng biểu tình) và tên “lưu manh” lại là người rất thân thiết với vị Phó Chủ tịch phường nơi cư trú (người đàn ông mặc áo xanh).

Chẳng biết cơ quan điều tra nào lại đưa ra nhận xét như vậy, nhận xét tại văn bản nào? Nếu quả thật có cơ quan điều tra nào đó mà có văn bản nhận xét khơi khơi không có hồ sơ tài liệu chứng minh (như tác giả viết) thì thật đáng buồn cho trình độ hiểu biết pháp luật của cơ quan đó, và cần thiết phải thay đổi cả bộ máy điều tra nơi đó, nếu không thì sẽ làm oan sai rất nhiều người dân vô tội vì không hiểu nhiệm vụ, quyền hạn của mình tới đâu, không hiểu chứng cứ là gì. Việc nhận xét về tiền án, tiền sự, quá trình hoạt động bản thân của công dân là chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cơ sở (phường, xã, thị trấn), không phải chức năng, nhiệm vụ của cơ quan điều tra. Ngay chính cơ quan điều tra khi làm lý lịch bị can vẫn phải đem lý lịch đến chính quyền cơ sở xác nhận thì mới hợp pháp.

Đề nghị tác giả Nguyễn Đặng nên đọc Điều 10, Điều 34, Điều 35 Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự để biết rằng Cơ quan điều tra có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn như thế nào mà viết cho chuẩn, không nên mượn danh cơ quan điều tra như một thứ “bia đỡ đạn” để làm cho lời nói mình thêm “nặng ký” thì tội nghiệp cho cơ quan điều tra lắm.

Bài báo viết tiếp: “Ngoài hành vi trốn thuế nói trên, Hải còn sửa chữa, xây dựng nhà trái phép ở nhiều nơi khác như nhà 84 Trần Quốc Toản, nhà ở quận 1…”.

Cái sự “sửa chữa, xây dựng nhà trái phép ở nhiều nơi khác” cũng không thấy tác giả đưa bằng chứng chính quyền địa phương ra quyết định xử lý, không có hồ sơ xử lý, thì rõ ràng là bịa đặt.

.

Lấy râu ông nọ cắm càm bà kia

Tác giả bài báo viết: “Mặc dù bị tố cáo và đã có quyết định xử phạt của chính quyền địa phương nhưng Hải vẫn không chấp hành mà dùng nhiều thủ đoạn, khiếu nại, tuyên truyền nói xấu những cán bộ hưu trí tố cáo hắn rồi tìm cách chạy xin phép sửa chữa để đối phó”.

Tác giả đã đem quyết định phạt hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng gắn cho việc “sửa chữa, xây dựng nhà trái phép” trong khi thực tế không hề có quyết định xử phạt về việc xây dựng trái phép, gây sự nhầm lẫn cho người đọc rằng ông Hải bị xử phạt về hành vi “sửa chữa, xây dựng nhà trái phép”. Bài báo còn viết ông Hải “tìm cách chạy xin phép sửa chữa để đối phó”, xin hỏi tác giả ông Hải đã “chạy” đến cán bộ nào, “chạy” bao nhiêu tiền, ông Hải “chạy” như vậy thì xử lý hành vi “chạy” và người nhận hối lộ để làm trái kỹ cương phép nước như thế nào?

Cũng xin được nói rõ là vụ này ông Hải đã khởi kiện Công an phường Bến Thành ra Tòa hành chính, bạn đọc muốn biết nội dung như thế nào, mời đọc Bản tự khai ông Hải nộp cho Tòa.

Diễn biến phiên tòa phúc thẩm ngày 28/6/2007 hết sức khôi hài (Mời xem ở đây). Báo Người Việt nhận xét: “Không cần đợi tới hết phiên tòa, chỉ cần nghe Tòa mớm cung và biện luận, là cả ông Hải lẫn các bạn bè ông đang ngồi ở đó đã biết kết quả sẽ là thế nào: Ông lại thua, và ông trở thành kẻ gây rối trật tự chỉ vì không chịu để cho người hàng xóm Đảng viên tự tiện hàn kín cửa sổ nhà mình”. (Lệ làng giữa Sài Gòn: càng sửa càng sai).

Ngày 16/8/2007, báo Công an Thành phố Hồ Chí Minh đăng bài “Vụ kiện trị giá 160.000 đồng”, mô tả ông Hải như là một kẻ lấn chiếm nhà người khác trong khi phần diện tích đó ông có giấy tờ chủ quyền hợp pháp. Sau khi báo CA Thành phố Hồ Chí Minh phát hành, ngay lập tức, ông Hải đã đến Tòa soạn báo CA Thành phố Hồ Chí Minh để khiếu nại, và khiếu nại liên tục trong thời gian 15 ngày mà báo CA TPHCM chưa có văn bản trả lời. Trong thời gian khiếu nại tại Tòa soạn báo CA TPHCM, ông Hải tường thuật lại sự việc khiếu nại trên blog của mình. (Mời xem tường thuật các lần ông Hải đến khiếu nại báo CA TPHCM tại đây: lần thứ 1, lần thứ 2, lần thứ 3, lần thứ 4, lần thứ 5). Báo CA TPHCM không chịu xin lỗi ông Hải, nhưng đã phải rút bài báo “Vụ kiện trị giá 160.000 đồng” xuống. Bài báo này hiện nay chỉ còn lưu lại trên blog Điếu Cày (xem link ở trên).

Buồn cười hơn là tác giả bài báo đã đem cả chuyện riêng tư gia đình người khác đưa lên mặt báo với lời lẽ hằn học, lên án, coi như đó cũng là “hành vi phạm tội”: “Bà Dương Thị Tân (vợ Hải, đã ly dị vào năm 2006) trình bày ở cơ quan Công an thì Hải cặp bồ với rất nhiều phụ nữ khác, khi bà Tân tỏ ý phản đối thì Hải đã đánh bà ta đến chấn thương sọ não vì tội “dám ghen”. Do không chịu nổi hành vi vũ phu này, bà Tân đã xin ly dị”.

Tác giả bài báo cũng không có tài liệu gì chứng minh bà Tân bị ông Hải đánh “chấn thương sọ não” và “cặp bồ với rất nhiều phụ nữ khác”. Việc bà Tân và ông Hải ly dị thuộc lĩnh vực hôn nhân, gia đình, việc “cặp bồ” (nếu có) cũng thuộc phạm trù đạo đức cá nhân, không liên quan gì đến “tội trốn thuế” mà cả bà Tân và ông Hải đang bị khởi tố. Nên nhớ rằng nếu bà Tân có trình bày thì cũng là trình bày với cơ quan Công an (Công an nào chưa biết), không phải trình bày với tác giả Nguyễn Đặng; và bà Tân, ông Hải cũng chưa hề cho phép tác giả Nguyễn Đặng đem chuyện riêng gia đình mình công khai trên báo chí. Đem chuyện riêng tư gia đình người khác ra công khai trước công chúng mà không xin phép là “xâm phạm bí mật đời tư” được quy định tại Bộ Luật Dân Sự. (Mời xem bài “Bí mật đời tư và quyền được thông tin của báo chí đến đâu?” tại đây).

.

Đạo đức nhà báo ở đâu?

Nghề báo là một nghề luôn được đánh giá cao ngay từ khi mới ra đời. Mục đích quan trọng nhất của nghề báo là cung cấp cho bạn đọc những thông tin thời sự chính xác và đáng tin cậy mà họ cần để có thể hành xử tốt nhất trong cuộc sống xã hội.

Báo chí còn có chức năng định hướng dư luận xã hội, nếu viết sai sự thật thì hậu quả khôn lường. Vì vậy, nhà báo không có quyền đưa ra những khẳng định chưa được kiểm chứng bằng phương pháp khoa học, không được thông tin sai sự thật, càng không được lợi dụng tờ báo để phục vụ cho mục đích khác. Nhà báo phải chịu trách nhiệm những gì mình viết nên không thể tự do, tùy tiện phát ngôn vô tội vạ làm ảnh hưởng xấu đến người khác, v.v… và v.v….

Nói khơi khơi, không có bằng chứng, ngang nhiên nói công khai trên phương tiện thông tin đại chúng (cụ thể là báo CAND) tức là phạm vào tội vu khống, được quy định tại Điều 112 Bộ Luật Hình Sự: “Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền…”

Hiện nay, cơ quan điều tra Công an quận 3 đã tạm giam Nguyễn Văn Hải và áp dụng biện pháp ngăn chặn không được phép đi khỏi nơi cư trú đối với Dương Thị Tân”. Có nghĩa là ông Hải hiện nay ngồi trong trại giam nên ông Hải không biết và không có khả năng phản kháng lại những gì người ta bịa đặt, loan truyền về ông nhằm xúc phạm danh dự cá nhân ông.

Ra tay “đánh” người khi đối phương không biết, không có khả năng tự vệ thì chẳng khác nào hành vi “đánh dưới thắt lưng”, thắng cũng không vinh quang, mà khi bị phát hiện là nói dối thì thật xấu hổ vô cùng.

.

Tạ Phong Tần


Khuyến mãi thêm:

Báo CAND đăng bài bôi nhọ người khác, khi bị phản ứng lại thì… im lặng (Mời xem ở đây).

Tags: điếucày

Thursday May 1, 2008 – 05:23pm (PDT) Permanent Link | 3 Comments

—————-
Nhận xét:
Khi đã hiểu rõ bản chất của cs, của cơ cấu tổ chức cs, thì :
– Gần như tất cả những gì cs (TV, radio, báo chí cs, công an, nhà nước, …) tố cáo, bôi nhọ, kết án ai khác (nhứt là những người đấu tranh dân chủ, nhân quyền, tự do, tôn giáo)   thì CHÍNH là những gì mà cs đã và đang làm đ/v những người ấy, vối với nhân dân !!!
Cs chuyên môn làm ngang, nói ngược, với nhiều thủ đoạn xảo trá, tàn độc, giả nhân nghĩa !!
Ngày nào ở VN không có tự do ngôn luận, tự do báo chí (báo chí tư nhân) thì KHÔNG thể tin những gì cs nói, kết án ai khác !! Chính cái cơ cấu độc tài (truyền thông, …) đã là bằng chứng của sự trí trá cs !!

April 30, 2008

Tin tức 30/4 : công an “nhân dân” “bảo vệ” (khủng bố) dân



Mời độc giả vào xem tường thuật đầy đủ tại:   blog.Ba Sàm

“Cuộc rước đuốc ở VN sẽ là ‘biểu tượng cho tinh thần Olympic’”

http://www.doi-thoai.com/

April 29, 2008

Ngày Đuốc TVH tại Saigon: 8 Người Hà Nội Được Thả

Chị Lê Thị Kim Thu, Nhà Văn Nguyễn Xuân Nghĩa Đã Được Thả – Nhà Giáo Vũ Hùng Bị Công An Đánh Nặng Nhất!!!!

Công an bắt nhóm 8 biểu tình tại chợ Đồng Xuân (sáng ngày 29/4/08 tại Hanoi)

Nguồn hình: Trắng Đen online – TDOL

Theo tin mối nhất chúng tôi nhận được thì chị Lê Thi Kim Thu, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, ông Vi Đức Hồi, Nguyễn Anh Sơn, nhà giáo Vũ hùng, Nguyễn Tiến Nam, Nguyễn Văn Nhứt và sinh viên Ngô Quỳnh đã được thả vào lúc 11 giờ đêm ngày 29 tháng 04, 2008. (giờ Hà Nội)

 

Cũng theo tin chúng tôi nhận được thì nhà giáo Vũ Hùng đã bị công an đánh đập nặng nhất; rồi đến nhà báo Nguyễn Xuân Nghĩa.

Chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi tin tức và cập nhật đến quý bạn đọc trong thời gian sớm nhất
(VNE)

April 18, 2008

NGHỀ CHỤP MŨ

Đinh Lâm Thanh

Ba triệu người Việt Tự Do định cư tại nước ngoài chỉ là một số nhỏ so với trên tám chục triệu trong nước, nhưng chính là mối lo sợ hàng đầu đối với nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam. Đây là một cộng đồng đầy đủ thực lực, từ nguồn chất xám, tinh thần đoàn kết, khả năng tài chánh đến vai trò chính trị…

Ngoại trừ tại Hoa kỳ, còn lại một số nhỏ định cư rải rác khắp toàn thế giới, nhưng cộng đồng người Việt chẳng những đã thu hút được cảm tình người bản xứ mà còn thay đổi được lối nhìn, quan niệm và thái độ của thế giới tự do đối với những người đã bỏ xứ ra đi sau ngày 30 tháng 4 năm 1975. Tinh thần đoàn kết dưới màu cờ Vàng Ba Sọc Đỏ dù ở bất cứ nơi nào, người Việt Tự Do cũng đã giúp người dân bản xứ nhận ra sự hiểu biết thô sơ, lệch lạc cũng như những sai lầm của họ trước kia về chế độ Cộng sản Việt Nam.

Ngoài ra cần phải nói thêm, các nỗ lực và thành quả tốt đẹp của người Việt trong việc hội nhập vào xã hội mới cũng như tinh thần chống Cộng triệt để đã vô hiệu hóa tất cả những lời tuyên truyền, bịp bợm, láo khoét của các cơ quan ngoại giao Cộng sản từ trong nước cũng như ở hải ngoại. Khi vừa chiếm đoạt Miền Nam, Hà Nội đã vội vàng cướp tài sản, bỏ tù, đày đi kinh tế và xua ra đại dương những người mà Cộng sản cho là biếng nhác, ăn hại, phản động, tay sai, đánh thuê và là mầm mống nguy hiểm cho chế độ.

Nhưng chỉ một thời gian sau, chính Hà Nội lại âu yếm gọi bằng “khúc ruột ngàn dặm” và trân trọng trải thảm đỏ, mời những người bị chúng đã xua ra biển nên quên hận thù, quay về đùm bọc lấy anh em ruột thịtxây dựng lại quê hương! Vừa van lạy xin “tiền khúc ruột ngàn dặm”, vừa lo sợ trước tinh thần đoàn kết cũng như những thành công về kinh tế và chính trị của cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Trên bình diện quốc tế, tập đoàn Cộng sản đã thua hẳn cộng đông người Việt tự do tại hải ngoại về mọi phương diện.

Muốn đánh bại cộng đồng, con đường tốt nhất là phải phá thối và gây chia rẽ nội bộ… Do đó, để phá hoại cộng đồng, Cộng sản Việt Nam đã nghiên cứu và dành một ngân khoảng lớn để huấn luyện, tổ chức và tưởng thưởng cho điệp viên, cán bộ nằm vùng và những ai đã lỡ “dính chàm” phải cúi đầu chờ lệnh.

Chỉ có hai sức mạnh khả dĩ đánh đổ được tập đoàn bạo quyền Hà Nội mà thôi, đó là tinh thần Đoàn Kết và Ngoại Tệ của cộng đồng người Việt hải ngoại mà tinh thần đoàn kết của người Việt hải ngoại mới đích thực là mối lo trầm trọng của tập đoàn Cộng sản Việt Nam. Do đó, chúng ta không lạ gì khi Cộng sản Việt Nam chi ra nửa tỷ dollars cho âm mưu kiều vận và phá hoại qua nghị quyết 36.

Nghị quyết này gồm nhiều tiết mục nhưng chung quy có thể thu gọn trong 3 phần với 3 mục đích chính: Lường gạt, tuyên truyền và phá hoại!

– Lường gạt :

Kêu gọi chất xám và tiền của người Việt nước ngoài. Đây là phần nổi của nghị quyết. Làm một công hai việc, vừa đánh bóng chế độ trong tinh thần hoà giải hòa hợp dân tộc và kêu gọi khúc ruột ngàn dặm đem hết khả năng và của cải về phục vụ đất nước. Nhưng thực chất là một sự lường gạt trắng trợn những người dễ tin để đem chất xám về phục vụ củng cố một tập đoàn thối nát, bất tài và tham nhũng, đồng thời khai thác tình thâm ruột thịt, liên hệ gia đình của những “con gà để trứng vàng” trong nước hầu móc túi thân nhân nước ngoài.

– Tuyên truyền:

Lợi dụng truyền thông, văn hóa để len lỏi vào Cộng đồng bằng cách ru ngủ, mua chuộc, lôi kéo từ người lớn xuống trẻ em dưới nhiều hình thức, từ sách báo, ca nhạc, cải lương đến các hoạt động xã hội, tôn giáo và nhất là chú trọng vào chương trình dạy tiếng Việt cho trẻ nhỏ.

Các tòa đại sứ Cộng sản được cấp những ngân sách khổng lồ để thi hành nghị quyết bằng cách tổ chức những đội ngũ cán bộ, mục đích len lỏi vào các cơ sở của người nước ngoài như báo chí, truyền thanh truyền hình, lập ra nhiều trang báo điện tử, diễn đàn hoặc dùng tiền mua chuộc từ cá nhận đến tập thể trong các tổ chức này. Đây là phần chìm mà các cơ quan ngoại giao tại hải ngoại phải thi hành theo lệnh của bộ chính trị của đảng. Nhưng trong năm qua Cộng sản Việt Nam đã thất bại, các cơ quan ngoại giao nước ngoài không đạt chỉ tiêu cho năm 2006 trong chương trình xâm nhập vào toàn bộ các hiệp hội, đoàn thể, đảng phái của người Việt hải ngoại.

Quan trọng nhất là cuối năm 2006 chúng đã hoàn toàn thất bại trong âm mưu dùng tiền mua chuộc hoặc thay thế các chức vụ chủ tịch của cộng đồng bằng các cán bộ nằm vùng hay những tên cò mồi dễ dạy.

– Phá hoại :

Len lỏi vào cộng đồng, đảng phái, đoàn thể để tạo mâu thuẫn, gây chia rẽ, phá rối Cộng đồng người Việt hải ngoại… đồng thời huấn luyện, nuôi dưỡng đám “chó săn” để chúng theo dõi, bôi xấu, hù dọa, chụp mũ những ai có hành động gây phương hại cho chế độ Cộng sản. Đây mới là chính phần trọng tâm của nghị quyết 36!Phần nổi và phần chìm chúng tôi đã có dịp trình bày trong những bài trước, trong phạm vi lần này xin đề cập đến một đòn ma giáo thuộc phần trọng tâm của nghị quyết 36, là chụp những chiếc mũ Cộng sản cho những ai mà Hà Nội xem là thành phần cực kỳ phản động ở nước ngoài.Chụp mũ hay đội nón cối lên đầu những người quốc gia có tinh thần chống Cộng kiên trì, đối với Cộng sản là thượng sách, vừa ít tốn tiền nhưng lại tạo được nhiều kết quả thật quan trọng. Bất cứ ai có tên trong sổ đỏ thuộc thành phần “cực kỳ phản động” ở hải ngoại mà Cộng sản Việt Nam không thể mua chuộc, hù dọa hay bắt bớ được thì cứ việc ra lệnh cho đàn em đội ngay lên đầu họ một vài chiếc nón cối thật lớn là xong chuyện!

Vì Cộng sản biết rằng, cộng đồng người Việt Tự Do hải ngoại chẳng những căm thù người Cộng sản chính hiệu mà còn xa lánh, tẩy chay những tên tay sai ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng sản như trường hợp Trần Trường ở Cali cách đây vài năm. Cứ việc đội lên đầu người nào một vài cái nón cối thì trước sau gì danh dự của nạn nhân cũng bị tổn thương không nhiều thì ít. Đúng vậy, một khi dùng nón cối quật ngã được người nào thì xem như Cộng sản đã thắng một trận đánh lớn mà không mất một viên đạn.

Điều tệ hại quan trọng nhất là một số ít người trong cộng đồng thiếu suy tư phán đoán, thiếu tìm hiểu nạn nhân để chận đứng và vạch trần âm mưu của Cộng sản, do đó họ đã vô tình nối giáo cho giặc bằng sự im lặng của mình. Nói chống Cộng, ngồi lại với nhau thì hùng hổ nói thật hay, nhưng khi có việc thì rút vào bóng tối…

Chỉ một việc nhỏ như đi biểu tình chống Cộng trước tòa đại sứ Việt Cộng hằng năm vào ngày 30.4 thì thật đáng buồn khi so sánh số người tham dự với khách trong các buổi tiệc liên hoan, kỷ niệm của các hội đoàn chống Cộng!

Người chống Cộng nhiệt tình, công khai ra mặt thường bị cô đơn, vì bà con giòng họ, bạn bè, đồng hương, đồng chí trong các tổ chức lúc nào cũng tìm cách né tránh. Chuyện cũng thật dễ hiểu, vì những người này thường về Việt Nam du hí, thăm bà con, làm ăn… dĩ nhiên phập phồng lo sợ nhà nước Việt Nam sẽ làm khó dễ, gây trở ngại khó khăn khi Hà Nội khám phá ra họ có liên hệ giây dưa với những “tên phản động”.

Dựa vào thế mặc cảm sợ sệt của những người này đó, Cộng sản cứ đà tiến tới chụp mũ người này đến người kia. Do đó, vừa mấy năm trở lại đây, trò chụp mũ phát triển thật nhanh. Thử nghĩ lại xem, đã có biết bao nhiêu người yêu nước nhiệt tình, xả thân cho đại cuộc đã nhụt chí rút vào bóng tối vì những chiếc nón cối trên đầu!

Thành phần chuyên nghiệp hành nghề chụp mũ là những ai?

Có thể là một trong ba hạng người sau đây: Cán bộ điệp viên đội lốt người tỵ nạn. Người nhẹ dạ đã-đang-sẽ hưởng bổng lộc của Cộng sản Việt Nam. Người bị “dính chàm” của Cộng sản vì một vấn đế nào đó và một khi vết “chàm” của Cộng sản đã dính lên người thì không bao giờ gội rửa được!

Cái bẫy giăng ra thật đơn giản là khi ban ân huê cho một cá nhân nào, Cộng sản chỉ cần ghi lại tất cả dấu vết để sau đó áp lực nạn nhân phải thi hành những yêu cầu của chúng. Nhiều trường hợp đi tù, một vài cá nhân nào đó đã bán đứng đồng đội mục đích kiếm điểm với kẻ thù, để được làm “cai tù” ăn trên ngồi trước, để chạy tội hay hy vọng rút ngắn thời gian cải tạo trở về đoàn tụ với gia đình… Lúc cần thì Cộng sản xử dụng những bút tích đó để hù dọa, bắt chẹt và ép buộc phải tìm cách đội lên đầu cái nón cối cho những ai mà Cộng sản cần phải thanh toán! …

Đó là trò đểu của Hà Nội đang mang ra áp dụng tại hải ngoại để tách rời những người chống Cộng ra khỏi cộng đồng người Việt. Các điệp viên núp bóng người tỵ nạn thường xử dụng nhiều tên ảo, dùng những lời chửi bới hạ cấp, thô tục trên các diễn đàn, gởi thư qua các hộp thư điện tử và dùng điện thoại cộng cộng để chửi bới hăm dọa. Phương thức này chưa được hoàn hảo, vì những lời hăm dọa chửi bới dưới tên ảo không gây xáo trộn cộng đồng bằng những pháp nhân có thật, nhưng những người này thì không trực diện nói chuyện với nạn nhân mà chỉ dùng lối rỉ tai người này người khác.

Trường hợp này mới nguy hiểm vì cộng sản đã thành công trong việc gây xao trộn cộng đồng, tạo chia rẽ giữa người này người kia… Nhân cách của những kẻ thường dùng kỹ thuật rỉ tai đã là xấu vì nói lén sau lưng người khác, người “bị” nghe thường không chú ý, nhưng nghe mãi nghe hoài cũng thấm vào đầu óc họ.

Đó là chiến thuật tuyên truyền của Cộng sản, cứ nói mãi, thế nào cũng còn lưu lại trong đầu người nghe không nhiều thì ít! Những người đội tên giả chửi bới vô liêm sĩ thật ra không nguy hiểm bằng hạng người rỉ tai người này người kia thì chúng ta cần phải cảnh giác.

Kết quả Cộng sản đã thắng bằng lối tuyên truyền cố hữu, chỉ một viên đạn bắn ra đã sát hại nguyên cả đàn chim.Một ít người ít hiểu biết, ích kỷ, ham danh… muốn trở thành lãnh tụ bằng con đường tắt với vài ba đàn em dưới trướng, khua chuông đánh trống, đấm đá lung tung để tìm cách vương lên bằng những trò hề rẻ tiền, tranh dành chức vụ rồi bôi xấu, chụp mũ…

Người chống Cộng nhiệt tình, công khai ra mặt thường bị cô đơn, vì bà con giòng họ, bạn bè, đồng hương, đồng chí trong các tổ chức lúc nào cũng tìm cách né tránh. Chuyện cũng thật dễ hiểu, vì những người này thường về Việt Nam du hí, thăm bà con, làm ăn… dĩ nhiên phập phồng lo sợ nhà nước Việt Nam sẽ làm khó dễ, gây trở ngại khó khăn khi Hà Nội khám phá ra họ có liên hệ giây dưa với những “tên phản động”. Dựa vào thế mặc cảm sợ sệt của những người này đó, Cộng sản cứ đà tiến tới chụp mũ người này đến người kia. Do đó, vừa mấy năm trở lại đây, trò chụp mũ phát triển thật nhanh. Thử nghĩ lại xem, đã có biết bao nhiêu người yêu nước nhiệt tình, xả thân cho đại cuộc đã nhụt chí rút vào bóng tối vì những chiếc nón cối trên đầu!

Các điệp viên núp bóng người tỵ nạn thường xử dụng nhiều tên ảo, dùng những lời chửi bới hạ cấp, thô tục trên các diễn đàn, gởi thư qua các hộp thư điện tử và dùng điện thoại cộng cộng để chửi bới hăm dọa. Phương thức này chưa được hoàn hảo, vì những lời hăm dọa chửi bới dưới tên ảo không gây xáo trộn cộng đồng bằng những pháp nhân có thật, nhưng những người này thì không trực diện nói chuyện với nạn nhân mà chỉ dùng lối rỉ tai người này người khác.

Hành động của thành phần này đã tạo ra những môi trường thuận lợi cho kế hoạch phá hoại của nghị quyết 36. Để kết nạp thành phần này, địch có thể cung cấp nhân lực cũng như tài chánh mục đích tạo ra thật nhiều hiệp hội, nhiều đoàn thể, đảng phái nhằm chia xẻ tinh thần đoàn kết của cộng đồng.

Vô tình thành phần này trở thành công cụ không công cho địch, rồi một lúc nào đó, với một ân huệ hay hứa hẹn nào đó, những người này trở thành những tay đắc lực phụ vụ cho quyền lợi của đảng Cộng sản Việt Nam.

Chụp mũ là thủ đoạn của Cộng sản, hành động này là nghề nghiệp của các điệp viên, những tên cán bộ công an núp bóng trong hàng ngũ tỵ nạn.

Những người quốc gia chân chính, đừng vì ganh ghét cá nhân, đừng vì một chút lợi lộc tiền bạc hay những lời hứa hẹn của địch mà nhắm mắt làm theo lệnh quan thầy, đánh lung tung người này đến người khác. Một khi Hà Nội chỉ thị phải đánh một người nào thì phải nghĩ rằng người đó là cái gai trước mặt mà chúng cần phải nhổ bỏ, nếu đánh gục họ thì xem như một người quốc gia đã dùng vũ khí Cộng sản đánh thẳng vào cộng đồng người Việt Tự Do ở hải ngoại.

Việc vạch mặt chỉ tên những tên Cộng sản nằm vùng phá hoại cộng đồng là một việc phải làm của tất cả mọi người, nhất trong giai đoạn này để loại ra khỏi cộng đồng những phần tử đang ráo riết gây rối và phá hoại cộng đồng trong nhiều lãnh vực. Nhưng tuyệt đối đừng nghe lời của những người có thành tích bất hảo, miệng chống Cộng vung vít nhưng đàng sau chúng đưa tay nhận tiền bạc lợi lộc của kẻ thù để đội lên đầu những người chống Cộng chân chính và nhiệt huyết những cái nón cối.

Cần phải tìm hiểu, nghiên cứu thật chính xác về đời tư, quá trình hoạt động của hai đối tượng, người hành nghề chụp mũ cũng như nạn nhân để tránh việc xét đoán lầm người.

Chỉ một hành động chuyền miệng rỉ tai bôi xấu một người nào đã là hành động của kẻ tiểu nhân, chưa kể đến những chuyện bày đặt buồn cười vô căn cứ thì chúng ta nên xét lại và ngăn chận kịp thời, tránh chuyện “tam sao thất bổn” nhỏ biến thành lớn, chuyện ruồi bu thành vấn đề quan trọng.

Không có chuyện gì có thể bưng bít lâu dài, không nhanh thì chậm, tất cả sự thật sẽ được phơi bày dưới ánh mặt trời, chừng đó người đời sẽ phê phán hành động của những người hành nghề chụp mũ và con cái cháu chắc sẽ tủi nhục vì những hành động của cha ông mình. Nhưng hiện tại nếu không mau trừ khử những người hành nghề chụp mũ kịp thời thì trong giai đoạn quyết liệt này cộng đồng chúng ta sẽ thiếu hoặc mất đi những người tiên phong chống Cộng.”,[1]

Một ít người ít hiểu biết, ích kỷ, ham danh… muốn trở thành lãnh tụ bằng con đường tắt với vài ba đàn em dưới trướng, khua chuông đánh trống, đấm đá lung tung để tìm cách vương lên bằng những trò hề rẻ tiền, tranh dành chức vụ rồi bôi xấu, chụp mũ…

Chụp mũ là công việc của bọn công an, điệp viên nằm vùng, nếu là người quốc gia, những ai đã bỏ xứ ra đi vì không chấp nhận chế độ Cộng sản thì xin hãy dừng tay, đừng vì cá nhân, tiền bạc, phe nhóm mà nhắm mắt chụp mũ những người đang tranh đấu nhiệt tình trong lòng cộng đồng người Việt. Một điều khẳng định rằng, một khi Cộng sản ra lệnh chụp mũ một người nào thì chắc chắn rằng Hà Nội muốn bịt miệng và tách rời người đó ra khỏi cộng đồng bằng trò chia rẻ.

Cũng xin nhắc nhở những người đang hành nghề chụp mũ, không phải ai cũng sợ chiếc nón cối, mà một số người chống cộng nhiệt tình, có lý tưởng từ trong máu huyết mà họ đã chứng minh bằng những hành động bất vụ lợi từ lúc cắp sách đến trường cho đến ngày nay thì không bao giờ cái nón cối đánh gục được họ. Đối với những người này, càng bị chụp mũ, họ càng đứng dậy, hiên ngang tiếp tục con đường tranh đấu cho đến ngày nhắm mắt.

Mong rằng những người trong hàng ngũ quốc gia thường xử dụng đòn chụp mũ hãy lấy lương tâm tìm hiểu nạn nhân. Thật tình mà nói, những người chống Cộng thật cô đơn, chính vợ con họ phản đối vì đã gây cho gia đình biết bao lo lắng buồn phiền mà còn bị những người thường về Việt Nam như bà con, thân nhân, bạn bè cũng như đồng hương, đồng chí… tránh né vì sợ Cộng sản khám phá ra có liên hệ thân thiết với những tên “cực kỳ phản động”ở nước ngoài!

Tóm lại, người trí thức quân tử dám nói dám làm, tôn trọng sự thật và sẵn sàng chấp nhận sai lầm của mình… Tiểu nhân, ngửa tay nhận ân huệ tiền bạc của bất cứ ai để thi hành bất cứ tội ác nào được giao phó từ ném đá giấu tay, mang tên ảo, rỉ tai, bôi xấu đến chụp mũ những người bị đối phương xếp vào loại “phản động”. Thế thì nuôi dưỡng bao che cho tiểu nhân làm gì để chúng tiếp tay Hà Nội, bôi nhọ những phần tử Quốc gia… để rồi cộng đồng sẽ thiếu nhiều chiến sĩ tiền phong trong hàng ngũ chống Cộng sản. Nếu còn chút lương tri, xin hãy nghĩ lại xem…

Older Posts »

Blog at WordPress.com.