Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

July 26, 2008

Video Hoang Sa – Viet cong ban nuoc cho Trung Quoc

Video Hoang Sa – Viet cong ban nuoc cho Trung Quoc

http://www.youtube.com/watch?v=-8KHYwxZTW8&feature=related

Ông Lê Hồng Hà Nói Gì Về Hoàng Sa & Trường Sa?
Vietnamese Truong Sa Hoang Sa for sell
Nguyen Minh Triet va Trung Cong
Nguyen Minh Triet va Trung Cong 2
Nguyen Minh Triet va Trung Cong 3

Bi Bat Vi Toi Yeu Nuoc

Advertisements

April 24, 2008

Nóng phỏng tay: Ghi âm các sứ quán VN ở Châu Âu, Mỹ trả lời về biểu tình HSTS, Hiến Pháp…

Audio:
 VA ( http://blog.360.yahoo.com/blog-fkTaeFY2dbKNOic32.Yv?p=9951#comments  ) cám ơn blogger Businesshoa ( http://uk.blog.360.yahoo.com/blog-0.peAwczbrXu6FHcXpFNMBR1tg–?cq=1&p=271&n=28500  ) thực hiện các ghi âm.

VA cám ơn blogger HSTS ( http://360.yahoo.com/profile-J1rBZgM5dKeJMsFcByvjDeBOoEn4TTHR  ) đã cung cấp links

Gọi cho đại sứ quán tại Hà Lan, không có người bắt máy,
phải chạy tít qua Đức và Bỉ…Tốn biết bao nhiêu tiền máy bay

gọi điện đại sứ quán VN ở Berlin
http://boomp3.com/listen/f4ynf2v/%C4%90%E1%BA%A1i-s%E1%BB%A9-qu%C3%A1n-viet-nam-t%E1%BA%A1i-berlin-%C4%90%E1%BB%A9c
http://boomp3.com/

Lạ …

Đại sứ quán đại diện cho 1 quốc gia

mà hỏi câu nào, trả lời không biết câu đó.

Thế gửi các bác ra nước ngoài làm gì?

đóng dấu visa thôi àh …

Hỏi: 29/4 TQ rước đuốc Olympic qua VN hả chị?

Trả lời: Không biết .

Hỏi: Người dân trong nước có quyền được biểu tình không?

Trả lời: Không biết .

1 điều không biết, 2 điều không biết…

Lại còn hỏi cả tên tuổi nữa

gọi điện đại sứ quán VN ở Bruxelle
http://boomp3.com/listen/doyk0if/%C4%91%E1%BA%A1i-s%C6%B0-quan-vietnam-t%E1%BA%A1i-bruxelle-b%E1%BB%89
http://boomp3.com  

Hỏi: 1958 Phạm Văn Đồng đã ký kết trao HSTS cho TQ

Trả lời: Cháu đã đọc tài liệu của bọn phản động

( ủa tài liệu của bọn TQ mà? )

Hỏi: Phản động là gì?

Trả lời: Bọn ăn nói không đúng đó.

Hỏi: Người dân trong nước có quyền được biểu tình không?

Trả lời: tham khảo báo chí…

Hỏi: nhưng sinh viên đi biểu tình bị bắt mà?

Trả lời: không chính xác!

gọi điện đại sứ quán VN tại Madrid Spain
http://boomp3.com/listen/du0ezvb/%C4%91%E1%BA%A1i-s%C6%B0-quan-vietnam-t%E1%BA%A1i-madrid-spain
http://boomp3.com/

Happy wá, gặp chú chứ không gặp cô nữa

chú này trả lời “hay” hơn 2 cô trước nhiều….

Mỗi tội chú nghĩ lâu wá mất bao nhiêu thời gian

Hỏi: Người dân trong nước có quyền được biểu tình không?

Trả lời: Ở trong Hiến Pháp thì được quyền

Hỏi: thế ở ngoài sự thật thì được không?

Trả lời: Vẫn có đấy chứ!

Hỏi: thế sao người biểu tình đều bị bắt và đàn áp?

Trả lời: cháu tận mắt chứng kiến hay chỉ nghe thế thôi?

Hỏi: nói sự thật xấu của Đảng, tại sao bị bắt vì tội phản động?

Trả lời: không bị bắt vì tội phản động
bắt vì vi phạm pháp luật!

gọi điện đại sứ quán VN tại San Francisco, USA
http://boomp3.com/listen/fgjuys7/%C4%91%E1%BA%A1i-s%C6%B0-quan-vietnam-t%E1%BA%A1i-washinton-dc-usa

thất vọng cái chú này …
tuyệt tình và lạnh lùng .. vô cùng… chú ấy đuổi cháu …

Hỏi: có quốc tịch Mỹ về VN phải xin Visa không?

Trả lời: vẫn phải xin Visa chứ?

Hỏi: chủ tịch Nguyễn Minh Triết nói đã bỏ rồi?

Trả lời: bỏ nhưng phải xin loại giấy khác thay Visa!

Hỏi: Muốn làm việc ở ĐSQ cần trình độ gì?

Trả lời: Nhà nước chưa có cơ chế!

Hỏi: Làm con ông to bà lớn có chức quyền thì được cử đi?

Trả lời: Rồi rồi rồi… Lượn đi!

http://blog.360.yahoo.com/blog-fkTaeFY2dbKNOic32.Yv?p=11194
http://blog.360.yahoo.com/blog-fkTaeFY2dbKNOic32.Yv?p=11109#comments

source

April 19, 2008

AI THỐNG TRỊ VIỆT NAM NGÀY NAY Đảng Cộng Sản Hà nội hay một Đảng Hán Ngụy ?

18/4/2008

Stephen B. Young

Có một tổ chức hiện nay cai trị Việt Nam từ Lạng Sơn đến Cà Mau như là vua chúa  Phong kiến ở Tàu hay ở Âu châu thời Trung cổ . Một bộ máy võ trang tập trung các quyền hành lớn trong tay; không được dân bầu lên, và dân tuyệt đối không có quyền kiểm soát hay phê bình. Tổ chức này mang tên là “Đảng Cộng Sản Việt Nam”.

 

Nhưng, thực sự, tổ chức nầy có phải là một Đảng đúng nghĩa của một đảng hay không?

 

Đáng lẽ ra một Đảng chánh trị phải có một chánh nghĩa, một sức mạnh do một lý tưởng, một nền tảng  triết lý hay lý  thuyết, một khuynh hướng thể hiện nguyện vọng của đảng viên để hành dộng nhằm phục vụ đất nước và dân tộc của mình.

 

Vì vậy, nếu cái gọi là Đảng Cộng Sản mà không phải là một Đảng đúng nghĩa, thì bộ máy đó là cái gi?

Một tập thể những người có chung một chí hướng tôn thờ người ngoài, một công ty làm ăn, một tổ chức mafia khai thác thị trường đất nước của họ chăng?

 

Như vậy chúng ta có vài tiêu chuẩn để đánh giá cái gọi là Đảng Cộng Sản bây giờ, đó là một đảng phái hay chỉ là một bọn làm ăn thiếu lương thiện?

 

Tôi đồng ý đã có thời gian cái goi là đảng Cộng Sản ngày nay có những hoạt động như là đảng phái đúng nghĩa. Nhưng những hoạt động ấy tốt xấu, hay dở, có lợi hay có hại cho đất nước Việt nam là chuyện khác .Tôi nói đó là một “thứ đảng phái ” vì lúc ấy đảng Cộng Sản theo ý thức hệ Mác-Lê, vận dụng chủ thuyết mác-lê làm cách mạng võ trang cướp chánh quyền thực dân . Tiếp theo, đảng cộng sản phát động cuộc cách mạng xã hội, tiến hành giai cấp đấu tranh, đấu tố địa điền chủ, ám sát công chức, trí thức, lãnh đạo tôn giáo, tịch thâu tài sản của người giàu có để sau cùng đưa giới lao động, những tên du thủ du thực, lên cầm quyền và khi vào Bộ chánh trị, lại lãnh đạo đất nước, dân tộc. Hành động của đảng cộng sản lúc đó có mục đích thi hành ”chính nghĩa xã hội chủ nghĩa ” theo ý  hệ Mác-Lê .

 

Nhưng từ lâu lắm rồi, cái gọi là đảng Cộng Sản không còn giống như trước đó nữa. Nó đã hoàn toàn biến chất để trở thành một cái gì khác hẳn. Tức nó không phải cộng sản, không mang nội dung mác-lê, không chủ trương giai cấp đấu tranh để tiến lên xã hội công bằng, người không bốc lột người, như kinh điển mác-lê dạy người cộng sản .

 

Cách đây vài năm , ông Đặng Quốc Bảo, Khoa giáo trung ương, trong một báo cáo phổ biến hạn chế cho đảng viên cao cấp, nói rằng “ hiện tại đảng Cộng Sản không còn chính nghĩa chút nào vì thuyết Mác-Lê lỗi thời và cũng không đúng, không khoa học ”. Theo ông Bảo, thì đảng cộng sản không nên áp dụng thuyết ấy nữa. Hai ông Mác và Lê đã nghĩ say về vũ trụ, về trời đất, về đời sống nhân loại. Vậy người thông minh phải vứt bỏ chủ thuyết Mác-Lê.

 

Nếu ông Bảo đánh giá lý thuyết Mác-Lê đúng, thì đảng Cộng Sản không có một chính nghĩa nào để vẫn khẳng định tiếp tục đưa Việt nam đi theo con đường củ mác-lê .

Vậy đảng cộng sản là cái gì? Chỉ là một tập hợp những người đầy tham vọng và quyền lực. Họ không khác gì một thứ giặc cướp đối với nhân dân.

 

Ông Bảo nói thêm rằng “tổ chức anh chị em cán bộ phải giử quyền cai trị Việt nam vài năm nữa, vì nếu không có một lực lượng mạnh giử ổn định chính trị xã hội, thì nước sẽ loạn và dân sẽ khổ ”.

 

Lấy sự ổn định làm chính nghĩa của mình không có ý nghĩa tốt đẹp vì hoàn toàn thiếu thuyết phục. Chính nghĩa ổn định, nhiều người bình thường có thể nói và thi hành . Cần gì phải có cái gọi là đảng Cộng Sản với 3 triệu đảng viên, với vai trò lãnh đạo toàn diện đất nước và xã hội ?  Quân Đội làm được. Phật Giáo làm được. Việt Quốc làm được. Ai cũng hy vọng làm được. Cái gọi là đảng Cộng Sản không thể tự cho là chỉ có họ mới làm được.

 

Theo tuyên truyền của đảng cộng sản, trong quá khứ, họ có công đức lớn để đứng trên và trước mọi người khác. Tức họ cho rằng họ có vai trò lịch sử

 

Có đúng như vậy không? 

 

Để trả lời, giờ đây, Bộ Chính Trị hảy tổ chức gọi hồn các đồng chí của họ đã chết, chết vì hi sinh hay chết oan vì đảng cũng được, để hỏi công việc đảng làm. Rồi, có lẽ họ nên gọi hồn để hỏi cái gọi là đảng cộng sản thật sự có công đức với dân tộc việt nam hay không?  Rồi, họ có thể gọi hồn để hỏi đảng cộng sản tại sao ngày nay vẫn nói đi theo mác-lê, mà trên thực tế không thấy xã hội việt nam chuyển biến theo mô hình  ” chính nghĩa Mác-Lê.” một chút nào nữa  Vậy thì cái đảng này nên tự giải tán, và có mang tội với đất nưóc, với dân tộc không? 

Chúng tôi cũng có thể gọi hồn như Bộ Chính Trị.  Chúng tôi có thể gọi hồn các vị cũng nằm xuống, vì nhiều lý do khác nhau, hỏi họ về công đức của cái gọi là đảng Cộng Sản.

Thí dụ, hỏi Đức Huỳnh Giáo Chủ của Phật Giáo Hòa Hảo, hỏi ông  Trương Tử Anh, Đảng trưởng Đại Việt Quốc Dân Đảng , ông Lý Đông A, Thư ký trưởng Đảng Duy Dân, các nhân sĩ yêu nước Ngô Đình Khôi, Nguyễn văn Bông, Tạ Thu Thâu, Nguyễn An Ninh, Hồ văn Ngà, Phan văn Hùm, Nguyễn văn Sâm, … và những người dân Huế chết hồi Tết Mậu Thân, vân, vân, … cho đến 1 ,2 triệu người Việt nam bình thường khác, chết trên biển cả, trong rừng sâu, trong các trại tù rải rác khắp cả nước .

Gọi hồn tất cả những người này về và lắng tai nghe họ nói số phận của dân tộcViệt nam từ khi  Đảng Cộng Sản  vận dụng “ chính nghĩa Mác-Lê ” để cướp lấy quyền lãnh đạo đất nước và giử độc tôn cho đảng .

Xin trả lời: Công đức ở đâu?

Bằng chứng thứ hai cho thấy cái gọi là đảng Cộng Sản là một đảng thì đảng ấy có hành động cụ thể như thế nào?

Ngoài sự hiểu biết, sự suy nghĩ, sự tính toán của con người, các hành động của người đó phải cho chúng ta thấy rõ, một cách minh bạch, để kết luận người đó tốt hay xấu, giỏi hay dở, đạo đức hay gian ác, cần tồn tại hay nên vứt đi thôi ?

Cái gọi là đảng Cộng Sản đó, cách đây 8 năm, đã tự động hiến dâng  đất đai của tổ tiên để lại cho Bắc Triều mới . Và cả biển nữa  Tại sao?

 

Để đáp ứng sự đòi hỏi của Bắc Triều mới ? Phải.

Ở điểm này, chúng ta hảy nhìn rõ. Cái gọi là đảng Cộng Sản đó vì nhu cầu tồn tại đã dâng đất, dâng biển cho Bắc kinh. Đây là nhu cầu sanh tử. Đảng cộng sản phải làm một việc tội lỗi như vậy chỉ vì đảng lo sợ nhân dân Việt nam hỏi tội của họ đối với tổ quốc và nhân dân từ trước đến giờ. Mà nhân dân hỏi tội có nghĩa là đảng sẽ bị mất quyền cai trị. Hoặc một vụ Thiên An Môn Việt nam sẽ xảy ra .Trước nỗi ám ảnh mất quyền lực, đảng cộng sản cần sự ủng hộ, sự tiếp tay của Bắc Triều mới, mặc dầu có tổn hại đến quyền lợi tối thượng của Quốc gia .

 

 Như vậy đảng cộng sản ở Hà nội không thể tự cho là một đảng có chính nghĩa yêu nước được, mà phải bị kết án là một đảng bán nước mới đúng.

 

Nếu  đảng Cộng Sản hà nội chuyên tâm phục vụ cho đòi hỏi , tham vọng của Bắc Triều mới, thì Việt nam tất nhiên phải lâm nguy làm thân nô lệ cho Hán Tộc. Nếu chỉ có riêng cái đảng cộng sản làm nô lệ hán tộc thì chúng ta hà tất phải tốn lời.

 

Thực tế ở Việt nam cho ta thấy công an, tình báo của Việt Nam đều do công an, tình báo Trung Quốc đào tạo và cố vấn. Nhờ đó mà công an, tình báo hà nội mới có đủ bản lãnh đàn áp những người dân chủ ở Việt nam, đàn áp dân oan nạn nhân của những vụ đất đai bị đảng cộng sản tước đoạt, đàn áp những vụ biểu tìng chống Trung quốc xăm chiếm đất đai bằng vũ lực và thô bạo .

 

Nhìn lại lịch sử Việt nam thì từ thời Ngô Quyền đến nay, chỉ có vài nhà vua Việt nam theo Bắc Triều một cách xấu hổ như vậy. Có Nhà Mạc phải xin sự ủng hộ của Hoàng đế phương Bắc để đối phó với Nhà Lê. Có vua Lê Chiêu Thống xin Trung Quôc gởi binh qua Hà nội để đánh anh em Nhà Tây Sơn. Có vua Gia Long và Minh Mạng lấy y thức hệ Tống Nho của Nhà Thanh bên Tàu để làm nền tảng đạo lý xây dựng uy quyền cho Nhà Nguyễn . Nhưng các ông vua này không làm mất đất, mất biển vào tay ngoại bang chỉ vì quyền lợi riêng tư như đảng cộng sản ngày nay.

 

Cầu viện thường hay lệ tuộc tư tưởng của kẻ khác, khó tránh khỏi bị dẩn đến mất chánh nghĩa quốc gia. Phải chăng vì thế mà Nhà Mạc đã không thắng Nhà Lê, vua Lê Chiêu Thống thua Quang Trung Nguyẽn Huệ. Riêng Nhà Nguyễn vì chọn lựa sai lầm học thuyết lỗi thời mà cứ khăn khăn ôm giử nên thua người Pháp. Tức một thứ lệ thuộc tư tưởng.

 

Khi có được chổ dựa mạnh là Bắc kinh, cái gọi là đảng Cộng Sản sẽ đánh bại được toàn dân Việt nam chăng? Tức đảng cộng sản vỉnh viển đàn áp, bốc lột nhân dân chăng?

 

Mới đây khi nghe tin Bắc Kinh tổ chức Hoàng Sa và Trường Sa trở thành môt đơn vị hành chánh mới trực thuôc Tỉnh Hải nam, lập tức xảy ra nhiều cuộc biểu tình của dân chúng thanh niên, sinh viên ở TP Hồ Chí Minh, ở Hà nội, chống chánh sách xăm lược của Trung Quốc . Cái gọi là Đảng Cộng Sản không dám lên tiếng phản đối kẻ cướp đất, trái lại thô bạo đàn áp dân chúng công khai bày tỏ lòng yêu nước. Khí thế của nhân dân việt nam bây giờ làm cho đảng cộng sản hà nội bắt đầu lo sợ. Nếu đảng cộng sản khôn ngoan thì hảy thấy ở đây, tức ở nhân dân, mới là chổ dựa vửng chắc hơn thế của Trung Quốc .

 

Nhưng cái gọi là Đảng Cộng Sản nghe theo ai?

Buồn mà nói. Vì nói cho đúng thì phải nói lớn và nói rỏ phe nhóm cai trị Việt Nam hiện nay là một bọn Hán Ngụy.

 

Tiếc vì chúng tôi biết chắc chắn có nhiếu đảng viên của cái gọi là Đảng Cộng Sản không muốn như vậy. Họ thương dân, yêu nước thật lòng. Nhưng họ lo sợ, có thể vì bất lực, cho sự an nguy của bản thân và gia đình trước những thủ đoạn khéo léo, gian ác, đê hèn của lực lượng Công An, Tình Báo đang có mặt kắp nơi rình rặp.

Bọn Hán Ngụy thật sự không có nhiều người, nhưng họ có thế mạnh và nhiều tiền bạc . Họ quyết tâm giữ quyền lực cai trị đất nước mãi mãi  Họ sẽ làm cái gì phải làm để không mất địa vị cầm quyền, tức quyền làm ăn, làm giàu của họ.

 

Lệ thuộc Bắc Kinh, đối với họ, là một giá phải trả, họ chấp nhận trả, để có phương tiện ổn  định xã hội chính trị Việt nam, tức duy trì chế độ độc tài toàn trị . Ổn định là cho quyền lợi của họ . Đất nước đối với họ chỉ là phương tiện trao đổi.

 

Trung Quốc có một triết lý bình định thiên hạ từ đời Tần Thủy Hoàng  Ông ấy lấy ý kiến của phái Pháp Gia gồm lý thuyết âm dương, ngũ hành để kiến tạo thái hòa.  Làm chính trị như vậy không theo sự giảng dạy của Khổng Mạnh, trái lại, đưa ra chính sách đại đoàn kết, giữ phép nước dưới sự lãnh đạo đọc tôn theo một vị hoàng đế . Đó là thuyết của Mặc Địch .

 

Cái đạo chính trị này – “ hoàng đế chính thuyết ”– là lý thuyết xây dựng xã hội không cần nghe ý dân. Đi từ trên xuống, không phải từ dân lên. Ngày nay là tập trung dân chủ, tức dân chủ xã hội chủ nghĩa và tư tưởng hồ chí minh. Hoàng Đế nghe trời, ra lịnh và thiên hạ phải tuân theo. Dân không nghe theo thì sẽ bị phạt, nặng nhẹ tùy theo mức độ của sự phản bội, bất hiếu đối với chế độ.

 

Một ông Hoàng Đế không cần đức, không cần uy tín mà vẫn giữ được ổn định xã hội. Hiếu nghĩa thay thế nhân nghĩa. Cấp trên nói cái gì thì cấp dưới vâng dạ theo răm rắp. Nói vô phép, mất dạy, thì bị phạt, không được phần thưởng.

 

Đạo làm hoàng đế có mục đích lấy ý trời và qua cơ cấu hành chánh, ép thiên hạ vâng lịnh làm theo ý đó, mặc cho họ muốn hay không.

Trong lịch sử Việtnam, các Nhà Lý, Trần và Lê không lấy đạo Hoàng Đế của Bắc Triều để trị dân. Nhà Lý và Nhà Trần theo đạo Phật. Nhà Lê cho đến Vua Lê Thánh Tôn theo quan điểm nhân nghĩa do Nguyễn Trãi viết ra.

Vua Lê Thánh Tôn bắt đầu theo chủ nghĩa Bắc Triều , tức lấy Tống Nho bênh vực ngôi vị Hoàng Đế một cách mù quán với đạo hiếu nghĩa cha mẹ, vua chúa . Đến Nhà Mạc, Chúa Trịnh, thì ảnh hưởng Tống Nho ở cấp quan văn và các đại gia đình quan chức mở rộng. Nhà Nguyễn áp dụng Tống Nho và quan điểm hoàng đế, đưa triều đình Huế đi theo gương Nhà Thanh bên Tàu.

 

Trước đây, cái gọi là đảng Cộng Sản chụp mũ những người Việt nam không Cộng Sản mà hợp tác với Mỹ Quốc để giữ độc lập cho miền Nam Việt Nam là “Mỹ Ngụy” .

 

Bây giờ, nhìn về quá khứ thì chúng ta có thể đánh giá ai có công lớn hơn cho Dân Tộc Việt nam: Mỹ Ngụy hồi đó hay Hán Ngụy bây giờ  ?

Người Mỹ khi họ giúp các Chính Phủ Việt nam Cộng Hòa, khi họ làm cố vấn cho Chính phủ và quân đội quốc gia, họ thật sự muốn gì? Họ khuyến khích người Quốc Gia làm gì? Họ đòi hỏi Chính Phủ Sài gòn có chính sách nào?

 

Nói chung, người Mỹ từ Tổng Thống Eisenhower cho đến Tổng Thống Nixon, từ Đại Sứ Elbridge Durbrow cho đến Đại Sứ Ellsworth Bunker, tất cả đều yêu cầu Chính Phủ Sài gòn lo cho dân, áp dụng chế độ hiến trị, tổ chức các cuộc bầu cử từ xã ắp đến trung ương, trong sạch, dân chủ, cải cách ruộng đất, phát triển kinh tế, mở rộng giáo dục theo tôn chỉ tôn chỉ “nhân bản, khoa học, khai phóng ” …

 

Đối với Mỹ thì ý dân là hơn ý trời. Mỹ không bao giờ theo “ hoàng đế chính thuyết ”.

 

Như vậy làm Mỹ Ngụy là chọn phương pháp lo cho dân, cho quê hương Việt nam, cho văn hóa, đạo đức dân tộc. Người Mỹ đến Việt nam, không ở lại Việt nam. Và “dân ngụy.” không hiến dâng đất dai, biển cả cho ngoại bang. Hơn nữa, trong lịch sử, người Mỹ không làm thuộc địa, không làm Thái thú, chỉ làm bạn đồng minh giai đoạn.

Cờn người Việt nào bây giờ làm Hán Ngụy thì phục vụ ai  Họ có lo sợ số phận Tổ quốc của họ không ? Hay chỉ có chung một thứ Tập hợp những người cùng chí hướng tôn thờ quyền lợi bản thân mà thôi?

    Stephen B. YOUNG

( DT baimoi0408_264.html )

April 18, 2008

Mấy năm gần đây Tắc kè csvn tưởng niệm vua Hùng nhằm thủ đoạn gì ?

Sau nhiều năm dài csvn TÔN THỜ thánh MAC-LE-Mao ở khắp mọi nơi trên đất nước VN, quên đi các Vua hùng VN (đọc di chúc HCM), csvn đã bắt đầu ĐỔI MÀU để LỪA BỊP người dân, để đối phó với tình hình mới khi CNCS đã sụp đỏ trên quê hương của nó, khi cái mặt nạ bán nước cầu vinh đã rơi xuống qua công hàm bán nước của TT Phạm Văn Đồng (12/2007) và lời tuyên bố sát nhập HS TS của TQ vào huyện Hải Nam TQ, qua thái độ nhu nhược ngụy biện của csvn, và qua việc đàn áp thanh niên yêu nước biểu tình phản đối TQ …

Csvn đã hiện nguyên hình là thái thú của TC, là cai thầu của tư bản đối với giai cấp công nông và đồng bào VN !
Chúng ta đang mất nước !!!


Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương tại TP.HCM
http://www4.thanhnien.com.vn/Xahoi/2008/4/15/234650.tno
http://www4.thanhnien.com.vn/Xahoi/2008/4/16/234729.tno

Chừng nào TC trả lại VN Hoàng Sa Trường Sa thực sự ?
Đcsvn làm gì cụ thể để lấy lại HS TS  ??
Tại sao csvn lại đàn áp, khủng bố sinh viên biểu tình phản đối TC v/v chiếm HS TS ??
Đài Loan không cho TC rước đuốc qua ĐL, trong khi csvn lại chấp nhận cho TC rước đuốc tại Saigon, Hoàng Sa, đang có tranh chấp chủ quyền về hải đảo này và TC lợi dụng Olympics để giới thiệu với công luận là HS TS thuộc TC và  gài nhân dân VN “ủng hộ”  (thể thao Olympics = công nhận HS TS là của TC) !!

Chừng nào csvn quốc tế hóa vụ TC lấy HS TS của VN ??
Trước Liên hiệp quốc và tòa án quốc tế ! 

Vì “thương lượng” ngoại giao song phương là vô ích  :
ăn nói làm sao với cái công hàm PVĐ 14/9/1958 ?  (dù không giá trị về luật pháp, nhưng giá trị giữa 2 đcs !!)
Csvn cần ô dù của csTQ để tồn tại, cầm quyền !

Ru ngủ, lừa mị dân !!
(trong giai đoạn nhân dân phản nộ về vụ csvn dâng HS TS cho TC, và phản đối rước đuốc Olympics tại Saigon, Hoàng Sa, TS)

“Bác anh hùng, tôi cũng anh hùng,

Bác mang 1 nước qua nô lệ,

Tôi dẫn 5 châu đến đại đồng

Bác có linh thiêng cười 1 tiếng,

rằng tôi cách mạng đã thành công”

(HCM đọc thơ trước tượng đức thánh Trần)

March 26, 2008

Phỏng Vấn GS Nguyễn Văn Canh Về Đuốc Thế Vận

Phỏng Vấn Giáo Sư Nguyễn Văn Canh Về Sự Kiện Đuốc Thế Vận Bắc Kinh 2008 Vào Saigon Ngày 30-04

 

Dân chúng Tây Tạng nổi dậy đòi độc lập bị lính Trung Cộng bắt

 

Trong mấy ngày qua Ủy Ban Bảo Vệ Sự Vẹn Toàn Của Lãnh Thổ đã gởi ra một bức văn thư lên tiếng về sự kiện ngọn đuốc thế vận hội Bắc Kinh 2008 sẽ đến Saigon đúng ngày 30-04-2008; chúng tôi đã liên lạc với giáo sư Nguyễn Văn Canh để tham khảo ý kiến của giáo sư về sự kiện này. Xin mời quý bạn đọc theo dõi.

 Tốc Độ 56K Modem

 Lấy Xuống Máy Nghe

 Xin bấm vào đây để nghe

 Xin bấm vào đây để lấy xuống máy nghe

March 23, 2008

Hãy Cùng Nhau Chống Cuộc Rước Đuốc Olympic Bắc Kinh 2008

Tác giả: Trung Điền

Ngày gởi đăng: 3/22/2008

bejinglogo.jpg

Trong những ngày vừa qua, hàng ngàn nhà sư Tây Tạng đã cùng nhau xuống đường đòi độc lập và tố cáo sự đàn áp chính trị của nhà cầm quyền Bắc Kinh tại Thủ đô Lhara của Tây Tạng, đã tạo một sự chú ý đặc biệt nơi công luận. Cuộc đấu tranh của các nhà sư Tây Tạng đã làm cho nhà cầm quyền Trung Quốc hoảng sợ vì có thể tác động lên các nhóm sắc tộc khác cùng đứng lên đòi độc lập trong bối cảnh chuẩn bị Lễ Hội Olympic sẽ khai mạc vào tháng 8 tại Bắc Kinh. Do đó mà Bắc Kinh đã một mặt ra lệnh trấn áp các cuộc biểu tình, bắt giữ hơn một ngàn người, giết chết hơn 100 nhà sư Tây Tạng trong hai ngày cuối tuần vừa qua. Mặt khác Bắc Kinh đã ra lệnh cho hàng chục sư đoàn bộ đội tiến vào Tây Tạng để ngăn chận các cuộc nổi dậy có thể xảy ra. Trong khi đó, Thủ tướng Trung Quốc đã tố cáo Đức Daila Lama Tây Tạng xúi giục những nhà sư Tây Tạng nổi dậy nhằm phá hoại Lễ Hội Olympic, cũng như ra lệnh cho quân đội phải đặt trong tình trạng khẩn cấp để ứng phó trước các cuộc nổi dậy có thể xảy ra trong Hoa Lục.

Những diễn tiến xảy ra tại Tây Tạng trong hai ngày cuối tuần vừa qua, trên bề mặt là một biến cố bất ngờ đối với dư luận thế giới; nhưng nó là cuộc nổi dậy có chuẩn bị từ trước nằm trong một chuỗi những phản kháng mà các lực lượng dân chủ của những sắc dân Tây Tạng, Nội Mông, Tân Cương và các tổ chức dân chủ Trung Quốc tính toán từ trước. Mục tiêu của họ không chỉ là vận động công luận tẩy chay Olympic 2008 tại Bắc Kinh mà còn khai thác sự chú tâm của nhà cầm quyền Trung Quốc trong việc tổ chức Olympic ở Thủ đô, để mở ra hàng loạt các cuộc nổi dậy tại địa phương nhằm đặt nhà cầm quyền Bắc Kinh ở vào thế lúng túng đối phó, đặc biệt là từ ngày 23 tháng 3, ngày bắt đầu lễ rước đuốc Olympic diễn ra ở Hy Lạp kéo dài cho đến giữa tháng 8 năm 2008. Do đó mà cuộc nổi dậy của các nhà sư Tây Tạng trong hai ngày cuối tuần vừa qua có thể được coi là sự khơi mào cho thế tấn công toàn diện của các lực lượng dân chủ Trung Quốc nhắm vào Lễ Hội Olympic. Đặc biệt là trung tuần tháng 4 tới đây, một Hội nghị quy tụ các lực lượng dân chủ Trung Quốc sẽ khai mạc tại Tokyo, thủ đô Nhật Bản để đúc kết những nỗ lực vận động chống Olympic. Những hoạt động chống đối của các lực lượng dân chủ Trung Quốc đang làm cho nhà cầm quyền Bắc Kinh điên đầu đối phó vì họ rất lo ngại rằng sẽ có những cảnh rối loạn ngay trong những ngày diễn ra lễ hội Olympic không chỉ ở Bắc Kinh mà còn ở nhiều địa phương.

Nhà cầm quyền Bắc Kinh rất muốn Lễ Hội Olymic 2008 diễn ra suông sẻ và thành công, vì lễ hội này sẽ tạo một bước ngoặc lớn cho thế đứng của Trung Quốc nhằm chứng minh với thế giới về cái gọi là sự thành công của con đường cải cách ‘thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa’. Đồng thời qua lễ hội này, Bắc Kinh sẽ vươn lên một tư thế mới – siêu cường không địch thủ – ở tại Á Châu. Những bước đi của Trung Quốc nói trên chắc chắn sẽ giúp phát triển thế bá quyền của họ đối với các nước lân bang. Trong bối cảnh đó, Việt Nam sẽ mãi mãi rơi vào thế chèn ép của Bắc Kinh nếu không chọn một thế đứng độc lập. Dưới sự cai trị của tập đoàn lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay, Việt Nam khó có thể thoát ra khỏi thế chèn ép của Bắc Kinh khi mà nhóm lãnh đạo coi quyền lợi phe nhóm của họ cao hơn các quyền lợi của dân tộc trước những xâm phạm lãnh thổ của Bắc Kinh. Chỉ có sức mạnh đấu tranh của dân tộc Việt Nam mới có thể cứu đất nước ra khỏi sự chèn ép và khống chế của Bắc Kinh. Lễ Hội Olympic Bắc Kinh 2008 là một cơ hội để cho dân tộc Việt Nam biểu hiện sự phản kháng với nhiều ý nghĩa:

Đó là tố cáo sự ươn hèn của lãnh đạo Hà Nội trước các hành động xâm phạm lãnh thổ của Bắc Kinh.

Đó là tẩy chay mọi sự cộng tác của Hà Nội đối với Bắc Kinh để cho thấy là dân tộc Việt Nam không ủng hộ quan hệ của đảng Cộng sản Việt Nam đối với nhà cầm quyền Bắc Kinh.

Đó là tạo thế liên đới với các lực lượng dân chủ Trung Quốc để đánh sập thế bá quyền của Bắc Kinh đồng thời tạo động lượng cho những xoay chuyển dân chủ tại Trung Quốc, Việt Nam và Tây Tạng.

Ngày 29 tháng 4 năm 2008, Cộng sản Việt Nam sẽ tổ chức một cuộc rước đuốc Olympic Bắc Kinh 2008 tại thành phố Sài Gòn. Đây là thành phố thứ 20 trong lộ trình di chuyển đuốc Olympic 2008 đến các thành phố trên thế giới để tuyên truyền cho Olympic tại Bắc Kinh. Đây là cơ hội rất tốt để cho dân tộc Việt Nam biểu hiện bằng hành động cụ thể vừa phản kháng bản chất bá quyền và xâm lăng của Trung Quốc, vừa tố cáo sự ươn hèn của tập đoàn lãnh đạo Hà Nội để mất các lãnh đảo, các khu vực biên giới vào tay Bắc Kinh. Sự biểu hiện hành động trong ngày 29 tháng 4 tới đây, không đòi hỏi mọi người phải làm những điều gì khó nhọc. Việc làm này không chỉ giới hạn những người đang sống tại Việt Nam mà ngay cả tại hải ngoại. Đó là hãy cùng nhau kêu gọi mọi người và kêu gọi cả chính mình và người thân, hãy mặc áo trắng đi ra khắp các đường phố Sài Gòn, vào ngày 29 tháng 4 năm 2008. Hãy cùng nhau ra ngoài đường, hãy mặc áo trắng và hãy cùng gặp nhau chào hỏi để biến ngày 29 tháng 4 là ngày khởi đầu của một sự tập họp.

Có người lo ngại rằng, nếu hô hào mọi người túa nhau ra đường đông đảo, Cộng sản Việt Nam sẽ quay hình và dùng sự đông đảo này để tuyên truyền rằng dân chúng đã hưởng ứng lời kêu gọi của họ ra đường ‘chào đón’ đuốc Olympic mà dâng cho Bắc Kinh. Điều lo ngại này có thể đúng nhưng chế độ chỉ có thể tuyên truyền với bên ngoài; đối với đồng bào khắp nơi, chúng ta hiểu rõ ý nghĩa hành động của mình: hàng ngàn người cùng mặc áo trắng, cùng xuất hiện trên các đường phố trong một ngày để nói lên tiếng nói phản kháng mạnh mẽ của tập thể – công khai và bất bạo động – khởi đầu một tiến trình đấu tranh trên đường phố mà công an sẽ khó có thể đàn áp hay trù dập. Khi đã có số đông quần chúng trên đường phố Sài Gòn và cùng đồng lòng chống sự bá quyền của Trung Quốc về việc cưỡng chiếm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, người ta sẽ không thể im lặng nhìn nhau mà phải nói lên sự căm hờn dân tộc: Phản Đối Bắc Kinh. Tẩy Chay Olympic 2008. Bắc Kinh Phải Trả Lại Hoàng Sa và Trường Sa cho Việt Nam….

Hãy cùng nhau mặc áo trắng và bắt đầu những nỗ lực thật đơn giản nhưng phù hợp với nỗi trăn trở của mọi người về những phần lãnh thổ đang bị Bắc Kinh xâm chiếm. Nếu chúng ta không hành động, không lên tiếng thì ai sẽ làm cho chúng ta? Chẳng lẽ chờ cho thế hệ con cháu mai sau đứng lên đòi dùm lại cho thế hệ cha ông? Không thể nào trao cái nhục đó cho thế hệ mai sau. Thế hệ của chúng ta phải sòng phẳng với lịch sử.

Ngày 29 tháng 4, ngọn đuốc xâm lăng của bá quyền Bắc Kinh do đảng Cộng sản Việt Nam rước đến Sài Gòn còn là một điều ô nhục cho chúng ta – đánh dấu 33 năm Quốc Hận – về ngày tủi nhục 30 tháng 4. Chúng ta không thể im lặng nhìn con em chúng ta bị nhà cầm quyền Hà Nội bắt cầm đuốc và ca hát chạy trên đường phố Sài Gòn để cổ võ cho thế bá quyền Bắc Kinh. Đây là hình ảnh vô cùng nhục nhã cho dân tộc. Chúng ta không thể chấp nhận được. Vậy thì mọi người Việt Nam trong và ngoài nước hãy liên đới đứng lên, biến tuần lễ Quốc Hận 30 tháng 4 năm nay thành một chiến dịch tố cáo sự ươn hèn của Hà Nội đã nhượng đất, dâng biển cho bá quyền Bắc Kinh, và làm bùng nổ phong trào đấu tranh dân chủ tại Việt Nam.

Trung Điền

March 19, 2008

Hoàng Sa Trường Sa – Nhìn lại một lịch sử đau thương & Tương lai tăm tối

beijingflameroute1.jpg

Pha Lê

Ngày 6 tháng 9 năm 1951 tại Hội nghị San Francisco về Hiệp ước Hoà bình với Nhật Bản, vốn không chính thức xác định rõ các quốc gia nào có chủ quyền trên quần đảo, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu (chính phủ Bảo Đại) tuyên bố rằng cả quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa đều thuộc lãnh thổ Việt Nam, và không gặp phải kháng nghị hay bảo lưu nào từ 51 nước tham dự hội nghị.

Ngày 4 tháng 9 năm 1958: Chu Ân Lai, Thủ tướng nước CHNDTH công khai tuyên bố với quốc tế về quyết định của Chính phủ Trung Quốc về hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của Hoa Lục, có đính kèm bản đồ về đường ranh giới lãnh hải rất rõ ràng (trong đó bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa).

Ngày 22 tháng 9 năm 1958, báo Nhân Dân số 1653 đăng công hàm của Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Quốc vụ Viện Trung Quốc, ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ Trung Quốc quyết định về hải phận.

Vì còn nghèo nàn nên chúng ta phải chịu nhục nhã mà gác nỗi đau mất nước qua một bên để phát triển kinh tế, nhưng bọn bá quyền vẫn không từ bỏ tham vọng nuốt trọn hải đảo thiêng liêng của chúng ta, bất chấp luân thường đạo lý!

17 đến 19 tháng 1 năm 1974 Trung Quốc dùng vũ lực xâm chiếm Hoàng Sa, 58 chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa anh dũng hi sinh làm rung động hàng triệu con tim miền Nam Việt Nam!

Ngày 14 tháng 3 năm 1988 Trung Quốc dùng vũ lực xâm chiếm phần lớn Trường Sa, 64 chiến sĩ Quân Đội Nhân Dân Việt Nam hi sinh giữa biển khơi, nhân dân Việt Nam phải gánh chịu nỗi đau và nỗi nhục mất đất lần thứ hai!

Từ đó đến nay vùng hải đảo Hoàng Sa thiêng liêng đã bị Trung Quốc chia lìa ra khỏi non sông, vùng hải đảo Trường Sa thiêng liêng cũng bị Trung Quốc và các nước khác xâu xé.

Vì còn nghèo nàn nên chúng ta phải chịu nhục nhã mà gác nỗi đau mất nước qua một bên để phát triển kinh tế, nhưng bọn bá quyền vẫn không từ bỏ tham vọng nuốt trọn hải đảo thiêng liêng của chúng ta, bất chấp luân thường đạo lý!

Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng

 

Ngày 12 tháng 1 năm 2005 Trung Quốc bắn chết 9 ngư dân Việt Nam ngoài biển khơi, bắt giam 8 ngư dân vô tội, nhân dân Việt Nam giật mình vì hành vi man rợ của Trung Quốc đối với các ngư dân tay không tấc sắt!

Tháng 11 năm 2007 Quốc vụ Viện Trung Quốc tuyên bố thành lập thành phố cấp huyện Tam Sa bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, âm mưu chiến trọn biển Đông, nhân dân Việt Nam phẫn nộ lên tiếng!

Ngày 9/12 và 16/12 sinh viên trí thức ở Hà Nội và Sài Gòn không thể tiếp tục chịu đựng nỗi nhục mất nước đã biểu tình ôn hòa trước Đại Sứ Quán và Lãnh Sự Quán Trung Quốc để phản đối hành vi bá quyền của Trung Quốc, mở đầu cho hàng loạt cuộc biểu tình của đồng bào và du học sinh Việt Nam yêu nước trên khắp thế giới.

Nhưng khi “Lòng dân không là ý Đảng”, phản ứng của chính phủ Việt Nam khi Trung Quốc yêu cầu Việt Nam ngăn chặn biểu tình: “…Đây là việc làm tự phát chưa được phép của các cơ quan chức năng Việt Nam. Khi các vụ việc trên xẩy ra bảo vệ của Việt Nam đã kịp thời có mặt, giải thích và yêu cầu bà con chấm dứt việc làm này”. Hàng triệu thanh niên Việt Nam trên khắp thế giới hụt hẫng trước phản ứng của chính quyền, lòng tự trọng bị tổn thương, nhân dân Việt Nam cắn môi chấp nhận nỗi nhục mất nước để chờ Đảng giải quyết, nhưng hãy nhìn lại xem họ đã làm những gì?

Vinh hạnh đón cướp vào nhà

Ngày 04 tháng 10 năm 2007 báo Thanh Niên Việt Nam đăng tin “Để trở thành người rước đuốc Olympic Bắc Kinh 2008”, phát động cuộc thi “Tự hào là người rước đuốc Olympic 2008”. Sẽ không có gì đáng nói vì với truyền thống mến khách, yêu hòa bình, người dân Viêt Nam sẵn sàng chào đón một ngọn đuốc Olympic đúng nghĩa, nhưng nhìn lại hành trình rước đuốc Olympic Bắc Kinh 2008 được Trung Quốc công bố trước thế giới, nỗi nhục ngoại xâm, nỗi đau mất nước lại dâng trào lên mạnh mẽ trong mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam bởi Trung Quốc đã ngang nhiên rước đuốc qua Hoàng Sa đang tranh chấp với Việt Nam, Trung Quốc còn ngang ngược thể hiện rõ hình ảnh một phần máu thịt của biển đảo Việt Nam như là một phần lãnh thổ không thể tách rời khỏi lãnh thổ Trung Quốc.

Một lần nữa Trung Quốc đã động đến nỗi đau của nhân dân Việt Nam với lòng yêu nước nồng nàng, đã chà đạp lên lòng tự trọng của một dân tộc với 4000 năm Văn Hiến dựng nước và giữ nước!

Chắc chắn đã có một sự sắp đặt nào đó để lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, cả nước, cả dân tộc cùng vinh hạnh chào đón một “tên cướp ngang ngược nhất mọi thời đại” mặc dù đã biết rằng chỉ chốc lát nữa đây nó sẽ khoe khoang cái tài sản mà nó đã cướp được bằng cách dẫm đạp lên thân xác của hàng trăm chiến sĩ Việt Nam đã đánh đổi mạng sống của mình để bảo vệ danh dự cho dân tộc.

Ngoại trừ việc phải chấp nhận rằng Hoàng Sa đã là của Trung Quốc và sự hi sinh của hàng trăm chiến sĩ ngoài biển khơi là vô ích thì lương tâm của bất cứ người Việt Nam nào cũng phải có cùng một câu hỏi dành cho nhà nước Đảng quyền hiện tại: “Tại sao?…Tại sao lại như thế?…”

Và liệu rằng chúng ta có đủ cam đảm để chờ đợi một câu trả lời xác đáng của chính quyền, liệu rằng chúng ta có thể tin tưởng và giao phó vận mệnh, danh dự, đất đai của dân tộc cho một chính quyền đã từng bán đứng dân tộc của mình chăng?

Nhớ lại khi Mỹ đánh Irac, chính quyền đã cho phép Đoàn Thanh Niên biểu tình chống Mỹ, vậy mà giờ đây khi bọn trộm cướp vào nhà mình thì chính quyền lại huy động lực lượng chào đón cướp, lại chọn lựa những người “xuất sắc” và nổi tiếng nhất đại diện cho cả quốc gia cầm đuốc soi đường cho cướp vào tận nhà, một sự trớ trêu mà chắc chắn rằng Đức Thánh Trần Hưng Đạo không bao giờ có thể nghĩ đến con cháu Ông sau này có thể làm một việc nhu nhược đến hèn hạ như thế! Nhà tiên tri lỗi lạc Nguyễn Bỉnh Khiêm không thể nào tin được một dân tộc chống ngoại xâm bất khuất lại có thể điên rồ như thế, cho dù chính Ông có tiên đoán ra đi nữa!

Một tương lai tăm tối

 Hãy thử tưởng tượng nếu Trung Quốc chiếm trọn Hoàng Sa, Trường Sa và thôn tính Biển Đông thì điều gì sẽ xẩy ra? Việt Nam sẽ mất khoảng 1 triệu km2 tức gấp ba lần diện tích đất liền hiện tại, toàn bộ tài nguyên khoán sản trong những khu vực có trữ lượng dầu khí lớn nhất thới giới chưa khám phá ra sẽ về rơi vào cái túi không đáy của Bắc Kinh, toàn bộ hải sản và các tài nguyên khác cũng chịu chung số phận. Đó là chưa kể những mối nguy hại về chính trị, quân sự, một tuyến đường biển quan trọng vào bậc nhất thế giới sẽ do Trung Quốc kiểm soát, toàn bộ bờ biển miền Bắc, Miền Trung và một phần lớn Miền Nam Việt Nam bị cô lập với thế giới bên ngoài.

Hiện nay dầu mỏ đang chiếm đáng kể tổng thu ngân sách và kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, chỉ riêng năm 2007 vừa rồi xuất khẩu dầu thô đạt 15,3 triệu tấn đem về cho ngân sách quốc gia tới 8,6 tỉ USD chiếm tới gần 18% tổng giá trị xuất khẩu của cả năm. Trong tương lai với đà tăng giá của xăng dầu và nhu cầu năng lượng rất lớn nên dầu mỏ vẫn là một trong những sản phẩm quan trọng nhất đối với nền kinh tế toàn cầu và Việt Nam sẽ không ngoại lệ.

Sẽ là một thảm cảnh cực kỳ tồi tệ cho dân tộc khi hàng tỉ tấn dầu dưới những vùng hải đảo thiêng liêng của chúng ta rơi vào tay Trung Quốc. Nếu chúng ta gìn giữ được đất đai của cha ông để lại thì số tiền được đánh đổi từ dầu thô đó sẽ giúp được hàng chuc triệu người dân thoát khỏi cảnh đói nghèo, sẽ xây được hàng triệu bệnh viện và trường học, sẽ xây được hàng trăm ngàn căn nhà cho những những dân Việt Nam vất cả cả đời mà không mua nổi một căn nhà, sẽ thành lập được biết bao nhiêu viện dưỡng lão và trung tâm từ thiện để những cụ già, em nhỏ không phải dầm mưa dãi nắng đi ăn xin ở khắp các phố phường và còn nhiều nhiều nữa những nạn nhân của bão lụt, thiên tai, dịch bệnh được hỗ trợ qua cơn hoạn nạn.

Liệu những người ngồi ở cái ghế cao nhất đang nắm giữ vận mệnh của cả dân tộc có biết điều này chăng? Liệu hai triệu Đảng viên Cộng Sản đang lãnh đạo đất nước này có thấu hiểu được thảm cảnh này chăng? Và những người tham gia chào đón ngọn đuốc Olympic đã bị chính trị hóa bởi một chính quyền độc tài bá quyền có hiểu được họ đang dẫm đạp lên danh dự của tổ quốc, đang thờ ơ với nỗi đau của dân tộc, đã quay lưng lại với hàng triệu người Việt Nam đã đánh đổi xương máu để giữ gìn non sông của cha ông chăng? Còn chúng ta! Sau khi đọc những dòng này chúng ta sẽ phải gì để cứu vãn chút ít danh dự cho tổ quốc trước khi làm được những việc lớn lao hơn?

“Mang trong mình dòng máu rồng tiên,
 Mà sao không dám ngước mặt nhìn thiên hạ? “

Hãy dành tất cả những câu hỏi trên cho lương tri của người Việt Nam lên tiếng!

( VNE)

March 11, 2008

Lãnh thổ vẹn toàn : . . .”các con phải gìn giữ lấy ” . . . NHT

Nói Với Các Bạn Trẻ Trong Và Ngoài Nước Về Biển Đông Dậy Sóng
LS Nguyễn Hữu Thống
 

Biển Ðông với Hoàng Sa, Trường Sa và Vịnh Bắc Việt là một vấn đề rối mù. Rối mù về địa lý, về pháp lý và nhất là do chiến thuật hỏa mù của Trung Quốc. Do đó, chúng ta cần trình bày vấn đề minh bạch và đơn giản.

VỀ ÐỊA LÝ 

Hoàng Sa gồm 13 đảo san hô tí hon tại các vĩ tuyến 17-15 Bắc, phía đông Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi. Trường Sa với 9 đảo nhỏ hơn nữa tại các vĩ tuyến 12-7 Bắc, dọc từ Cam Ranh về Nam Cà Mau.  Có khoảng 500 đảo, cồn, đá, bãi nằm rải rác trên biển cả, từ Việt Nam qua Phi Luật Tân, không có thường dân cư ngụ và không tự túc về kinh tế.  Trong số này chỉ có hơn 50 đơn vị có địa danh, gồm 28 cao địa và hơn 20 đơn vị đá chìm và bãi ngầm.

a) Từ 1974 Trung Quốc chiếm toàn thể  HOÀNG SA gồm 13 đảo:   
– 7 đảo phía Ðông Bắc thuộc Nhóm Tuyên Ðức (Amphitrite) trong đó có Ðảo Phú Lâm (Woody Island) hình bầu dục, diện tích 1.3km2. Nếu là hình chữ nhật, bề dài có thể là 1300m và bề ngang 1000m (bằng một công viên nhỏ). Phú Lâm là đảo lớn nhất tại Hoàng Sa và Trường Sa.  
  
– 6 đảo phiá Tây Nam thuộc Nhóm Nguyệt Thiềm (Crescent), trong đó có Ðảo Hoàng Sa (Pattel) rộng 0.56km2 bằng 1/2 Phú Lâm và bằng 1/1000 Phú Quốc (568 km2).
b) Vùng biển TRƯỜNG SA bao la (180.000 dậm vuông) rộng gấp 10 lần Hoàng Sa, nhưng chỉ có 9 tiểu đảo.

– Việt Nam chiếm 3 đảo:  Trường Sa (Spratley), Nam Yết (Namyit) và Sinh Tồn (Sincowe). Ðảo Trường Sa diện tích 0.13km2, bằng 1/10 Phú Lâm.

  
– Phi Luật Tân chiếm 5 đảo:  Bình Nguyên (Flat), Vĩnh Viễn (Nanshan),  Bến Lộc (West York), Loại Tá (Loaita) và Thị Tứ (Thitu). 
  
– Ðài Loan chiếm Ðảo Thái Bình (Itu Aba). 
     Có tin mới đây Ðài Loan đã rút quân khỏi Ðảo Thái Bình, hòn đảo lớn nhất tại Trường Sa.  

– Ngoài 3 đảo, Việt Nam còn chiếm 3 cồn (cay) là An Bang (Amboyna), Song Tử Tây (SouthWest) và Sơn Ca (Sand), cùng 7 đá nổi, 9 đá chìm và bãi ngầm, tổng cộng 22  đơn vị.    – Ngoài 5 đảo, Phi Luật Tân còn chiếm 3 cồn , 2 đá nổi và 8 đá chìm, tổng cộng 18 đơn vị. Trung Quốc chiếm 2 đá nổi (reef) là Ðá Chữ Thập (Fiery Cross) và Ðá Ga Ven (Gaven), cùng 6 đá chìm, tổng cộng 8 đơn vị. Câu hỏi đặt ra là:  Tại sao từ 1974 khi Trung Quốc chiếm toàn thể Hoàng Sa,  và nhất là từ 1988 khi xâm lấn Trường Sa, họ lại không thừa thắng xông lên để chiếm thêm một số hải đảo mà phải lấy một hòn đá (Ðá Chữ Thập) làm địa điểm chỉ huy ?  Thực ra Trung Quốc chỉ muốn thương thảo song phương với các quốc gia duyên hải về phương thức khai thác chung dầu khí tại thềm lục địa (không phải của họ).

    VỀ PHÁP LÝ  Ðịa cầu gồm 3 phần đất và 7 phần nước.  Nếu có luật quốc tế cho các lãnh thổ thì cũng phải có Luật Biển cho vùng lãnh hải.  Năm 1982, 119 quốc gia ký Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển  (Law of the Sea Convention hay Los Convention) trong đó có Trung Quốc và Việt Nam.  Sau đây là định nghĩa về biển lịch sử, đường căn bản, biển lãnh thổ, vùng đặc quyền kinh te, thềm lục địa, hải đảo và quần đảo.

1.  Biển Lịch Sử (historic waters
).  
Theo Toà Án Quốc Tế và Ðiều 8 Luật Biển, biển lịch sử là nội hải nằm về phía đất liền, bên trong đường căn bản của biển lãnh thổ.  Như vậy biển lịch sử không thể là Nam Hải cách lục địa Trung Hoa tới 2 000 cây số. 

2. Ðường căn bản (baselines) là lằn nước thủy triều xuống thấp.

3.  Biển lãnh thổ (territorial sea) rộng 12 hải lý tính từ đường căn bản ra khơi.   4.  Nối tiếp biển lãnh thổ 12 hải lý là Vùng Ðặc Quyền Kinh Tế 200 hải lý để đánh cá.  (Exclusive Economic Zone, 200-mile-fishery zone).  5. Vùng Ðặc Quyền Kinh Tế trùng điệp với Thềm Lục Ðịa (Continental Shelf) 200 hải lý để khai thác dầu khí. Thềm lục địa thuộc chủ quyền tuyệt đối của quốc gia duyên hải trong việc khai thác dầu khí. Quyền này không tùy thuộc vào điều kiện chiếm cứ  (occupation) hay công bố  (declaration) (Ðiều 77). Do đó việc Trung Cộng chiếm đóng một số đảo, đá, bãi tại Hoàng Sa và Trường Sa không có tác dụng tước đọat chủ quyền của Việt Nam tại thềm lục địa.

6.  Hải đảo và quần đảo 

Các hải đảo (như Ðài Loan hay Tích Lan) được quyền có biển lãnh thổ 12 hải lý, và quy chế vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý. Tuy nhiên, các tiểu đảo không có thường dân cư ngụ và không tự túc về kinh tế (như Hoàng SaTrường Sa) không được hưởng quy chế này. (Ðiều 121). Trong án lệ Lybia/Malta (l985) Tòa án không đồng hóa đảo Malta với lục địa, dầu rằng Malta có 350 ngàn dân cư ngụ trên một diện tích 122 dậm vuông.  Theo định nghĩa, quần đảo bao gồm các hải đảo nằm san sát bên nhau và có diện tích ít nhất bằng 1/9 vùng biển nơi tọa lạc (như các quần đảo Nam Dương hay Phi Luật Tân).Như vậy:      
1) Hoàng Sa Trường Sa không phải là “quần đảo” luật định vì có diện tích quá nhỏ  (4 dặm vuông) trong một vùng biển bao la (180 ngàn dặm vuông).   
     
2)  Các tiểu đảo (trên 20 hòn) tại Hoàng Sa Trường Sa không phải là “đảo” luật định,  và không được hưởng quy chế 200 hải lý để đánh cá và khai thác dầu khí.

ÐẤU LÝ VÀ ÐẤU PHÁP 
Năm l982 với tư cách một ngũ cường, Trung Hoa hoan hỉ ký Công Ước về Luật Biển.  Ký xong, Bắc Kinh mới thấy lo!  Những điều khỏan trong Công Ứóc đã quá rõ rệt. Các quốc gia duyên hải chỉ được hưởng quy chế 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa kể từ biển lãnh thổ.  Trong khi đó Trường Sa cách lục địa Trung Hoa khoảng 750 hải lý, nên không nằm trong thềm lục địa của Trung Hoa.  Hoàng Sa cũng cách  Hoa Lục lối 270 hải lý. Tại bờ biển Việt Nam, thềm lục địa chạy thoai thoải từ dãy Trường Sơn ra Hoàng Sa.Về địa hình, Hoàng Sa là một hành lang của Trường Sơn từ Cù Lao Ré ra khơi.  Ðây là những bình nguyên của thềm lục địa Việt Nam trên mặt biển.  Năm 1925,  nhà địa chất học quốc tế Tiến Sĩ Khoa Học A. Krempf,  Giám Ðốc Viện Hải Học Ðông Dương, sau 2 năm nghiên cứu và đo đạc đã lập phúc trình và kết luận: “VỀ MẶT ÐIA CHẤT, NHỮNG ÐẢO HOÀNG SA LÀ THÀNH PHẦN CỦA VIỆT NAM” (Géologiquement les Paracels font partie du Vietnam). Tại Trường Sa cũng vậy. Về độ sâu và địa hình đáy biển, các đảo cồn đá bãi Trường Sa là sự tiếp nối tự nhiên của thềm lục địa Việt Nam. Tại bãi Tứ Chính , nơi khai thác dầu khí, biển sâu không tới 400m, và tại vùng đảo Trường Sa độ sâu chỉ tới 200m. Bãi Tứ Chính cách bờ biển Việt Nam khoảng 190 hải lý và cách lục địa Trung Hoa tới 780 hải lý.  Trường Sa cách Việt Nam 220 hải lý và cách Hoa Lục 750 hải lý. Từ Trường Sa về bờ biển Trung Hoa có rãnh biển sâu hơn 4.600m.  Bị  ràng buộc bởi Luật Biển với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý, Trung Hoa tung ra CHIẾN DỊCH HỎA MÙ, gây bất ổn, tranh chấp lung tung, thao diễn, phóng hỏa tiễn, lấn chiếm bừa bãi tại miền bờ biển để gây tiếng vang.  Mục đích để phá rối an ninh trật tự, làm cản trở giao thông trên mặt biển, tạo áp lực, hù dọa và khuyến dụ các quốc gia Ðông Nam Á hãy tạm gác vấn đề tranh chấp chủ quyền hải đảo để cùng nhau KHAI THÁC DÂÙ KHÍ CHUNG TẠI THỀM LỤC ÐỊA VÀ ÐÁNH CÁ CHUNG TẠI VÙNG ÐẶC QUYỀN KINH TẾ.

 BIỂN LICH SỬ:   THỦ ÐẮC CHỦ QUYỀN DO KHÁM PHÁ Năm 1982, Bắc Kinh tập hợp 400 học giả, ngày đêm nghiên cứu, thảo luận trong suốt 10 năm để kết luận rằng Nam Hải là Biển Lịch Sử của Trung Hoa Biển Lịch Sử hay Lưỡi Rồng Trung Quốc nằm sát bờ biển Việt Nam, cách Quảng Ngãi 40 hải lý, cách Natuna (Nam Dương) 30 hải lý,  và cách Palawan (Phi Luật Tân) 25 hải lý. Nó chiếm trọn 3 tuí dầu khí:  Tứ Chính (Vanguard) của Việt Nam, Natuna của Nam Dương và Cỏ Rong (Reed Bank) của Phi Luật Tân. Trung Quốc đưa ra nhiều tài liệu lịch sử để chứng minh rằng từ đời Hán Vũ Ðế 100 ngàn hải quân Trung Hoa đi tuần thám đã khám phá các đảo Nam Hải. Sự khám phá này được tiếp tục dưới đời nhà Tống, nhà Nguyên, nhà Minh và nhà Thanh.Những tài liệu lịch sử này không đáng tin cậy: 

1.  Chính sách bế quan tỏa cảng. Suốt chiều dài lịch sử, Trung Hoa không bao giờ chủ trương chinh phục đại dương. Thuyết bế quan tỏa cảng được áp dụng từ đời nhà Tần (thế kỷ thứ 3 trước công nguyên).  Vạn Lý Trường Thành không chỉ là một kiến trúc mà còn là một nhân sinh quan. Miền bờ biển được coi là nơi hoang vu man rợ. Ðảo Hải Nam là chốn lưu đày các tù nhân biệt xứ.   Cho đến thế kỷ 20, chính sách bế quan tỏa cảng vẫn được thi hành.Với tâm lý tự cô lập, không thể có 100 ngàn quân Trung Hoa đời Tây Hán đi khám phá các đảo san hô tí hon tại Nam Hải.  Rất có thể đó chỉ là 10 vạn quân của Tào Tháo mượn lệnh Hán Ðế đi xâm chiếm Ðông Ngô và đã bị Chu Du đánh tan trong trận Xích Bích. Các chuyến hải hành đời nhà Tống, nhà Nguyên, nhà Minh, và nhà Thanh chỉ là những cuộc nam chinh nhằm thôn tính Việt Nam.  Lịch sử đã ghi việc Lê Ðại Hành phá tan thủy binh của Lưu Trừng nhà Tống, quân Trần Hưng Ðạo bắn chết Toa Ðô và bắt sống Ô Mã Nhi nhà Nguyên, Lê Lợi đánh bại hải quân tiếp viện cho Vương Thông nhà Minh, và Quang Trung phá tan hải quân của đề đốc Hứa Thế Hanh nhà Thanh. Việc các thủy binh đời Minh Thành Tổ đi thăm viếng các quốc gia Á Châu nếu có, cũng không có tác dụng thủ đắc chủ quyền tại các hải đảo.  Từ thế kỷ l5, các nhà thám hiểm Bồ Ðào Nha như Vasco de Gama và Magellan đã đi xuyên 3 đại dương từ Ðại Tây Dương, vượt Ấn Ðộ Dương qua Thái Bình Dương, khám phá hàng ngàn hải đảo kể cả Phi Luật Tân và Guam. Nhưng Bồ Ðào Nha cũng không đòi chủ quyền các hải đảo này.      

2. Danh xưng Nam Hải.      

Theo chính các học giả Trung Hoa, Nam Hải là tên biển của Hoa Nam, cách Quảng Ðông 50 dậm về phía Nam. Các nhà hàng hải Tây Phương muốn cho tiện nên gọi đó là Biển Nam Hoa (South China Sea) (ngọai nhân xưng Nam Trung Quốc Hải).       Theo Tự Ðiển Tối Tân Thực Dụng Hán Anh xuất bản tại Hồng Kông năm 1971 thì “Nam Hải là vùng biển kéo dài từ Eo Biển Ðài Loan đến Quảng Ðông”. (The Southern Sea stretching from the Taiwan Straits to Kwantung.)        Theo Từ Ðiển Từ Hải xuất bản năm 1948, thì Nam Hải thuộc chủ quyền hải phận chung của 5 nước là Trung Hoa, Việt Nam, Mã Lai, Phi Luật Tân và Ðài Loan.       DO ÐÓ NAM HẢI KHÔNG PHẢI LÀ BIỂN CỦA TRUNG HOA VỀ PHÍA NAM.  CŨNG NHƯ ẤN ÐỘ DƯƠNG KHÔNG PHẢI LÀ ÐẠI DƯƠNG CỦA ẤN ÐỘ.      

Năm 1983, Trung Quốc vẽ lại bản đồ, đòi chủ quyền hải phận toàn thể vùng biển Ðông Nam Á.  Họ coi Nam Hải là một thứ nội hải theo kiểu Ðế Quốc La Mã coi Ðịa Trung Hải là biển của chúng tôi (Mare Nostrum).      

3. Luật pháp và án lệ.      

Theo Tòa Án Quốc Tế, biển lịch sử chỉ là nội hải.  Hơn nữa, Ðiều 8 Công Ước về Luật Biển (l982) đã kết thúc mọi cuộc tranh luận khi quy định: “Biển lịch sử hay nội hải của một quốc gia nằm về phía đất liền, bên trong đường căn bản của biển lãnh thổ” [The International Court of Justice has defined historic waters as internal waters. “Waters on the landward side of the baseline of the territorial sea form part of the internal waters of the State” Art.8 Los Convention (1982)].       Như vậy Nam Hải không phải là Biển Lịch Sử của Trung Hoa,  vì nó là ngoại hải và cách bờ biển Trung Hoa tới hai ngàn cây số.       Và công trình 10 năm nghiên cứu của 400 học giả Trung Quốc chỉ là công “dã tràng xe cát Biển Ðông, nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì!”   

THỦ ÐẮC CHỦ QUYỀN DO CHIẾM CỨ      

Theo công pháp quốc tế, muốn thủ đắc chủ quyền các đất vô chủ (terra nullius), sự chiếm cứ phải có những đặc tính sau đây:            
a)  Chiếm cứ thực sự
       Tại Trường Sa trong số 28 cao địa, Trung Hoa chỉ chiếm 2 đá nổi, trong khi Việt Nam chiếm 13. Và trong hơn 50 đơn vị có địa danh, Trung Hoa chỉ chiếm 8, so với 22 của Việt Nam.            

b) Chiếm cứ hòa bình.        Trong những năm 1974 và 1988 Trung Hoa dùng võ trang chiếm Hoàng Sa và một số đá, bãi tại Trường Sa.  Tuy nhiên sự chiếm cứ không có tính hòa bình nên không được luật pháp bảo vệ. Cũng như thời Ðệ Nhị Thế Chiến, Nhật Bản chiếm Hoàng Sa và Trường Sa bằng võ lực nên không có chủ quyền hợp pháp.            

c)  Chiếm cứ liên tục và trường kỳ             Không có sự phủ nhận rằng ít nhất từ 1816, dưới đời vua Gia Long, Việt Nam đã chiếm cứ công khai, liên tục, hòa bình các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bia chủ quyền do người Pháp dựng năm 1938 có ghi rõ: République Francaise (Cộng Hòa Pháp)            Empire d’Annam (Vương Quốc Việt Nam)             Archipel des Paracels (Quần Ðảo Hoàng Sa)             1816 -Ile de Pattle 1938 (Ðảo Hoàng Sa)       Lịch sử Trung Hoa không mang lại bằng chứng nào cho biết họ đã liên tục chiếm cứ Hoàng Sa, Trường Sa từ  đời Hán Vũ Ðế hay ít nhất từ  đời Mãn Thanh.       Sau Ðệ Nhị Thế Chiến, khi quân đội Nhật Bản rút lui, Trung Hoa chiếm một phần Hoàng Sa (Nhóm Tuyên Ðức phía Ðông Bắc). Năm 1974 họ dùng võ trang chiếm nốt Nhóm Nguyệt Thiềm phía Tây Nam.  Tại Trường Sa lần đầu tiên,  năm l988, họ chiếm một số đá, bãi bằng võ lực.  Sự chiếm cứ này vô hiệu vì không có tính hòa bình. Vả lại tới l974 và l988 các đảo Hoàng Sa-Trường Sa đã do Việt Nam chiếm đóng, nên không thể coi là đất vô chủ (terra nullius).      

d)  Hơn nữa sự chiếm cứ phải được thừa nhận bởi các quốc gia liên hệ.            

1)  Năm 1951 tại Hội Nghị Cựu Kim Sơn, 51 quốc gia đồng minh ký Hiệp Ước Hòa Bình Nhật Bản trong đó Nhật Bản từ bỏ chủ quyền về Hoàng Sa Trường Sa, nhưng không nói để trả cho nước nào. Ðại biểu Liên Xô yêu cầu Hội Nghị biểu quyết trả cho Trung Hoa. Nhưng Hội Nghị đã bác bỏ thỉnh cầu này với 46 phiếu chống. Sau đó phái đòan Việt Nam lên diễn đàn minh thị công bố chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa Trường Sa, và không gặp sự phản kháng nào.            

2)  Sự thừa nhận chỉ có nghĩa nếu xuất phát từ các quốc gia duyên hải liên hệ. Vì các đảo này tọa lạc tại Biển Ðông Nam Á, nên chỉ các quốc gia Ðông Nam Á mới có thẩm quyền thừa nhận. Mà cho đến nay tất cả các quốc gia Ðông Nam Á không nước nào thừa nhận chủ quyền của Trung Hoa tại Hoàng Sa Trường Sa.            

3) Tuy nhiên Bắc Kinh còn viện dẫn văn thư ngày 14-9-1958 của Thủ Tướng Phạm Văn Ðồng gởi Thủ Tướng Chu Ân Lai để chủ trương rằng Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Hoa tại Hoàng Sa và Trường Sa.            

 Về mặt pháp lý sự thừa nhận này vô giá trị.  Vì Trường Sa HoàngSa thuộc lãnh hải Việt Nam Cộng Hòa. Vấn đề lãnh thổ và lãnh hải thuộc thẩm quyền của quốc dân do quốc hội đại diện, chứ không thuộc hành pháp là cơ quan chấp hành luật pháp của quốc hội. Vả lại  Quốc Hội Việt Nam trong những năm 1956 và 1966 đã công bố chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa. Một văn thư  của Chính Phủ Hà Nội năm 1958 không có hiệu lực thừa nhận chủ quyền  các hải đảo thuộc lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa hồi đó.    

THỀM LỤC ÐỊA       

Vấn đề thực sự tại Trường Sa Hoàng Sa là vấn đề thềm lục địa nơi khai thác dầu khí. Về Trường Sa.      

Tại Trường Sa bãi dầu khí Tứ Chính (Vanguard) cách bờ biển Việt Nam khoảng 190 hải lý và cách bờ biển Trung Hoa lối 780 hải lý, nên thuộc thềm lục địa Việt Nam.        

Về Hoàng Sa.         Hoàng Sa cách bờ biển Trung Hoa khoảng 270 hải lý và cách bờ biển Việt Nam lối 155 hải lý nên thuộc thềm lục địaViệt Nam.   Khỏang cách từ cù lao Ré (Quảng Ngãi) ra đảo Tri Tôn chỉ có 123 hải lý. Về mặt địa hình đáy biển Hoàng Sa là sự tiếp nối tự nhiên của dẫy Trường Sơn từ đất liền chạy ra biển. Có thể nói Hoàng Sa là những bình nguyên của thềm lục địa Việt Nam trên mặt biển. Chiếu Luật Biển 1982 quyền của các quốc gia duyên hải tại thềm lục địa không tùy thuộc vào sự chiếm cứ  (Ðiều 77).  Do đó sự chiếm đóng võ trang của quân đội Trung Hoa không có tác dụng tước đoạt chủ quyền của Việt Nam tại thềm lục địa Hoàng Sa.   

CÁC TIÊU CHUẨN:      

 Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Ðịa Liên Hiệp Quốc và Toà Án Quốc Tế  đưa ra 10 tiêu chuẩn để phân ranh hải phận hay đồng hóa hải đảo vào lục địa:        

1) Vị trí của các đảo đối với bờ biển tiếp cận. Tại vùng Hoàng Sa, đảo Tri Tôn chỉ cách lục địa Việt Nam 135 hải lý, trong khi đảo Hoàng Sa cách lục địa Trung Hoa tới 270 hải lý.            

2) Diện tích các hải đảo so sánh với chiều dài bờ biển tiếp cận.  Ðảo Hoàng Sa quá nhỏ bé (0.56km2) chỉ bằng 1/1000 đảo Phú Quốc (568km2), trong khi bờ biển Việt Nam dài gấp 10 lần bờ đảo Hải Nam phía tiếp giáp Hoàng Sa.        
3) Về độ sâu và địa hình đáy biển, các đảo, cồn, đá, bãi Hoàng Sa và Trường Sa là sự tiếp nối tự nhiên từ lục địa Việt Nam ra biển.  Ðộ sâu tại Hoàng Sa là 900m và tại Trường Sa là 200m.  Từ Hoàng Sa Trường Sa về Hoa Lục có 2 rãnh biển sâu hơn 2300m và 4600m. 
              
4) Về mặt địa chất,  sau 2 năm nghiên cứu và đo đạc, năm 1925 Tiến Sĩ Khoa Học A. Krempt xác nhận rằng “Hoàng Sa là thành phần của Việt Nam “.
 Về dân số, các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa không có thường dân cư ngụ, và không thể tự túc về kinh tế. Trong khi đó số dân cư ngụ tại miền bờ biển Việt Nam đông gấp mười số dân sinh sống tại đảo Hải Nam.           
6)  Về sinh thực học và khí hậu tại Hoàng Sa và Trường Sa, các đảo san hô cũng như cây cỏ và sinh vật tiêu biểu cho vùng nhiệt đới (Việt Nam ), chứ không thấy ở vùng ôn đới (Trung Hoa).
           
7)  Về Khu Ðặc Quyền Kinh Tế (để đánh cá), Biển Ðông (với Hoàng Sa và Trường Sa) là khu vực đánh cá căn bản của Việt Nam. Trong khi  đó, ngoài hải phận về phía Tây, Ðảo Hải Nam còn được thêm 200 hải lý để đánh cá về phía Ðông thông qua Thái Bình Dương,.
           
8)  Tại thềm lục địa Việt Nam những vùng có dầu khí nằm giữa Vịnh Bắc Việt và khu bãi Tứ Chính phía Ðông Nam Cà Mau.  Ðây là nơi kết tầng các thủy tra thạch chứa đựng các chất hữu cơ do nước phù sa sông Hồng Hà và sông Cửu Long đổ ra biển từ hàng triệu năm nay. Do đó dầu khí nếu có là do các chất hữu cơ từ lục địa Việt Nam chứ không phải từ Hoa Lục.  Hơn nữa, ngoài hải phận về phía Tây,  Ðảo Hải Nam còn được 200 hải lý thềm lục địa để khai thác dầu khí về phía Ðông thông qua Thái Bình Dương.
            
9)  Biển Ðông với Hoàng Sa Trường Sa có ảnh hưởng kinh tế, chiến lược và an ninh quốc phòng mật thiết với Việt Nam hơn là Trung Hoa. Vì Trung Hoa còn có biển Hoàng Hải và Ðông Trung Quốc Hải chạy thông qua Thái Bình Dương.
 Các tài liệu, sách báo, họa đồ, các chứng tích lịch sử v…v… phải có tính xác thực. Dầu sao các tài liệu này không có giá trị bằng các yếu tố khách quan khoa học như địa lý, địa hình, địa chất, dân số, sinh thực học, khí hậu cùng những yếu tố về ảnh hưởng kinh tế, chiến lược và an ninh quốc phòng.   

VỀ VỊNH BẮC VIỆT      

Vấn đề phân ranh thềm lục địa hay hải phận tại Vịnh Bắc Việt cũng phải được giải quyết theo 8 tiêu chuẩn:  1) Vị trí và sự hiện diện của các đảo  2) chiều dài bờ biển   3) mật độ dân số   4) độ sâu và địa hình đáy biển  5)  địa chất  6)  vùng đặc quyền kinh tế để đánh cá  7)  thềm lục địa để khai thác dầu khí  8)  ảnh hưởng kinh tế, chiến lược và an ninh quốc phòng.      
Ðây là những điểm đặc thù ảnh hưởng đến việc phân định lãnh hải.  Nếu đưa nội vụ ra trước Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Ðịa, Tòa Án Trọng Tài hay Tòa Án Quốc Tế, Việt Nam sẽ có ưu thế. 
  

KẾ HOẠCH THÔN TÍNH BIỂN ÐÔNG CỦA TRUNG QUỐC      

Theo Công Ước về Luật Biển, các quốc gia duyên hải chỉ có 200 hải lý, vừa là vùng đặc quyền kinh tế để đánh cá, vừa là thềm lục địa để khai thác dầu khí.  Trong khi đó Hoàng Sa tọa lạc ngoài lục địa Trung Hoa khoảng 270 hải lý, và Trường Sa cách Hoa Lục lối 750 hải lý, nên không thuộc hải phận của Trung Quốc.      

Ðuối lý về pháp luật, Trung Quốc đưa ra thuyết Biển Lịch Sử để đòi chủ quyền toàn vùng Nam Hải.           Tuy nhiên Tòa Án Quốc Tế và Công Ước Liên Hiệp Quốc Về Luật Biển đã bác bỏ thuyết này.       
Thất bại trong thuyết Biển Lịch Sử, Trung Quốc đề ra kế hoạch 4 bước để thôn tính Biển Ðông về kinh tế:
 Ký Hiệp Ước Vịnh Bắc Bộ để hủy bãi Hiệp Ước Bắc Kinh (theo đó Việt Nam được 63% hải phận và Trung Hoa được 37%).     

Nếu theo đường trung tuyến, Việt Nam sẽ được 53%.  Tuy nhiên trên thực tế, phe Cộng Sản không theo đường trung tuyến và đã đưa ra 21 điểm phân định theo đó Việt Nam chỉ còn 45%.     

2) Ký Hiệp Ước Hợp Tác Nghề Cá để thiết lập Vùng Ðánh Cá Chung rộng 61 hải lýù. Và trên thực tế Việt Nam chỉ còn 25% tại vĩ tuyến 17 và 32% tại vĩ tuyến 20.  Với các tầu đánh cá lớn trọng tải trên 100 tấn, với các lưới cá dài 50 hải lý, và nhất là với sự đồng lõa cấu kết của đội tuần cảnh duyên hải, toàn thể Vịnh Bắc Việt sẽ biến thành khu vực đánh cá tự do cho đội kình ngư Trung Quốc mặc sức tận thu, vét sạch, và cạn tầu ráo máng.      

3) Từ đánh cá chung đến hợp tác khai thác dầu khí chỉ còn một bước. Trong Hiệp Ước Vịnh Bắc Việt có điều khoản quy định rằng, khi dầu khí được phát hiện, hai bên sẽ khởi sự hợp tác khai thác dầu khí.        Ngày nay tại Vịnh Bắc Việt, Trung Quốc đề ra nhiều dự án thăm dò và khai thác dầu khí, như “Dự Án Quỳnh Hải” phía Tây đảo Hải Nam và “Dự Án Vịnh Bắc Bộ” phía Bắc vĩ tuyến 20. (Khi dùng danh xưng “Vịnh Bắc Bộ”, Trung Quốc mặc nhiên nhìn nhận đó là Vịnh của Việt Nam về phía Bắc. Vì nếu là củaTrung Quốc thì phải gọi là Vịnh Nam Bộ mới đúng địa lý).      

 4) Với chính sách vết dầu loang, sau khi hoàn thành kế hoạch hợp tác đánh cá và khai thác dầu khí chung tại Vịnh Bắc Việt, hai bên sẽ tiến tới việc hợp tác đánh cá và khai thác dầu khí chung tại miền duyên hải Trung và Nam Việt.  Ðiều đáng lưu ý là vùng lãnh hải này thuộc khu đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam nên thuộc chủ quyền tuyệt đối của Việt Nam.        

Bằng kế hoạch thôn tính 4 bước, Bắc Kinh buộc Hà Nội hiến dâng toàn thể lãnh hải Việt Nam từ Vịnh Bắc Việt đến miền duyên hải Trung và Nam Việt tại Hoàng Sa Trường Sa theo lời cam kết của Hồ Chí Minh (Phạm Văn Ðồng chỉ là kẻ thừa sai, bất lực, không có cả quyền bổ nhiệm một thứ trưởng theo lời tự thú của đương sự).       

Như vậy, thuyết Biển Lịch Sử từng bị Tòa Án Quốc Tế và Công Ước về Luật Biển bác bỏ, nay lại có cơ hội trở thành hiện thực do kế hoạch 4 bước của Trung Quốc để thôn tính Biển Ðông.   

XÂM LẤN VÀ THÔN TÍNH

 Sau đây là tiến trình xâm lấn và thôn tính Biển Ðông của Trung Quốc trong 60 năm qua.   Năm 1945, sau Thế Chiến II, quân đội Trung Hoa giải giới quân đội Nhật đã thừa cơ chiếm cứ các đảo Hoàng Sa thuộc nhóm Tuyên Ðức. Năm 1946 Trung Hoa đổi tên vùng biển Nam Hải thành Ðặc Khu Hành Chánh Hải Nam, và đổi tên Hoàng Sa thành Tây Sa và Trường Sa thành Nam Sa. Năm 1956, để phát động chiến tranh võ trang thôn tính Miền Nam, Hà Nội phải trông cậy vào sự yểm trợ của Bắc Kinh.  Vì sau cái chết của Stalin năm 1953, Liên Xô muốn chuyển sang đường lối Chung Sống Hòa Bình.  Trong khi đó Mao Trạch Ðông vẫn chủ trương “giải phóng 1000 triệu con người Á Châu khỏi ách Ðế Quốc Tư Bản”. Theo luật vay trả, muốn được cưu mang yểm trợ, phải có sự cam kết đền ơn trả nghĩa.   Ngày 15-6-1956, Ngoại Trưởng Ung Văn Khiêm minh thị tuyên bố:   “Hà Nội nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa mà Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa”. Ngày 14-9-1958 do văn thư của Phạm Văn Ðồng gởi Chu Ân Lai, Hồ Chí Minh, Chủ Tịch Ðảng, Chủ Tịch Nước, xác nhận chủ quyền  của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa. Ðể biện minh cho lập trường của Hồ Chí Minh và Phạm Văn Ðồng,   một tháng sau khi Trung Quốc tiến chiếm Trường Sa, báo Nhân Dân, cơ quan chính thức của Ðảng Cộng Sản, trong số ra ngày 26-4-1988 đã viết: “Trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù xâm lược thì Việt Nam phải tranh thủ sự gắn bó của Trung Quốc, và ngăn chặn Hoa Kỳ sử dụng hai quần đảo nói trên”.      

Và hồi tháng 5-1976, báo Saigon Giải Phóng trong bài bình luận việc Trung Quốc chiếm Hoàng Sa bằng võ lực năm 1974, đã viết: “Trung Quốc vĩ đại đối với chúng ta không chỉ là người đồng chí, mà còn là người thầy tin cẩn đã cưu mang chúng ta nhiệt tình để chúng ta có ngày hôm nay.  Vì vậy chủ quyền Hoàng Sa thuộc Việt Nam hay thuộc Trung Quốc cũng vậy thôi !”.         

Có 3 lý do được viện dẫn cho lời cam kết của Hồ Chí Minh năm 1958: 

a) Vì Hoàng Sa, Trường Sa tọa lạc tại các vĩ tuyến 17-7 (Quảng Trị- Nam Cà Mâu) nên thuộc hải phận Việt Nam Cộng Hòa. Ðối với Hà Nội nhượng Hoàng Sa, Trường Sa cho Trung Quốc trong thời điểm này chỉ là bán da gấu!      

b)  Sau này, do những tình cờ lịch sử, nếu Bắc Việt thôn tính được Miền Nam thì mấy hòn đảo san hô tại Biển Ðông đâu có ăn nhằm gì so với toàn thể lãnh thổ Việt Nam? Giả sử cuộc “giải phóng Miền Nam” không thành, thì việc Trung Quốc chiếm Hoàng Sa Trường Sa thuộc lãnh hải Việt Nam Cộng Hòa cũng có tác dụng làm suy yếu phe quốc gia về kinh tế, chiến lược và an ninh quốc phòng. Năm 1972, sau thất bại Tết Mậu Thân (1968),  để phát động chiến  dịch Tổng Tấn Công Xuân Hạ hay Mùa Hè Ðỏ Lửa, Hà Nội huy động toàn bộ các sư đoàn chính qui vào chiến trường Miền Nam.  Ðể bảo vệ an ninh quốc ngoại chống sự phản kích của quân lực Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ (như trong Chiến Tranh Triều Tiên), Hà Nội đã nhờ 300 ngàn quân Trung Quốc mặc quân phục Việt Nam đến trú đóng tại 6 tỉnh biên giới Bắc Việt.           

Trong thời gian này, với thế thượng phong của người thầy cưu mang (và với sự ưng thuận mặc nhiên của Bắc Việt) Trung Quốc tự tiện ấn định Vùng Biển Cấm (Hands-Off  Area) tại Vịnh Bắc Việt, cấm ngư dân Việt Nam không được lai vãng.  Ðây là vùng biển sâu giữa Vịnh có nhiều cá lớn và nhiều tiềm năng dầu khí.          Vùng Biển Cấm diện tích 7200 hải lý vuông, rộng 60 hải lý (1 kinh độ) từ kinh tuyến 107 Ðông (phía Việt Nam) tới kinh tuyến 108 Ðông (phía Hải Nam), và dài 120 hải lý (2 vĩ độ), từ vĩ tuyến 20 Bắc (Ninh Bình) đến vĩ tuyến 18 Bắc (Hà Tĩnh).        

Theo lời thú nhận của Thứ Trưởng Ngoại Giao Lê Công Phụng từ đầu thập niên 1970, trong những cuộc thương thảo phân định lãnh hải, Trung Quốc “kiên trì” đề nghị thiết lập vùng đánh cá chung tại Vịnh Bắc Việt.        

Với Hiệp Ước Vịnh Bắc Việt và Hiệp Ước Hợp Tác Ðánh Cá năm  2000, Vùng Biển Cấm  60 hải lý từ Ninh Bình đến Hà Tĩnh chồng lấn hay trùng điệp với Vùng Ðánh Cá Chung 61 hải lý từ Ninh Bình đến Quảng Bình.          

Năm 1974 sau khi Hoa Kỳ rút quân khỏi chiến trường Việt Nam, Trung Quốc thừa cơ chiếm nốt các đảo Hoàng Sa thuộc Nhóm Nguyệt Thiềm.  Nếu hải quân Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh chiến đấu thì Bắc Việt chỉ làm thinh.  Rồi trơ trẽn ngụy biện: “Chủ quyền Hoàng Sa thuộc Việt Nam hay thuộc Trung Quốc cũng vậy thôi !” (Báo Saigon Giải Phóng).         Năm 1979 Chiến Tranh Việt Trung bùng nổ làm đình hoãn cuộc thương nghị về lãnh thổ và lãnh hải.         Tranh chấp Việt Trung kéo dài từ 1979 đến 1988.  Trong thời gian này, ngày 12-11-1982 bằng văn thư gởi Liên Hiệp Quốc để công bố Ðường Căn Bản của Biển Lãnh Thổ, Hà Nội đã xác định chủ quyền lãnh thổ Vịnh Bắc Việt theo Hiệp Ước Bắc Kinh (1887) theo đó Việt Nam được 63%.           

Từ 1988,  khi Liên Xô bị sa lầy tại A Phú Hãn và bị bối rối tại Ðông Âu do phong trào Giải Thể Cộng Sản, Gorbachev đưa ra chủ trương không can thiệp vào công việc của các quốc gia đồng minh.  Lúc này Hà Nội cũng bị sa lầy tại Căm Bốt.  Vì Liên Xô không còn là chỗ tựa, Hà Nội phải muối mặt quay lại thần phục Bắc Kinh.  Tháng 4, 1988,  một tháng sau khi Trung Quốc xâm lấn Trường Sa, Báo Nhân Dân còn ngụy biện rằng Việt Nam đã nhượng Hoàng Sa Trường Sa cho Trung Quốc để ngăn chận Hoa Kỳ sử dụng hai quần đảo nói trên!            

Năm 1991 khi Liên Xô sụp đổ, Việt Nam xin tái lập bang giao với Trung Quốc. Và năm 1992  khi Trung Quốc chiếm bãi dầu khí Vạn An phía Ðông Nam Cà Mau, Việt Nam cũng chỉ phản kháng chiếu lệ.            

 Năm 1999, với Hiệp Ước Biên Giới Việt Trung, Việt Nam nhượng cho Trung Quốc khoảng 800 km2 lãnh thổ Bắc Việt.          

Năm 2000, với Hiệp Ước Vịnh Bắc Việt, Hà Nội nhượng cho Bắc Kinh từ 12.000 km2 đến 21.000 km2 hải phận.   

Ngày 25-12-2004 các phái bộ Trung-Việt tổ chức liên hoan ngày kỷ  niệm 4 năm ký kết Hiệp Ước Vịnh Bắc Việt và Hiệp Ước Hợp tác Nghề Cá.       Hai ngày sau, ngày 27-12-2004, nhà cầm quyền Bắc Kinh loan báo đã bắt giữ 80 ngư phủ Việt Nam về tội xâm nhập đánh cá bất hợp pháp.  Các ngư phủ phản đối, nói họ vẫn truyền nối hành nghề đánh cá tại vùng biển này từ đời ông, đời cha. Nhưng lính tuần duyên Trung Quốc trả lời đã có hiệp định mới, và vùng biển này  chính thức thuộc về Trung Quốc.  Các ngư phủ không chịu, đòi báo cáo lên đội biên phòng Việt Nam.  Lính hải quân Trung Quốc cười ngạo nghễ, ném thuốc nổ gần tàu, rồi lái tầu tuần duyên tông vô các tàu đánh cá khiến 23 ngư dân Việt Nam tại Ðà Nẵng và Quảng Ngãi bị chết chìm, 6 người bị thương và 10 tàu đánh cá bị hư hỏng. Một số ngư dân khác tại Bình Ðịnh và Khánh Hòa cũng bị xua đuổi không được đến đánh cá tại ngoài khơi vùng biển Hoàng Sa.  Những vụ sát hại dã man này không được phổ biến trên báo chí.      Hai tuần sau, ngày 8-01-2005, tại Vịnh Bắc Bộ, các tàu tuần duyên Trung Quốc bao vây và bắn xối xả vào các tàu đánh cá Việt Nam khiến 9 ngư dân Thanh Hóa bị thiệt mạng, 7 người bị thương và 8 người khác bị bắt đem đi.          

Khi nội vụ phát giác, nhà cầm quyền Hà Nội còn muốn đổ tội cho “bọn hải tặc”.  Trong khi đó, một vài tờ báo Việt Nam lại loan tin các ngư phủ Việt Nam bị “tàu nước ngoài” bao vây và dùng súng bắn xối xả.  Và các hãng thông tấn ngoại quốc như AFP, Reuters đã xác định rằng đó chính là những tàu tuần duyên Trung Quốc. Vậy mà nhà cầm quyền Hà Nội chỉ dám phản kháng lấy lệ, chỉ lên án những hành động tự phát của các binh sĩ Trung Quốc và yêu cầu trừng phạt những cá nhân phạm pháp.         

Thực ra đây không phải là những hành vi tự phát lẻ loi của một số binh sĩ vô trách nhiệm mà là cả một chính sách khủng bố của Trung Quốc để ngăn cấm ngư dân Việt Nam không được đến đánh cá tại vùng biển sâu, dành cho Trung Quốc độc quyền đánh cá, thăm dò và khai thác dầu khí.  Hồi tháng 11, 2004, Trung Cộng còn ngang nhiên đưa một giàn khoan dầu khí từ Thượng Hải vào thềm lục địa Việt Nam chỉ cách bờ biển 63 km.           

Ngày nay mọi người mới nhìn thấy ý đồ của Trung Quốc:  Vùng  Ðánh Cá Chung quy định trong Hiệp Ước Hợp Tác Nghề Cá chỉ là sự biến  hình của Vùng Biển Cấm, cấm địa hay cấm hải do Trung Quốc ấn định từ đầu thập niên 1970.  Mãi tới tháng 8, 2002 chính phủ Việt Nam mới lên tiếng phản đối việc Trung Quốc ấn định Vùng Biển Cấm đánh cá tại Vùng Ðánh Cá Chung.          

Từ sau ngày 30-6-2004 khi Hiệp Ước Vịnh Bắc Việt và Hiệp Ước Hợp Tác Ðánh Cá có hiệu lực thi hành, Trung Quốc tự ban cho họ độc quyền thao túng tại Vùng Biển Cấm trong Vịnh BắcViệt cũng như tại miền duyên hải Trung Việt. Theo ghi nhận của đội biên phòng Việt Nam, nội trong năm 2004, riêng tại vùng biển Ðà Nẵng, các tàu thuyền Trung Quốc đã xâm nhập hải phận Việt Nam 1017 lần. Vậy mà không thấy có phản ứng nào về phía Việt Nam.           

Thừa thắng xông lên, từ tháng 10 đến tháng 12/2004, lính hải quân Trung Quốc đã sát hại 23 ngư dân Ðà Nẵng và Quảng Ngãi.            

Ngày 8-1-2005, các tàu tuần duyên Trung Quốc lại dùng đại liên bắn chết 9 ngư dân Thanh Hóa trong Vùng Biển Cấm tại Vịnh Bắc Việt. Ðây là những hành động cố sát có dự mưu trong đó Việt Cộng là kẻ đồng lõa bằng cách giúp phương tiện.       Một tuần sau vụ khủng bố  8-1-2005, Trung Quốc đổi giọng, bịa đặt rằng lực lượng tuần duyên Trung Quốc chỉ bắn chết những kẻ cướp có vũ khí  khi những người này định cướp tàu đánh cá của Trung Quốc.  Ðộc đáo hơn nữa, các tàu đánh cá (tí hon) của Việt Nam đã nổ súng trước vào các tàu tuần duyên (có trang bị súng đại liên) của Trung Quốc! Vừa đánh trống vùa ăn cướp, Trung Quốc muốn biến vụ cố sát của họ thành vụ cướp biển của hải tặc để đòi quyền tự vệ chính đáng. 

Theo qui định của Ủy Ban Liên Hợp, đối với các ngư dân hoạt động bình thường, các tàu biên phòng không được dùng võ khí để hăm dọa, bạo hành, đả thương hay cố sát.  Các biện pháp xử lý chỉ có tính cách hành chánh như bắt giữ các ngư thuyền vi phạm qui luật, nhưng phải trả tàu và trả tự do cho ngư dân khi  có sự bảo lãnh thích đáng.          

 Trong vụ khủng bố tại Vịnh Bắc Việt và vùng biển Hoàng Sa, lính tuần duyên Trung Quốc đã giết người vô tội vạ trong chính sách “sát nhất nhân, vạn nhân cụ” (giết một số ngư dân vô tội khiến hàng vạn người khác sợ không dám đi đánh cá tại miền duyên hải xa bờ).  

 TRƯỚC TÒA ÁN QUỐC DÂN 

Tháng 6, 2004 khi các Hiệp Ước Vịnh Bắc Việt có hiệu lực thi hành,  thay mặt đồng bào trong nước không còn quyền được nói, Ủy Ban Luật Gia Bảo Vệ Dân Quyền tại hải ngoại đã kết án Ðảng Cộng Sản Việt Nam về 4 tội phản bội tổ quốc, với phần chủ văn như sau:      

“Năm 1999 Ðảng Cộng Sản Việt Nam ký Hiệp Ðịnh Biên Giới Việt Trung để nhượng đất biên giới cho Trung Quốc.       

“Năm 2000, Ðảng Cộng Sản Việt Nam ký Hiệp Ðịnh Phân Ðịnh  Vịnh Bắc Bộ và Hiệp Ðịnh Hợp Tác Nghề Cá để bán nước Biển Ðông và dâng cá dâng dầu  cho Trung Quốc.        “Năm 1958 bằng văn thư của Phạm Văn Ðồng, Ðảng Cộng Sản Việt Nam cam kết chuyển nhượng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc.        

“Những hành vi này cấu thành 4 tội phản bội Tổ Quốc bằng cách cấu kết với nước ngoài nhằm xâm phạm chủ quyền của quốc gia, xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc,  và xâm phạm quyền của Quốc Dân được sử dụng đầy đủ những tài nguyên và nguồn lợi thiên nhiên của Ðất Nước”.   

            T.M. ỦY BAN LUẬT GIA BẢO VỆ DÂN QUYỀN
           L.S. NGUYỄN HỮU THỐNG

March 7, 2008

Định giá lộ trình rước đuốc Bắc Kinh 2008

torchmap.jpg

Trên đây là những lộ trình cuối của ngọn đuốc Olympic Bắc Kinh 2008 sau khi đi vòng quanh thế giới qua đó đánh giá xem Olympic 2008 có bị lạm dụng bởi chính quyền Trung Quốc hay không? Các bạn hãy cùng chúng tôi phân tích vài yếu tố trên những lộ trình này

Nhìn nhận lại quá trình rước đuốc Olympic Bắc Kinh 2008

13-03: Dar es Salaam (Tanzania)

14-03: Muscat (Oman)

16-03: Islamabad (Pakistan)

17-03: New Delhi (India)

19-03: BangKok (ThaiLand) (1)

21-03: Kuala Lumpur (Malaysia) (2)

22-03: Jakarta (Indonesia) (3)

24-03: Canberra (Australia) (4)

26-03: Nagano (Japan)(5)

27-03: Seoul (Korea) (6)

28-03: Pyongyang (North Korea) (7)

29-03: Ho Chi Minh City (Vietnam) (8)

02-04: Hong Kong (China) (9)

03-04: Macao (China)

Sau khi rời Macao, ngọn được sẽ chạy quanh Trung Quốc cho đến khi nghỉ ngơi để bắt đầu lễ khai mạc Olympic Bắc Kinh 2008.

Nhìn lại quá trình đi của ngọn đuốc thì chúng ta có 2 vấn đề xuất hiện:

1: Tại sao sau khi đi qua Bangkok Thái Lan ngọn đuốc không qua Sài Gòn khi khoảng cách không bao xa để rồi chạy một vòng vô định hình (qua 6 thành phố rất xa Sài Gòn) mới trở về lại Sài Gòn?

2: Tại sao ngày đến Việt Nam đúng vào ngày 29-04 (và sau đó là ngày 30-04)? Phải chăng ngọn đuốc muốn kỷ niệm ngày 30-04-1975?

Sau đây, Hội Liên Hiệp Thanh Niên Lạc Việt xin trình bày vài quan điểm của chúng tôi về vấn đề này.

– Vấn đề thứ nhất là một điều hết sức vô lý. Vì Bangkok rất gần Sài Gòn, và không có một lý do nào xác đáng của chính quyền Trung Quốc để giải thích rõ vấn đề này. Theo luận điểm của chúng tôi thì, Trung Quốc muốn đi một vòng vô định hình (chạy đến tận Canberra) nhằm đạt được các vấn đề sau:

+ Không thể không đi qua các thành phố trên là điều ngọn đuốc phải làm.

+ Chính quyền Trung Quốc muốn đặt các nước có tầm ảnh hưởng của mình ở giai đoạn cuối của lộ trình nhằm biểu dương sức mạnh nước lớn trước các nước tiểu (chư hầu) – Pyongyang (Bắc Triều Tiên) – Sài Gòn – Hồng Kông – Macao.

+ Muốn trên đường đi của lộ trình này phải đi ngang qua Hoàng Sa – Trường Sa ( thể hiện sức mạnh của chúng ở vùng này) nên mới đi từ Pyongyang sang Sài Gòn. Cũng vì thế mà Hà Nội không biết tại sao nó không được vinh dự đón tiếp khi là thủ đô. Rõ ràng, chính quyền Trung Quốc muốn thể hiện quyền sở hữu trên Hoàng Sa – Trường Sa.

+ Trung Quốc muốn đi qua các thành phố như Canberra rồi lên Nagano, một quãng đường phải nói rất xa và lòng vòng nhằm kéo dài thời gian để chờ cái ngày 30-04 mới đặt chân tới Sài Gòn. Đây cũng có thể là lý do mà ngọn đuốc không đi từ Bangkok qua Sài Gòn. Phải chăng, chính quyền Trung Quốc muốn nhắc nhở Việt Nam chiến thắng 30-4-1975 là do Đảng Cộng Sản Trung Quốc giúp đỡ Đảng Cộng Sản Việt Nam năm đó.

Kết cục lại, chúng tôi nhìn nhận ở ý thức dân tộc của mình thì chúng tôi có những nhận định riêng về hành động của nhà cầm quyền Trung Quốc trước thế vận hội Olympic:

+ Trung Quốc không xem trọng Việt Nam ở sân chơi quốc tế khi ngang nhiên đi qua Hoàng Sa – Trường Sa ở sự kiện này trong khi đây là vùng tranh chấp giữa 2 nước. Điều này đã ảnh hướng tới lòng tự hào dân tộc Việt Nam bao đời nay khi dân tộc Việt Nam đã từng đánh bại quân Nguyên Mông (đã từng bành trướng thế giới).

+ Trung Quốc có âm mưu chính trị hoá Olympic. Chính đạo diễn lừng danh của HolyWood Steven Speilberg cũng đã thể hiện sự bất đồng đối với Trung Quốc ở điểm này.

Qua sự kiện này, chúng tôi tha thiết kêu gọi các sinh viên Việt Nam cật lực lên tiếng phản đối thái độ của nhà cầm quyền Trung Quốc trước một sự kiện quốc tế sắp xảy ra ở Bắc Kinh. Đồng thời cũng thể hiện được sự tự chủ của chúng ta ở Hoàng Sa – Trường Sa nhằm nêu cao tinh thần dân tộc của người Việt Nam từ bao đời nay. Để thể hiện hành động này, chúng tôi mong các bạn tham gia trong phong trào Vận động tẩy chay cuộc rước đuốc Olympic Bắc Kinh tại Sài Gòn vào ngày 29-04-2008 sắp tới. Một lần nữa chúng tôi xin chân thành cám ơn các bạn đã quan tâm.

(theo ThanhnienlacViet)

—————————————————

http://torchrelay.beijing2008.cn/en/journey/map2/    bản đồ rước đuốc, TQ lợi dụng rước đuốc để  NÓI VỚI CÔNG LUẬN QUỐC TẾ là Hoàng Sa THUỘC TQ !!     Bạn ủng hộ việc này ?     KHÔNG !

 HOÀNG SA TRƯỜNG SA LÀ CỦA VN !
NGÀY NÀO TQ CHƯA TRẢ HS TS CHO VN,

THÔNG ĐỒNG, TỔ CHỨC, TIẾP RƯỚC,  THAM DỰ, ỦNG HỘ

CUỘC RƯỚC ĐUỐC Olympic 2008 TAI SAIGON, HOÀNG SA

LÀ PHẢN QUỐC  !!!!!!!


 SINH VIÊN THANH NIÊN 
BIỂU TÌNH BẢO VỆ TỔ QUỐC, HS TS,  
NGĂN CẤM, ĐÀN ÁP LÀ TỘI ÁC !!
ĐcsVN HOÀN TOÀN LÃNH TRÁCH NHIỆM !!

March 6, 2008

4 tội phản bội tổ quốc của Đảng Cộng Sản Việt Nam

Luật Sư Nguyễn Hữu Thống
“… Bằng kế hoạch thôn tính 4 bước, đế quốc Bắc Kinh buộc Hà Nội hiến dâng toàn thể hải phận Việt Nam từ Vịnh Bắc Việt đến vùng biển Hoàng Sa Trường Sa …”

– Năm 1999 Đảng Cộng Sản Việt Nam ký Hiệp Định Biên Giới Việt Trung để nhượng đất biên giới cho Trung Quốc.
– Năm 2000, Đảng Cộng Sản Việt Nam ký Hiệp Định Phân Định Vịnh BắcBộ để bán nước Biển Đông cho Trung Quốc.
– Cũng trong năm này Đảng Cộng Sản Việt Nam ký Hiệp Định Hợp Tác Nghề Cá để dâng cá dâng dầu cho Trung Quốc.
– Và năm 1958, bằng văn thư của Phạm Văn Đồng, Đảng Cộng Sản Việt Nam đồng ý chuyển nhượng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc. Những hành vi này cấu thành 4 tội phản bội tổ quốc bằng cách “cấu kết với nước ngoài nhằm xâm phạm chủ quyền của quốc gia, xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc và xâm phạm quyền của quốc dân được sử dụng đầy đủ những tài nguyên và nguồn lợi thiên nhiên của đất nước”.

I. TỘI NHƯỢNG ĐẤT BIÊN GIỚI CHO NƯỚC NGOÀI

Năm 1949, sau khi thôn tính lục địa Trung Hoa, mục tiêu chiến lược của Quốc Tế Cộng Sản là nhuộm đỏ hai bán đảo Đông Dương và Triều Tiên.Qua năm sau, 1950, với sự yểm trợ của các chiến xa Liên Xô và đại pháoTrung Quốc, Bắc Hàn kéo quân xâm lăng Nam Hàn. Mục đích để giành yếu tố bất ngờ. Tuy nhiên âm mưu thôn tính không thành do sự phản kích của quân lực Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc. Từ 1951 cuộc chiến bất phân thắng bại đưa đến hòa đàm. Hai năm sau Chiến Tranh Triều Tiên kết thúc bởi Hiệp Định Đình Chiến Bàn Môn Điếm tháng 7, 1953.Thất bại trong chiến tranh Triều Tiên, Trung Cộng tập trung hỏa lực và kéo các đại pháo từ mặt trận Bắc Hàn xuống mặt trận Bắc Việt.

Để tiếp tế võ khí, quân trang, quân dụng, cung cấp cố vấn và cán bộ huấn luyện cho Bắc Việt, các xe vận tải và xe lửa Trung Cộng đã chạy sâu vào nội địa Việt Nam để lập các căn cứ chỉ huy, trung tâm huấn luyện, tiếp viện và chôn giấu võ khí. Thừa dịp này một số dân công và sắc dân thiểu số Trung Quốc kéo sang Việt Nam định cư lập bản bất hợp pháp để lấn chiếm đất đai.

Trong Chiến Tranh Đông Dương Thứ Hai khởi sự từ 1956, với các chiến dịch Tổng Công Kích, Tổng Khởi Nghĩa Tết Mậu Thân (1968) và Mùa Hè Đỏ Lửa (1972), Bắc Việt huy động toàn bộ các sư đoàn chính quy vào chiến trường Miền Nam. Thời gian này để bảo vệ an ninh quốc ngoại chống sự phản kích của quân lực Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ (như trong Chiến Tranh Triều Tiên), Bắc Việt nhờ 300 ngàn binh sĩ Trung Quốc mặc quân phục Việt Nam đến trú đóng tại 6 tỉnh biên giới Bắc Việt. Trong dịp này các binh sĩ, dân công và sắc dân thiểu số Trung Hoa đã di chuyển những cột ranh mốc về phía nam dọc theo lằn biên giới để lấn chiếm đất đai.

Trong Chiến Tranh Đông Dương Thứ Ba khởi sự từ 1979, để giành giật ngôi vị bá quyền, Trung Quốc đem quân tàn phá 6 tỉnh biên giới Bắc Việt. Và khi rút lui đã gài mìn tại nhiều khu vực rộng tới vài chục cây số vuông để lấn chiếm đất đai.

Ngày nay, dưới áp lực của Bắc Kinh, Hà Nội xin hợp thức hóa tình trạng đã rồi, nói là thể theo lời yêu cầu của các sắc dân thiểu số Trung Hoa đã định cư lập bản tại Việt Nam.

Năm 1999 họ đã ký Hiệp Ước Biên Giới Việt Trung để nhượng cho Trung Quốc khoảng 800 km2 dọc theo lằn biên giới, trong đó có các quặng mỏ và các địa danh như Ải Nam Quan, Suối Phi Khanh tại Lạng Sơn và Thác Bản Giốc tại Cao Bằng…

II. TỘI BÁN NƯỚC BIỂN ĐÔNG CHO NƯỚC NGOÀI

Kinh nghiệm cho biết các quốc gia láng giềng chỉ ký hiệp ước
phân định lãnh thổ hay lãnh hải sau khi có chiến tranh võ trang, xung đột biên giới hay tranh chấp hải phận.

Trong cuốn Biên Thùy Việt Nam (Les Frontières du Vietnam), sử gia Pierre Bernard Lafont có viết bài “Ranh Giới Hải Phận của Việt Nam” (La Frontière Maritime du Vietnam). Theo tác giả, năm 1887, Việt Nam và Trung Hoa đã ký Hiệp Ước Bắc Kinh để phân chia hải phận Vịnh Bắc Việt theo đường kinh tuyến 108 Đông, chạy từ Trà Cổ Móng Cáy xuống vùng Cửa Vịnh (Quảng Bình, Quảng Trị). Đó là đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Hoa tại Vịnh Bắc Việt. Vì đã có sự phân định Vịnh Bắc Việt theo Hiệp Ước Bắc Kinh, nên “từ đó hai bên không cần ký kết một hiệp ước nào khác.” Do những yếu tố địa lý đặc thù về mật độ dân số, số hải đảo, và chiều dài bờ biểnViệt Nam được 63% và Trung Hoa được 37% hải phận.

Năm 2000, mặc dầu không có chiến tranh võ trang, không có xung đột hải phận, bỗng dưng vô cớ, phe Cộng Sản đã ký Hiệp Ước Vịnh Bắc Bộ để hủy bãi Hiệp Ước Bắc Kinh 1887.

Hiệp Ước Vịnh Bắc Bộ là một hiệp ước bất công, vi phạm pháp lý và vi phạm đạo lý.

Bất công và vi phạm pháp lý vì nó không tuân theo những tiêu chuẩn của Tòa Án Quốc Tế, theo đó sự phân ranh hải phận phải căn cứ vào các yếu tố địa lý, như số các hải đảo, mật độ dân số và chiều dài bờ biển. Ngày nay dân số Bắc Việt đông gấp 6 lần dân số đảo Hải Nam, và bờ biển Bắc Việt dài gấp 3 lần bờ đảo Hải Nam phía đối diện Việt Nam. Ngoài ra Việt Nam có hàng ngàn hòn đảo trong khi Hải Nam chỉ có 5 hay 6 hòn. Tại miền bờ biển hễ đã có đất thì phải có nước; có nhiều đất hơn thì được nhiều nước hơn; có nhiều dân hơn thì cần nhiều nước hơn. Vì vậy hải phận Việt Nam phải lớn hơn hải phận Trung Hoa (63% và 37% theo Hiệp Ước Bắc Kinh). Và cũng vì vậy vùng biển này có tên là Vịnh Bắc Việt.

Ngày nay phe Cộng Sản viện dẫn đường trung tuyến để phân ranh hải phận với tỉ lệ lý thuyết 53% cho Việt Nam. Như vậy Việt Nam đã mất ít nhất 10% hải phận, khoảng 12.000 km2. Tuy nhiên trên thực tế phe Cộng Sản đã không áp dụng nghiêm chỉnh đường trung tuyến. Họ đưa ra 21 điểm tiêu chuẩn phân định Vịnh Bắc Việt theo đó Việt Nam chỉ còn 45% hải phận so với 55% của Trung Quốc. Và Việt Nam đã mất 21.000 km2.

Bất công hơn nữa là vì nó không căn cứ vào những điều kiện đặc thù để phân định Vịnh Bắc Việt. Tại vĩ tuyến 20 (Ninh Bình, Thanh Hóa), biển rộng chừng 170 hải lý, theo đường trung tuyến Việt Nam được 85 hải lý để đánh cá và khai thác dầu khí (thay vì 200 hải lý theo Công Ước về Luật Biển). Trong khi đó, ngoài 85 hải lý về phía tây, đảo Hải Nam còn được thêm 200 hải lý về phía đông thông sang Thái Bình Dương. Theo án lệ của Tòa Án Quốc Tế, hải đảo không thể đồng hóa hay được coi trọng như lục địa. Vậy mà với số dân chừng 7 triệu người, đảo Hải Nam, một tỉnh nhỏ nhất của Trung Quốc, đã được hưởng 285 hải lý để đánh cá và khai thác dầu khí. Trong khi đó 42 triệu dân Bắc Việt chỉ được 85 hải lý. Đây rõ rệt là bất công quá đáng. Bị án ngữ bởi một hải đảo (Hải Nam) người dân Bắc Việt bỗng dưng mất đi 115 hải lý vùng đặc quyền kinh tế để đánh cá và thềm lục địa để khai thác dầu khí. .

Hơn nữa, Hiệp Ước này còn vi phạm đạo lý vì nó đi trái với những mục tiêu và tôn chỉ của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền như Công Lý, Bình Đẳng, Hữu Nghị, không cưỡng ép, không thôn tính và không lấn chiếm.

III. TỘI DÂNG CÁC TÀI NGUYÊN VÀ NGUỒN LỢI THIÊN NHIÊN CHO NƯỚC NGOÀI

Cùng ngày với Hiệp Ước Vịnh Bắc Bộ, Đảng Cộng Sản Việt Nam còn ký Hiệp Ước Hợp Tác Nghề Cá.

Ngày 15-6-2004, Quốc Hội phê chuẩn Hiệp Ước Vịnh Bắc Bộ. Tuy nhiên, trái với Điều 84 Hiến Pháp, Hiệp Ước Đánh Cá không được Quồc Hội phê chuẩn, chỉ được Chính Phủ “phê duyệt”.

Theo Hiệp Ước sau này, hai bên sẽ thiết lập một vùng đánh cá chung rộng 60 hải lý, mỗi bên 30 hải lý, từ đường trung tuyến biển sâu nhiều cá, khởi sự từ vĩ tuyến 20 (Ninh Bình, Thanh Hóa) đến vùng Cửa Vịnh tại vĩ tuyến 17 (Quảng Bình, Quảng Trị).

Tại Quảng Bình biển rộng chừng 120 hải lý, theo đường trung tuyến Việt Nam được 60 hải lý. Trừ 30 hải lý cho vùng đánh cá chung, ngư dân chỉ còn 30 hải lý gần bờ. Trong khi đó Hải Nam được 290 hải lý để đánh cá.

Tại Ninh Bình, Thanh Hóa, biển rộng chừng 170 hải lý, theo đường trung tuyến, Việt Nam được 85 hải lý. Trừ 30 hải lý cho vùng đánh cá chung, ngư dân chỉ còn 55 hải lý gần bờ. Trong khi đó Hải Nam được 315 hải lý.

Hơn nữa, theo nguyên tắc hùn hiệp, căn cứ vào số vốn, số tàu, số chuyên viên kỹ thuật gia và ngư dân chuyên nghiệp, Trung Quốc sẽ là chủ nhân ông được toàn quyền đánh cá ở cả hai vùng, vùng đánh cá chung và vùng hải phận Trung Hoa.

Ngày nay Trung Quốc là quốc gia ngư nghiệp phát triển nhất thế giới. Trên mặt đại dương, trong số 10 tàu đánh cá xuyên dương trọng tải trên 100 tấn, ít nhất có 4 tàu mang hiệu kỳ Trung Quốc. Như vậy trong cuộc hợp tác đánh cá với Trung Quốc, Việt Nam chỉ là cá rô, cá riếc sánh với cá mập, cá kình:

a) Trong số 17 quốc gia ngư nghiệp phát triển trên thế giới có tàu đánh cá lớn trọng tải trên 100 tấn, một mình Trung Quốc chiếm hơn 40 % số tàu, so với 5% của Hoa Kỳ, 3% của Nhật Bản và 2% của Đại Hàn, (Việt Nam không có mặt trong số 17 quốc gia này).

b) Các tàu đánh cá lớn này có trang bị các lưới cá dài với tầm hoạt
động 60 dặm hay 50 hải lý. Do đó đoàn ngư thuyền Trung Quốc không cần ra khỏi khu vực đánh cá chung cũng vẫn có thể chăng lưới về phía tây sát bờ biển Việt Nam để đánh bắt hết tôm cá, hải sản, từ Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh tới Quảng Bình, Quảng Trị. Chăng lưới đánh cá tại khu vực Việt Nam là vi phạm hiệp ước. Tuy nhiên các đội tuần cảnh duyên hải Việt Nam sẽ ngoảnh mặt làm ngơ. Là cơ quan kinh tài của Đảng, họ sẽ triệt để thi hành chính sách thực dụng làm giàu với bất cứ giá nào, kể cả bằng sự cấu kết với ngoại bang vi phạm luật pháp và hiệp ước.

Trong cuộc hùn hiệp hợp tác này không có bình đẳng và đồng đẳng. Việt Nam chỉ là kẻ đánh ké, môi giới mại bản, giúp cho Trung Quốc mặc sức vơ vét tôm cá hải sản Biển Đông, để xin hoa hồng (giỏi lắm là 10%, vì Trung Quốc có 100% tàu, 100% lưới và 95% công nhân viên).

c) Rồi đây Trung Quốc sẽ công nhiên vi phạm Hiệp Ước Hợp Tác Đánh Cá cũng như họ đã thường xuyên vi phạm Công Ước về Luật Biển. Chiếu Công Ước này các quốc gia duyên hải có vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý để đánh cá. Nhưng cũng có nghĩa vụ phải bảo toàn và dinh dưỡng ngư sinh để dành hải sản cho biển cả và các thế hệ tương lai. Trung Quốc đã trắng trợn và thường xuyên vi phạm Công Ước về Luật Biển trong chính sách “tận thâu, vét sạch và cạn tàu ráo máng” áp dụng từ thời Đặng Tiểu Bình. Đó là chính sách thực dụng mèo đen mèo trắng, làm giàu là vinh quang, làm giàu với bất cứ giá nào.

Từ hơn 1/4 thế kỷ theo kinh tế thị trường, với sự phát triển công kỹ nghệ, thương mại, đánh cá và khai thác dầu khí, ngày nay tại vùng duyên hải Trung Hoa, các tài nguyên, hải sản và nguồn lợi thiên nhiên như tôm cá, dầu khí đã cạn kiệt. Trong khi đó nhu cầu canh tân kỹ nghệ hóa và nạn nhân mãn (của 1 tỉ 380 triệu người) đòi hỏi Trung Quốc phải mở rộng khu vực đánh cá và khai thác dầu khí xuống Miền Nam.

d) Với hơn 25 năm kinh nghiệm trong nghề cá, Trung Quốc đã huấn luyện được một đội ngũ công nhân viên đông đảo gồm các kỹ thuật gia, chuyên viên điện tử, và ngư dân có tay nghề. Trong khi đó về phía Việt Nam chỉ có một số công nhân không chuyên môn để sai phái trong các công tác tạp dịch hay công tác vệ sinh như rửa cá, rửa tàu v…v… Và rồi đây, bên cạnh các lao động nô lệ xuất khẩu tại Đông Nam Á , chúng ta sẽ có thêm một số lao động nô lệ tại Biển Đông trên các tàu đánh cá xuyên dương Trung Quốc.

IV. TỘI CHUYỂN NHƯỢNG CÁC QUẦN ĐẢO HOÀNG SA TRƯỜNG SA CHO NƯỚC NGOÀI

Với đà này Đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ nhượng nốt các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Cộng. Họ đã nhiều lần công bố ý định này:

1) Ngày 15-6-1956, ngoại trưởng Ung Văn Khiêm minh thị tuyên bố: “Hà Nội nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa mà Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa”.

2) Ngày 14-9-1958 qua lời Phạm Văn Đồng, Hồ Chí Minh, Chủ Tịch Đảng, Chủ Tịch Nước, xác nhận chủ quyền hải phận của Trung Quốc tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

3) Để biện minh cho lập trường của Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng, sau khi Trung Cộng tiến chiếm Trường Sa hồi tháng 3-1988, báo Nhân Dân, cơ quan chính thức của Đảng Cộng Sản trong số ra ngày 26-4-1988 đã viết: “Trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù xâm lược thì Việt Nam phải tranh thủ sự gắn bó của Trung Quốc, và ngăn chặn Hoa Kỳ sử dụng 2 quần đảo nói trên”. Đây chỉ là lời ngụy biện. Vì tại Thái Bình Dương, Hoa Kỳ có Đệ Thất Hạm Đội nên không cần đến các hải đảo Trường Sa và Hoàng Sa để làm căn cứ xuất phát hay địa điểm chỉ huy.

4) Và hồi tháng 5-1976, báo Saigon Giải Phóng trong bài bình luận việc Trung Quốc chiếm Hoàng Sa bằng võ lực đầu năm 1974, đã viết: “Trung Quốc vĩ đại đối với chúng ta không chỉ là người đồng chí, mà còn là người thầy tin cẩn đã cưu mang chúng ta nhiệt tình để chúng ta có ngày hôm nay. Vì vậy chủ quyền Hoàng Sa thuộc Việt Nam hay thuộc Trung Quốc cũng vậy thôi”.

Từ 1956, mục tiêu chiến lược của Đảng Cộng Sản Việt Nam là “giải phóng Miền Nam” bằng võ lực. Để chống lại Việt Nam Cộng Hòa, Hoa Kỳ và Đồng Minh, Hà Nội hoàn toàn trông cậy vào sự cưu mang nhiệt tình của người thầy phương Bắc. Vì sau cái chết của Stalin năm 1953, Lien Xô chủ trương chung sống hòa bình với Tây Phương, trong khi Mao Trạch Đông vẫn tuyên bố “sẽ giải phóng một ngàn triệu con người Á Châu khỏi ách Đế Quốc Tư Bản”.

Mà muốn được cưu mang phải cam kết đền ơn trả nghĩa. Ngày 14-9-1958, qua Phạm Văn Đồng, Hồ Chí Minh, Chủ Tịch Đảng, Chủ Tịch Nước cam kết chuyển nhượng cho Trung Quốc các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Qua năm 1959, Đảng Cộng Sản phát động chiến tranh Giải Phóng Miền Nam.

Có 3 lý do được viện dẫn trong cam kết này:

a) Vì Hoàng Sa, Trường Sa tọa lạc tại các vĩ tuyến 17-7 (Quảng Trị-
Cà Mâu) nên thuộc hải phận Việt Nam Cộng Hòa. Đối với Hà Nội nhượng Hoàng Sa, Trường Sa cho Trung Quốc trong thời điểm này chỉ là bán da gấu! (không phải tài sản của mình).

b) Sau này do những tình cờ lịch sử, nếu Bắc Việt thôn tính được Miền Nam thì mấy hòn đảo san hô tại Biển Đông đâu có ăn nhằm gì so với toàn thể lãnh thổ Việt Nam?

c) Giả sử cuộc “giải phóng Miền Nam” không thành, thì việc Trung
Cộng chiếm Hoàng Sa Trường Sa thuộc lãnh hải Việt Nam Cộng Hòa cũng có tác dụng làm suy yếu phe quốc gia về kinh tế, chính trị, chiến lược và an ninh quốc phòng.



Bản đồ “chín gạch” về “biển lưỡi rồng” do Trung quốc áp đặt từ 1949

Older Posts »

Blog at WordPress.com.